Boston là thủ đô
của tiểu bang Massachusetts ở Hoa Kỳ. Được
thành lập năm 1630, Boston là một trong
những thành phố cổ xưa nhất và có ảnh hưởng
lớn đến văn hóa của Mỹ. Kinh tế của thành
phố dựa vào giáo dục bậc cao, nghiên cứu,
chăm sóc sức khỏe, tài chính, và kỹ thuật,
chủ yếu là kỹ thuật sinh học.
Boston được thành lập vào ngày 17 tháng 9,
năm 1630, bởi những người khai khẩn thuộc
địa Puritan từ Anh, trên một bán đảo gọi là
Shawmut bởi những người bản xứ Mỹ ở đó. Bán
đảo này nối với đất liền bởi một eo đất hẹp,
bao quanh bởi nước của vịnh Massachusetts và
những đầm lầy tại cửa sông Charles. Những
người định cư châu Âu đầu tiên ở Boston ban
đầu gọi vùng này là Trimountaine. Sau đó họ
đặt lại tên thị trấn theo tên Boston, Anh, ở
Lincolnshire, vì từ vùng đó một số "tín đồ"
nổi bật đã di cư đến. Một phần lớn công dân
đầu tiên của Boston là những người Puritans.
Thống đốc nguyên
thủy của khu thuộc địa vịnh Massachusetts,
John Winthrop, đã đưa ra một bài giảng đạo
nổi tiếng với tựa là "Thành phố trên đồi,"
nắm bắt ý tưởng là Boston có một thỏa ước
đặc biệt với Thượng đế. (Winthrop cũng dẫn
đầu việc ký kết Hiệp định Cambridge được xem
là văn bản quan trọng thiết lập nên thành
phố.) Đạo đức Puritan đã hun đúc nên một xã
hội hết sức bền vững và có cấu trúc tốt ở
Boston. Ví dụ, rất ngắn sau khi định cư ở
Boston, những người Puritan thành lập trường
công lập đầu tiên ở Mỹ, Boston Latin School
(1635), và trường đại học đầu tiên ở Mỹ,
Harvard College (1636). Chăm chỉ, giữ đạo
đức, và một sự nhấn mạnh vào giáo dục vẫn là
một phần của văn hóa Boston. Cho đến những
năm 1760, Boston là thành phố lớn nhất, giàu
có nhất và ảnh hưởng nhất nước Mỹ.
Trong đầu thập kỉ những năm 1770, người Anh
cố gắng mở rộng sự kiểm soát trên mười ba
thuộc địa, chủ yếu là qua thuế khóa, làm
người dân Boston khởi xướng Cách mạng Mỹ. Vụ
Thảm sát Boston, Tiệc trà Boston, và một số
trận đánh đầu tiên xảy ra trong hay gần
thành phố, bao gồm Trận đánh Lexington và
Concord, Trận Bunker Hill, và Cuộc bao vây
Boston. Trong giai đoạn này, Paul Revere đã
làm nên chuyến đi lịch sử lúc
Còn trong nội ô thành phố, những tòa nhà
hiện đại, cao chọc trời lại xen lẫn những
dinh thự, nguyện đường trong một không gian
cổ xưa, xinh đẹp và hài hòa. Thiên nhiên còn
ban tặng cho Boston một thảm lá phong mênh
mông trải dài lên tận biên giới Canada. Lá
vàng rơi trên những lối đi, lấp lánh trên
những mặt hồ nhiều sắc màu tuyệt diệu, thu
hút hàng triệu du khách khắp nơi nườm nượp
đổ về Boston thưởng ngoạn cảnh đẹp, vui chơi
và giải trí.
Boston còn nổi tiếng khắp thế giới với những
trường đại học danh tiếng như Harvard,
M.I.T, Tuft, U-Mass... Thành phố này cũng là
quê hương của cả hai trường học đầu tiên ở
Mỹ: Trường Cao đẳng Boston, thành lập năm
1635, là nơi đầu tiên đào tạo sinh viên bậc
đại học của nước Mỹ và ĐH Harvard (1636),
trường ĐH cổ nhất nước Mỹ. Mùa này, đang
trong kỳ nghỉ hè nên hầu hết các tòa nhà ở
Harvard và M.I.T đều đóng cửa, nhưng sân
trường thì rất đông du khách đến thăm. Ai
cũng muốn được chạm vào chiếc giày của bức
tượng nổi tiếng tại Harvard. Điều đó sẽ đem
lại may mắn trong việc học hành. Dù tin hay
không thì mọi người đều háo hức nên có lẽ
bạn phải đợi rất lâu để đến lượt được chụp
ảnh cùng bức tượng nổi tiếng đó.
Kiến trúc của Harvard được xây theo kiểu cũ
với màu gạch đỏ đặc trưng của các tòa nhà
cổ. So với nhiều trường đại học ở Mỹ thì
không gian của Harvard không rộng và thoáng
bằng. Trong khi đó, kiến trúc của MIT thì
hiện đại hơn nhiều với những cây cột khổng
lồ rất ấn tượng.
Boston có khí hậu lục địa rất phổ biến ở
vùng New England, nhưng với ảnh hưởng của
biển rõ rệt do vị trí của nó so với Đại Tây
Dương. Mùa hè thường nóng ẩm, mùa đông
thường lạnh, gió và nhiều tuyết. Thường có
tuyết vào tháng 5 hay tháng 10 nhưng những
việc đó hiếm xảy ra.[3][4]
Mùa xuân ở Boston có thể nóng, với nhiệt độ
ở trong khoảng 90 (độ F), khi gió biển thổi
vào cuối tháng 5 có thể xuống 40 độ F. Tháng
nóng nhất là tháng 7, với nhiệt độ cao trung
bình là 81.9 °F (27.7 °C) và nhiệt độ thấp
65.1 °F (18.4 °C), thường là ẩm. Tháng lạnh
nhất là tháng Giêng, với nhiệt độ trung bình
35.8 °F (2.1 °C) và nhiệt độ thấp là 21.6 °F
(-5.6 °C).[5] Các giai đoạn vượt quá 90 °F
vào mùa hè và xuống dưới 10 °F vào mùa đông
là thường xuyên, nhưng hiếm khi kéo dài.
Nhiệt độ cao kỉ lục là 104 °F (40 °C), được
ghi lại vào 4 tháng 7 1911. Nhiệt độ thấp
nhất được ghi lại là -18 °F (-28 °C), được
ghi lại vào 9 tháng 2 1934.[6]
Lượng mưa trung bình của thành phố là vào
khoảng 42 in (108 cm) hàng năm. Lượng tuyết
trung bình hàng năm cũng vào khoảng 42 in
(108 cm), mặc dù lượng này tăng đáng kể nếu
đi vào trong lục địa xa khỏi thành phố.[7]
Vị trí địa lý của Massachusetts nhô ra Bắc
Đại Tây Dương cũng làm cho thành phố bị ảnh
hưởng bởi hệ thời tiết vùng Tây Bắc nhiều
mưa và tuyết.[8] Sương mù khá phổ biến, đặc
biệt là vào mùa xuân và đầu mùa hè và thỉnh
thoảng vài trận bão nhiệt đới đe dọa khu
vực, đặc biệt là đầu mùa thu.