
Là người Hà Nội thuần túy, Trị rất sành ăn mặc,
không nơi nào mà không biết, không thưởng thức,
cũng như nhà văn quá cố Nguyễn Tuân. Theo bạn
Trị thì Phở là món ăn quốc hồn quốc túy ở Hà
Nội cho những ai đã sống ở đây trước năm 1954.
Phở là do sự đọc chệch Việt Nam Hóa tên một
món ăn của người Tàu miền Nam là phẩn. Ví dụ
khi ta vào tiệm Tàu mà gọi “ngầu nhục xưởng
phẩn” thì có đĩa phở xào thịt bò. Ta dịch món
phở cho người Pháp là “soupe chinoise”. Nhưng
phở Việt khác hẳn vị phở Tàu vì có vị nước mắm.
Thịt thường là thịt chín; thịt tái chỉ có vài
tiệm như phở Hàng Da mở hồi 1940-45 gần tới
rạp Olympia. Phở Tàu dùng các gia vị như quế
hồi đinh hương cộng thêm chút chanh vắt và ớt
tươi thường không đúng khẩu vị Việt Nam.

Trước 1945, phở Hà Nội chỉ là phở gánh, mỗi
phố đều có một gánh quen thuộc. Người Tàu thì
mở tiệm, nổi tiếng là Phở Nhà Cháy ở cuối Hàng
Buồm, Phở Nghi Xuân Hàng Nón sang Hàng Quạt.
Nước dùng ở đây có vị sáng sáu tức nước tương
đậu nành soy sauce. Phở Hà Nội bắt đầu nổi
danh sau ngày Nhật đảo chính Mồng 9 Tháng Ba
1945, khi Nhật không cấm hàng quà rong như Tây.
Gánh phở đầu tiên nổi tiếng là Phở Văn Miếu
gần Sinh Từ. Rồi đến gánh phở đông khách ở Bãi
Chuối gần Lò Ðúc được nhiều công chức chiếu cố.
Thịt cũng được cải tiến nhiều kiểu, thịt tái
cắt rộng bản, chín, nạm, lổn nhổn gầu gân nấu
dừ, mỡ gầu nhồi trong ruột lợn cắt mỏng như
cervelas, trên rắc hành ngò, thêm mấy lát hành
Tây tùy vị khách đòi hỏi.
Sau năm 1947 mọc lên nhiều gánh phở và quán
phở nổi tiếng được nhiều người ưa chuộng, nước
dùng nêm thảo quả, gừng, tí chút hồi, đặc thù
của miền Bắc, sau nhập vào miền Nam vẫn phải
giữ nguyên hương vị đó. Nổi tiếng là Phở Gánh
Hàng Than, Phở Michaux sau lưng nhà kho
Michaux bán thịt, Phở Ngõ Hàng Khay, thường
thêm mỗi bát một củ cải lấy từ nồi nước dùng,
các tiệm Phở Bờ Hồ, Phở Cầu Gỗ, Phở Tầu Bay
cuối đường Gia Long mà ông chủ luôn luôn đội
mũ da nâu có quai rộng bản kéo xuống dưới cầm
như phi công. Ðặc biệt là Quán Phở Bà Ba Béo,
người hơi đẫy đà ở cuối Hàng Bạc thường được
gọi là Phở Máy Nước, nước dùng trong vắt mà
lại ngọt. Bà Béo làm thêm phở áp chảo khô, áp
chảo nước, phở xào, bán trưa, bán tối. Lại có
thêm món ăn chơi, thịt thái mỏng dội tái nước
dùng sôi chấm tương gừng ngon tuyệt, tuy phở
xào thì phải nhường cho Tầu làm ngon hơn và
điệu nghệ hơn. Còn phải kể Phở Gà Gánh đặc
biệt ở Ðường Huyền Trân Công Chúa. Con gà luộc
lấy nước dùng rồi treo lên, phao câu mập như
cái nắm tay.
Trong những người sành Phở phải kể Bác Sỹ Phạm
Văn Phán, người đã đi dự Thế Vận Hội thứ XV ở
Helsinki như một nhà dìu dắt cùng với tôi năm
1952. BS Phán đã nhường thứ phi Mộng Ðiệp cho
Hoàng Ðế Bảo Ðại. Ông ta chỉ mê phở gánh và
sáng nào cũng nhẩy xích lô đi tìm phở. Ông
Louis Chức chủ nhà đòn đám ma thường lái xe
chở toàn gia đi ăn phở bên lề Trường Hàng
Than. Ðại Tá Nguyễn Phùng con cụ Nguyễn Văn
Vĩnh cũng thích phở, sáng nào cũng mặc binh
phục đưa vợ Suzanne đến tiệm phở. Sau năm 1946
khi quân Tầu rút lui thì có người ở lại mở phở
Ngầu Pín ở cuối Phố Huế và được nhiều người ưa
chuộng vì đồn là bổ dương bổ thận.
Tại tỉnh nhà Thanh Hóa cũng có nhiều phở ngon
đặc biệt là vì gạo ngon và thịt bò nổi tiếng
của Bái Thượng. Ai cũng biết đến Phở Nhà Ðoan
thanh vị, mỗi người thưởng thức một cách. Có
người húp nước dùng trong suốt trước, nếm cái
ngọt đậm đà đưa vào tì vị trước khi ăn đến
bánh phở trắng phau rồi đến các miếng thịt bò
chin vừa độ với hai ba cọng hành trần xanh
tươi. Người khác lại vớt cái xác nhai kiệt để
bưng bát lên húp hết nốt nước dùng còn lại.
Xong lại mua một ít xương phở để gậm cho đến
cái xương trắng hếu rồi mút nốt gân tủy như
thấy ngấm vào từng thớ thịt của cơ thể.
Ngoài phở, Thanh Hóa còn có hai món quà tiêu
biểu là con phi chỉ có địa điểm cửa sông Mã và
sông Chu là có tuy nhiên sau chiến tranh nghe
nói bị người ta bắt sạch tuyệt chủng. Cứ đến
mùa là nghe tiếng rao đặc biệt “ai mua phi i i
mua” của các cô hàng gánh nồi phi luộc, nước
trắng như sữa loãng với những con phi trắng
nuốt ngọt đặc biệt. Một món quà ngon nữa là
bánh khoái nồi rang ở vỉa hè do các bà bán
hàng tráng tại chỗ vừa nóng vừa ròn với hương
vị bột gạo Thanh Hóa, chỉ nhỏ bằng cái đĩa
tách trên chảo đất, thơm phức với nhân trứng
có thịt ba chỉ mỡ và hành lá xanh mát, úp lại
bằng vung đất nhỏ cho mặt chin và lớp dưới ròn
tan. Mùa rét, có khi mưa phùn căm căm, đứng
góc phố chờ mua ăn vừa ròn vừa ngậy cũng còn
hơn là ở trên lề Quartier Latin Paris chờ mua
hạt dẻ nướng.
Sau cuộc chia đôi đất nước năm 1954, làn sóng
cả triệu dân di cư cũng du nhập phở vào Nam,
bắt đầu là các Phở gánh ở các hẻm phố Sài Gòn.
Người Nam quen ăn hủ tíu nên lúc đầu chê, rồi
dần dần quen vị; Bắc cũng ăn hủ tíu mà Nam
cũng thưởng thức vị ngọt đâm đà của Phở Bắc Kỳ
rau muống, có thêm rau húng tiết canh. Vì đất
Nam trù phú, la liệt hàng quà bánh đầy đường
nên Phở Bắc gà bò chỉ thu hẹp vào góc cuối
đường Pasteur và Hiền Vương chen vào các cửa
hàng Bánh Cuốn và hàng giò chả của bà Quốc
Hương. Nhất là ngay đó có tiệm hớt tóc nhỏ xíu
nổi tiếng với anh chàng Ðàm lấy ráy tai mà
nhiều người nghiện. Khu Phú Nhuận cũng có vài
quán ăn sáng đắt khách, gần Bệnh Viện Cơ Ðốc,
ngã tư Chi Lăng-Võ Tánh gần đường quân nhân đi
lại vào ra phi trường Tân Sơn Nhất và bộ Tổng
Tham Mưu. Phở Ngầu Pín cũng mò vào Sài Gòn,
cạnh Bệnh Viện Nhi Ðồng, có nấu thêm đuôi bò
dừ tan được nhiều người ưa chuộng.
Nói đến hủ tíu miền Nam thì cũng là một thứ
Phở với bánh bột gạo, thịt thái mỏng và nước
dùng mà người Nam gọi là nước lèo. Tuy nhiên
nước lèo không có vị đậm đà như nước dùng phở
vì nước lèo thường nấu cả xương lợn và có khi
có đầu mực khô hay tôm khô. Thịt là thịt nạc
chiên vàng như xả xíu thái mỏng. Không thêm
hành ngò như phở nhưng có khi để thêm trên mặt
cây hẹ trần hay rau diếp trần. Cũng có tiệm
thêm bánh tôm chiên ăn như lối mì nước. Một
tiêm nổi tiếng là tiệm Viễn Ðông góc đường
Nguyễn Huệ và đường rẽ tới Bộ Công Chánh, hủ
tíu ngọt ngào có thêm tôm trần và thịt gà vào
thịt lợn. Tiệm cũng có xe ép nước mía nên rất
đông khách. Lại còn hủ tíu Nam Vang. hủ tíu Mỹ
Tho, mỗi loại gia giảm vài thứ, với hương vị
đặc biệt.
Sau năm 1975, món Phở lan ra khắp Thế Giới,
Pháp, Mỹ, Úc, Ðức và cả Tiệp Khắc là những nơi
có người Việt định cư. Ở Pháp thì tại Khu 15
có rất nhiều hàng phở. Tây đã quen với Phở nay
ghé vào mua đem về nhà vì đời sống tất bật
không còn cho họ có thì giờ để nấu các nồi xúp
ngon lành nữa. Ở Mỹ lúc đầu có Phở Hòa nghe
nói là thuộc cánh kinh tài cho Hoàng Cơ Minh.
Rồi Phở Hòa lan ra nhiều chỗ theo cách
franchise. Các tiệm fast food Mỹ làm ăn kém đã
đóng cửa cũng nhường chỗ cho phở. Lúc đầu thì
dơ dáy lộn xộn cho khách Việt dễ tính. Dần dần
khách Mỹ lui tới do sự hướng dẫn của các đồng
nghiệp Việt trong các hãng xưởng. Và các tiệm
Phở được chỉnh trang sạch sẽ hơn, phục dịch
nhanh nhẹn hơn, mặc đồng phục và nhận cả thẻ
tín dụng Visa Master Card. Ðặc biệt, khi ngồi
vào bàn, người hầu tự động đưa ra một đĩa húng
quế, ngò gai xanh mướt cộng thêm các lát ớt
xanh và vài khẩu chanh xanh. Cũng có một đĩa
giá sống tươi mát theo lối Sài Gòn.
Mỹ vào ăn Phở mỗi ngày một đông, nhất là vào
buổi cơm trưa, trong giờ nghỉ việc. Có người
còn biết gọi kèm thêm cốc cà phê đá sữa đặc
theo lối Việt Nam. Và đặc biệt là họ xơi hết
cả đĩa giá sống và rau ghém xanh tươi. Ðối với
Mỹ thì Phở là một món ăn bổ dưỡng hoàn toàn mà
lại rẻ so với MacDonald hay Kentucky Fried
Chicken. Không khí thoải mái bình dân mà còn
có người hầu bàn nữa. Bởi vậy tiệm Phở mở tùm
lum, với những tên gợi đến những địa điểm xa
xưa như Tầu Bay, 79, Hiền Vương, Công Chức,
Phở Bà Dậu, hãnh diện tự giới thiệu là giữ
nguyên kỹ thuật nướng xương bò trước khi ninh
cho nước dùng ngọt và thanh vị.
Cạnh tranh đưa đến nhiều cải tiến hay về cung
cách tiếp khách cũng như sạch sẽ. Bát Phở ở Mỹ
thì to ngoại khổ, lúc đầu có ba cỡ Ðại, Trung
và tô nhỏ. Nay chỉ còn có hai cỡ lớn và nhỏ
thôi nhưng tô nhỏ cũng khá lớn trong khi tô
lớn thì tổ chảng trông như một chậu phở. Thịt
thì đủ mốt đủ kiểu, thái bằng máy đều và mỏng,
nào là vè, gầu, gân, sách, nạm giòn, nạm dừ,
tái, chín v.v... Mỗi nhà đều quảng cáo Phở của
mình hảo hạng hay gia truyền. Tuy nhiên hiện
nay vì nhu cầu sức khỏe nên không thấy ai xin
thêm một thìa nước béo nửa. Hơn nữa nhiều nơi
còn quảng cáo rõ ràng là chúng tôi không bỏ
bột ngọt. Khi mới đặt chân đến nước Mỹ có nhà
đã bắc sẵn nồi phở đun từ đêm trước và khi có
khách đến thăm là đã sẵn đồ ăn cùng ngồi xì
xụp khỏi cần lo bếp nước nhiêu khê.
Trái lại Hà Nội bây giờ thì tô phở đã nghèo
nàn mà phục vụ lại kém cỏi. Khách hàng xô bồ
văng tục thả giàn không còn cái thanh lịch của
ngày xưa nữa. Khi khách gọi thêm một đĩa rau
thơm và giá trần thi bồi bàn phản bác một cách
tự nhiên, “Ðéo mẹ, muốn giá thì vào Sài Gòn”!
Thật là mất cái duyên dáng của Hà Thành Nghìn
Năm Văn Vật.
============
Phở .... TRĂM NĂM NHÌN LẠI!
cùng với phở. Phở không chỉ là món ăn, phở là
một kí ức.
1. Phở là niềm vinh dự của người Việt và đất
Việt, nhưng nhắc đến phở là người ta đột nhiên
gắn nó với Hà Nội. Người Hà Nội được tiếng thế
lấy làm tự hào lắm. Tự hào là một chuyện còn
có hiểu biết về phở thì dám chắc trừ mấy ông
bên ngành xã hội “nhăn răng” (nhân văn) thì
cũng chẳng mấy ai biết rõ. Nguồn gốc của phở
đang còn nhiều tồn nghi vì nhiều người cho
rằng quê hương của phở là ở Nam Định; nhưng có
điều chắc chắn những bước thăng trầm của phở
đều diễn ra ở Hà Nội. Người ta có thể viết
lịch sử Hà Nội thế kỷ XX thông qua các cuộc
chiến nhưng cũng có thể viết song hành lịch sử
Hà Nội cùng với phở. Phở không chỉ là món ăn,
phở là một kí ức. 2. Năm 1909, nhà tư sản dân
tộc Bạch Thái Bưởi bắt đầu kinh doanh vận tải
đường sông. Với tinh thần dân tộc, ông chỉ
tuyển dụng nhân công người Việt. Bến sông Hồng
trở nên đông đúc, hệ quả là tạo ra nhu cầu ẩm
thực cho người bình dân. Các hàng quán ăn dựng
ở bến sông, trong đó có món “xáo trâu”. Hình
ảnh gánh “xáo trâu” đầu thế kỷ có thể hình
dung được qua gánh đánh đa riêu cua bây giờ.

Một bên quang gánh là chiếc thúng ủ kỹ chiếc
nồi đất lớn đựng canh xáo trâu giữ nóng bằng ổ
bện rơm. Bên kia một chiếc thúng to khác, dưới
đựng bún, trên đậy cái mẹt úp chồng bát chiết
yêu, đũa, hũ nước mắm, đĩa chanh ớt, gia vị.
Nhiều người sẽ thắc mắc: Sao lại là trâu mà
không phải là bò từ đầu? Vì hồi đầu thế kỷ,
người Việt không khoái ăn thịt bò. Bữa cơm
người Việt có cơ cấu gồm: cơm, rau, cá (nhà
sang thì thịt lợn) kèm nước mắm hoặc tương.
Một thời gian sau, cũng không rõ vì sao người
ta lại chuyển sang “xáo bò”? Phải chăng trâu
thời đó để kéo cày, đắt đỏ hơn chăng? Thịt bò
sẵn hơn, xương bò vốn cho không trước đây, nay
lại hữu dụng, ninh lên làm nước dùng.
Thấy món quà người Việt đắt hàng, các chú
khách (cách gọi người Hoa) cũng quảy gánh bán
“xáo bò”. Từ Ô Quan Chưởng lan khắp Hà Nội.
Các chú khách gọi món này là “Ngưu nhục phấn”
(bánh thịt trâu) nhưng khi rao lên lai Hán
Việt thành ra: “Ngầu nhục phắn a!”. Dần dần nó
được dân gian hoá, rút gọn thành: “phắn a”!
“phớ ơ”! cuối cùng định ra cái tên “Phở”. Điều
này có thể đúng, vì người Việt là chuyên nói
tắt như Vũng Tàu được người Pháp gọi Cap Saint
Jacques nhưng người Việt gọi tắt là Cấp cho nó
tiện. Danh từ “Phở” được chính thức hoá ấn
hành lần đầu trong cuốn Việt Nam tự điển (xuất
bản năm 1931) do hội Khai trí Tiến Đức soạn có
ghi rõ tên phở bắt nguồn từ chữ “phấn” và giải
thích đó là món ăn bằng bánh thái nhỏ nấu với
thịt bò.

Trên kia là cái thuyết ra đời của phở được
nhiều người chấp nhận nhất. Việc tìm chính xác
năm ra đời của phở gần như không thể. Chỉ có
mấy tư liệu vắn tắt đáng tin cậy: Nguyễn Công
Hoan (sinh năm 1904) người được xem là có trí
nhớ tốt nhất trong số các nhà văn đã viết:
“1913…trọ số 8 Hàng Hài…thỉnh thoảng, tối được
ăn phở (hàng phở rong). Mỗi bát 2 xu (có bát
3xu, 5 xu)”. Phở rong đã khá thịnh hành nên bị
chính quyền đánh thuế: “…người bán phở phải
mua hai hào tem thuế mỗi ngày. Tính ra mỗi năm
là 73 đồng”.
Đặc biệt, Henri Oger chỉ ở Việt Nam có hai năm
1908 - 1909 đã cho vẽ lại hình ảnh phở gánh
trong cuốn sách tranh: “Kỹ thuật của người An
Nam” (bản tiếng Việt xuất bản năm 2009). ….
Vậy phở ra đời chỉ trong khoảng 1900 đến 1910,
tính ra vào dịp kỷ niệm Hà Nội nghìn năm cũng
có thể kỷ niệm một trăm năm phở.
3. Nói kỷ niệm phở cho có không khí long trọng,
thêm hoạt động cho đất rồng bay nghìn tuổi chứ
phở đã quá nổi tiếng, kỷ niệm chỉ tốn tiền
thuế. Và nhất là vui vẻ gì khi phở đang khiến
người ta “ăn phở khó thấy ngon”.
Lúc sắp qua đời, Nguyễn Tuân có đồng ý với ý
kiến của một bạn văn rằng: phở phản ánh trung
thực cho bộ mặt xã hội. Nói thế e quá chăng?
Hay lại cái bệnh “cường điệu”, “ngoa dụ” từ
các ông nhà văn? Thực tế ý nghĩ đó lại hoàn
toàn chính xác.
Phở ra đời từ nhu cầu cuộc sống của nhân dân
đầu thế kỷ. Thời điểm này, Hà Nội là mảnh đất
mà các nền văn minh va chạm với nhau. Sau phở
nước, có thêm phở xào. Phở xào được xác định
ra đời sau thời kỳ kinh tế khủng khoảng (1929
- 1933). Bánh phở cháy cạnh, thịt bò xào cần
tây, hành tây với nước sốt xệt thêm rau xà
lách búp, cà rốt xu hào ngâm dấm ăn kèm. Rõ
ràng ẩm thực Pháp đã ảnh hưởng mạnh như thế
nào. Dấu ấn ẩm thực Tàu cũng hiện diện trong
phở. Đầu năm 1928, ở con phố Jean De Puis (nay
là phố Hàng Chiếu) có món phở có vị hung lìu,
dầu vừng, đậu phụ. Thạch Lam đại diện cho khẩu
vị người Việt đầu thế kỷ chê thẳng thừng những
“phát minh” với cách “nói mát” là “phở cải
lương”.
Những năm sau, chiến tranh liên miên. Cuộc
sống thời chiến là cuộc sống đặc biệt, bất
bình thường. Phở cũng thích ứng thời chiến trở
nên có nhiều điều kì quái. “Phở không người
lái” 3 hào lõng bõng nước và bánh phở, 5 hào
có thịt nhưng thời chiến đào đâu ra thịt ngon.
Đến cả gia vị là chanh ớt, hạt tiêu bói cũng
không có. Tất cả đều phân phối, tem phiếu.
Không khí ăn càng tệ hại. Tô Hoài hay ăn phở
đêm ở chỗ hàng ông Thìn Hàng Dầu, đang ăn mà
máy bay rú ầm lên, lại bưng cả bát phở xuống
hầm tránh bom. Phở vẫn sống nhưng dưới mác
“phở mậu dịch”. Thực phẩm khan hiếm, dân gian
nghĩ ra phở cơm nguội, phở quẩy. Người ta ăn
phở để no. Từ cái thời ăn dễ dãi đó di họa
không ít cho “gu” phở ngày nay.
Phở mang đặc tính linh hoạt mềm dẻo của người
Việt. Thời thực dân có lệnh cấm thứ sáu không
được bán thịt bò. Trong cái khó ló cái khôn,
người ta nghĩ ra phở gà. Bát phở gà với húng
láng, gà ta, thêm ít lá chanh… khiến từ sản
phẩm “chính thống” phở bò lao đao. Phở gần
giống một thứ đạo, đi đâu nó cũng tự biến đổi
thành các tùy thể để phù hợp cái “gu” của dân
bản xứ. Năm 1954, gần một triệu người miền Bắc
di cư miền Nam, phở Bắc chiếm lĩnh dần mặt
tiền các khu phố trung tâm Sài gòn đẩy các xe,
quán hủ tiếu, mì vằn thắn vào đường hẻm hoặc
cứ địa người Hoa trong Chợ lớn. Phở Nam bộ
mang một phong cách riêng. Cái phong cách dễ
dãi, dễ thích nghi thêm giá sống, rau thơm,
thêm sắc ngọt của đường. Tô phở trong Nam đầy
nước và cái đến nỗi người Bắc vào chơi ít khi
ăn hết một tô.
4. Hà Nội – thánh địa của phở, giờ đây luôn
đầy rẫy cửa hàng chuyên về phở. Loạn đến độ
không biết thế nào là phở ngon. Hồi trước
1954, giới sành ăn đánh giá một bát phở ngon
là: Nước dùng ninh từ xương bò đúng 6 tiếng,
thịt bò thứ thiệt không lẫn các thứ thịt “giời
ơi” khác. Bánh phở không nát. Thịt bò chín
thái mỏng. Thường người ta chỉ dùng hạt tiêu
không dùng chanh, ớt, đường để được hưởng vị
ngọt của nước dùng xương. Nay, có vẻ như sự
ngon của phở gắn với sở thích của từng cái
nhân. Có vị chỉ chuyên ăn phở gà, độc hơn chỉ
ăn phở… phao câu. Có vị ăn phở cho mấy thìa
nước tương cay như ăn bún bò Huế…
Đến đây, thiết nghĩ, có thể gắn cho phở hiện
nay thêm một ý nghĩa nữa theo một câu cách
ngôn nổi tiếng: hãy nói cho tôi biết anh ăn
phở gì tôi sẽ nói anh là người thế nào! Cũng
có những người ở thời hiện đại ăn phở như đặc
sản. Họ không ăn hàng ngày mà chỉ thỉnh thoảng
thưởng thức. Họ quan niệm: phở ngon là phở do
mình nấu. Các hàng phở ngày nay chạy theo lợi
nhuận. Nước dùng có thể ninh 6 tiếng nhưng
không hẳn chỉ mỗi xương bò. Đã thế lại còn pha
chế để bán được nhiều thành thử khiến nước
dùng chẳng còn vị ngọt nguyên chất nữa. Họ cứu
chữa bằng cách cho mì chính. Chẳng thế mà, lắm
khi đến hàng phở cứ phải dặn nhà bếp: “Một bát
phở không mì chính”. Không trách các nhà hàng
được vì họ kinh doanh thì phải lời, với lại
phở xuống cấp mà có ai kêu đâu người ta vẫn cứ
ăn phở rào rào, thành thử cần gì phải nghiêm
túc học tập các “cụ âm lịch”. Những kẻ ngoan
cố cuối cùng có tôn chỉ riêng: Muốn ăn phở
ngon hãy tự nấu lấy. Nguyên liệu sẵn và thực
ra nấu phở cũng không mất thời gian như người
ta hay nghĩ. Về cách nấu phở ngon đã có sách.
Nhiệm vụ của bài báo này không phải để dạy
cách nấu phở! Mà là thứ “văn chơi” loanh quanh
về phở như cách “ăn chơi” phở từ trăm năm nay.
Hàm Đan