|
Montréal
(tiếng Anh: Montreal) là thành phố lớn nhất
của tỉnh bang Québec và thành phố đông dân
thứ nhì của Canada. Nếu kể số người nói
tiếng Pháp không thôi thì Montréal đứng thứ
nhì trên thế giới, sau Paris. Tọa lạc ngay
giữa thành phố là một ngọn núi nhỏ có tên là
Mont Réal - từ đó tên Montréal được sinh ra.

(Mùa Giáng sinh - Montréal - Hình ảnh:
Nguyễn Thành Tài)
Montréal nằm ở phía tây-nam của Thành phố
Québec - thủ phủ của tỉnh bang - khoảng 200
km, và độ 150 km về phía đông của Ottawa -
thủ đô của Canada. Toàn thể thành phố chính
và các khu vực ngoại ô phụ cận nằm trên một
hòn đảo lớn ở giữa sông Saint-Laurent (tiếng
Anh: Saint Lawrence). Tổng cộng diện tích
của đảo Montréal và các đảo nhỏ hơn xung
quanh Montréal khoảng 500 km². Đối diện, qua
phía bắc của sông, là Laval - thành phố đông
dân thứ nhì của Québec và các thị trấn nhỏ
hơn; qua phía nam của sông là Longeuil,
Brossard, Saint-Hubert, ...
Tổng số dân cư, nếu kể cả Montréal lẫn các
thành phố phụ cận, đạt hơn 3,5 triệu vào đầu
thế kỷ 21; dân số của thành phố Montréal
chính thức chỉ khoảng 1,8 triệu. Tuy đại đa
số dân Montréal nói tiếng Pháp, rất nhiều
người nói cả tiếng Anh lẫn tiếng Pháp. Thêm
vào đó là gần 500.000 các cư dân đến từ các
nơi khác như Ý, Nam Mỹ, Israel, Hy Lạp,
Trung Hoa, Haiti, Bồ Đào Nha, Đông Nam Á, Ấn
Độ, Đông Âu... và các ngôn ngữ của họ.
Sau một trận bão tuyết tại Montréal Đảo
Montréal vốn là đất của thổ dân Algonquin,
Huron và Iroquois từ hàng ngàn năm trước khi
người Pháp đến thám hiểm Bắc Mỹ vào đầu thế
kỷ 16 (Jacques Cartier - 1535; Samuel de
Champlain - 1608). Đến 1642 các nhà truyền
giáo Paul de Chomedey de Maisonneuve và
Jeanne Mance lập ra một làng nằm trong phạm
vi của Montréal ngày nay. Làng đó được đặt
tên là Ville-Marie và càng ngày càng mở rộng
nhờ vào sự trao đổi giữa người Pháp định cư
và dân bản xứ.
Đa số
dân của Ville-Marie là người Pháp nhưng sau
khi Hầu tước Vaudreuil (Pierre Francois de
Rigaud) trao thành Ville-Marie cho Đế quốc
Anh vào 1760, các dân di cư từ Anh, Ireland,
Scotland và những nơi khác ở Âu Châu cũng
đến lập nghiệp tại đây. Montréal chính thức
trở thành một thành phố vào năm 1832. Từ
thập niên 1860 đến thập niên 1930 là thời kỳ
huy hoàng nhất của Montréal; nhiều người cho
rằng thời kỳ này kéo dài đến cuối thập niên
1970, trước khi các kỹ nghệ, thương mại và
dân nói tiếng Anh dọn đi Toronto.
Tuy vậy, Montréal vẫn còn là một
thành phố quan trọng của Bắc Mỹ, nếu không
muốn nói là của thế giới, về thương mại, kỹ
nghệ, đầu tư, chính trị, du lịch và nhất là
về các hoạt động văn hóa. Montréal là hải
cảng chính nối liền Ngũ Đại Hồ với Đại Tây
Dương. Dưới ảnh hưởng của hai nền văn hóa
Anh và văn hóa Pháp, cộng thêm vào đó là dân
cư nói nhiều thứ tiếng, Montréal trở thành
một cái gạch nối tự nhiên giữa châu Âu và
Bắc Mỹ.
Montréal còn giữ được rất nhiều kiến trúc cổ
từ thế kỷ 18, thế kỷ 19 cho đến những trụ sở
thương mại của đầu thế kỷ 20 và những cao ốc
trụ sở kinh doanh xây vào thập niên 1950,
thập niên 1960. Khu Montréal Cổ (tiếng Pháp:
Vieux Montréal, tiếng Anh: Old Montreal) vẫn
còn nhiều con đường đá và nhiều di tích cũ
của thị trấn Ville-Marie ngày xưa. Montréal
có một hệ thống xe điện ngầm (Métro) nối
liền với các hệ thống xe lửa và xe buýt -
ngay cả sang hai thành phố bên kia bờ sông
của Montréal (Laval và Longeuil) bằng cách
đào đường hầm dưới sông Saint-Laurent. Hầu
hết các cơ sở thương mại, trường đại học, cơ
quan chính phủ và các cao ốc tại trung tâm
của thành phố đều được nối với nhau bằng
đường hầm. Ảnh hưởng của tôn giáo, nhất là
của Giáo hội Công giáo La Mã, thể hiện qua
hàng trăm các nhà thờ to nhỏ khác nhau của
Montréal. To, đẹp và quan trọng nhất là các
thánh đường sau đây:
Basilica Notre-Dame de Montréal
Cathedral Marie-Reine-du-Monde
Basilica St. Patrick
Oratoire St. Joseph
Basilica Notre-Dame-du-Bon-Secours
Christ Church Cathedral
Với dân số chưa đến 4 triệu, Montréal có 5
trường đại học và nhiều trường cao đẳng.
Khác với đa số các trường đại học ở Bắc Mỹ,
những đại học của Montréal nằm ngay trong
phạm vi của thành phố.
Đại học McGill
Đại học Concordia
Đại học Montréal
Đại học Québec tại Montréal
Đại học Shebrooke tại Longueuil
Trường Bách khoa Montréal
Trường Cao đẳng Thương mại Montréal
Trường Hành chính Quốc gia (Montréal)
Trường Công nghệ (Montréal)
Vận động trường chính của Thế vận hội
1976. Tuy có nhiều nhà thờ nhưng dân Montréal
sống rất phóng khoáng, ít bảo thủ - mức độ
sinh sản và số người sùng đạo càng ngày càng
giảm kể từ thập niên 1960. Trái lại, họ
thích hội hè, yêu chuộng âm nhạc, văn nghệ,
phim ảnh, thể thao và các trao đổi văn hóa
quốc tế. Năm 1967 Montréal là địa điểm tổ
chức Triển lãm Quốc tế (Expos '67), một
triển lãm thành công nhất trong lịch sử; đến
năm 1976 Montréal lại tổ chức Thế vận hội
mùa hè 1976, một Thế vận hội quá tốn kém đưa
đến một sự lỗ lã nhất trong lịch sử của
phong trào Thế vận hội. Mỗi mùa xuân, vào
ngày Thánh bổn mạng của Ireland (Ngày St.
Patrick), Montréal tổ chức một đám rước cho
vị thánh này, to thứ nhì trên thế giới (sau
New York). Điểm đặc biệt là đám rước này mất
hẳn tính chất tôn giáo và biến thành một
trình diễn văn hóa cộng đồng - ngay cả cộng
đồng Phật giáo Tây Tạng cũng có đại diện
trong đám rước này.
Sang đến mùa hè thì Montréal lúc nào cũng có
ít nhất một hội hè. Trong khi các thành phố
khác chỉ có một, Montréal có 3 liên hoan
phim diễn ra hàng năm, trong đó Liên hoan
phim thế giới Montréal (Festival du Film
International de Montréal) - đứng thứ ba sau
Liên hoan phim Cannes và Liên hoan phim quốc
tế Toronto - là quan trọng nhất.
Đại hội
nhạc Jazz Montréal (Montreal Jazz Festival)
- một trong hàng chục các nhạc hội khác -
thu hút hàng trăm ngàn người mỗi năm. Ngày
Canada Day là một ngày mọi người nghỉ ngơi
nhưng ngày Thánh bổn mạng của Québec (St.
Jean Bapstiste) lại là một dịp để mọi người
vui chơi, nhất là ở những khu đông dân nói
tiếng Pháp. Francopholie là một dịp để các
nhạc sĩ, nghệ sĩ nói tiếng Pháp trên toàn
thế giới đến khoe tài tại Montréal.
Triển
lãm nghệ thuật pháo bông quốc tế (với nhạc)
diễn ra hàng tuần trong tháng 7 và tháng 8.
Montréal cũng là một địa điểm của loại đua
xe nhanh nhất và tốn tiền nhất trên thế giới:
Formula One. Hàng năm cả trăm ngàn người
trên khắp thế giới kéo nhau đến Montréal để
xem các tay lái thượng thặng đua tài với tốc
độ hơn 300 km/giờ. Hầu như không có tay khôi
hài nào ở Bắc Mỹ không tham dự Juste pour
rire/Just For Laugh diễn ra vào tháng 8 hàng
năm tại Montréal. Trong các hội hè của các
dân định cư thì Tuần lễ của Ý và ngày Độc
lập của Hy Lạp là hai lễ hội to nhất.
Trước 1975, cộng đồng người Việt ở Montréal
chỉ độ 100 người, đa số là sinh viên du học.
Sau đó, nhất là từ 1975 đến 1985, Montréal
là nơi tiếp nhận người Việt nhiều nhất tại
Canada. Hiện nay cộng đồng người Canada gốc
Việt tại Montréal ước tính 25 000 người,
đứng thứ hai về dân số sau cộng đồng người
Việt tại Toronto. Nói chung thì cộng đồng
người Việt tại Montréal đã sát nhập một cách
rất hòa đồng với đời sống và dân bản xứ.
====
Đọc
thêm:
NGƯỜI VIỆT MONTRÉAL
(Thuyền
nhân Nguyễn Thượng Chánh)
Từ
năm 75 đến thập niên 80 có hằng trăm ngàn
người Việt Nam liều chết vượt biển để tìm tự
do và cuối cùng một số người may mắn đã đến
được bến bờ tự do.
Theo ước đoán, hiện nay có khoảng trên
25.000 người Việt Nam đang sinh sống tại
thành phố Montréal. Họ được gọi là Les
Vietnamiens de Montréal hay Les
Viéto-Montréalais.
Theo thời gian, cộng đồng người Việt
Montréal dần dần lớn mạnh thêm, thích nghi
và hội nhập một cách êm ái vào xã hội
Québec.
Trên bước đường tị nạn, người Việt đã mang
theo họ kinh nghiệm sống từ quê hương khói
lửa cũng với một tâm quyết sắt đá là phải
gầy dựng lại một cuộc đời mới trong tự do và
hy vọng một tương lai sáng sủa hơn đang chờ
đón con cháu họ…
«Les Vietnamiens de
Montréal» là tên một quyển sách nghiên cứu
xã hội, nhân chủng học do Giáo sư
Louis-Jacques Dorais
và Eric Richard thuộc Đại học Laval, Québec thực hiện và do Les Presses de l’Université de Montréal xuất bản năm 2007. Sách hiện có trong tất cả thư viện Québec.
Tác phẩm trên dựa vào sự tìm hiểu về cuộc sống và sự hội nhập của người tị nạn Việt Nam thuộc thế hệ thứ nhứt và thứ hai, nghĩa là những lớp người tị nạn cộng sản đến định cư tại Montréal từ 1975 cho đến những năm 1980.
La plupart des Viéto-Montréalais se sont
admirablement bien adaptés à leur société
d’accueil et leurs expériences migratoires
demeurent singulières.
Tout au long de cet ouvrage qui privilégie
une approche anthropologique, le lecteur
pourra comprendre comment les
Viéto-Montréalais ont su tirer parti du
multiculturalisme ambiant pour mieux
s’adapter et s’intégrer.
Louis-Jacques Dorais est professeur au
Département d’anthropologie de l’Université
Laval, à Québec. Éric Richard poursuit des
études doctorales au même département.
Quyển Les Vietnamiens de Montréal được thực
hiện qua thể thức phỏng vấn thăm dò một số
vài chục nhóm mẫu (échantillons) đồng hương
Việt Nam thuộc nhiều lứa tuổi, có hoàn cảnh
xã hội và điều kiện kinh tế khác nhau.
Theo người viết, những nhận xét và kết luận
trong tác phẩm trên chỉ có một giá trị thống
kê tương đối mà thôi. Nó chỉ nói lên được
phần nào, những vấn nạn chung chung mà hầu
như không ít người tị nạn, và di dân Việt
Nam mới đến định cư thường hay gặp phải...
Dù sao đi nữa, tác phẩm trên được nhìn qua
từ phía các học giả Québecois cũng giúp cho
chúng ta biết thêm về người Việt tại
Montréal, và biết chừng đâu mình cũng có thể
nhận thấy chính mình trong tác phẩm nói trên.
Một số trích dẫn tiêu biểu từ tác phẩm Les
Vietnamiens de Montréal
« Montréal đối với tôi như một gia đình đa
chủng tộc» (nam 37tuổi, định cư năm 82,
trang 28).
“…Khi đến đây, tôi gặp được nhiều may mắn.
Tôi tìm được việc làm tại Baie James. Tôi là
kẻ thích phiêu lưu. Cho dù là người
Québecois, họ cũng không dám bén mảng đến
nơi đó. Vì lạnh quá mà. Nhưng tôi tự nhủ:
mình không có một sự chọn lựa nào khác hơn
được. Đây là lý do sinh tồn của mình. Có
người xúi tôi đi xin trợ cấp xã hội (social
welfare) nhưng tôi dứt khoát chối từ...” (nam
76t, cựu viên chức cao cấp VNCH, định cư năm
75, trg119).
“...Những điều tôi biết được đều do Pa Má
tôi kể lại. Có nghĩa là nếu sống bên Việt
Nam thì sẽ không có tương lai. Nếu còn ở bên
đó thì chắc chắn là Pa Má tôi phải đi cày
ruộng rồi. Bởi lý do nầy nên Pa Má tôi quyết
định vượt biên. Pa tôi ngày xưa là hải quân
và chúng tôi bị thua trận. Riêng tôi, tôi
nghĩ rằng Pa tôi cần phải đi để cứu lấy mạng
sống của mình...” (nam 19t, sanh tại Québec,
trg111).
“...Tôi không cảm thấy tiếc nuối gì cả. Tôi nghĩ rằng cha mẹ tôi quyết định rất đúng cho gia đình tôi và cho cả em tôi. Tôi cũng biết là Pa tôi đã hy sinh rất nhiều để cho chúng tôi có được một cuộc sống tốt đẹp hơn. Pa Má tôi phải gánh chịu bao nổi khó khăn nhọc nhằn mới đến được bến bờ tự do. Pa tôi bắt đầu bằng những công việc lặt vặt để sống...” (nam 28t, sanh tại Toronto, trg112).
“Tôi muốn giữ lại tất cả, ngoại trừ những khía cạnh quá nghi thức về tập tục. Tôi sẽ dạy dỗ con cái tôi theo kiểu Canada, nghĩa là rất cởi mở, nhưng tôi vẫn áp đặt chúng cái mentalité của người Việt Nam mình đồng thời cũng giữ khía cạnh tích cực của Bắc Mỹ...” (Méthot,1995:176, trg 114).
La participation des Viéto-Montréalais de la
deuxième génération à des associations ou
des groupes vietnamiens à Montréal est
ambigue…De plus, les commentaires receuillis
au sujet de ces différents groupes et
associations sont majoritairement négatifs.
Par exemple, des jeunes Viéto-Montréalais
considèrent peu pertinentes les
assiociations qui mettent en valeurs
certains aspects de la culture vietnamienne.
D’autres n’apprécient pas de manière dont
les différentes activités sont organisées et
ils n’aiment pas le type de personnes qui y
prennent part. Pour d’autres enfin, ces
associations contribuent uniquement à une
forme de ghettoisation, c’est à dire à
enfermer les vietnamiens dans un monde de
Vietnamiens.
Sự tham gia của người Việt Montréal thuộc thế hệ thứ hai vào các nhóm và hội đoàn Việt Nam rất ư là mập mờ…Ngoài ra, những ý kiến thu lượm được về những tổ chức hội đoàn nói trên phần nhiều là rất tiêu cực. Thí dụ, giới trẻ nói rằng họ không tin cậy các hiệp hội có tôn chỉ đề cao một vài khía cạnh của nền văn hóa Việt Nam. Một số thì không thích cách thức buổi lễ được tổ chức cũng như họ không ưa một số khuôn mặt nào đó. Có những người khác thì cho rằng mục đích chính của các hội đoàn là nhằm gom người Việt lại với nhau trong một thế giới riêng của người Việt không khác gì tạo ra những ghetto (L.J. Dorais, trg114).
«...Thật vậy, tôi tự nhận tôi là tôi.Tôi
không chối cãi tôi là Việt Nam, vì lúc đi ra
ngoài đường, người ta hỏi quốc tịch tôi là
gì…Tôi muốn nói tôi là người Á Đông, nhưng
đồng thời tôi cũng là Việt Nam…Tôi tự cảm
nhận tôi chỉ là tôi. Tôi không phải là người
Việt, mà tôi cũng không phải là người
québecoise. Tôi là tôi. Tôi tự hào trong
thâm tâm, mình là mình (nữ 21t, định cư
Québec lúc 4t, trg115).
Growing up an Asian Canadian is not an easy
task. Sure, I was born a Canadian but my
parents are Vietnamese. I clearly look
Vietnamese, but am I a true Vietnamese
girl/behind this Asian face I wear, two
different cultures are at war. At home, the
Vietnamese mentality reigns; at school, I
must act differently to integrate myself.
“Trưởng thành như một người Canada gốc Á
không phải là chuyện dễ dàng đâu.Thật vậy,
tôi sanh ra là Canadian, nhưng cha mẹ tôi là
người Việt Nam. Rõ ràng tôi giống người Việt
Nam, nhưng có phải tôi là một phụ nữ Việt
Nam đúng nghĩa không? Đàng sau bộ mặt Á châu
mà tôi mang, có hai nền văn hóa đang xâu xé
lẫn nhau. Ở nhà, cái mentalité Việt Nam ngự
trị và ở trường tôi phải hành sự khác đi mới
hội nhập được (Nguyễn Tuyết Nhung, Liên Hội
Sinh Viên VN Montréal 1998, trg 117).
Pour
Méthot (1995), les jeunes Viéto-Montréalais
construisent leur identité en fonction des
images qu’ils ont de la société dans
laquelle ils vivent et des gens qu’ils
côtoient quotidiennement
Theo
Méthot (1995), giới trẻ Montréal xây dựng
identité dựa trên hình ảnh có được từ xã hội
đang sống và từ những người mà họ tiếp xúc
hằng ngày (trg 116).
Lo làm việc…Lo cho cuộc sống của mình, con
đường nhỏ bé mình đi một mình ên…Chấp nhận
trách nhiệm của chính mình. Đó là những điều
tôi thật sự quyết định làm. Thí dụ, khi tôi
phải lo buổi cơm tối ở nhà cha mẹ, tôi phải
làm như thế nầy, như thế kia…không được như
vầy, không được như thế nọ…Thật sự là chán
ngán! Nay, thì tôi về nhà lúc nào tôi muốn.
Bởi thế mà tôi đã bỏ đi ở riêng. Tôi thật sự
cần có đời sống của riêng tôi, tôi muốn làm
gì thì làm, tôi tự quyết định những gì mình
muốn làm. Tôi không cần phải nghe Pa Má tôi
phán: «Không, đừng làm như vậy, đừng, đừng
và đừng…»! Để cuối cùng mình không được làm
gì hết (nữ 21t, định cư Québec lúc 4t, trg
119).
Với
cha mẹ tôi, rõ ràng là Ổng Bả còn mang
mentalité của Việt Nam. Ổng bả muốn con cái
mình học y khoa hoặc lãnh vực khoa học về
sức khỏe. Nếu mình không làm theo như ý, ổng
bả xem đó là một sự thất bại. Và ổng bả tối
ngày đem mình ra so sánh với con của người
khác… Nhìn theo một khía cạnh nào đó thì ổng
bả đang hạ giá trị mình xuống. Chắc chắn là
trên một bình diện nào khác, cha mẹ mình ước
mong điều tốt cho mình, nhưng khi mình không
có khả năng là mình không thể làm được. Chấm
hết! (nam 22t, định cư tại Québec lúc được 6
tháng tuổi, trg 120).
Ổng bả đem so sánh mình một cách không
thương tiếc với người khác. Việc đó làm mình
rất bực bội vì mình lúc nào cũng cảm thấy bị
đặt trong tình trạng phải tranh đua, và lúc
nào mình cũng vẫn là người thua cuộc hết (nam
19t, sanh tại Québec, trg 120).
Vâng, chúng tôi có với nhau một mối quan hệ
rất tốt đẹp ngoại trừ việc Pa Má tôi còn
mang nặng cái đầu óc, cái mentalité quá Việt
Nam hoàn toàn khác biệt với tâm ý mentalité
của dân bên nầy. Cái gì cũng gắt gao, cũng
đều bị ổng bả kiểm soát hết. Khi tôi nói tất
cả, thật sự tất cả bất cứ chuyện gì. Một mặt
khác, tôi không muốn làm xúc phạm đến cha mẹ
tôi, và làm họ phải buồn lòng. Nói chung thì
nó như thế đó, đó là một vấn đề về quyền tự
do (nam 19t, sanh tại Québec, trg 121).
Cha mẹ tôi thuộc về một thế hệ khác. Về mặt
sinh hoạt, tôi thường ham đi chơi với bạn bè
khiến ổng bả rất bực mình. Những chuyện như
thế lúc nào cũng làm ổng bả khó chịu hết (nam
25t, đến Québec lúc 6t, trg121).
Dù rằng tôi rất yêu quê hương, tôi cũng
không muốn về sống ở bên đó.Tại vì tôi đã
sống nhiều năm bên nầy rồi, nếu về bển, tôi
cần phải có nhiều năm để thích nghi lại.
Không, tôi nghĩ tôi không về Việt Nam để
sống đâu vì tôi đã quá quen cuộc sống ở bên
đây rồi (nữ 17t, đến Québec lúc 5t, trg128).
Có những điều mà tôi không ý thức được. Như
gần đây, tôi đi chơi Núi Mont Tremblant với
vài người bạn gồm có một bạn da đen và hai
bạn Á châu. Chúng tôi bị một nhà hàng từ
chối, viện lý do không còn bàn nào trống hết,
mặc dù thật sự không phải như thế (nam 28t,
sanh tại Toronto, trg130).
Tôi biết là vấn đề kỳ thị có ở đây. Những
nơi tôi làm việc, thì không có, nhưng ngoài
đường đôi khi nó xảy ra cho chính tôi do các
đứa nhỏ, những thiếu niên gây ra…Chả có gì
quan trọng cho tôi vì tụi nó không hiểu
những gì tụi nó đang làm...(nữ 28t, đến
Québec năm 1988, trg191).
Cũng có một số dân Québecois rất lạnh nhạt
thờ ơ, như thể họ đến từ hành tinh khác. Họ
chả biết gì ráo. Có một hôm, có một ông nọ
đã hỏi tôi:Người BắcTonkinois? Là ở đâu đến
vậy? Rồi ông ta lại hỏi lúc xưa gốc gác tôi
ở đâu? Tôi trả lời, tôi là người Việt Nam.
Rồi ông ta hỏi tiếp theo: Là xứ nào vậy?
Trời ơi, ông ta là người cũng phải trên 30
tuổi rồi…Nhưng đối với những người có đi du
lịch thường thì khá hơn, hiểu biết nhiều hơn…(nữ
24t, định cư Québec 83,trg191).
Thành thật mà nói, tôi cho tôi là người Việt
Nam, nhưng đồng thời cũng là người Québecois.
Tôi phải nói sao đây? Tôi có một mentalité
thiên nhiều về Việt Nam, tôi còn nhiều gốc
gác Việt Nam, ngoại trừ thời niên thiếu ở
đây tôi thường sống với người Québecois.
Nhưng tôi thường nghĩ rằng lúc nào tôi cũng
là người Việt Nam nhiều hơn là người
Québecois (nam 22t, sanh tại Québec, trg
204).
Tôi là người Việt Nam và tôi sống tại
Canada. Chỉ thế thôi! (nam 50t, định cư
1982, trg 204).
Tôi là Québecois và Việt Nam. Tôi đẻ bên
Việt Nam nhưng tôi không còn nhớ gì hết.Tôi
đi học ở đây, bạn tôi là người Québecois.
Tôi nghĩ rằng tôi có mỗi thứ một nửa (nam
24t, đến Québec năm 80, trg 204).
Tôi cảm thấy rất thích hợp ở đây, và thích
nghi tốt đẹp vào đời sống Québec. Tôi vẫn
giữ nét Á châu nhưng tôi vẫn có thể thích
nghi vào một nền văn hóa khác hơn nền văn
hóa Việt Nam (nữ 46t, đến Québec 81,trg
204).
Mối giao tiếp của tôi phần lớn là với người
Québecois.Tôi cảm nhận, một nửa của tôi sống
theo kiểu Québecois và tôi vẫn giữ một nửa
Việt Nam. Có nghĩa là chỉ tôi tiếp thu những
điều tốt đẹp của xứ nầy mà thôi (nam 51t,
đến Québec 84, trg 205).
Tôi không có thể nào nói được tôi hoàn toàn
là người Việt Nam cả. Khi tôi nói chuyện với
các bạn tôi thì tôi cho rằng tôi là người
Việt Nam, người Québecoise hay là người
Canada. Không khác gì tôi là một phụ nữ quốc
tế (nữ 42t, đến Québec 82, trg 205).
Tôi không còn biết thật sự ra xứ sở của tôi
là Canada hay là Việt Nam nữa. Tôi không
biết…Có thể tôi xem cả hai đều là xứ sở của
tôi hết (nam 23t, đến Québec 92, trg 205).
Đúng vậy, tôi rất quan tâm đến chuyện bên
nhà, tôi nôn nóng lắm, có thay đổi bên đó
nhưng vẫn còn cái mentalité cộng sản. Dù sao,
Việt Nam cũng là quê hương của cha mẹ tôi,
tôi muốn hiểu rõ hơn những gì xảy ra bên đó
(nam 22t, sanh tại Québec, trg 209).
Rất quan trọng đối với tôi, vì tôi thương
người dân bên đó. Tôi không muốn nhìn thấy
cảnh họ bị áp bức, đàn áp, đói khổ…Tôi tin
tưởng rằng mọi người có quyền sống theo ý họ
muốn của họ…(nam 46t, định cư tại Québec 81,
trg 209).
Vâng, tôi rất quan tâm đến tình hình chính
trị của Québec và Canada nhiều hơn là của
Việt Nam.Tôi thường theo dõi trên TV các
cuộc tranh luận chính trị tại quốc hội
Québec hoặc Ottawa. (nam 42t, đến Québec năm
75, trg 185).
Vâng, rất quan trọng vì tôi là Québecois và
Canada là xứ sở của tôi. Tôi có bổn phận với
tư cách là một cử tri…(nam 24t, đến Québec
1980, trg 185).
Giới trẻ có một tương lai tốt trước mắt.
Chắn chắn là họ sẽ quên đi…Họ quên rất mau
nếu không có ai nhắc nhở họ thế nào là văn
hóa Việt Nam (nam 33t, đến Québec 82, trg
189).
Tôi nghĩ rằng, theo cái đà nầy thì trước sau
gì họ cũng sẽ bị mất gốc hết. Bởi vì ngày
nay, họ muốn thích nghi, nhất là đối với lớp
trẻ. Đối với bọn trẻ, sanh bên nầy hay bên
nhà cũng vậy, tôi thiết nghĩ như họ thường
hay nói «Bof!». Họ từ từ sẽ thích nghi, và
sẽ đồng hoá với tất cả mọi người (nữ 17t,
đến Québec 1991, trg 189).
Kết luận của tác giả Louis-Jaques Dorais
Cho dù tương lai sẽ ra sao, nó vẫn thuộc về
của giới trẻ. Tại Montréal cũng như tại
những nơi khác, người Việt thuộc thế hệ thứ
hai hoặc thứ ba sẽ lần hồi thay thế bậc cha
anh trong việc điều hành các vấn đề cộng
đồng của người Việt Nam. Chính nhóm trẻ sẽ
quyết định là có cần nên bảo tồn hay không
một vài nét đặc thù tiêu biểu của identité
Việt Nam hay ngược lại. Tốt hơn hết là chúng
ta nên hòa nhập trọn vẹn vào nhóm đa số
Québec và Canada bằng cách theo đuổi tất cả
cách sống của họ, cũng như những giá trị và
biểu thị trổi bật của xã hội Bắc Mỹ.
Quel que soit l’avenir, il appartient aux
jeunes. À Montréal comme ailleurs, les
Vietnamiens de la seconde et de la trosième
génération vont progressivement remplacer
leurs ainés đans la conduite des affaires
communautaires et la définition de
l’ethnicité vietnamienne. Ce sera donc à eux
de décider si cela vaut la peine de
préserver une certaine spécificité
identitaire ou, au contraire, s’il est
préférable de se confondre complètement dans
le Québec et le Canada majoritaires, en
adoptant la totalité des pratiques, des
valeurs et des représentations qui prévalent
en Amérique du Nord ./. (Louis J. Dorais )
Trg 222
Nguyễn Thượng
Chánh
Tham khảo:
-Eric Richard, Univ Laval, Québec: Une
identité vietnamienne transnationale? Le cas
des Vietnamiens de Montréal.
http://pages.usherbrooke.ca/sodrus/pdf/pdf_colnov05_1/comm_eric_richard.pdf
-Louis-Jacques Dorais, Univ Laval,Québec:
Identités vietnamiennes au Québec
http://www.erudit.org/revue/RS/2004/v45/n1/009235ar.html
-Statistics Canada 2006. The vietnamese
community in Canada
http://www.statcan.gc.ca/pub/89-621-x/89-621-x2006002-eng.htm
-Nguyễn Vy Khanh. Cộng đồng người Việt ở
ngoài nước 30 năm sau
http://www.scribd.com/word/full/6131370?access_key=key-2l047l6mbs4zrmopbxrw
-Lâm văn Bé. Dung hòa hợp lý.
http://www.khoahoc.net/baivo/lamvanbe/210808-dunghoahoply.htm
-Huy Lực Bùi Tiên Khôi Ph.D. Truyền thống
hiếu học của người Việt Nam: sự thành công
của người thanh thiếu niên Việt nam tại Hoa
Kỳ.
http://www.khoahoc.net/baivo/huylucbuitienkhoi/291009-truyenthonghieuhoc.htm
- Trần Giao Thùy. Người Việt ở Mỹ. Vẻ vang
dân Việt
http://saigonecho.com/main/cdviettynan/xaydungcdviet/13373.html
-Suzana Loubet Del Bayle. Les Vietnamiens en
République tchèque: le long chemin de
l’émancipation.
http://www.regard-est.com/home/breve_contenu.php?id=982&PHPSESSID
Montréal, Nov 02, 2009 |