Thoi-Nay.com - Du lich the gioi - Top 10

Trang chính
Du lịch thế giới - Top 10

Mục lục

Du lịch thế giới :

Du lịch Cancun

 

Du lịch Jamaica

 

Du lịch Nhật Bản

 

Du lịch Okinawa (Nhật Bản) - Biển xanh đảo  
 

Du lịch Singapore
 

Venice

 

Thiên đường hạ giới

Du lịch thế giới - Top 10 - Phụ trách TN @TiViTuanSan
4/2009.

Du ký: Du lịch Nhật Bản

 

10 ngày đêm ở Xứ Mặt Trời Mọc

(phần 5 & hết)

[Phần 1][Phần 2][Phần 3][Phần 4][Phần 5]

(Nguyễn Hồng Anh)
 

Thỉnh thoảng qua tin tức, người ta nói tới Yasukuni Shrine (gọi là đền tử sĩ, đài tưởng niệm hay đài chiến sĩ trận vong Yasukuni) không vì đấy là một “kỳ quan” mà bởi vì sự tranh luận do các nhà lãnh đạo Nhật Bản gây nên mỗi khi họ đến viếng đền này. Cứ mỗi lần một vị thủ tướng Nhật đến thăm Yasukuni Jinja (Jinja tiếng Nhật có nghĩa là đền thần) trong ngày đầu năm, dịp lễ lạc gì đó hay trong ngày 15 tháng 8, là ngày kỷ niệm Thiên Hoàng Nhật tuyên bố đầu hàng vô điều kiện trong Đệ Nhị Thế Chiến, các nước ở Đông Nam Á, đặc biệt là Trung Cộng và Nam Hàn thường phản đối mạnh mẽ, đôi khi làm cho quan hệ ngoại giao giữa hai nước trở nên căng thẳng.

Khách hành hương đi vào Bái Điện của đền Yasukuni, ngày 16.8.2007

Bởi vậy, trong chuyến Nhật du tháng 8 vừa rồi, tôi có ý định tới xem Đền Yasukuni là cái chi chi mà các thủ tướng Nhật thường tới viếng để gây sự phản đối từ các quốc gia láng giềng.



Vị quốc vong thân: đã tồn tại 137 năm



Sáng 16.8.07, đọc nhật báo Asahi Shimbun tôi được biết Thủ tướng Nhật Shinzo Abe ngày hôm qua (15.8) nhân kỷ niệm lần thứ 62 Nhật thất trận, đã không đến viếng Đền Yasukuni như vị tiền nhiệm Junichiro Koizumi. Và tất cả mọi vị khác trong nội các của ông Abe cũng đã không đến đó, trừ một vị bộ trưởng đặc trách Okinawa và các vùng Bắc Lãnh.



Đồng thời tờ báo này cũng chạy vài xã luận có tựa “Yasukuni Shrine: Nhật Bản rất cần có một đài tưởng niệm mới cho quốc gia” với câu kết luận: “Chúng ta chớ bỏ qua những thay đổi đã xảy ra một cách âm thầm trong mùa hè này. Càng ngày việc thần thánh hóa các lãnh tụ chiến tranh trong Đền Yasukuni càng trở nên không thể chấp nhận được bởi đấy là một biểu tượng của chủ nghĩa quân phiệt thời tiền chiến”.




Tác giả bên cạnh chiếc máy bay Thần Phong ở viện bảo tàng Yushukan
Chúng tôi chỉ còn trọn một ngày đêm thoải mái ở Nhật trước khi phải rời Tokyo vào tối mai nên hoạch định một chương trình đi thăm những nơi có thể đi trong ngày, gồm 3 nơi: Đền tử sĩ Yasukuni, Tòa quốc hội Diet và Tháp Tokyo. Ngoài ra, trên đường đi, gặp gì xem nấy.



Lần đầu tiên ở Tokyo, chúng tôi chọn cách tới Đền Yasukuni bằng đường xe điện ngầm (metro), nhưng tự nhủ rằng đây chỉ là lần đi xe công cộng cuối cùng bởi rất ngại phải dò dẫm đường giữa trời nắng do kinh nghiệm đi bộ tới Chùa Kiyomizu ở Kyoto ngày hôm trước.

Đến trạm Ichigaya, chúng tôi nhảy ra. Chỉ dẫn trên bản đồ rất rõ ràng, cho thấy từ ga xe điện ngầm đi tới đền tử sĩ là một con đường thẳng, chỉ mất khoảng năm bảy phút đi bộ, nhưng chúng tôi vẫn hỏi người trên đường xem lối đi là đi lên hoặc xuống, bởi vì phải đi ngược lại sẽ mệt lắm. Ngày hôm qua ở Tokyo nhiệt độ lên tới 40.8 độ C, cao nhất trong vòng hơn 70 năm qua. Hôm nay, trời cũng chẳng mát mẻ hơn bao nhiêu.

Và thành quách đã hiện ra trước mặt, nhưng đây là lối đi bên hông với cái cổng nhỏ gọi là South Gate. Chúng tôi tự nhủ “đường nào cũng đến La Mã” nên cứ vào “cửa hậu” xem và khi trở về thì bằng “cửa trước” cũng chẳng sao. Du khách đâu cần câu nệ.



May thay, đi lối này trở thành đi tắt, đụng ngay Haiden (Main Hall – Bái Điện) với mái đền thường thấy trên tivi hay trong báo chí khi các nhà lãnh đạo Nhật hay du khách tới thăm viếng, bái lạy.



Đền Yasukuni là một tập hợp nhiều kiến trúc nằm trong vùng Kudan, giữa trung tâm thủ đô. Khu đất hình chữ L được bao bọc bởi tường thành với nhiều cổng nhỏ bên hông, phía trong trồng nhiều cây bách, cây bá hương và cây phong, là một khu vực cây xanh nổi tiếng của thủ đô.




Tác giả trước Cổng Thứ Hai đường vào đền Yasukuni, hậu cảnh là phố xá
Nếu đi vào cửa trước, bạn sẽ gặp Cổng Thần Đạo thứ nhất to cao với các cột bằng thép hình tròn sơn màu xanh lá cây sẫm gần với màu đất, khác với các cổng Thần Đạo thường thấy ở các đền sơn màu cam và cột gác ngang trên cao sơn màu đen.



Cổng này tiếng Nhật gọi là Daiichi Torii (Great Gate), cao 25 mét và rộng 34 mét.



Đây là nơi mà các yếu nhân Nhật Bản đi vào thăm đền. Tiến vào một đoạn nữa sẽ bắt gặp bức tượng dựng trên bục đá cao, đó là tượng của ông Omura Masujiro (1824-1869), người sáng lập Quân Đội hiện đại của Nhật. Bức tượng đúc toàn thân của ông được dựng vào năm 1893 là bức tượng đồng điêu khắc theo kiểu Tây phương đầu tiên ở Nhật.



Sau đó bạn sẽ gặp Cổng Thứ Hai nhỏ hơn, rồi cổng Shinmon (Main Gate) là một kiến trúc hơi giống cổng tam quan làm bằng gỗ cypress (bách) có mái. Tiến lên nữa giữa sẽ gặp một cổng thần trước khi vào sân của Bái Điện (Haiden – Main Hall). Bái điện này được xây vào năm 1901 với mái doi hình chóp lộng lẫy được trùng tu lại vào năm 1988. Hình ảnh tiêu biểu của Đền Yasukuni là cái điện này. Đây là nơi khách thập phương tới để bái lạy và dâng lễ vật (bỏ vào thùng gỗ trước thềm đền).



Trong khi du khách sắp hàng để đứng trước mặt tiền đền bái lạy, tôi quan sát thấy trên trần đền treo những tấm vải màu trắng có nét chữ, nhưng không hiểu có ý nghĩa gì bởi viết bằng Nhật ngữ.



Chúng tôi thấy sâu bên trong đền qua nhiều gian phòng có các đạo sĩ mặc đồ màu đen và nhiều thanh niên nam nữ mặc đồ thụng màu trắng (như các chú giúp lễ đạo Công Giáo) sắp hàng đứng phía sau. Tôi chẳng biết họ tế lễ ra sao vì không thể đứng lâu trong khu vực này, phải nhường chỗ cho người khác đến lạy hay xem.



Sau Bái Điện là Đền Chính (Honden – Main Shrine) nơi các vị thần (kami) cư ngụ. Đền này được xây vào năm 1972, là nơi hành lễ chính thức của Thần Đạo, công chúng không được vào.



Và sau Đền Chính là Reijibo Hoanden nơi chứa danh sách các vị thần, tức các tử sĩ của Nhật Bản. Danh sách và các tên tuổi của gần 2.5 triệu người được viết trên loại giấy đặc biệt của Nhật Bản, là những người đã chết vì nước Nhật qua 11 trận chiến kể từ thời Minh Trị Thiên Hoàng cho đến thời Đệ Nhị Thế Chiến. Văn thư lưu trữ được cất trong hầm bê tông cốt sắt chống động đất, xây vào năm 1972 với quỹ do Thiên Hoàng Hirohito đài thọ.



11 cuộc chiến: nội chiến và xâm lăng



Vào tháng 6 năm 1869, Minh Trị Thiên Hoàng ra chiếu chỉ xây một ngôi đền tại Kudan để tưởng nhớ những chiến binh đã chết trong trận chiến nội chiến Boshin xảy ra hai năm trước, giữa phe ủng hộ Thiên Hoàng và những người phò Tướng Quân Đức Xuyên (Tokugawa Shogunate), một giòng họ nắm quyền tại Nhật gần ba năm năm qua. Đây là trận chiến thứ hhất kể từ khi Thiên Hoàng thâu tóm giang sơn về một mối, có thực quyền của một vị vua.



Ban đầu, đền này có tên là Shokonsha. Năm 1879, do ảnh hưởng của văn học cổ điển Trung Hoa, đền này được đổi thành Yasukuni, có nghĩa là “tạo hòa bình cho đất nước”.



Đền tử sĩ làm các nghi thức theo Thần Đạo để an vị kami (thần linh) của tất cả các các chiến binh và thần dân đã hy sinh mạng sống của


Biết ơn các loại vật: thờ tượng chó, ngựa, và chim bồ câu đưa thư

họ vì Thiên Hoàng, gồm người Nhật lẫn thần dân các thuộc địa cũ (Triều Tiên và Đài Loan), trải qua các cuộc chiến từ thời Minh Trị (Meiji) cho đến Chiêu Hòa (Hirohito) mà cuộc chiến sau cùng là Thế Chiến Thứ Hai.



Tổng cộng chính xác là có 2,466,532 nhân mạng nam và nữ trong đó có 27,863 người Đài Loan và 21,181 người Triều Tiên đã chết vì Thiên Hoàng Nhật Bản. Chết vì Thiên Hoàng thì được thờ như thần.



Cũng vì vậy mà những người đã chết trong cuộc nội chiến Boshin thuộc phe Mạc Phủ Đức Xuyên (Tokugawa Shogunate) ở tỉnh Aizu và tỉnh Satsuma đã không được ghi tên vào Đền Yasukuni bởi họ bị coi là kẻ thù của Thiên Hoàng, gây sự tức giận từ một số người dân hai tỉnh này.



Trớ trêu thay, vì đền này tự ý ghi tên người ta vào nên có những gia đình người ngoại quốc hay có nguồn gốc đạo Thiên Chúa yêu cầu rút tên thân nhân họ ra khỏi đền tử sĩ nhưng các vị đạo sĩ của đền cho rằng một khi một linh hồn đã được phong thần rồi thì “đã nhập” và do đó không thể tách rời được nữa, có nghĩa đã vào thì không ra được!



Nhưng việc “phong thần” cho các tội phạm chiến tranh trong Đệ Nhị Thế Chiến mới là vấn đề, gây phẫn nộ cho các quốc gia khác cũng như tạo sự bối rối cho cả chính phủ lẫn hoàng gia Nhật.



Đền Yasukuni được coi là cột trụ tinh thần quốc gia của người Nhật trải dài trên 130 năm nay. Nói như kiểu VC yêu xã hội chủ nghĩa là yêu nước, thì với người Nhật, yêu Thiên Hoàng là yêu nước. Đây là nơi mà người dân đến để bày tỏ lòng ngưỡng mộ và tôn kính đối với những người đã chết vì tổ quốc. Nước nào cũng có những đài tử sĩ để tưởng nhớ các chiến sĩ trận vong như người Úc thường hành lễ một cách rất long trọng tại các đài Remenbrance Shrine trong các ngày quốc lễ như Anzac Day.



Nhật Hoàng Hirohito sau khi thất trận và được miễn xét xử bởi Đồng Minh cũng đã đến viếng đền Yasukuni những 8 lần. Lần chót là vào năm 1975.



Nhưng từ đó cho đến khi qua đời vào năm 1989, nhà vua không còn tới viếng, bởi vào năm 1978 vị đạo sĩ của đền đã bí mật ghi tên, phong thần cho 1,068 tội phạm chiến tranh đã bị kết án trong đó có 14 tội phạm chiến tranh hàng đầu hay còn gọi là tội phạm chiến tranh hạng A.



Ông Tomohiko Tomita, một đại thần trong triều, đã ghi lại trong nhật ký lời tâm tình của Nhật Hoàng Hirohito vào năm 1988 về việc phong thần các tội phạm chiến tranh: “Đó là lý do tại sao từ đó đến nay trẫm không còn đến viếng đền nữa. Trẫm nói từ đáy lòng đấy”.

14 tội phạm chiến tranh hàng đầu đó gồm:



- Hideki Tojo, Itagaki Seishiro, Heitaro Kimura, Kenji Doihora, Iwane Matsui, Akira Muto và Koki Hirota. 7 người này, trong đó có Thủ tướng kiêm bộ trưởng Chiến Tranh Tojo người ra lệnh tấn công hạm đội Mỹ ở Trân Châu Cảng, đều bị treo cổ.



- Yoshijiro Umezu, Kuniaki Koiso, Kiichiro Hiranuma, Toshio Shiratori: 4 người này bị án tù chung thân.



- Shigenori Togo: án tù 20 năm.



- Osami Nagano và Yosuke Matsuoka: cả hai chết vì bệnh trước khi tòa tuyên án.



Xem di vật chiến tranh



Mồ hôi nhễ nại và mắt hoa vì nắng chói nên đứng trước bục thềm chẳng thấy rõ bên trong đền, chỉ là những hình ảnh mờ mờ ảo ảo, tôi tính lấy máy ảnh chụp để xem sau, nhưng khi thấy các du khách Nhật đưa máy ảnh lên bị nhân viên an ninh quát tháo, tôi thấy chẳng cần thiết nữa.



Trong khuôn viên đền tử sĩ này còn nhiều thứ khác nữa như khu vực nuôi hàng trăm chim bồ câu trắng tượng trưng cho hòa bình, những đài dựng tượng ngựa, tượng chó và tượng chim bồ câu đưa thư với hương hoa lễ vật dâng cúng để làm cho hồn các súc vật siêu thoát do chết ở trên chiến trường khi cùng chiến đấu với các binh sĩ Nhật. Tôi thấy có du khách Nhật đi qua trước tượng chó, ngựa và chim chấp tay lạy hết sức cung kính.



Chúng tôi bước qua một khu khác đối diện các tượng chim, chó, ngựa. Có tòa nhà gọi là Yasukuni Archives nơi lưu trữ cả một trăm ngàn tập tài liệu ghi trường hợp mà các thần (tử sĩ) trong đền bị chết cũng như lịch sử cận đại của Nhật. Nhưng điều khác làm cho Nhật bị chỉ trích nữa là bảo tàng viện Yushukan, tòa nhà hai tầng nằm bên cạnh văn khố, nơi chứa các di tích và tài liệu tượng trưng cho chủ nghĩa quân phiệt Nhật. Họ lý luận rằng các nước khác đã không công bình khi đánh giá cuộc chiến vừa qua, vì người Nhật tham gia Đệ Nhị Thế Chiến với lý do tự vệ!



Tầng dưới, du khách vào xem miễn phí. Tầng trên phải trả tiền vào cửa, 800 Yen mỗi người. Quảng cáo cho thấy tầng trên triển lãm tài liệu hoàng gia Nhật, tiểu sử các kiếm sĩ samurai, các tướng lãnh và tôi nhớ hình như có tên của Trung Tướng Hideki Tojo, người bị Đồng Minh xử treo cổ vào năm 1948.


Chúng tôi chỉ đi xem triển lãm tầng dưới bởi tò mò với những hình ảnh của máy bay, xe lửa và các loại đại bác Nhật đã dùng trong Đệ Nhị Thế Chiến, nhất là loại máy bay Zerosen (Zero Fighter), tức máy bay Thần Phong của Hải Quân Nhật mà hồi nhỏ tôi đọc truyện hay xem xi-nê, nghe nói đấy loại máy bay Nhật dùng để tấn công thình lình hạm đội Mỹ ở Trân Châu Cảng vào sáng Chủ Nhật 7.12.1941 làm khoảng 3,500 binh sĩ Mỹ tử thương và cả hạm đội gần như bị loại khỏi vòng chiến.



Theo tài liệu ở bảo tàng viện, chiếc máy bay Type 0 của hãng Mitsubishi sở dĩ được mang biệt hiệu Thần Phong Zerosen là bởi trong trận chiến với không quân Trung Hoa, phi đội của Nhật đã hạ hầu hết các máy bay của Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch do Liên Xô chế tạo trong khi Nhật không bị thiệt hại chiếc nào.



Và chúng tôi cũng có dịp xem di tích của một trong những chiếc xe lửa mà Nhật đã dùng tại chiến trường Đông Nam Á như đầu máy xe lửa Model C56 Locomotive No 31 được đóng vào năm 1936 dùng tại Nhật, nhưng sau đó được chở ra ngoại quốc để khai trương đường xe lửa Thái- Miến Điện, một đường rầy nối liền giữa hai nước do quân đội Nhật cưỡng ép tù binh chiến tranh làm.



Thái Lan còn dùng đầu xe lửa này cho đến năm 1977 mới sa thải, nhưng những người Nhật có liên hệ trong việc xây tuyến đường xe lửa thời chiến đã tìm cách gây quỹ để mua lại, chở về Nhật năm 1979 và sung vào viện bảo tàng Yushukan của Đền Yasukuni.



Hình ảnh đầu xe lửa này gợi cho tôi nhớ lại chiếc xe lửa trong cuốn phim nổi tiếng Bridge On the River Kwai do Alec Guinness, William Holden, Jack Hawkins và Sessue Hayakawa đóng vào năm 1957 mà bây giờ thỉnh thoảng coi lại vẫn thích. Phim này (cốt truyện hoàn toàn giả tưởng) được 7 giải thưởng Oscar.



Bài hát chủ đề cuốn phim này được huýt sáo miệng khi các tù binh sắp hàng đi lao động trên chiếc cầu sông Kwai có thể “quá hay” nên cách đây một phần tư thế kỷ đã được cái nhà ông “chuyên viên” quay video đám cưới của chúng tôi lồng vào trong cuốn video đám cưới chúng tôi thuê ông quay, mở đầu cảnh chúng tôi tiến tới nhà thờ vào một ngày đầu xuân Melbourne bằng điệu nhạc hành quân của cuốn phim, “thơ mộng” chịu hết nổi nên cứ nhớ hoài.



Đi xem đền tử sĩ Yasukuni hoàn toàn do sự hiếu kỳ của một du khách, chứ nói đến quân phiệt Nhật thì không chỉ người Hoa và Triều Tiên căm giận mà người Việt cũng không thể quên được nạn đói Ất Dậu 1945 khi quân đội Nhật bắt dân trồng đay thay lúa khiến cả mấy triệu người Việt Nam bị chết đói. Sau này hình như Nhật có bồi thường chiến tranh bằng cách viện trợ cho chính quyền Việt Nam Cộng Hòa các loại xe nhà binh gọi là xe jeep Nhật?



Từ Diet đến Kyoto Tower



Coi để biết Yasukuni Shrine là cái chi chi mà hay gây tranh luận trên chính trường quốc tế, sau đó chúng tôi đón xe taxi tới Diet Building. Đây không phải là Tòa Nhà Kiêng Cữ Ăn như cái tên thoạt nghe, mà là nơi mấy tháng trước có những người ăn (hối lộ) nhiều quá phải tự tử hay từ chức. Đó chính là tòa nhà Quốc Hội của Nhật.



Khoảng cách giữa hai nơi không xa nên tiền taxi chỉ 900 Yen. Chỉ cho bác taxi già địa chỉ bằng cách đọc tên Diet Building, nhưng khổ nổi ông ta không hiểu tiếng Anh. Tìm bức hình tòa nhà thì chẳng thấy có trong bản đồ. Tôi chỉ còn cách đọc tên ông thủ tướng Nhật nhiều lần “Shinzo Abe! Shinzo Abe!” như đọc thần chú nhưng chỉ thấy ông ta cười, chẳng biết ông có hiểu ý tôi ám chỉ không.



National Diet Building (Kokkai-gijido) nằm trong khu Chiyoda, là nơi lưỡng viện quốc hội làm việc; Hạ Viện họp họp ở cánh trái và Thượng Viện ở cánh phải của một tòa nhà xây xong vào năm 1936 nghe nói hoàn toàn bằng vật liệu của Nhật. Tuy nhiên, kiến trúc tòa nhà trông bị ảnh hưởng bởi thời Phục Hưng của Ý.



Một con đường lớn chạy ngang qua tòa nhà quốc hội và một con đường lớn đi thẳng vào mặt tiền, vị trí giống Dinh Độc Lập ở Sài Gòn. Có 3 cổng lớn cho xe chạy vào, song song với 3 cửa sắt nhỏ bên cạnh cho người đi bộ. Chúng tôi đi ngang qua Diet vào lúc mọi cổng đều đóng và có nhiều nhân viên an ninh và cảnh sát đứng canh gác.



Đứng ngắm chừng vài phút, chụp vài tấm hình, chúng tôi đón taxi tới Tháp Tokyo nằm ở khu Minato, cũng là khu trung tâm phố. Tại Tokyo, chúng tôi thấy đâu cũng là phố, là xi-tì cả, bởi toàn là nhà cao tầng và đông người đi lại.




Dưới chân tháp Tokyo Tower
Ở Nhật có nhiều taxi và đón rất nhanh. Thấy anh taxi trẻ tuổi tóc húi cua, tôi bắt chuyện cho vui nhưng anh ta không nói được tiếng Anh. Làm sao anh biết mà lái tới đây? Nói “Tokyo Tower!” và chỉ hình cái tháp trong bản đồ. Làm sao sao trả tiền? Thấy số tiền hiện trên máy hay xin họ cái biên lai: 1130 Yen cho cuốc này.



Tokyo Tower là một niềm hãnh diện của thành phố Tokyo, một tháp bằng sắt cao nhất thế giới –333 mét (cao hơn tháp Eiffel 13 mét), xây xong năm 1958 nhưng chỉ là sự bắt chước tháp của người Pháp đã xây cách đây khoảng 120 năm. Bạn phải sắp hàng để mua vé và sắp hàng đợi ở chân ba cái thang thang máy. Do người Nhật đi tham quan tháp cũng đông nên phải mất khoảng nửa tiếng mới có thể lên lầu vọng cảnh chính (Main Observatory), cao 150 mét.



Bạn phải mua vé đi đoạn này trước, giá 820 Yen một người. Muốn đi lên lầu vọng cảnh đặc biệt cao 250 mét (Special Observatory) thì phải lên tầng 150 mét mới mua tiếp, giá 600 Yen; mất cả thảy khoảng 16-17 Úc kim.



Tôi đã lên tháp Eiffel nên có sự so sánh ngay: Tokyo Tower không đẹp bằng Eiffel Tower, xét từ bệ cho đến tầng lầu vọng cảnh cao nhất. Lý do có thể tháp Tokyo làm bằng vật liệu nhẹ hơn (tháp Tokyo nặng 4000 tấn trong khi Eiffeil nặng 7000 tấn) do kỹ thuật luyện thép ngày nay tân tiến hơn nên tháp Nhật không có sự vĩ đại, đồ sộ về bề ngang như tháp của Pháp (4 chân tháp Eiffel trụ trên vòng tròn với bề rộng bằng hai cái sân football ghép lại).



Tháp Eiffel tọa lạc trên quảng trường Champs-de-Mars thoáng rộng với những thảm cỏ xanh trải dài tới học viên quân sự và cạnh sông Seine, là địa thế đẹp nhất thủ đô Paris trong khi tháp Tokyo nằm ngay trong khu phố khá chật hẹp, đứng ở dưới trụ bệ chân này không thấy bệ chân kia vì bị các building choáng.



Tháp Eiffel có 3 tầng để khách thưởng ngoạn: tầng một cao 57 mét và tầng hai cao 115 mét đều có nhà hàng và các tiệm bán đồ lưu niệm. Tầng ba cao 276 mét (cao hơn tháp Tokyo đến 26 mét). Tất cả cả ba tầng đều có ban-công để du khách ra ngoài hóng gió trong khi ở tháp Tokyo, du khách chỉ nhìn cảnh vật qua tường kính.




Một góc thủ đô nhìn từ Tháp Tokyo




Không gian ở trên hai tầng lầu vọng cảnh của tháp Tokyo cũng không rộng bằng tháp Eiffel. Ở tầng 1, có kiosk bán thức ăn và đồ uống và nhà hàng. Ở cả hai tầng, bạn có thể quan sát thành phố Tokyo với tầm nhìn 360 độ. Vào những ngày trời đẹp, người ta có thể thấy cao ốc Landmark Tower (296m, cao ốc cao nhất nước Nhật) của thành phố Yokohama ở phía nam, và chóp núi Phú Sĩ ở phía tây.



Ngày chúng tôi lên tháp Tokyo, trời nắng nhưng đầy mây mù nên chỉ thấy những cao ốc và kiến trúc gần, đặc biệt là Aqua City trên đảo Odaiba và cây cầu Rainbow Bridge mà tôi đã có dịp hầu chuyện với bạn đọc trước đây.



Sau đó, chúng tôi lên lầu gọi là Special Observatory cao 250 mét. Ở tầng này, thấy cảnh vật dưới đất sâu hơn nhưng cũng chẳng nhìn xa hơn vì trời mây mù. Không gian trên đây chật hẹp, không được như tầng 3 ở tháp Eiffel nơi chúng tôi đứng chơi và ngắm mà không chán. Đi vòng quanh chừng 10 phút thì chúng tôi sắp hàng để xuống. Và xuống tầng 1 lại sắp hàng để xuống đất, mất tất cả chừng nửa tiếng.

Dưới 4 chân tháp Tokyo với những vòm sắt trông mảnh mai, người ta “nhét” vào một cái building khoảng 5 năm tầng lầu gồm các tiệm buôn, nhà hàng, takeway như McDonald, cửa hàng bách hóa. Trong khi dưới chân tháp Eiffel là khoảng sân trống, chỉ nội với những cái vòm cong dưới đế tháp cũng đã chứng tỏ khiếu thẩm mỹ và tài kiến trúc của kỹ sư Gustave Eiffel, người đã xây cái tháp tiêu biểu cho nước Pháp, đáng được chọn vào hàng 7 Kỳ Quan Mới của Thế Giới.



Trên chóp tháp Tokyo là cần ăngten phát sóng cho 24 đài truyền hình. Tháp được sơn màu cam và màu trắng chiếu theo luật lệ hàng không. Có 176 ngọn đèn pha thắp sáng từ chân đến đỉnh tháp, ban đêm tỏa màu cam vào mùa đông và màu trắng vào mùa hè, làm cho du khách và người qua đường thích thú chiêm ngưỡng.



Nhật: xứ đền và chùa



Từ tháp Tokyo, chúng tôi tìm đường ra bất cứ một ga xe lửa hay xe metro gần đó để về nhà. Nhưng trên đường đi, chúng tôi gặp ngôi chùa nằm sát tháp mà đứng trên tháp chúng tôi đã thấy rất rõ với nhiều kiến trúc khoảng gần chục mái nhà và những ngôi mộ.



Thì ra đây là Chùa Zojoji do dòng họ Tướng Quân Đức Xuyên Tokugawa Ieyasu xây vào năm 1598 khi ông ta lập nên mạc phủ ở Edo (tức Tokyo ngày nay). Phía sau chùa là lăng tẩm của dòng họ Đức Xuyên. Chùa này thuộc phái Jodo shu (Tịnh Độ Tông) là nơi hàng ngàn tu sĩ và tu sinh học tập và sống dưới thời mạc phủ.



Khi chế độ Tướng Quân Đức Xuyên chấm dứt và do ảnh hưởng Thần Đạo của triều đại Minh Trị Thiên Hoàng, ngôi chùa cũng mất đi ảnh hưởng và sau đó bị hư hại do các cuộc dội bom trong Đệ Nhị Thế Chiến.



Những đền đài hiện hành mới được xây và tu bổ lại. Ngôi chùa Zojoji đã lấy lại phong độ của ngày xưa, hiện là nơi tu học của phật tử tứ phương, nhờ vị trí ngay giữa trung tâm thủ đô của chùa, cạnh Tháp Tokyo và các công viên bên cạnh.



Cổng chùa Zojoji là một kiến trúc độc đáo đập vào mắt người đi đường với mái cao 21 mét, rộng 28 mét được xây từ thời mạc phủ Đức Xuyên và sau này được xây lại, giữ nguyên kiến trúc cũ.



Ở ngôi chùa này có rất nhiều tượng của Bồ Tát Địa Tạng nho nhỏ và một tượng Quan Thế Âm rất lớn và rất đẹp. Tôi thấy có một cây cedar (bách hương) to lớn với bảng đồng ghi là do Tướng Grant, tổng thống thứ 18 của Hiệp Chủng Quốc trồng vào năm 1879 hki ông đến thăm Tokyo, và một cây cedar khác còn nhỏ, cao khoảng 2 mét, có ghi rằng được trồng bởi George H W Bush vào năm 1982 khi ông qua Nhật với tư cách phó tổng thống Mỹ.



Tham quan Chùa Zojoji bên cạnh tháp Tokyo chỉ là một sự tình cờ, nhưng đều này cho thấy xứ Phù Tang tuy là con cháu của Thái Dương Thần Nữ và Thần Đạo trong nhiều thế kỷ là quốc giáo, nhưng Phật Giáo đã để lại những dấu ấn sâu đậm trong văn hóa và mỹ thuật và kiến trúc của quốc gia này. Bởi vậy, thống kê nói 95% dân số Nhật theo Thần Đạo và 85% theo Phật Giáo, cũng đúng thôi!


Du lịch một nơi mà bạn đã biết ít nhiều về nơi đó, chuyến đi sẽ thú vị hơn. Nhật Bản là đất nước không quá xa lạ với người Á Châu vì sự gần gũi về địa lý, văn hóa và nhất là cái mộng một Á Châu Đại Đồng của quân phiệt Nhật khiến nhiều quốc gia trong vùng Đông Á và Đông Nam Á Châu trở thành nạn nhân của họ trong Đệ Nhị Thế Chiến.


Trong một tiệm Nhật chính hiệu: đi chân không, ngồi phòng riêng
 


Cái duyên của một thời mê võ thuật



Tôi tiếp cận với văn hóa và lịch sử nước Nhật qua sách vở, phim ảnh và nhất là qua những năm tháng theo học và tập luyện Không Thủ Đạo (Karatedo). Ở Huế thời đó có nhiều lò dạy võ, từ võ Bình Định, Thiếu Lâm, Việt Võ Đạo (Vovinam) cho đến võ Nhu Đạo (Judo), Thái Cực Đạo (Taekwondo). Thậm chí còn có võ Thần Quyền ở đảo Cồn Hến gần Vỹ Dạ, một thứ võ mà tôi nghe nói khi luyện tập võ sinh niệm chú uống bùa và đánh theo lối võ tự do. Tôi đã chứng kiến một trận đấu của một môn sinh Thần Quyền với các bạn đồng môn và kinh ngạc vì sự dũng mãnh và không biết sợ của họ, có lẽ nhờ uống bùa và tin tưởng vào thần linh.



Nhưng môn võ mà tôi thích nhất vẫn là Không Thủ Đạo (Karatedo). Kara, có nghĩa là không; te là tay; do là đạo. Võ được người Nhật coi như một thứ đạo. Môn võ trên danh xưng dùng tay không nhưng thực chất vẫn dùng chân, kết hợp cả quyền lẫn cước.



Nước Nhật là cường quốc kinh tế, thắng cảnh quá đẹp lại là nơi sản xuất nhiều môn võ được thế giới biết đến, nhất là những chàng kiếm sĩ samurai. Các huyền thoại được thêu dệt quanh những vị chưởng môn của các môn phái Không Thủ Đạo, Nhu Đạo, Hiệp Khí Đạo (Aikido) là một trong những lý do khiến tôi tìm học võ Nhật.



Dưới chân cầu Đông Ba ở đường Võ Tánh có một ngôi nhà gác ba gian do ông bà Phan Văn Phúc làm chủ, dùng làm nơi dạy võ được dân học võ gọi ngắn gọn là “Lò Suzuki”. Tên chính thức của võ đường là Linh Trường Không Thủ Đạo (Suzucho Karatedo). Gian đầu tiên là nơi tiếp khách và làm việc (may võ phục), gian thứ hai là sàn thảm (tapis, đặc biệt dành tập Nhu Đạo) và gian sau là phòng tập nền xi măng, dành cho Không Thủ Đạo.



Phan Văn Phúc là tên Việt Nam của ông Choji Suzuki, một sĩ quan của quân đội Thiên Hoàng. Nhật thất trận, chàng trai mới ngoài 20 tuổi không về nước mà ở lại Việt Nam, lấy vợ, sinh được ba người con. Cuộc tình của chàng võ sĩ xứ Phù Tang với cô gái xứ Bình Định (Ai về Bình Định mà coi, con gái Bình Định cầm roi đi quyền) đã từng là một đề tài hấp dẫn trên báo chí Miền Nam khoảng đầu thập niên 1970.



Trước khi sang Việt Nam, Đại úy Choji Suzuki đã mang đệ nhị đẳng Nhu Đạo và đệ tứ đẳng Không Thủ Đạo. Ông đã bắt đầu dạy võ cho người Việt từ thập niên 1950, nhưng chỉ đến giữa thập niên 1960 mới hành nghề một cách chính thức, được chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cấp giấy phép mở võ đường. Không Thủ Đạo là môn võ có nhiều môn sinh theo học và chính “Lò Suzuki” ở chân cầu Đông Ba đã đào tạo nhiều cao đồ hiện nổi tiếng ở hải ngoại và quốc nội như Hạ Quốc Huy, Nguyễn Xuân Dũng (tức Nguyễn Văn Quan), Ngô Đồng, Khương Công Thêm, Lê Văn Thạnh...



Học võ ở Huế thời trung học và làm huấn luyện viên một thời gian ở Sài Gòn thời hậu đại học dẫu sao cũng đã giúp tôi biết thêm về con người và văn hóa Nhật, do đó khi đến Nhật tôi không quá bỡ ngỡ mà có cảm tưởng như là mình trở về một nơi quen thuộc. Đó là lý do tại sao tôi cho rằng, khi muốn du lịch một nơi nào, cần tìm hiểu về đất nước và con người của nơi đó trước, trừ phi bạn tới đó chỉ để nghỉ mát, nghỉ xả hơi mà thôi.



Đệ nhất khoái: ăn uống ở Nhật ra sao?



Từ nhỏ đến khi khôn lớn, tôi không hảo xực cho lắm, có thể do tôi bị người lớn nhồi sọ bởi những câu như “ăn để mà sống chứ không phải sống để mà ăn” hoặc “miếng ăn là miếng nhục”. Vì vậy, tôi chỉ hảo cái uống mà thôi. Uống cà phê, uống rượu, uống bia. Uống thấy có vẻ sang hơn mặc dù uống nhiều, quá độ cũng phàm tục như ăn.



Nhưng khi sang Úc và đã bước qua ngưỡng cửa “tam thập nhi lập”, tôi lại bắt đầu có quan niệm khác về cái ăn, bởi đất nước này quá sung túc và thực phẩm quá tràn trề, ê hề. Hồi đó tôi thấy những người không xu dính túi như những người tị nạn vừa đặt chân đến Úc như chúng tôi vẫn thoải mái ăn nhậu nếu chịu khó đi làm. “Nước Úc May Mắn” quả là thiên đàng của dân thích ăn nhậu.



Tôi đổi lại cách ngôn mà ông bà thường dạy bằng lối nói mới “sống... để mà ăn”, “miếng ăn là miếng... vinh quang”, “có của cải mà không ăn cho sướng miệng và khoái bụng, chết nào có ích chi”!



Bởi vậy, trong những lúc đi du lịch, cái thú của tôi sau một ngày đi tham quan là ăn tối. Buổi cơm tối là “giờ thánh” của tôi.




Vào tiệm ăn này, phải cởi giày dép, cất trong các hộc

Vào nhà hàng phải cởi giày dép: Tối đầu tiên trên đất Nhật, chúng tôi phải tìm cho ra một tiệm ăn Nhật chính hiệu mới được, mặc dầu hơi “sợ” món Nhật bởi có một lần, đã lâu lắm rồi, ăn ở một tiệm Nhật ở vùng Richmond do người Hoa làm chủ, chúng tôi chọn một con tôm hùm thật lớn mà họ làm theo kiểu Nhật. Đây là lần đầu tiên ăn món ăn nấu kiểu Nhật, nhưng chúng tôi đã quen lối Tàu, nấu kiểu này không ai ăn được, nhất là đụng phải thứ mù tạt cay nồng là wasabi, chịu không nổi. Từ đấy, nghe nói đến món Nhật là chạy dài...



Cho đến khi nghe đồng nghiệp Trường Kỳ ca tụng quá xá món sushi (cơm nắm cá sống), chúng tôi mới tập ăn và dần dần làm quen với thứ mù tạt màu xanh xanh hấp dẫn kia. Ăn sushi vào buổi trưa, uống với coca cola. Chúng tôi chưa thấy ngon khi mua về nhà ăn tối, uống với rượu vang hay bia. Nhưng vẫn còn dội với món sashimi (gỏi cá sống).



Lang thang ở một hồi ở vài con đường trong khu Ginza (nơi có khách sạn Mercure Hotel Ginza chúng tôi ở) để quan sát các nhà hàng, cuối cùng chúng tôi quyết định cứ vào đại một tiệm ăn.



Bước vào cửa tiệm là chúng tôi được mời bỏ giày dép ra, cất vào trong một cái cái hộp trên tường như các thùng thư ở bưu điện. Chúng tôi được mới lên lầu. Từ các bậc cầu thang cho đến sàn nhà, tường ngăn các phòng ăn, tất cả đều bằng gỗ, bóng loáng. Tôi chỉ thấy nhà kiểu Nhật trong phim ảnh, nay được ăn nhà hàng kiểu Nhật, nên rất thích.



Có điều là ngôn ngữ bất đồng, các nhân viên không nói một chữ tiếng Anh nào ngoài tiếng Nhật của họ. Chúng tôi được mời vào một cái phòng nhỏ, chỉ chứa tối đa 4 người ngồi. Gọi phòng là quá đáng, chỉ giống cái ô, được ngăn cách bởi 3 mặt tường gỗ. Nhìn sang hai phòng bên cạnh, chúng tôi thấy một phòng rộng và sáng hơn, có khoảng sáu bảy thực khách ngồi quanh chiếc bàn dài với những món ăn như lẫu, bởi có lò lửa đang cháy.



Ở phòng khác, thực khách ngồi dưới đất, xếp bàn hoặc co chân bên cạnh cái bàn thấp với thức ăn và rượu bia. Phòng nào cũng có nam và có nữ, ra vẻ là bạn bè, đồng nghiệp hơn là tình nhân. Và như các ông, các bà cũng uống bia, chuyện trò rất tự nhiên. Họ không nói lớn tiếng như tôi thường thấy trong các bàn nhậu của Mít tộc, Hán tộc hay ồn ào như nhiều nhà hàng Úc trên phố, ngoài biển.



Trước tiên, tiếp viên đưa cho khách khăn lau mặt ướp lạnh. Họ đem ra hai đôi đũa đặt trong hai ống tre cắt một nửa phần trên. Đây là những đôi đũa tre dính vào nhau mà chung ta thường thấy ở một số nhà hàng, xài xong dục.



Tiếp viên đưa cho chúng tôi một cái thực đơn toàn chữ Nhật. Tôi xin họ cái khác có hình vẽ, nhưng cái thực đơn mới cũng chỉ có được 3 cái hình. Vậy cũng tạm được. Nhà tôi cho rằng ăn bất cứ món gì của nước nào, nêáu chưa quen, cứ gọi món nướng là dễ ăn. Đèn bóng màu vàng mờ mờ lý tưởng cho chỗ ăn uống, nhưng không giúp chúng tôi thấy rõ hình trong thực đơn là gì. Tôi chỉ vào một cái hình, làm dấu ngọn lửa bằng cách chỉ vào nồi lửa của phòng bên cạnh, hy vọng tiếp viên hiểu ý chúng tôi muốn ăn món nướng.



May thay, chúng tôi được cho ăn món thịt heo vằm cắt thành lát, đã làm chín và nay chỉ việc để trên phiến đá đã đốt cháy để giữ cho thức ăn nóng. Ăn món ăn đầu tiên của Nhật mà không “sợ” là thấy cũng mừng rồi!



Chúng tôi kêu món thứ hai, chỉ một vật hình màu đỏ trong thực đơn, hy vọng đó là thịt bò, nhưng khi dọn ra lại là món cá sống. Những thỏi cá sống cắt vuông được đặt trên miếng lá nhỏ như lá chuối xếp với củ cải trắng bào sợi. Dưới lớp lá xanh là đá bào để giữ lạnh. Có hai thứ nước tương nhưng tôi vẫn không rành là tương gì. Sau này mới biết mỗi khi dọn gỏi cá sống, người Nhật kèm củ cải trắng bào thành sợi, có mục đích giúp tiêu hóa dễ dàng sau khi ăn đồ sống, chứ không hẳn dùng để trang trí.



Nhà tôi chỉ cắn một miếng là dội ngay. Còn tôi, đã quen ăn oyster sống, nên cá sống không có mùi tanh như gỏi cá sống của Nhật không là vấn đề. Lại cũng tạm được, vì thực ra, có những món phải ăn nhiều lần, quen rồi mới thấy ngon, thèm.



Gọi món thứ ba, tôi chỉ qua bàn bên cạnh. Hơi ngại vì nhìn người khác đang ăn, nhưng tôi nghĩ họ sẽ thông cảm bởi chúng tôi là người ngoại quốc. Họ dọn ra cái bếp ga bằng gỗ cũ kỹ, chứng tỏ đã xài nhiều. Tiếp đến là cái chảo bằng đá cong kiểu cọ ở trên là những miếng mực được xắt lát nhỏ. Họ bật lửa và thế chúng tôi có món đồ biển xào. Món mực này của Nhật cũng chẳng khác Việt là bao, chỉ khác nhau ở mùi vị nêm nắm. Nhưng tôi thích khung cảnh ngồi ăn yên tĩnh như thêá này, đôi chân lại được giải phóng, nên có ngồi kiểu nước lụt, vừa ăn vừa dùng bàn tọa mát xa bàn chân đi bộ cả ngày.



Người ta nói, đồ ăn ngon chưa đủ, phải có người cùng ngồi hợp gu và khung cảnh ăn ấm cúng thì ăn mới ngon, mới tận hưởng cái đệ nhất khoái. 3 ly bia và 3 món ăn, tổng cộng 4,910 Yen, khoảng 58 Úc kim.



Quốc hồn quốc túy: Người Nhật nổi tiếng với các món cá sống. Cá sống mà không có mùi tanh. Hai món phổ thông của họ là sushi và sashimi. Hôm chúng tôi đi thăm cố đô Kyoto, có vào ăn ở một nhà hàng băng chuyền gọi là Kaiten sushi thỉnh thoảng thấy ở trên phố Melbourne.



Nhà hàng này khá lớn với đường băng chuyền chạy qua nhiều khu vực khác nhau, nên khi các món ăn đi qua mà không lấy ngay, thì phải đợi chạy vòng lại khá lâu. Các món sushi thì ít nhưng sashimi thì nhiều, nhà tôi chỉ ăn được món tôm đã làm chín. Còn tôi, mọi thứ đều ăn được, chỉ hợp khẩu hay không mà thôi.



Nhưng đây là lần đầu tiên tôi ăn gỏi cá mà cảm nhận mùi thơm lừng của miếng cá sống màu cam tôi nghĩ là cá hồi. Ngửi thì không có mùi, nhưng khi vào miệng, thấm trong lưỡi, mùi thơm mới bốc ngược từ cuống họng ra mũi như mùi vị cay của mù tạt wasabi. Lạ thật!

Chúng tôi uống hai ly bia, ăn mười đĩa giá từ 120 Yen đến 500 một đĩa. Tiếp viên đếm chồng dĩa rồi nhìn màu và hoa văn của đĩa để biết giá mà tính tiền. Tổng cộng 3,520 Yen, khoảng 41 đô. Cũng dễ chịu.



Các món “nhập cảng”: Ở khách sạn Mercure có nhà hàng riêng, hàng ngày có quảng cáo các món ăn của Pháp, trung bình một đĩa (main course) từ $35 đến $40 Úc kim, giá cũng tương đương với một đĩa beefsteak trong các nhà hàng ngoài đường phố.



Trong mười đêm ở Nhật, có 3 đêm chúng tôi ăn tối ở nhà hàng có tên Ramla, cái tên mà tôi ghi ra được nhờ anh tiếp viên vui tính đưa cho cái danh thiệp của nhà hàng. Số điện thoại là 03(3661)3937 và địa chỉ mạng www.ramla.net. Cái biên nhận tính tiền (cũng như của mọi nhà hàng khác) hoàn toàn bằng tiếng Nhật ngoại trừ tiền bằng con số, chẳng giúp tôi ghi lại được gì để bạn đọc có thể đến ăn sau này.


Trước cửa và trong tiệm Ramba chuyên nấu các món Đại Hàn ở khu Ginza (mang tạp dề khi ăn món nướng)


Nhà hàng này nằm trên lầu, bàn ghế trang trí và không khí giống các nhà hàng Tàu. Có rất nhiều bàn với trên một chục tiếp viên trẻ đồng phục chạy lăng xăng. Khách tới ăn rất đông, có lúc phải xếp hàng chờ khoảng 20 phút đợi khách cũ ra về. Có lần chúng tôi đến và họ nói rất tiếc đêm nay không còn chỗ.

Anh tiếp viên của chúng tôi là một người từ Hoa Lục sang du học được bảy năm và có dự tính cưới vợ Nhật để ở lại. Anh nói được ít tiếng Anh, cho biết tuy đây là tiệm Nhật, nhưng các món ăn phần lớn nấu theo kiểu Đại Hàn. Trong ba lần ăn, chúng tôi chọn món thịt heo nướng chảo ăn với rau sống và nhiều loại sốt khác nhau, đặc biệt là với món cải chili Đại Hàn mà đã lâu lắm rồi nay mới có dịp ăn lại. Ngon mà rẻ, chưa tới 4000 Yen cho hai người bao gồm ba ly bia.



Du lịch Nhật, nếu bạn muốn tiết kiệm, có thể ăn các tô/đĩa mì. Mì nóng kèm với thịt hay tôm, rau củ. Hoặc mì lạnh chấm với nước chấm cũng lạnh và kèm với hành lá, gừng, thích hợp với mùa hè. Các tô/đĩa mì và gia vị được dọn trên một cái khay gỗ, chứ không để trần trên mặt bàn như ở các tiệm Việt-Hoa. Chúng tôi có ăn mì Nhật cả nóng lẫn lạnh trong nhà hàng có máy lạnh, giá khoảng 1,600 đến 1,700 Yen (18-19 đô).



Nếu muốn tiết kiệm hơn nữa, có thể ăn ở các nhà hàng McDonald. Cách khách sạn Mercure chừng 20 mét, có McDonald mở cửa 24 giờ. Một cái BigMac 490 Yen (khoảng $5.70 đô); large chip 290 Yen và large coke 200 Yen. Đắt hơn ở Úc, nhưng là món ăn rẻ nhất, tiện nhất ở xứ hoa anh đào.



Bởi phần lớn người Nhật không nói được tiếng Anh, cũng là một điều rất bất tiện. Khu Ginza nổi tiếng là khu sang trọng, có nhiều du khách ngoại quốc, vậy mà nhiều nhà hàng, tiệm ăn ở trên đường phố (ngoại trừ trong khách sạn hay những nơi đại sang trọng khác mà chúng tôi chưa có dịp đi) cả không có cái menu song ngữ để khách chọn, chứ nói gì tới việc các tiếp viên nói được tiếng Anh để khách đặt. Chỉ được cái là họ vui vẻ.



“Tai nạn” của bất đồng ngôn ngữ: Nhưng bù với sự vui vẻ đó, có hai lần chúng tôi đặt một đường, nhận một nẻo.

Đó là bữa ăn trưa trên nhà hàng ở Landmark Tower Shoppping Centre ở thành phố Yokohama, nằm trong cái tháp 296 mét cao nhất nước Nhật. Nhà hàng có tên Chef’s nằm ở lầu 5, chúng tôi chọn cái bench đặt sát bức tường bằng kiếng để ngắm biển. Bởi đây là buổi trưa, chúng tôi không có thói quen ăn nhiều nên dự tính kêu một đĩa ăn chung. Còn tôi cứ uống bia là đủ no, nhất là với thời tiết trên dưới 35 độ.



Người chạy bàn chỉ nói được vài chữ tiếng Anh như vâng, cám ơn. Bởi vậy, chúng tôi phải gọi anh ta ra ngoài cửa, chỉ vào các mẫu thức ăn bằng nhựa trình bày trên chén đĩa trông như thật. Tôi gọi một đĩa beefsteak và thay vì chọn khoai chiên hay khoai hầm, nhà tôi lại chọn cơm nấu theo kiểu Nhật, trông như cơm nếp trộn với đậu đỏ nằm trong cái đĩa cá hấp. Tôi hỏi chọn vậy có được không, anh ta gật đầu OK.



Tôi làm dấu 1 ngón tay, chỉ vào nhà tôi. Chỉ vào người tôi, tôi đưa tay làm dấu 1 bia và nói thứ tiếng Anh đơn giản nhất: vợ tôi ăn, tôi không ăn. Tôi hỏi anh ta hiểu không, anh ta nói OK, cộng thêm một tràng tiếng Nhật, nhưng cái cách anh làm dấu để xác nhận lại làm cho tôi hơi nghi ngờ anh ta thật ra chưa hiểu ý tôi, có thể họ nghĩ chúng tôi muốn đổi khoai và cơm, chứ hai người thì phải ăn hai phần. Nhưng làm sao để giải thích khi bất đồng ngôn ngữ? Nếu tôi biết được tiếng Hán như cụ Phan Bội Châu ngày xưa nói chuyện với người Nhật bằng bút đàm thì đỡ biết mấy.



Anh tiếp viên dọn ra ly bia. Sau đó mang ra hai chén xúp kiểu Nhật như là món khai vị. Tôi chỉ vào nhà tôi, ra dấu hiệu số 1, anh ta cười, nói được cả tiếng Anh “free!”. Tôi tin anh nói thật vì có thể đây là cách khuyến mại. Sau đó anh mang ra một đĩa beefsteak với cơm, vài phút sau, mang ra thêm một đĩa beefsteak với khoai. Thấy tôi cầm máy ảnh, anh ta đề nghị giúp chúng tôi chụp chung. Chúng tôi chỉ biết cười và cám ơn, không thắc mắc tại sao dọn hai đĩa.



Cái bill tính tiền: Đĩa thịt 1,980 Yen, đĩa cá 1,680 Yen và ly bia 350 Yen. Tổng cộng 4,010 Yen (khoảng $47 đô) là rẻ so với các nhà hàng trên thành phố Tokyo. Thế là chúng tôi đặt 1 phần, được tặng 2 (hai chén xúp), dọn 2 phần và tính tiền hai phần. May thay, bữa ăn trưa đó khá ngon miệng.



Nhưng bữa ăn tức cười nhất là buổi tối cuối cùng ở Tokyo. Chúng tôi lại muốn đến một nhà hàng thật là Nhật, nấu toàn món Nhật. Đi một vòng , cuối cùng chọn một nhà hàng bên ngoài nhìn vào thấy mờ mờ, chúng tôi nghĩ có thể giống nhà hàng đầu tiên mà chúng tôi phải cởi giày dép. Chúng tôi được mời ngồi ở phòng đầu tiên, sát cửa ra vào. Các phòng ăn được ngăn bởi các bức tường gỗ cao quá đầu người nên kín đáo, khách không thấy nhau.



Trên mặt bàn chúng tôi ngồi là một lò barbecue. Bàn khoét lỗ hổng rộng đủ đề đặt cái bếp bằng gạch nung, đốt bằng than củi. Ở ngay trên lò có hệ thôáng hút khói và mùi. Trời bên ngoài nóng mà mình ngồi nhà hàng ăn barbecue, đốt lửa than mà chẳng thấy nóng thì quả là thú vị. Ăn kiểu Nhật? Chúng tôi chờ đợi những bất ngờ.



Anh chạy bàn có nụ cười tươi (tôi thấy anh chạy bàn nào ở Nhật cũng tươi cười) đem một phiến đá trông giống cái thớt, hình tròn và có bản lề để có thể giở lên và gập lại, kẹp đồ nướng ở giữa. Anh ta hoàn toàn không nói chữ tiếng Anh nào, và chỉ vào phiến đá nói có vẻ thích thú: “Fuji-san”. Tôi hiểu đấy là cái thớt đẽo từ đá lấy ở núi Phú Sĩ, Phú Sĩ Sơn. Tôi không nghĩ anh này xạo với khách để làm tăng cái nét độc đáo của nhà hàng. Người Nhật có vẻ thành thật, thẳng thắn, từ bác taxi cho đến tiếp viên nhà hàng. Chúng tôi không lo bị gạt như khi đi du lịch ở các nơi khác.



Anh ta đưa cho tôi thực đơn bằng tiếng Nhật, tôi đẩy qua một bên, bảo anh lấy hai ly bia và dọn bất cứ món gì, bởi chúng tôi tin hễ cứ ăn đồ nướng thì an toàn cho khẩu vị của chúng tôi.



Món đầu tiên là những miếng thịt màu trắng. Chúng tôi chẳng biết là thịt gì vì không thể nhận diện dưới ánh đèn vàng chỉ đủ sáng để thấy mặt nhau. Gắp bỏ lên thớt đá, lật úp lại một bên để thịt nóng đều hai mặt. Chúng tôi gắp miếng thịt đưa vào miệng. Thịt gì mà dai thế này? Ăn miếng thứ hai, nhà tôi quyết đoán là lòng heo.



Mặn quá, chúng tôi gọi rau. Vừa nói tiếng Anh vừa thè lưỡi, nhăn mặt làm dấu hiệu mặn. Anh ta cười, đem ra cái đĩa chỉ vỏn vẹn 4 lá cải, to gần bằng bằng tay. Vậy là anh ta hiểu chữ rau. Nhưng trời ơi! Đĩa rau gì mà kỳ cục vậy. Chúng tôi tiết kiệm cuốn mỗi miếng thịt một lá cải. Gọi thêm rau. Lại dọn ra một đĩa mới với 4 lá cải. Thế này làm sao cho đỡ mặn? Mà nói thêm thì họ chẳng hiểu gì. Chăéc chắn tiền các đĩa rau sẽ đắt hơn cả các đĩa thịt.



Chúng tôi cố gượng cười nhưng rồi cũng thấy buồn cười thật. Gọi món thứ hai, anh ta cười duyên, thè cái lưỡi của anh ta ra. Chúng tôi nhìn nhau, và cùng thốt lên là đã lạc vào quán nhậu rồi. Mà ngay tôi, bình thường cũng chẳng thích ăn bộ đồ lòng, đầu hay chân của con vật.



Sau món lưỡi heo, chúng tôi gọi tiếp, anh tiếp viên lại vỗ vào má anh ta, rồi cười. Chúng tôi cũng cười theo vì chưa bao giờ được ăn kiểu này. Lại gọi thêm các đĩa rau để cuốn, vì mặn chịu không thấu. Lại cái đĩa 4 lá rau. Nhà tôi thắc mắc chắc nước Nhật đất hẹp nên hiếm rau cỏ. Chúng tôi gọi món cuối cùng. Anh ta đập vào mông.



Lần này mới thật có chút thịt, chúng tôi ăn được nhưng cũng đã no mất rồi. 4 đĩa thịt mà chẳng nhiều thịt, 5 đĩa rau với 20 cái lá cải (mỗi lá khoảng trên một đô), 3 ly bia (một ly 500 Yen), tổng cộng 7,480 Yen (khoảng 88 đô) là bữa ăn tương đối đắt trong thời gian chúng tôi ở Nhật, không ngon và hơi cành bụng.



Nhưng được ngồi trong một phòng riêng của nhà hàng, nướng thịt bằng than củi (như than củi ở Việt Nam ngày xưa), nướng trên đá của núi Phú Sĩ trong bầu không khí yên tĩnh, cũng là một cái thú, chỉ tiếc là mình không được biết trước sẽ ăn thứ gì.





Đời sống và con người xứ Phù Tang



Nhật là cường quốc kinh tế thứ nhì của thế giới, chỉ sau Mỹ. Lợi tức trung bình đầu người thuộc nhóm TOP 20, căn cứ theo thống kê của Quỹ Tiền tệ Thế giới (IMF) phổ biến vào năm 2005.

Đứng đầu là Lục Xâm Bảo ($81,511 Mỹ kim).

Mỹ hàng thứ tư với $43,223.

Úc hàng thứ 18 với $33,037

Nhật hàng thứ 20 với $32,530, hơn cả Pháp, Đức và Ý.

Việt Nam đứng hàng thứ 122 với $3,393 hơn các nước Miến Điện, Lào và dĩ nhiên Việt Nam còn hơn các nước nghèo đói bên Phi Châu như Ethopia, Congo.



Nhưng theo người hướng dẫn viên du lịch trong chuyến đi tour Phú Sĩ, lợi tức trung bình của người Nhật là 4.5 triệu Yen một năm (khoảng 53,000 Úc kim), lợi tức phụ nữ chỉ bằng nửa đàn ông và lương tối thiểu của một nhân công là 790 Yen một giờ (khoảng $ Úc1 kim).

Người Nhật khi đi làm phải để dành tiền để khi về già sống với tiền hưu của mình, chứ không tự động được chính phủ cấp tiền người già (pension benefit) nếu không có tiền hưu trí, như ở Úc. Những người thất nghiệp cũng có được trợ cấp khi quá cần thiết hay khẩn cấp, nhưng thủ tục cũng khá khó khăn. Vì ở Nhật, muốn làm việc là có việc, chỉ sợ lười mà thôi, bởi tỉ lệ thất nghiệp chỉ khoảng 4%.



Nói chung, lợi tức trung bình của người Nhật tương đương với người Úc. Họ chỉ hơn Úc về mặt sử dụng kỹ thuật tân tiến sớm và phổ biến, chứ về mặt nhà cửa và ăn uống thì thua xa. Nhà cửa nhỏ bé, rất đắt; thức ăn cũng đắt như tôi vừa trình bày ở trên. Một đĩa beefsteak ở Tokyo trung bình tới $40 Úc kim trong khi ở Docklands (Melbourne) hay ở Darling Harbour (Sydney) chỉ từ $21 đến $30 đô.



Theo ông hướng dẫn viên du lịch, không phải người Nhật nào cũng giống những người ở khu Ginza mà chúng tôi thường gặp ở các cửa tiệm thời trang hay các tiệm ăn về đêm. Ông nói thành phần đó chỉ chiếm khoảng 1/5 tổng số 127 triệu dân. Theo ông, đời sống ở Nhật tuy cao nhưng cũng chật vật. Thanh niên ít chịu lấy vợ sớm và thường sống với cha mẹ ở các chung cư, cho dù đã ra trường, đi làm, để khỏi trả tiền nhà. Lập gia đình rồi, họ có khuynh hướng chỉ một con thôi vì sợ tốm kém. Theo ông, tuổi trẻ bây giờ không còn sùng đạo như thế hệ của ông (đã 70 tuổi) nên khi phải chạy theo cuộc sống và bị áp lực, thì dễ tìm đến cái chết. Mỗi năm có khoảng 30,000 người tự tử.



Tôi không đi về vùng quê nên không biết đời sống nông thôn như thế nào. Thỉnh thoảng trên đường đi xa, thấy có những cánh đồng lúa vừa phải, bên cạnh là những căn nhà 2 tầng nho nhỏ, trông không nghèo khó như ở đồng ruộng các nước Đông Nam Á khác, nhưng không thể bằng các nông gia Úc.



Người Việt có câu “Ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật”, tôi không có dịp hỏi mấy người Việt lấy vợ Nhật bây giờ có được các bà chìu chuộng như các cụ của mình ngày xưa ca tụng hay không. Ở phố Ginza, ban ngày tôi thấy các bà mua sắm quá trời. Có lần tôi vào trong cửa tiệm thời trang tính mua cái dù để làm kỷ niệm, tưởng là dù chừng mươi đô là tối đa như ở Melbourne, nhưng khi dòm, thấy đề giá mấy chục ngàn Yen (khoảng 27,000) là bằng một cái máy ảnh digital trung bình! Vậy mà các bà mua sắm như ta đi mua hàng Trung Quốc ngoài phố Richmond. Đó chỉ là kể sơ qua một thứ mua sắm.



Còn về ăn nhậu, các bà các cô Nhật không thua gì nam giới. Thỉnh thoảng xem phim tập “Hàn quốc”, thấy các cô uống rượu liên miên chẳng khác nào giới chị em ta, ca ve, gái bán bar ở Việt Nam thời trước, tôi hơi ngạc nhiên. Qua Nhật, thấy gái Nhật uống rượu còn hơn gái Hàn trong phim. Tưởng là đàn bà Nhật uống rượu do trời lạnh, chúng tôi qua Nhật vào lúc nóng nhất, trong nhà hàng luôn thấy các bà không rượu thì bia, ít khi thấy họ uống nước ngọt.



Người ta nói ăn nhậu về đêm, sau giờ tan sở là thói quen của trai gái Nhật có đồng ra đồng vào. Nếu vậy thì câu “...lấy vợ Nhật” e không còn đúng trong thế kỷ 21 này.



Nhà cửa thì sao? Trong chuyến đi tour núi Phú Sĩ, khi xe chay ra khỏi thành phố (cứ tạm gọi là ra khỏi ga Tokyo) chừng 20 chục cây số, người hướng dẫn chỉ những dãy nhà cao tầng nằm san sát nhau và nói đó là những chung cư mà người Nhật sống. Ông nói một căn nhà nhỏ nhất cũng 17 triệu Yen (khoảng $200,000 ngàn Úc kim) và căn nhà trung bình 170 triệu Yen (khoảng 2 triệu đô). Tôi nghĩ ông ta muốn nói các apartment hay flat, chứ ở thành phố Tokyo, tôi chưa bao giờ thấy một căn nhà đúng nghĩa, ngoại trừ lâu đài của vua chúa hay dinh thự của các bộ sở.


Nhà cửa san sát nhau dọc xa lộ trên đường ra khỏi thành phố Tokyo




Chỉ khi đi thăm cố đô Kamakura ở tỉnh Kanawaga nơi có tượng Phật bằng đồng thật lớn, trên đường vào chùa, gặp những căn nhà hai tầng khá lớn, có sân, nằm rời hoặc một mặt tường dính nhà bên cạnh (semi-detached) giống các townhouse ở Melbourne.

Tôi nghe nói ở Nhật, khi đi thuê nhà người ta tính theo kiểu phòng 1 chiếu, 2 chiếu hay phòng 4 chiếu, có nghĩa là đủ rộng để trải 1 hay bốn chiếc chiếu cho 4 người nằm.



Tôi chưa vào phòng ngủ của một người nhật bình thường để xem nhà cửa ra sao, nhưng trên đường đi ra các tỉnh hay tới cố đô Kyoto, tôi nhìn hai bên đường, ngoài những cao ốc thì không kể, những căn nhà hai tầng (còn mới) cũng nhỏ như cái chuồng chim (bird cage) mà một người Úc ở Box Hill cùng đi núi Phú Sĩ với tôi đã nhận xét. Tôi đoán mỗi bề của những căn nhà hai tầng đó cao tay lắm rộng khoảng 5, 6 mét. Nhà ở Nhật từ 2 tới 4 phòng ngủ và rộng khoảng từ 60 đến 90 mét vuông là lớn lắm và giá cũng phải từ $450,000 đến $550,000 Úc kim, mà đó là giá nhà ở các nơi xa thành phố Tokyo trong khi ở Úc loại nhà cũ xưa 3 phòng ngủ cũng rộng trên 100 mét vuông và những nhà mới xây sau này, ôi thôi rộng đến 300 hay 400 mét vuông là chuyện thường (McMansion ở các khu mới) với 3 hay 4 phòng ngủ và vô số các phòng khác mà ở Nhật người ta không bao giờ dám mơ.



Tôi có vào thăm nhà xứ của cha Nguyễn Xuân Tiến ở họ đạo Fujiwasa thuộc tỉnh Kanawaga nơi người Việt định cư đông nhất ở Nhật. Nhà xứ cao 4 tầng và rộng, nhưng phòng ốc tương đối nhỏ. Phòng làm việc của các nhân viên và nữ tu trong giáo xứ cũng nhỏ, đủ kê cái bàn và tủ hồ sơ.



Cha Tiến mời chúng tôi lên lầu uống nước và giới thiệu phòng ăn và phòng khách của 4 linh mục của giáo xứ (1 chánh và 3 phó). Cha xin lỗi đề nghị chúng tôi để dày dép dưới lầu, vì phong tục của họ như thế.



Gian phòng sinh hoạt của các cha gồm bàn ăn cho 4 người, cái tủ lạnh, tủ để ly chén và bồn rửa. Phần còn lại kê cái bàn xa lông (coffee table), 4 cái ghế đẩu để các cha coi tivi. Tôi nghĩ cái phòng ăn/phòng khách/sinh hoạt của bốn linh mục chỉ lớn khoảng 4m x 9m là tối đa. Còn phòng ngủ rộng như thế nào thì chúng tôi không biết nhưng bạn có thể đoán ra. Đến nước Nhật, thấy mình được ở đại lục có tiếng phúc địa này mới biết rằng mình là người tị nạn may mắn.



Nhà cửa tuy nhỏ, nhưng trình bày đẹp, nhất là họ biết tận dụng cây cối hoặc cây cảnh. Vườn Nhật là loại vườn nổi tiếng thế giới, nhỏ nhắn, xinh đẹp, tinh tế như các món ăn của họ vậy.



Người ta nói người Nhật rất trọng kỷ luật và có đầu óc tập thể. Tôi chỉ nghe nói, nhưng qua Nhật mới chứng kiến.



Vệ sinh: Tôi từng đến Singapore hai lần, mỗi lần cách nhau hai mươi năm và phải công nhận đường sá đất nước này rất sạch nhờ họ đã áp dụng một thứ kỷ luật sắt bằng cách phạt tiền những người xả rác hay dục tàn thuốc ngoài đường. Ở Nhật, không có bảng cấm xả rác, nhưng tôi chưa thấy một người Nhật nào vất tàn thuốc lá xuống đất, chứ đừng nói chi vất giấy rác bừa bãi. Nơi nào không có để cái gạt tàn thuốc, nơi đó không thấy người (Nhật) hút thuốc vì hút rồi dục ở đâu?



Đi chơi, thăm thú nhiều nơi, chẳng thấy rác, chỉ một lần thấy vài miếng giấy vụn bằng vài ngón tay rơi trên đường đi trong khu Phố Tàu rộn rịp đông người ở thành phố Yokohama, mà tôi nghi do du khách vất xuống lề đường. Một số nơi không có thùng rác, du khách phải giữ lại trong người, đợi đến chỗ có thùng rác mà dục. Thế mà cũng không có nạn vất rác bậy bạ. Hay thật! Phải chăng đó là nhờ sự giáo dục, là tinh thần tự trọng, là tinh thần quốc gia đạt đến mức cao độ?



Kính trên: Người ta nói rằng người Việt rất thông minh, rất nổi bật nếu đứng riêng một mình (học trong lớp đứng đầu, ra trường đỗ thủ khoa), nhưng nước Việt thì không (hay chưa) làm được công trình lớn (so với các nước khác), họ không làm việc chung được, bởi trong mỗi ông người Việt là một ông quan. Người Nhật không quá thông minh như người ta tưởng, nhưng tụ họp, họ làm nên chuyện lớn, suýt làm bá chủ thiên hạ.



Tập đoàn là hằng tính của người Nhật. Giai cấp phong kiến không còn nữa nhưng người Nhật ngày nay vẫn duy trì tính làm việc tập đoàn, dù đó là trong một đảng phái, công ty hay cửa hàng. Họ coi trọng chủ nhân và dù chủ nhân có la mắng, thậm chí có lúc bạt tai, họ cũng không vì thế mà thù hận, một chuyện không thể chấp nhận ở xã hội Tây phương. Họ làm việc với chủ là làm việc cho đến suốt đời và dĩ nhiên chủ cũng đối đãi tử tế và có hậu cho sự trung thành này. Nếu không thích hay không chịu đựng nổi, người công nhân chỉ việc đi làm chỗ khác.



Đó là những chuyện nghe nói. Còn chính mắt tôi trông thấy tinh thần kỷ luật và kính trọng cấp trên của người Nhật khi hỏi đường. Đó là trường hợp các công nhân làm lục lộ, xây dựng đường sá. Không biết đường, thấy một anh công nhân đứng gần, tôi nhờ anh ta chỉ đường, nhưng thay vì trả lời ngay, anh ta chạy tới ông xếp cách đấy cả vài chục mét, cúi đầu nói gì đó, rồi lại cúi đầu chào ông xếp, xong mới trở lại chỗ chúng tôi để chỉ đường. Không phải chỉ một lần duy nhất, mọi lần hỏi đường xá đều thấy công nhân phải tới báo cáo và xin phép xếp rồi mới đi làm “việc riêng” như thế.



Cúi lạy: Nói về người Nhật và nước Nhật, dù là những người chưa bao giờ đặt chân đến Nhật, ai ai cũng biết tục lệ cúi đầu bái của người Nhật. Khi nhắc đến tục lệ này, người ngoại quốc có thể coi đấy là điều hay, dễ thương nhưng cũng có thể coi đấy là quá đáng.



Như tôi đã kể với bạn đọc trước đây, trên các tuyến xe lửa đường xa, người kiểm soát vé hay công nhân đẩy xe bán thức ăn, mỗi khi đi qua cửa toa, trước khi mở và sau khi đóng cửa, đêàu cúi đầu chào. Họ đặt hai tay vào đùi, cúi thật sâu, có thể tới 90 độ. Họ làm như cái máy. Càng kính trọng hay thân tình thì cúi càng sâu, bái nhiều lần. Tôi chưa thấy họ bắt tay nhau.



Trong các department store (cửa hàng bách hóa) sang trọng ở khu Ginza, cứ bước vào cửa là thấy có những cô gái Nhật đứng sẵn cúi đầu chào. Có cửa có tới hai cô. Đi cầu thang cuốn lên tầng trên lại có cô khác đứng đợi, cúi lạy. Đi cầu thang máy cũng có nhân viên đứng sẵn trong thang máy vái, lúc vào lúc ra. Ngày đầu, chúng tôi cảm thấy không thoải mái vì cứ bị người ta nhìn mình xong cúi đầu thật thấp khiến mình áy náy, bởi mình ăn mặc lôi thôi kiểu du khách ba-lô, có gì mà họ phải kính cẩn đến thế.



Người ta nói rằng, để giải quyết nạn thất nghiệp, các công ty hay các cửa hàng bách hóa lớn tuyển dụng hàng ngàn cô gái làm việc tiếp tân, đón chào khách hàng hay chỉ làm cảnh hoặc làm những việc lặt vặt của cửa hàng. Các cô được huấn luyện, dạy thật kỹ càng về cách chào khách. Mỗi sáng có thể tới sớm một chút để tập bái, bái cho đúng kiểu, đúng độ cao thấp theo yêu cầu.



Bởi vậy, khi đi mua sắm, chúng tôi thấy có những gian hàng chỉ cần một người là đủ, vậy mà thấy có bốn năm đứng vậy, lượn lui lượn tới hoặc tới hỏi khách cần gì. Thật là phí công, phí của nhưng đó là cách giải quyết nạn nhân mãn của Nhật. Tuy nhiên, ở những cửa tiệm khác, những cửa hàng nhỏ, tôi thấy người Nhật làm việc rất đáng đồng tiền bát gạo, không tà tà như người Pháp.



Riêng tư: Nếu bạn quen xài đồ dùng trong nhà chung chạ, như muỗng nĩa, chén đũa, ly tách, qua Nhật bạn không nên tiếp tục thói quen này vì người Nhật không chấp nhận thói quen đó.



Nếu bạn ở chung nhà với người quen, se phòng hay dùng đồ ở công sở, xí nghiệp, bạn phải dùng đồ riêng của bạn, từ đũa cho đến ly tách. Hôm tiếp chúng tôi trong phòng ăn dành cho các cha xứ, cha Tiến phải đi tìm ly tách của cha để mời chúng tôi uống nước. Cha nói người Nhật có thói quen dùng đồ riêng của mình, chứ không xài chung hay dùng đồ của người khác. Ở các tiệm ăn, tôi thấy họ hay xài đũa loại đũa tre, ăn xong là dục đi.



Nói về sự riêng tư, tránh đụng chạm, tôi nhận thấy ở những nơi công cộng bên Nhật, ngay cả trên xe lửa, có hai loại cầu tiêu (dùng cho việc đại tiện) mà họ ghi là Western style và Japanese style. Cầu tiêu kiểu Tây phương là loại ngồi đặt mông lên trên. Cầu tiêu kiểu Nhật là loại ngồi chồm hổm, như cầu tiêu thời pháp thuộc, nhưng thời này làm bằng men, sạch sẽ trông mát mắt. Có điều, nhiều người không biết ngồi thế nào cho đúng, hướng mặt vào trong hay quay đầu ra ngoài. Cầu tiêu “kiểu Nhật” có ở mọi nơi, ở trên xe lửa. Không biết trên máy bay có loại này không, vì tôi chưa đi máy báy của Nhật.



Không cho tiền típ: Người Nhật có thói quen khi tính tiền cho bạn, họ sẽ bỏ cái bill nằm úp trên đĩa hay khay. Bạn phải lật lên mới biết số tiền. Bạn bỏ tiền lên đĩa, họ sẽ tính và trả tiền lẻ cho bạn. Bạn cũng có thể cầm tiền mang tận quày trả.



Khác với các nước như Pháp và nhất là ở Mỹ có thông lệ “phải” cho tiền típ (vì không cho đôi khi bị mắng vốn hay nói khích), ở Nhật không có lệ cho tiền tip, ngay ở các nhà hàng. Và không vì thế mà các tiếp viên không làm việc vui vẻ, phục vụ khách hàng tận tình. Ở hầu hết mọi nhà hàng, tôi thấy các tiếp viên nào cũng dễ thương.



Không còn lùn: Người Việt thường gọi người Nhật là chú lùn, bởi binh sĩ Nhật qua chiếm đóng Việt Nam đều rất thấp. Như thầy Suzuki của chúng tôi có bề ngang chứ bề cao của thầy rất khiêm nhượng, tôi nghĩ khoảng hơn 1.50 một chút. Và nếu bạn xem tivi, sẽ thấy các quan chức Nhật, các vị thủ tướng của họ (thuộc thế hệ già) chẳng có người nào cao.



Người Trung Hoa cũng có cách nói mỉa mai đối với người Nhật. Sách vở ngày trước gọi người Nhật là Oa nhân, Nụy nhân, có nghĩa là người Lùn. Nhưng sau Đệ nhị Thế chiến, họ đã thay đổi cách ăn uống, nhất là ăn nhiều thịt hơn ngày xưa, nên thế hệ mới lớn sau này, người nào cũng cao ráo, chẳng thua dịch Mít tộc ở xứ Úc.



Tôi thấy rất nhiều thanh niên Nhật cao hơn tôi. Có những cậu cao như sếu vườn. Các cô cũng thế, có chiều cao, dáng thon thon. Chúng tôi nhận xét ít thấy người Nhật (nhất là con gái) mập. Con gái Nhật có nước da trắng, phải nói quá trắng, không biết là trắng tự nhiên nay do dưỡng da, dùng mỹ phẩm. Bạn cứ tưởng tượng mặt mày da thịt của mấy cô diễn viên “phim Hàn quốc” trắng ra sao thì gái Nhật cũng trắng như vậy.



Nhưng bù lại cho nước da, dáng người xinh đẹp, các hàm răng của người đẹp Nhật trông thật... đáng bất mãn. Đa số các cô ngậm miệng thì chẳng sao, nếu cười một cái là tôi thấy cả bầu trời sụp đổ. Răng các cô phần lớn bị hư, hình như một phần do nước uống ở Nhật thiếu chất vôi. Tiếc thật. Tại sao nước Nhật rất văn minh, người Nhật có lợi tức đầu người cao hàng đầu thế giới chứ đâu nghèo như người Việt Nam mà không lo chăm sóc răng? Hay họ chỉ bỏ tiền lo cái mục làm đẹp da mặt và... uống rượu?



Không như ở Úc, ở Nhật các tiệm tạp hóa có bán bia và nhiều tiệm tạp hóa mở cửa 24 giờ. Cạnh khách sạn Mercure có tiệm tạp hóa bán đủ thứ cần dùng, từ báo chí đến bánh kẹo, đồ khô để nhậu và dĩ nhiên có cả bia; bia chỉ nửa hay chưa tới nửa giá so với các nhà hàng (khoảng 200 Yen một lon trong khi ở tiệm lên tới 650 Yen một ly).



Có lẽ bạn còn hỏi tôi mua đồ bên Nhật có rẻ không? Tôi nghĩ tùy loại. Có người cho rằng mua đồ Nhật ở nước ngoài còn rẻ hơn, bởi hàng xuất cảng họ bán rẻ để cạnh tranh. Tôi chẳng biết có đúng không, nhưng có cảm tưởng đồ điện tử ở Nhật cũng không rẻ lắm, được cái đồ gì mà có cái mác “Made in Japan” là thấy tốt, chắc ăn (khác vài chục năm trước, đồ của Nhật là đồ dổm, vì cần cạnh tranh nên họ làm chất lượng vừa phải để bán với giá rẻ).




Akibahara, thành phố chuyên bán đồ điện




Muốn mua đồ điện, bạn nên tới Akibahara, là thành phố mệnh danh là thành phố đồ điện --Electric Town--, nơi bày bán đồ điện và điện tử đầy hai bên đường phố. Một cái máy ảnh digital trung bình khoảng từ 20,000 đến 30,000 Yen ($230- $350 Úc kim). Mua loại máy chỉ bảo đảm trong nước Nhật thì rẻ, chứ muốn loại máy được bảo đảm ở nước ngoài thì phải tới cả $400 hay $500 Úc kim.



Cuối cùng, nếu bạn qua Tokyo mà muốn đi lang thang tới các thành phố (vùng) trong Tokyo, nên đi xe lửa tuyến đường JR Yamanote Line, tuyến đường màu lục. Đây là tuyến đường xe lửa chạy vòng tròn qua những khu phố nổi tiếng mà tôi đã kể cho bạn nghe. Tôi chỉ biết sự tiện lợi của tuyến đường Yamanote Line này khi đã “tiêu” gần hết 10 Ngày Đêm ở Xứ Mặt Trời Mọc.


Hy vọng bút ký Kể Chuyện Đường Xa mang lại cho bạn đọc một số thông tin, kinh nghiệm hữu ích cho chuyến đi sắp tới của bạn. Riêng tôi, vẫn còn ước mơ một chuyến đi Nhật khác vào mùa thu để xem các rừng phong đổi màu hay vào mùa xuân để xem hoa anh đào nở. Đó là hai mùa đẹp nhất mà người ta cho rằng những người đi Nhật lần đầu tiên nên tới./.

 
 
    Thoi-Nay - Du lich the gioi - Top 10

Tìm nhanh

 

Mục lục

Top 10:

Du lịch thiên đường:

Du lịch:

   
 

Copyright © 2011 | TN InfoWay