Thỉnh thoảng qua tin
tức, người ta nói tới
Yasukuni Shrine (gọi
là đền tử sĩ, đài
tưởng niệm hay đài
chiến sĩ trận vong
Yasukuni) không vì đấy
là một “kỳ quan” mà
bởi vì sự tranh luận
do các nhà lãnh đạo
Nhật Bản gây nên mỗi
khi họ đến viếng đền
này. Cứ mỗi lần một vị
thủ tướng Nhật đến
thăm Yasukuni Jinja
(Jinja tiếng Nhật có
nghĩa là đền thần)
trong ngày đầu năm,
dịp lễ lạc gì đó hay
trong ngày 15 tháng 8,
là ngày kỷ niệm Thiên
Hoàng Nhật tuyên bố
đầu hàng vô điều kiện
trong Đệ Nhị Thế
Chiến, các nước ở Đông
Nam Á, đặc biệt là
Trung Cộng và Nam Hàn
thường phản đối mạnh
mẽ, đôi khi làm cho
quan hệ ngoại giao
giữa hai nước trở nên
căng thẳng.

Khách
hành hương đi vào Bái
Điện của đền Yasukuni,
ngày 16.8.2007
Bởi vậy, trong chuyến
Nhật du tháng 8 vừa
rồi, tôi có ý định tới
xem Đền Yasukuni là
cái chi chi mà các thủ
tướng Nhật thường tới
viếng để gây sự phản
đối từ các quốc gia
láng giềng.
Vị quốc vong thân: đã
tồn tại 137 năm
Sáng 16.8.07, đọc nhật
báo Asahi Shimbun tôi
được biết Thủ tướng
Nhật Shinzo Abe ngày
hôm qua (15.8) nhân kỷ
niệm lần thứ 62 Nhật
thất trận, đã không
đến viếng Đền Yasukuni
như vị tiền nhiệm
Junichiro Koizumi. Và
tất cả mọi vị khác
trong nội các của ông
Abe cũng đã không đến
đó, trừ một vị bộ
trưởng đặc trách
Okinawa và các vùng
Bắc Lãnh.
Đồng thời tờ báo này
cũng chạy vài xã luận
có tựa “Yasukuni
Shrine: Nhật Bản rất
cần có một đài tưởng
niệm mới cho quốc gia”
với câu kết luận:
“Chúng ta chớ bỏ qua
những thay đổi đã xảy
ra một cách âm thầm
trong mùa hè này. Càng
ngày việc thần thánh
hóa các lãnh tụ chiến
tranh trong Đền
Yasukuni càng trở nên
không thể chấp nhận
được bởi đấy là một
biểu tượng của chủ
nghĩa quân phiệt thời
tiền chiến”.

Tác giả bên cạnh chiếc
máy bay Thần Phong ở
viện bảo tàng Yushukan
Chúng tôi chỉ còn trọn
một ngày đêm thoải mái
ở Nhật trước khi phải
rời Tokyo vào tối mai
nên hoạch định một
chương trình đi thăm
những nơi có thể đi
trong ngày, gồm 3 nơi:
Đền tử sĩ Yasukuni,
Tòa quốc hội Diet và
Tháp Tokyo. Ngoài ra,
trên đường đi, gặp gì
xem nấy.
Lần đầu tiên ở Tokyo,
chúng tôi chọn cách
tới Đền Yasukuni bằng
đường xe điện ngầm
(metro), nhưng tự nhủ
rằng đây chỉ là lần đi
xe công cộng cuối cùng
bởi rất ngại phải dò
dẫm đường giữa trời
nắng do kinh nghiệm đi
bộ tới Chùa Kiyomizu ở
Kyoto ngày hôm trước.
Đến trạm Ichigaya,
chúng tôi nhảy ra. Chỉ
dẫn trên bản đồ rất rõ
ràng, cho thấy từ ga
xe điện ngầm đi tới
đền tử sĩ là một con
đường thẳng, chỉ mất
khoảng năm bảy phút đi
bộ, nhưng chúng tôi
vẫn hỏi người trên
đường xem lối đi là đi
lên hoặc xuống, bởi vì
phải đi ngược lại sẽ
mệt lắm. Ngày hôm qua
ở Tokyo nhiệt độ lên
tới 40.8 độ C, cao
nhất trong vòng hơn 70
năm qua. Hôm nay, trời
cũng chẳng mát mẻ hơn
bao nhiêu.
Và thành quách đã hiện
ra trước mặt, nhưng
đây là lối đi bên hông
với cái cổng nhỏ gọi
là South Gate. Chúng
tôi tự nhủ “đường nào
cũng đến La Mã” nên cứ
vào “cửa hậu” xem và
khi trở về thì bằng
“cửa trước” cũng chẳng
sao. Du khách đâu cần
câu nệ.
May thay, đi lối này
trở thành đi tắt, đụng
ngay Haiden (Main Hall
– Bái Điện) với mái
đền thường thấy trên
tivi hay trong báo chí
khi các nhà lãnh đạo
Nhật hay du khách tới
thăm viếng, bái lạy.
Đền Yasukuni là một
tập hợp nhiều kiến
trúc nằm trong vùng
Kudan, giữa trung tâm
thủ đô. Khu đất hình
chữ L được bao bọc bởi
tường thành với nhiều
cổng nhỏ bên hông,
phía trong trồng nhiều
cây bách, cây bá hương
và cây phong, là một
khu vực cây xanh nổi
tiếng của thủ đô.

Tác giả trước Cổng Thứ
Hai đường vào đền
Yasukuni, hậu cảnh là
phố xá
Nếu đi vào cửa trước,
bạn sẽ gặp Cổng Thần
Đạo thứ nhất to cao
với các cột bằng thép
hình tròn sơn màu xanh
lá cây sẫm gần với màu
đất, khác với các cổng
Thần Đạo thường thấy ở
các đền sơn màu cam và
cột gác ngang trên cao
sơn màu đen.
Cổng này tiếng Nhật
gọi là Daiichi Torii
(Great Gate), cao 25
mét và rộng 34 mét.
Đây là nơi mà các yếu
nhân Nhật Bản đi vào
thăm đền. Tiến vào một
đoạn nữa sẽ bắt gặp
bức tượng dựng trên
bục đá cao, đó là
tượng của ông Omura
Masujiro (1824-1869),
người sáng lập Quân
Đội hiện đại của Nhật.
Bức tượng đúc toàn
thân của ông được dựng
vào năm 1893 là bức
tượng đồng điêu khắc
theo kiểu Tây phương
đầu tiên ở Nhật.
Sau đó bạn sẽ gặp Cổng
Thứ Hai nhỏ hơn, rồi
cổng Shinmon (Main
Gate) là một kiến trúc
hơi giống cổng tam
quan làm bằng gỗ
cypress (bách) có mái.
Tiến lên nữa giữa sẽ
gặp một cổng thần
trước khi vào sân của
Bái Điện (Haiden –
Main Hall). Bái điện
này được xây vào năm
1901 với mái doi hình
chóp lộng lẫy được
trùng tu lại vào năm
1988. Hình ảnh tiêu
biểu của Đền Yasukuni
là cái điện này. Đây
là nơi khách thập
phương tới để bái lạy
và dâng lễ vật (bỏ vào
thùng gỗ trước thềm
đền).
Trong khi du khách sắp
hàng để đứng trước mặt
tiền đền bái lạy, tôi
quan sát thấy trên
trần đền treo những
tấm vải màu trắng có
nét chữ, nhưng không
hiểu có ý nghĩa gì bởi
viết bằng Nhật ngữ.
Chúng tôi thấy sâu bên
trong đền qua nhiều
gian phòng có các đạo
sĩ mặc đồ màu đen và
nhiều thanh niên nam
nữ mặc đồ thụng màu
trắng (như các chú
giúp lễ đạo Công Giáo)
sắp hàng đứng phía
sau. Tôi chẳng biết họ
tế lễ ra sao vì không
thể đứng lâu trong khu
vực này, phải nhường
chỗ cho người khác đến
lạy hay xem.
Sau Bái Điện là Đền
Chính (Honden – Main
Shrine) nơi các vị
thần (kami) cư ngụ.
Đền này được xây vào
năm 1972, là nơi hành
lễ chính thức của Thần
Đạo, công chúng không
được vào.
Và sau Đền Chính là
Reijibo Hoanden nơi
chứa danh sách các vị
thần, tức các tử sĩ
của Nhật Bản. Danh
sách và các tên tuổi
của gần 2.5 triệu
người được viết trên
loại giấy đặc biệt của
Nhật Bản, là những
người đã chết vì nước
Nhật qua 11 trận chiến
kể từ thời Minh Trị
Thiên Hoàng cho đến
thời Đệ Nhị Thế Chiến.
Văn thư lưu trữ được
cất trong hầm bê tông
cốt sắt chống động
đất, xây vào năm 1972
với quỹ do Thiên Hoàng
Hirohito đài thọ.
11 cuộc chiến: nội
chiến và xâm lăng
Vào tháng 6 năm 1869,
Minh Trị Thiên Hoàng
ra chiếu chỉ xây một
ngôi đền tại Kudan để
tưởng nhớ những chiến
binh đã chết trong
trận chiến nội chiến
Boshin xảy ra hai năm
trước, giữa phe ủng hộ
Thiên Hoàng và những
người phò Tướng Quân
Đức Xuyên (Tokugawa
Shogunate), một giòng
họ nắm quyền tại Nhật
gần ba năm năm qua.
Đây là trận chiến thứ
hhất kể từ khi Thiên
Hoàng thâu tóm giang
sơn về một mối, có
thực quyền của một vị
vua.
Ban đầu, đền này có
tên là Shokonsha. Năm
1879, do ảnh hưởng của
văn học cổ điển Trung
Hoa, đền này được đổi
thành Yasukuni, có
nghĩa là “tạo hòa bình
cho đất nước”.
Đền tử sĩ làm các nghi
thức theo Thần Đạo để
an vị kami (thần linh)
của tất cả các các
chiến binh và thần dân
đã hy sinh mạng sống
của

Biết ơn các loại vật:
thờ tượng chó, ngựa,
và chim bồ câu đưa thư
họ vì Thiên Hoàng, gồm
người Nhật lẫn thần
dân các thuộc địa cũ
(Triều Tiên và Đài
Loan), trải qua các
cuộc chiến từ thời
Minh Trị (Meiji) cho
đến Chiêu Hòa
(Hirohito) mà cuộc
chiến sau cùng là Thế
Chiến Thứ Hai.
Tổng cộng chính xác là
có 2,466,532 nhân mạng
nam và nữ trong đó có
27,863 người Đài Loan
và 21,181 người Triều
Tiên đã chết vì Thiên
Hoàng Nhật Bản. Chết
vì Thiên Hoàng thì
được thờ như thần.
Cũng vì vậy mà những
người đã chết trong
cuộc nội chiến Boshin
thuộc phe Mạc Phủ Đức
Xuyên (Tokugawa
Shogunate) ở tỉnh Aizu
và tỉnh Satsuma đã
không được ghi tên vào
Đền Yasukuni bởi họ bị
coi là kẻ thù của
Thiên Hoàng, gây sự
tức giận từ một số
người dân hai tỉnh
này.
Trớ trêu thay, vì đền
này tự ý ghi tên người
ta vào nên có những
gia đình người ngoại
quốc hay có nguồn gốc
đạo Thiên Chúa yêu cầu
rút tên thân nhân họ
ra khỏi đền tử sĩ
nhưng các vị đạo sĩ
của đền cho rằng một
khi một linh hồn đã
được phong thần rồi
thì “đã nhập” và do đó
không thể tách rời
được nữa, có nghĩa đã
vào thì không ra được!
Nhưng việc “phong
thần” cho các tội phạm
chiến tranh trong Đệ
Nhị Thế Chiến mới là
vấn đề, gây phẫn nộ
cho các quốc gia khác
cũng như tạo sự bối
rối cho cả chính phủ
lẫn hoàng gia Nhật.
Đền Yasukuni được coi
là cột trụ tinh thần
quốc gia của người
Nhật trải dài trên 130
năm nay. Nói như kiểu
VC yêu xã hội chủ
nghĩa là yêu nước, thì
với người Nhật, yêu
Thiên Hoàng là yêu
nước. Đây là nơi mà
người dân đến để bày
tỏ lòng ngưỡng mộ và
tôn kính đối với những
người đã chết vì tổ
quốc. Nước nào cũng có
những đài tử sĩ để
tưởng nhớ các chiến sĩ
trận vong như người Úc
thường hành lễ một
cách rất long trọng
tại các đài
Remenbrance Shrine
trong các ngày quốc lễ
như Anzac Day.
Nhật Hoàng Hirohito
sau khi thất trận và
được miễn xét xử bởi
Đồng Minh cũng đã đến
viếng đền Yasukuni
những 8 lần. Lần chót
là vào năm 1975.
Nhưng từ đó cho đến
khi qua đời vào năm
1989, nhà vua không
còn tới viếng, bởi vào
năm 1978 vị đạo sĩ của
đền đã bí mật ghi tên,
phong thần cho 1,068
tội phạm chiến tranh
đã bị kết án trong đó
có 14 tội phạm chiến
tranh hàng đầu hay còn
gọi là tội phạm chiến
tranh hạng A.
Ông Tomohiko Tomita,
một đại thần trong
triều, đã ghi lại
trong nhật ký lời tâm
tình của Nhật Hoàng
Hirohito vào năm 1988
về việc phong thần các
tội phạm chiến tranh:
“Đó là lý do tại sao
từ đó đến nay trẫm
không còn đến viếng
đền nữa. Trẫm nói từ
đáy lòng đấy”.
14 tội phạm chiến
tranh hàng đầu đó gồm:
- Hideki Tojo, Itagaki
Seishiro, Heitaro
Kimura, Kenji Doihora,
Iwane Matsui, Akira
Muto và Koki Hirota. 7
người này, trong đó có
Thủ tướng kiêm bộ
trưởng Chiến Tranh
Tojo người ra lệnh tấn
công hạm đội Mỹ ở Trân
Châu Cảng, đều bị treo
cổ.
- Yoshijiro Umezu,
Kuniaki Koiso,
Kiichiro Hiranuma,
Toshio Shiratori: 4
người này bị án tù
chung thân.
- Shigenori Togo: án
tù 20 năm.
- Osami Nagano và
Yosuke Matsuoka: cả
hai chết vì bệnh trước
khi tòa tuyên án.
Xem di vật chiến tranh
Mồ hôi nhễ nại và mắt
hoa vì nắng chói nên
đứng trước bục thềm
chẳng thấy rõ bên
trong đền, chỉ là
những hình ảnh mờ mờ
ảo ảo, tôi tính lấy
máy ảnh chụp để xem
sau, nhưng khi thấy
các du khách Nhật đưa
máy ảnh lên bị nhân
viên an ninh quát
tháo, tôi thấy chẳng
cần thiết nữa.
Trong khuôn viên đền
tử sĩ này còn nhiều
thứ khác nữa như khu
vực nuôi hàng trăm
chim bồ câu trắng
tượng trưng cho hòa
bình, những đài dựng
tượng ngựa, tượng chó
và tượng chim bồ câu
đưa thư với hương hoa
lễ vật dâng cúng để
làm cho hồn các súc
vật siêu thoát do chết
ở trên chiến trường
khi cùng chiến đấu với
các binh sĩ Nhật. Tôi
thấy có du khách Nhật
đi qua trước tượng
chó, ngựa và chim chấp
tay lạy hết sức cung
kính.
Chúng tôi bước qua một
khu khác đối diện các
tượng chim, chó, ngựa.
Có tòa nhà gọi là
Yasukuni Archives nơi
lưu trữ cả một trăm
ngàn tập tài liệu ghi
trường hợp mà các thần
(tử sĩ) trong đền bị
chết cũng như lịch sử
cận đại của Nhật.
Nhưng điều khác làm
cho Nhật bị chỉ trích
nữa là bảo tàng viện
Yushukan, tòa nhà hai
tầng nằm bên cạnh văn
khố, nơi chứa các di
tích và tài liệu tượng
trưng cho chủ nghĩa
quân phiệt Nhật. Họ lý
luận rằng các nước
khác đã không công
bình khi đánh giá cuộc
chiến vừa qua, vì
người Nhật tham gia Đệ
Nhị Thế Chiến với lý
do tự vệ!
Tầng dưới, du khách
vào xem miễn phí. Tầng
trên phải trả tiền vào
cửa, 800 Yen mỗi
người. Quảng cáo cho
thấy tầng trên triển
lãm tài liệu hoàng gia
Nhật, tiểu sử các kiếm
sĩ samurai, các tướng
lãnh và tôi nhớ hình
như có tên của Trung
Tướng Hideki Tojo,
người bị Đồng Minh xử
treo cổ vào năm 1948.
Chúng tôi chỉ đi xem
triển lãm tầng dưới
bởi tò mò với những
hình ảnh của máy bay,
xe lửa và các loại đại
bác Nhật đã dùng trong
Đệ Nhị Thế Chiến, nhất
là loại máy bay
Zerosen (Zero
Fighter), tức máy bay
Thần Phong của Hải
Quân Nhật mà hồi nhỏ
tôi đọc truyện hay xem
xi-nê, nghe nói đấy
loại máy bay Nhật dùng
để tấn công thình lình
hạm đội Mỹ ở Trân Châu
Cảng vào sáng Chủ Nhật
7.12.1941 làm khoảng
3,500 binh sĩ Mỹ tử
thương và cả hạm đội
gần như bị loại khỏi
vòng chiến.
Theo tài liệu ở bảo
tàng viện, chiếc máy
bay Type 0 của hãng
Mitsubishi sở dĩ được
mang biệt hiệu Thần
Phong Zerosen là bởi
trong trận chiến với
không quân Trung Hoa,
phi đội của Nhật đã hạ
hầu hết các máy bay
của Trung Hoa Dân Quốc
của Tưởng Giới Thạch
do Liên Xô chế tạo
trong khi Nhật không
bị thiệt hại chiếc
nào.
Và chúng tôi cũng có
dịp xem di tích của
một trong những chiếc
xe lửa mà Nhật đã dùng
tại chiến trường Đông
Nam Á như đầu máy xe
lửa Model C56
Locomotive No 31 được
đóng vào năm 1936 dùng
tại Nhật, nhưng sau đó
được chở ra ngoại quốc
để khai trương đường
xe lửa Thái- Miến
Điện, một đường rầy
nối liền giữa hai nước
do quân đội Nhật cưỡng
ép tù binh chiến tranh
làm.
Thái Lan còn dùng đầu
xe lửa này cho đến năm
1977 mới sa thải,
nhưng những người Nhật
có liên hệ trong việc
xây tuyến đường xe lửa
thời chiến đã tìm cách
gây quỹ để mua lại,
chở về Nhật năm 1979
và sung vào viện bảo
tàng Yushukan của Đền
Yasukuni.
Hình ảnh đầu xe lửa
này gợi cho tôi nhớ
lại chiếc xe lửa trong
cuốn phim nổi tiếng
Bridge On the River
Kwai do Alec Guinness,
William Holden, Jack
Hawkins và Sessue
Hayakawa đóng vào năm
1957 mà bây giờ thỉnh
thoảng coi lại vẫn
thích. Phim này (cốt
truyện hoàn toàn giả
tưởng) được 7 giải
thưởng Oscar.
Bài hát chủ đề cuốn
phim này được huýt sáo
miệng khi các tù binh
sắp hàng đi lao động
trên chiếc cầu sông
Kwai có thể “quá hay”
nên cách đây một phần
tư thế kỷ đã được cái
nhà ông “chuyên viên”
quay video đám cưới
của chúng tôi lồng vào
trong cuốn video đám
cưới chúng tôi thuê
ông quay, mở đầu cảnh
chúng tôi tiến tới nhà
thờ vào một ngày đầu
xuân Melbourne bằng
điệu nhạc hành quân
của cuốn phim, “thơ
mộng” chịu hết nổi nên
cứ nhớ hoài.
Đi xem đền tử sĩ
Yasukuni hoàn toàn do
sự hiếu kỳ của một du
khách, chứ nói đến
quân phiệt Nhật thì
không chỉ người Hoa và
Triều Tiên căm giận mà
người Việt cũng không
thể quên được nạn đói
Ất Dậu 1945 khi quân
đội Nhật bắt dân trồng
đay thay lúa khiến cả
mấy triệu người Việt
Nam bị chết đói. Sau
này hình như Nhật có
bồi thường chiến tranh
bằng cách viện trợ cho
chính quyền Việt Nam
Cộng Hòa các loại xe
nhà binh gọi là xe
jeep Nhật?
Từ Diet đến Kyoto
Tower
Coi để biết Yasukuni
Shrine là cái chi chi
mà hay gây tranh luận
trên chính trường quốc
tế, sau đó chúng tôi
đón xe taxi tới Diet
Building. Đây không
phải là Tòa Nhà Kiêng
Cữ Ăn như cái tên
thoạt nghe, mà là nơi
mấy tháng trước có
những người ăn (hối
lộ) nhiều quá phải tự
tử hay từ chức. Đó
chính là tòa nhà Quốc
Hội của Nhật.
Khoảng cách giữa hai
nơi không xa nên tiền
taxi chỉ 900 Yen. Chỉ
cho bác taxi già địa
chỉ bằng cách đọc tên
Diet Building, nhưng
khổ nổi ông ta không
hiểu tiếng Anh. Tìm
bức hình tòa nhà thì
chẳng thấy có trong
bản đồ. Tôi chỉ còn
cách đọc tên ông thủ
tướng Nhật nhiều lần
“Shinzo Abe! Shinzo
Abe!” như đọc thần chú
nhưng chỉ thấy ông ta
cười, chẳng biết ông
có hiểu ý tôi ám chỉ
không.
National Diet Building
(Kokkai-gijido) nằm
trong khu Chiyoda, là
nơi lưỡng viện quốc
hội làm việc; Hạ Viện
họp họp ở cánh trái và
Thượng Viện ở cánh
phải của một tòa nhà
xây xong vào năm 1936
nghe nói hoàn toàn
bằng vật liệu của
Nhật. Tuy nhiên, kiến
trúc tòa nhà trông bị
ảnh hưởng bởi thời
Phục Hưng của Ý.
Một con đường lớn chạy
ngang qua tòa nhà quốc
hội và một con đường
lớn đi thẳng vào mặt
tiền, vị trí giống
Dinh Độc Lập ở Sài
Gòn. Có 3 cổng lớn cho
xe chạy vào, song song
với 3 cửa sắt nhỏ bên
cạnh cho người đi bộ.
Chúng tôi đi ngang qua
Diet vào lúc mọi cổng
đều đóng và có nhiều
nhân viên an ninh và
cảnh sát đứng canh
gác.
Đứng ngắm chừng vài
phút, chụp vài tấm
hình, chúng tôi đón
taxi tới Tháp Tokyo
nằm ở khu Minato, cũng
là khu trung tâm phố.
Tại Tokyo, chúng tôi
thấy đâu cũng là phố,
là xi-tì cả, bởi toàn
là nhà cao tầng và
đông người đi lại.

Dưới chân tháp Tokyo
Tower
Ở Nhật có nhiều taxi
và đón rất nhanh. Thấy
anh taxi trẻ tuổi tóc
húi cua, tôi bắt
chuyện cho vui nhưng
anh ta không nói được
tiếng Anh. Làm sao anh
biết mà lái tới đây?
Nói “Tokyo Tower!” và
chỉ hình cái tháp
trong bản đồ. Làm sao
sao trả tiền? Thấy số
tiền hiện trên máy hay
xin họ cái biên lai:
1130 Yen cho cuốc này.
Tokyo Tower là một
niềm hãnh diện của
thành phố Tokyo, một
tháp bằng sắt cao nhất
thế giới –333 mét (cao
hơn tháp Eiffel 13
mét), xây xong năm
1958 nhưng chỉ là sự
bắt chước tháp của
người Pháp đã xây cách
đây khoảng 120 năm.
Bạn phải sắp hàng để
mua vé và sắp hàng đợi
ở chân ba cái thang
thang máy. Do người
Nhật đi tham quan tháp
cũng đông nên phải mất
khoảng nửa tiếng mới
có thể lên lầu vọng
cảnh chính (Main
Observatory), cao 150
mét.
Bạn phải mua vé đi
đoạn này trước, giá
820 Yen một người.
Muốn đi lên lầu vọng
cảnh đặc biệt cao 250
mét (Special
Observatory) thì phải
lên tầng 150 mét mới
mua tiếp, giá 600 Yen;
mất cả thảy khoảng
16-17 Úc kim.
Tôi đã lên tháp Eiffel
nên có sự so sánh
ngay: Tokyo Tower
không đẹp bằng Eiffel
Tower, xét từ bệ cho
đến tầng lầu vọng cảnh
cao nhất. Lý do có thể
tháp Tokyo làm bằng
vật liệu nhẹ hơn (tháp
Tokyo nặng 4000 tấn
trong khi Eiffeil nặng
7000 tấn) do kỹ thuật
luyện thép ngày nay
tân tiến hơn nên tháp
Nhật không có sự vĩ
đại, đồ sộ về bề ngang
như tháp của Pháp (4
chân tháp Eiffel trụ
trên vòng tròn với bề
rộng bằng hai cái sân
football ghép lại).
Tháp Eiffel tọa lạc
trên quảng trường
Champs-de-Mars thoáng
rộng với những thảm cỏ
xanh trải dài tới học
viên quân sự và cạnh
sông Seine, là địa thế
đẹp nhất thủ đô Paris
trong khi tháp Tokyo
nằm ngay trong khu phố
khá chật hẹp, đứng ở
dưới trụ bệ chân này
không thấy bệ chân kia
vì bị các building
choáng.
Tháp Eiffel có 3 tầng
để khách thưởng ngoạn:
tầng một cao 57 mét và
tầng hai cao 115 mét
đều có nhà hàng và các
tiệm bán đồ lưu niệm.
Tầng ba cao 276 mét
(cao hơn tháp Tokyo
đến 26 mét). Tất cả cả
ba tầng đều có
ban-công để du khách
ra ngoài hóng gió
trong khi ở tháp
Tokyo, du khách chỉ
nhìn cảnh vật qua
tường kính.

Một góc thủ đô nhìn từ
Tháp Tokyo
Không gian ở trên hai
tầng lầu vọng cảnh của
tháp Tokyo cũng không
rộng bằng tháp Eiffel.
Ở tầng 1, có kiosk bán
thức ăn và đồ uống và
nhà hàng. Ở cả hai
tầng, bạn có thể quan
sát thành phố Tokyo
với tầm nhìn 360 độ.
Vào những ngày trời
đẹp, người ta có thể
thấy cao ốc Landmark
Tower (296m, cao ốc
cao nhất nước Nhật)
của thành phố Yokohama
ở phía nam, và chóp
núi Phú Sĩ ở phía tây.
Ngày chúng tôi lên
tháp Tokyo, trời nắng
nhưng đầy mây mù nên
chỉ thấy những cao ốc
và kiến trúc gần, đặc
biệt là Aqua City trên
đảo Odaiba và cây cầu
Rainbow Bridge mà tôi
đã có dịp hầu chuyện
với bạn đọc trước đây.
Sau đó, chúng tôi lên
lầu gọi là Special
Observatory cao 250
mét. Ở tầng này, thấy
cảnh vật dưới đất sâu
hơn nhưng cũng chẳng
nhìn xa hơn vì trời
mây mù. Không gian
trên đây chật hẹp,
không được như tầng 3
ở tháp Eiffel nơi
chúng tôi đứng chơi và
ngắm mà không chán. Đi
vòng quanh chừng 10
phút thì chúng tôi sắp
hàng để xuống. Và
xuống tầng 1 lại sắp
hàng để xuống đất, mất
tất cả chừng nửa
tiếng.
Dưới 4 chân tháp Tokyo
với những vòm sắt
trông mảnh mai, người
ta “nhét” vào một cái
building khoảng 5 năm
tầng lầu gồm các tiệm
buôn, nhà hàng,
takeway như McDonald,
cửa hàng bách hóa.
Trong khi dưới chân
tháp Eiffel là khoảng
sân trống, chỉ nội với
những cái vòm cong
dưới đế tháp cũng đã
chứng tỏ khiếu thẩm mỹ
và tài kiến trúc của
kỹ sư Gustave Eiffel,
người đã xây cái tháp
tiêu biểu cho nước
Pháp, đáng được chọn
vào hàng 7 Kỳ Quan Mới
của Thế Giới.
Trên chóp tháp Tokyo
là cần ăngten phát
sóng cho 24 đài truyền
hình. Tháp được sơn
màu cam và màu trắng
chiếu theo luật lệ
hàng không. Có 176
ngọn đèn pha thắp sáng
từ chân đến đỉnh tháp,
ban đêm tỏa màu cam
vào mùa đông và màu
trắng vào mùa hè, làm
cho du khách và người
qua đường thích thú
chiêm ngưỡng.
Nhật: xứ đền và chùa
Từ tháp Tokyo, chúng
tôi tìm đường ra bất
cứ một ga xe lửa hay
xe metro gần đó để về
nhà. Nhưng trên đường
đi, chúng tôi gặp ngôi
chùa nằm sát tháp mà
đứng trên tháp chúng
tôi đã thấy rất rõ với
nhiều kiến trúc khoảng
gần chục mái nhà và
những ngôi mộ.
Thì ra đây là Chùa
Zojoji do dòng họ
Tướng Quân Đức Xuyên
Tokugawa Ieyasu xây
vào năm 1598 khi ông
ta lập nên mạc phủ ở
Edo (tức Tokyo ngày
nay). Phía sau chùa là
lăng tẩm của dòng họ
Đức Xuyên. Chùa này
thuộc phái Jodo shu
(Tịnh Độ Tông) là nơi
hàng ngàn tu sĩ và tu
sinh học tập và sống
dưới thời mạc phủ.
Khi chế độ Tướng Quân
Đức Xuyên chấm dứt và
do ảnh hưởng Thần Đạo
của triều đại Minh Trị
Thiên Hoàng, ngôi chùa
cũng mất đi ảnh hưởng
và sau đó bị hư hại do
các cuộc dội bom trong
Đệ Nhị Thế Chiến.
Những đền đài hiện
hành mới được xây và
tu bổ lại. Ngôi chùa
Zojoji đã lấy lại
phong độ của ngày xưa,
hiện là nơi tu học của
phật tử tứ phương, nhờ
vị trí ngay giữa trung
tâm thủ đô của chùa,
cạnh Tháp Tokyo và các
công viên bên cạnh.
Cổng chùa Zojoji là
một kiến trúc độc đáo
đập vào mắt người đi
đường với mái cao 21
mét, rộng 28 mét được
xây từ thời mạc phủ
Đức Xuyên và sau này
được xây lại, giữ
nguyên kiến trúc cũ.
Ở ngôi chùa này có rất
nhiều tượng của Bồ Tát
Địa Tạng nho nhỏ và
một tượng Quan Thế Âm
rất lớn và rất đẹp.
Tôi thấy có một cây
cedar (bách hương) to
lớn với bảng đồng ghi
là do Tướng Grant,
tổng thống thứ 18 của
Hiệp Chủng Quốc trồng
vào năm 1879 hki ông
đến thăm Tokyo, và một
cây cedar khác còn
nhỏ, cao khoảng 2 mét,
có ghi rằng được trồng
bởi George H W Bush
vào năm 1982 khi ông
qua Nhật với tư cách
phó tổng thống Mỹ.
Tham quan Chùa Zojoji
bên cạnh tháp Tokyo
chỉ là một sự tình cờ,
nhưng đều này cho thấy
xứ Phù Tang tuy là con
cháu của Thái Dương
Thần Nữ và Thần Đạo
trong nhiều thế kỷ là
quốc giáo, nhưng Phật
Giáo đã để lại những
dấu ấn sâu đậm trong
văn hóa và mỹ thuật và
kiến trúc của quốc gia
này. Bởi vậy, thống kê
nói 95% dân số Nhật
theo Thần Đạo và 85%
theo Phật Giáo, cũng
đúng thôi!
Du lịch một nơi mà bạn
đã biết ít nhiều về
nơi đó, chuyến đi sẽ
thú vị hơn. Nhật Bản
là đất nước không quá
xa lạ với người Á Châu
vì sự gần gũi về địa
lý, văn hóa và nhất là
cái mộng một Á Châu
Đại Đồng của quân
phiệt Nhật khiến nhiều
quốc gia trong vùng
Đông Á và Đông Nam Á
Châu trở thành nạn
nhân của họ trong Đệ
Nhị Thế Chiến.

Trong một tiệm Nhật
chính hiệu: đi chân
không, ngồi phòng
riêng
Cái duyên của một thời
mê võ thuật
Tôi tiếp cận với văn
hóa và lịch sử nước
Nhật qua sách vở, phim
ảnh và nhất là qua
những năm tháng theo
học và tập luyện Không
Thủ Đạo (Karatedo). Ở
Huế thời đó có nhiều
lò dạy võ, từ võ Bình
Định, Thiếu Lâm, Việt
Võ Đạo (Vovinam) cho
đến võ Nhu Đạo (Judo),
Thái Cực Đạo
(Taekwondo). Thậm chí
còn có võ Thần Quyền ở
đảo Cồn Hến gần Vỹ Dạ,
một thứ võ mà tôi nghe
nói khi luyện tập võ
sinh niệm chú uống bùa
và đánh theo lối võ tự
do. Tôi đã chứng kiến
một trận đấu của một
môn sinh Thần Quyền
với các bạn đồng môn
và kinh ngạc vì sự
dũng mãnh và không
biết sợ của họ, có lẽ
nhờ uống bùa và tin
tưởng vào thần linh.
Nhưng môn võ mà tôi
thích nhất vẫn là
Không Thủ Đạo
(Karatedo). Kara, có
nghĩa là không; te là
tay; do là đạo. Võ
được người Nhật coi
như một thứ đạo. Môn
võ trên danh xưng dùng
tay không nhưng thực
chất vẫn dùng chân,
kết hợp cả quyền lẫn
cước.
Nước Nhật là cường
quốc kinh tế, thắng
cảnh quá đẹp lại là
nơi sản xuất nhiều môn
võ được thế giới biết
đến, nhất là những
chàng kiếm sĩ samurai.
Các huyền thoại được
thêu dệt quanh những
vị chưởng môn của các
môn phái Không Thủ
Đạo, Nhu Đạo, Hiệp Khí
Đạo (Aikido) là một
trong những lý do
khiến tôi tìm học võ
Nhật.
Dưới chân cầu Đông Ba
ở đường Võ Tánh có một
ngôi nhà gác ba gian
do ông bà Phan Văn
Phúc làm chủ, dùng làm
nơi dạy võ được dân
học võ gọi ngắn gọn là
“Lò Suzuki”. Tên chính
thức của võ đường là
Linh Trường Không Thủ
Đạo (Suzucho
Karatedo). Gian đầu
tiên là nơi tiếp khách
và làm việc (may võ
phục), gian thứ hai là
sàn thảm (tapis, đặc
biệt dành tập Nhu Đạo)
và gian sau là phòng
tập nền xi măng, dành
cho Không Thủ Đạo.
Phan Văn Phúc là tên
Việt Nam của ông Choji
Suzuki, một sĩ quan
của quân đội Thiên
Hoàng. Nhật thất trận,
chàng trai mới ngoài
20 tuổi không về nước
mà ở lại Việt Nam, lấy
vợ, sinh được ba người
con. Cuộc tình của
chàng võ sĩ xứ Phù
Tang với cô gái xứ
Bình Định (Ai về Bình
Định mà coi, con gái
Bình Định cầm roi đi
quyền) đã từng là một
đề tài hấp dẫn trên
báo chí Miền Nam
khoảng đầu thập niên
1970.
Trước khi sang Việt
Nam, Đại úy Choji
Suzuki đã mang đệ nhị
đẳng Nhu Đạo và đệ tứ
đẳng Không Thủ Đạo.
Ông đã bắt đầu dạy võ
cho người Việt từ thập
niên 1950, nhưng chỉ
đến giữa thập niên
1960 mới hành nghề một
cách chính thức, được
chính phủ Việt Nam
Cộng Hòa cấp giấy phép
mở võ đường. Không Thủ
Đạo là môn võ có nhiều
môn sinh theo học và
chính “Lò Suzuki” ở
chân cầu Đông Ba đã
đào tạo nhiều cao đồ
hiện nổi tiếng ở hải
ngoại và quốc nội như
Hạ Quốc Huy, Nguyễn
Xuân Dũng (tức Nguyễn
Văn Quan), Ngô Đồng,
Khương Công Thêm, Lê
Văn Thạnh...
Học võ ở Huế thời
trung học và làm huấn
luyện viên một thời
gian ở Sài Gòn thời
hậu đại học dẫu sao
cũng đã giúp tôi biết
thêm về con người và
văn hóa Nhật, do đó
khi đến Nhật tôi không
quá bỡ ngỡ mà có cảm
tưởng như là mình trở
về một nơi quen thuộc.
Đó là lý do tại sao
tôi cho rằng, khi muốn
du lịch một nơi nào,
cần tìm hiểu về đất
nước và con người của
nơi đó trước, trừ phi
bạn tới đó chỉ để nghỉ
mát, nghỉ xả hơi mà
thôi.
Đệ nhất khoái: ăn uống
ở Nhật ra sao?
Từ nhỏ đến khi khôn
lớn, tôi không hảo xực
cho lắm, có thể do tôi
bị người lớn nhồi sọ
bởi những câu như “ăn
để mà sống chứ không
phải sống để mà ăn”
hoặc “miếng ăn là
miếng nhục”. Vì vậy,
tôi chỉ hảo cái uống
mà thôi. Uống cà phê,
uống rượu, uống bia.
Uống thấy có vẻ sang
hơn mặc dù uống nhiều,
quá độ cũng phàm tục
như ăn.
Nhưng khi sang Úc và
đã bước qua ngưỡng cửa
“tam thập nhi lập”,
tôi lại bắt đầu có
quan niệm khác về cái
ăn, bởi đất nước này
quá sung túc và thực
phẩm quá tràn trề, ê
hề. Hồi đó tôi thấy
những người không xu
dính túi như những
người tị nạn vừa đặt
chân đến Úc như chúng
tôi vẫn thoải mái ăn
nhậu nếu chịu khó đi
làm. “Nước Úc May Mắn”
quả là thiên đàng của
dân thích ăn nhậu.
Tôi đổi lại cách ngôn
mà ông bà thường dạy
bằng lối nói mới
“sống... để mà ăn”,
“miếng ăn là miếng...
vinh quang”, “có của
cải mà không ăn cho
sướng miệng và khoái
bụng, chết nào có ích
chi”!
Bởi vậy, trong những
lúc đi du lịch, cái
thú của tôi sau một
ngày đi tham quan là
ăn tối. Buổi cơm tối
là “giờ thánh” của
tôi.

Vào tiệm ăn này, phải
cởi giày dép, cất
trong các hộc
Vào nhà hàng phải cởi
giày dép: Tối đầu tiên
trên đất Nhật, chúng
tôi phải tìm cho ra
một tiệm ăn Nhật chính
hiệu mới được, mặc dầu
hơi “sợ” món Nhật bởi
có một lần, đã lâu lắm
rồi, ăn ở một tiệm
Nhật ở vùng Richmond
do người Hoa làm chủ,
chúng tôi chọn một con
tôm hùm thật lớn mà họ
làm theo kiểu Nhật.
Đây là lần đầu tiên ăn
món ăn nấu kiểu Nhật,
nhưng chúng tôi đã
quen lối Tàu, nấu kiểu
này không ai ăn được,
nhất là đụng phải thứ
mù tạt cay nồng là
wasabi, chịu không
nổi. Từ đấy, nghe nói
đến món Nhật là chạy
dài...
Cho đến khi nghe đồng
nghiệp Trường Kỳ ca
tụng quá xá món sushi
(cơm nắm cá sống),
chúng tôi mới tập ăn
và dần dần làm quen
với thứ mù tạt màu
xanh xanh hấp dẫn kia.
Ăn sushi vào buổi
trưa, uống với coca
cola. Chúng tôi chưa
thấy ngon khi mua về
nhà ăn tối, uống với
rượu vang hay bia.
Nhưng vẫn còn dội với
món sashimi (gỏi cá
sống).
Lang thang ở một hồi ở
vài con đường trong
khu Ginza (nơi có
khách sạn Mercure
Hotel Ginza chúng tôi
ở) để quan sát các nhà
hàng, cuối cùng chúng
tôi quyết định cứ vào
đại một tiệm ăn.
Bước vào cửa tiệm là
chúng tôi được mời bỏ
giày dép ra, cất vào
trong một cái cái hộp
trên tường như các
thùng thư ở bưu điện.
Chúng tôi được mới lên
lầu. Từ các bậc cầu
thang cho đến sàn nhà,
tường ngăn các phòng
ăn, tất cả đều bằng
gỗ, bóng loáng. Tôi
chỉ thấy nhà kiểu Nhật
trong phim ảnh, nay
được ăn nhà hàng kiểu
Nhật, nên rất thích.
Có điều là ngôn ngữ
bất đồng, các nhân
viên không nói một chữ
tiếng Anh nào ngoài
tiếng Nhật của họ.
Chúng tôi được mời vào
một cái phòng nhỏ, chỉ
chứa tối đa 4 người
ngồi. Gọi phòng là quá
đáng, chỉ giống cái ô,
được ngăn cách bởi 3
mặt tường gỗ. Nhìn
sang hai phòng bên
cạnh, chúng tôi thấy
một phòng rộng và sáng
hơn, có khoảng sáu bảy
thực khách ngồi quanh
chiếc bàn dài với
những món ăn như lẫu,
bởi có lò lửa đang
cháy.
Ở phòng khác, thực
khách ngồi dưới đất,
xếp bàn hoặc co chân
bên cạnh cái bàn thấp
với thức ăn và rượu
bia. Phòng nào cũng có
nam và có nữ, ra vẻ là
bạn bè, đồng nghiệp
hơn là tình nhân. Và
như các ông, các bà
cũng uống bia, chuyện
trò rất tự nhiên. Họ
không nói lớn tiếng
như tôi thường thấy
trong các bàn nhậu của
Mít tộc, Hán tộc hay
ồn ào như nhiều nhà
hàng Úc trên phố,
ngoài biển.
Trước tiên, tiếp viên
đưa cho khách khăn lau
mặt ướp lạnh. Họ đem
ra hai đôi đũa đặt
trong hai ống tre cắt
một nửa phần trên. Đây
là những đôi đũa tre
dính vào nhau mà chung
ta thường thấy ở một
số nhà hàng, xài xong
dục.
Tiếp viên đưa cho
chúng tôi một cái thực
đơn toàn chữ Nhật. Tôi
xin họ cái khác có
hình vẽ, nhưng cái
thực đơn mới cũng chỉ
có được 3 cái hình.
Vậy cũng tạm được. Nhà
tôi cho rằng ăn bất cứ
món gì của nước nào,
nêáu chưa quen, cứ gọi
món nướng là dễ ăn.
Đèn bóng màu vàng mờ
mờ lý tưởng cho chỗ ăn
uống, nhưng không giúp
chúng tôi thấy rõ hình
trong thực đơn là gì.
Tôi chỉ vào một cái
hình, làm dấu ngọn lửa
bằng cách chỉ vào nồi
lửa của phòng bên
cạnh, hy vọng tiếp
viên hiểu ý chúng tôi
muốn ăn món nướng.
May thay, chúng tôi
được cho ăn món thịt
heo vằm cắt thành lát,
đã làm chín và nay chỉ
việc để trên phiến đá
đã đốt cháy để giữ cho
thức ăn nóng. Ăn món
ăn đầu tiên của Nhật
mà không “sợ” là thấy
cũng mừng rồi!
Chúng tôi kêu món thứ
hai, chỉ một vật hình
màu đỏ trong thực đơn,
hy vọng đó là thịt bò,
nhưng khi dọn ra lại
là món cá sống. Những
thỏi cá sống cắt vuông
được đặt trên miếng lá
nhỏ như lá chuối xếp
với củ cải trắng bào
sợi. Dưới lớp lá xanh
là đá bào để giữ lạnh.
Có hai thứ nước tương
nhưng tôi vẫn không
rành là tương gì. Sau
này mới biết mỗi khi
dọn gỏi cá sống, người
Nhật kèm củ cải trắng
bào thành sợi, có mục
đích giúp tiêu hóa dễ
dàng sau khi ăn đồ
sống, chứ không hẳn
dùng để trang trí.
Nhà tôi chỉ cắn một
miếng là dội ngay. Còn
tôi, đã quen ăn oyster
sống, nên cá sống
không có mùi tanh như
gỏi cá sống của Nhật
không là vấn đề. Lại
cũng tạm được, vì thực
ra, có những món phải
ăn nhiều lần, quen rồi
mới thấy ngon, thèm.
Gọi món thứ ba, tôi
chỉ qua bàn bên cạnh.
Hơi ngại vì nhìn người
khác đang ăn, nhưng
tôi nghĩ họ sẽ thông
cảm bởi chúng tôi là
người ngoại quốc. Họ
dọn ra cái bếp ga bằng
gỗ cũ kỹ, chứng tỏ đã
xài nhiều. Tiếp đến là
cái chảo bằng đá cong
kiểu cọ ở trên là
những miếng mực được
xắt lát nhỏ. Họ bật
lửa và thế chúng tôi
có món đồ biển xào.
Món mực này của Nhật
cũng chẳng khác Việt
là bao, chỉ khác nhau
ở mùi vị nêm nắm.
Nhưng tôi thích khung
cảnh ngồi ăn yên tĩnh
như thêá này, đôi chân
lại được giải phóng,
nên có ngồi kiểu nước
lụt, vừa ăn vừa dùng
bàn tọa mát xa bàn
chân đi bộ cả ngày.
Người ta nói, đồ ăn
ngon chưa đủ, phải có
người cùng ngồi hợp gu
và khung cảnh ăn ấm
cúng thì ăn mới ngon,
mới tận hưởng cái đệ
nhất khoái. 3 ly bia
và 3 món ăn, tổng cộng
4,910 Yen, khoảng 58
Úc kim.
Quốc hồn quốc túy:
Người Nhật nổi tiếng
với các món cá sống.
Cá sống mà không có
mùi tanh. Hai món phổ
thông của họ là sushi
và sashimi. Hôm chúng
tôi đi thăm cố đô
Kyoto, có vào ăn ở một
nhà hàng băng chuyền
gọi là Kaiten sushi
thỉnh thoảng thấy ở
trên phố Melbourne.
Nhà hàng này khá lớn
với đường băng chuyền
chạy qua nhiều khu vực
khác nhau, nên khi các
món ăn đi qua mà không
lấy ngay, thì phải đợi
chạy vòng lại khá lâu.
Các món sushi thì ít
nhưng sashimi thì
nhiều, nhà tôi chỉ ăn
được món tôm đã làm
chín. Còn tôi, mọi thứ
đều ăn được, chỉ hợp
khẩu hay không mà
thôi.
Nhưng đây là lần đầu
tiên tôi ăn gỏi cá mà
cảm nhận mùi thơm lừng
của miếng cá sống màu
cam tôi nghĩ là cá
hồi. Ngửi thì không có
mùi, nhưng khi vào
miệng, thấm trong
lưỡi, mùi thơm mới bốc
ngược từ cuống họng ra
mũi như mùi vị cay của
mù tạt wasabi. Lạ
thật!
Chúng tôi uống hai ly
bia, ăn mười đĩa giá
từ 120 Yen đến 500 một
đĩa. Tiếp viên đếm
chồng dĩa rồi nhìn màu
và hoa văn của đĩa để
biết giá mà tính tiền.
Tổng cộng 3,520 Yen,
khoảng 41 đô. Cũng dễ
chịu.
Các món “nhập cảng”: Ở
khách sạn Mercure có
nhà hàng riêng, hàng
ngày có quảng cáo các
món ăn của Pháp, trung
bình một đĩa (main
course) từ $35 đến $40
Úc kim, giá cũng tương
đương với một đĩa
beefsteak trong các
nhà hàng ngoài đường
phố.
Trong mười đêm ở Nhật,
có 3 đêm chúng tôi ăn
tối ở nhà hàng có tên
Ramla, cái tên mà tôi
ghi ra được nhờ anh
tiếp viên vui tính đưa
cho cái danh thiệp của
nhà hàng. Số điện
thoại là 03(3661)3937
và địa chỉ mạng
www.ramla.net. Cái
biên nhận tính tiền
(cũng như của mọi nhà
hàng khác) hoàn toàn
bằng tiếng Nhật ngoại
trừ tiền bằng con số,
chẳng giúp tôi ghi lại
được gì để bạn đọc có
thể đến ăn sau này.
Trước cửa và trong
tiệm Ramba chuyên nấu
các món Đại Hàn ở khu
Ginza (mang tạp dề khi
ăn món nướng)
Nhà hàng này nằm trên
lầu, bàn ghế trang trí
và không khí giống các
nhà hàng Tàu. Có rất
nhiều bàn với trên một
chục tiếp viên trẻ
đồng phục chạy lăng
xăng. Khách tới ăn rất
đông, có lúc phải xếp
hàng chờ khoảng 20
phút đợi khách cũ ra
về. Có lần chúng tôi
đến và họ nói rất tiếc
đêm nay không còn chỗ.
Anh tiếp viên của
chúng tôi là một người
từ Hoa Lục sang du học
được bảy năm và có dự
tính cưới vợ Nhật để ở
lại. Anh nói được ít
tiếng Anh, cho biết
tuy đây là tiệm Nhật,
nhưng các món ăn phần
lớn nấu theo kiểu Đại
Hàn. Trong ba lần ăn,
chúng tôi chọn món
thịt heo nướng chảo ăn
với rau sống và nhiều
loại sốt khác nhau,
đặc biệt là với món
cải chili Đại Hàn mà
đã lâu lắm rồi nay mới
có dịp ăn lại. Ngon mà
rẻ, chưa tới 4000 Yen
cho hai người bao gồm
ba ly bia.
Du lịch Nhật, nếu bạn
muốn tiết kiệm, có thể
ăn các tô/đĩa mì. Mì
nóng kèm với thịt hay
tôm, rau củ. Hoặc mì
lạnh chấm với nước
chấm cũng lạnh và kèm
với hành lá, gừng,
thích hợp với mùa hè.
Các tô/đĩa mì và gia
vị được dọn trên một
cái khay gỗ, chứ không
để trần trên mặt bàn
như ở các tiệm
Việt-Hoa. Chúng tôi có
ăn mì Nhật cả nóng lẫn
lạnh trong nhà hàng có
máy lạnh, giá khoảng
1,600 đến 1,700 Yen
(18-19 đô).
Nếu muốn tiết kiệm hơn
nữa, có thể ăn ở các
nhà hàng McDonald.
Cách khách sạn Mercure
chừng 20 mét, có
McDonald mở cửa 24
giờ. Một cái BigMac
490 Yen (khoảng $5.70
đô); large chip 290
Yen và large coke 200
Yen. Đắt hơn ở Úc,
nhưng là món ăn rẻ
nhất, tiện nhất ở xứ
hoa anh đào.
Bởi phần lớn người
Nhật không nói được
tiếng Anh, cũng là một
điều rất bất tiện. Khu
Ginza nổi tiếng là khu
sang trọng, có nhiều
du khách ngoại quốc,
vậy mà nhiều nhà hàng,
tiệm ăn ở trên đường
phố (ngoại trừ trong
khách sạn hay những
nơi đại sang trọng
khác mà chúng tôi chưa
có dịp đi) cả không có
cái menu song ngữ để
khách chọn, chứ nói gì
tới việc các tiếp viên
nói được tiếng Anh để
khách đặt. Chỉ được
cái là họ vui vẻ.
“Tai nạn” của bất đồng
ngôn ngữ: Nhưng bù với
sự vui vẻ đó, có hai
lần chúng tôi đặt một
đường, nhận một nẻo.
Đó là bữa ăn trưa trên
nhà hàng ở Landmark
Tower Shoppping Centre
ở thành phố Yokohama,
nằm trong cái tháp 296
mét cao nhất nước
Nhật. Nhà hàng có tên
Chef’s nằm ở lầu 5,
chúng tôi chọn cái
bench đặt sát bức
tường bằng kiếng để
ngắm biển. Bởi đây là
buổi trưa, chúng tôi
không có thói quen ăn
nhiều nên dự tính kêu
một đĩa ăn chung. Còn
tôi cứ uống bia là đủ
no, nhất là với thời
tiết trên dưới 35 độ.
Người chạy bàn chỉ nói
được vài chữ tiếng Anh
như vâng, cám ơn. Bởi
vậy, chúng tôi phải
gọi anh ta ra ngoài
cửa, chỉ vào các mẫu
thức ăn bằng nhựa
trình bày trên chén
đĩa trông như thật.
Tôi gọi một đĩa
beefsteak và thay vì
chọn khoai chiên hay
khoai hầm, nhà tôi lại
chọn cơm nấu theo kiểu
Nhật, trông như cơm
nếp trộn với đậu đỏ
nằm trong cái đĩa cá
hấp. Tôi hỏi chọn vậy
có được không, anh ta
gật đầu OK.
Tôi làm dấu 1 ngón
tay, chỉ vào nhà tôi.
Chỉ vào người tôi, tôi
đưa tay làm dấu 1 bia
và nói thứ tiếng Anh
đơn giản nhất: vợ tôi
ăn, tôi không ăn. Tôi
hỏi anh ta hiểu không,
anh ta nói OK, cộng
thêm một tràng tiếng
Nhật, nhưng cái cách
anh làm dấu để xác
nhận lại làm cho tôi
hơi nghi ngờ anh ta
thật ra chưa hiểu ý
tôi, có thể họ nghĩ
chúng tôi muốn đổi
khoai và cơm, chứ hai
người thì phải ăn hai
phần. Nhưng làm sao để
giải thích khi bất
đồng ngôn ngữ? Nếu tôi
biết được tiếng Hán
như cụ Phan Bội Châu
ngày xưa nói chuyện
với người Nhật bằng
bút đàm thì đỡ biết
mấy.
Anh tiếp viên dọn ra
ly bia. Sau đó mang ra
hai chén xúp kiểu Nhật
như là món khai vị.
Tôi chỉ vào nhà tôi,
ra dấu hiệu số 1, anh
ta cười, nói được cả
tiếng Anh “free!”. Tôi
tin anh nói thật vì có
thể đây là cách khuyến
mại. Sau đó anh mang
ra một đĩa beefsteak
với cơm, vài phút sau,
mang ra thêm một đĩa
beefsteak với khoai.
Thấy tôi cầm máy ảnh,
anh ta đề nghị giúp
chúng tôi chụp chung.
Chúng tôi chỉ biết
cười và cám ơn, không
thắc mắc tại sao dọn
hai đĩa.
Cái bill tính tiền:
Đĩa thịt 1,980 Yen,
đĩa cá 1,680 Yen và ly
bia 350 Yen. Tổng cộng
4,010 Yen (khoảng $47
đô) là rẻ so với các
nhà hàng trên thành
phố Tokyo. Thế là
chúng tôi đặt 1 phần,
được tặng 2 (hai chén
xúp), dọn 2 phần và
tính tiền hai phần.
May thay, bữa ăn trưa
đó khá ngon miệng.
Nhưng bữa ăn tức cười
nhất là buổi tối cuối
cùng ở Tokyo. Chúng
tôi lại muốn đến một
nhà hàng thật là Nhật,
nấu toàn món Nhật. Đi
một vòng , cuối cùng
chọn một nhà hàng bên
ngoài nhìn vào thấy mờ
mờ, chúng tôi nghĩ có
thể giống nhà hàng đầu
tiên mà chúng tôi phải
cởi giày dép. Chúng
tôi được mời ngồi ở
phòng đầu tiên, sát
cửa ra vào. Các phòng
ăn được ngăn bởi các
bức tường gỗ cao quá
đầu người nên kín đáo,
khách không thấy nhau.
Trên mặt bàn chúng tôi
ngồi là một lò
barbecue. Bàn khoét lỗ
hổng rộng đủ đề đặt
cái bếp bằng gạch
nung, đốt bằng than
củi. Ở ngay trên lò có
hệ thôáng hút khói và
mùi. Trời bên ngoài
nóng mà mình ngồi nhà
hàng ăn barbecue, đốt
lửa than mà chẳng thấy
nóng thì quả là thú
vị. Ăn kiểu Nhật?
Chúng tôi chờ đợi
những bất ngờ.
Anh chạy bàn có nụ
cười tươi (tôi thấy
anh chạy bàn nào ở
Nhật cũng tươi cười)
đem một phiến đá trông
giống cái thớt, hình
tròn và có bản lề để
có thể giở lên và gập
lại, kẹp đồ nướng ở
giữa. Anh ta hoàn toàn
không nói chữ tiếng
Anh nào, và chỉ vào
phiến đá nói có vẻ
thích thú: “Fuji-san”.
Tôi hiểu đấy là cái
thớt đẽo từ đá lấy ở
núi Phú Sĩ, Phú Sĩ
Sơn. Tôi không nghĩ
anh này xạo với khách
để làm tăng cái nét
độc đáo của nhà hàng.
Người Nhật có vẻ thành
thật, thẳng thắn, từ
bác taxi cho đến tiếp
viên nhà hàng. Chúng
tôi không lo bị gạt
như khi đi du lịch ở
các nơi khác.
Anh ta đưa cho tôi
thực đơn bằng tiếng
Nhật, tôi đẩy qua một
bên, bảo anh lấy hai
ly bia và dọn bất cứ
món gì, bởi chúng tôi
tin hễ cứ ăn đồ nướng
thì an toàn cho khẩu
vị của chúng tôi.
Món đầu tiên là những
miếng thịt màu trắng.
Chúng tôi chẳng biết
là thịt gì vì không
thể nhận diện dưới ánh
đèn vàng chỉ đủ sáng
để thấy mặt nhau. Gắp
bỏ lên thớt đá, lật úp
lại một bên để thịt
nóng đều hai mặt.
Chúng tôi gắp miếng
thịt đưa vào miệng.
Thịt gì mà dai thế
này? Ăn miếng thứ hai,
nhà tôi quyết đoán là
lòng heo.
Mặn quá, chúng tôi gọi
rau. Vừa nói tiếng Anh
vừa thè lưỡi, nhăn mặt
làm dấu hiệu mặn. Anh
ta cười, đem ra cái
đĩa chỉ vỏn vẹn 4 lá
cải, to gần bằng bằng
tay. Vậy là anh ta
hiểu chữ rau. Nhưng
trời ơi! Đĩa rau gì mà
kỳ cục vậy. Chúng tôi
tiết kiệm cuốn mỗi
miếng thịt một lá cải.
Gọi thêm rau. Lại dọn
ra một đĩa mới với 4
lá cải. Thế này làm
sao cho đỡ mặn? Mà nói
thêm thì họ chẳng hiểu
gì. Chăéc chắn tiền
các đĩa rau sẽ đắt hơn
cả các đĩa thịt.
Chúng tôi cố gượng
cười nhưng rồi cũng
thấy buồn cười thật.
Gọi món thứ hai, anh
ta cười duyên, thè cái
lưỡi của anh ta ra.
Chúng tôi nhìn nhau,
và cùng thốt lên là đã
lạc vào quán nhậu rồi.
Mà ngay tôi, bình
thường cũng chẳng
thích ăn bộ đồ lòng,
đầu hay chân của con
vật.
Sau món lưỡi heo,
chúng tôi gọi tiếp,
anh tiếp viên lại vỗ
vào má anh ta, rồi
cười. Chúng tôi cũng
cười theo vì chưa bao
giờ được ăn kiểu này.
Lại gọi thêm các đĩa
rau để cuốn, vì mặn
chịu không thấu. Lại
cái đĩa 4 lá rau. Nhà
tôi thắc mắc chắc nước
Nhật đất hẹp nên hiếm
rau cỏ. Chúng tôi gọi
món cuối cùng. Anh ta
đập vào mông.
Lần này mới thật có
chút thịt, chúng tôi
ăn được nhưng cũng đã
no mất rồi. 4 đĩa thịt
mà chẳng nhiều thịt, 5
đĩa rau với 20 cái lá
cải (mỗi lá khoảng
trên một đô), 3 ly bia
(một ly 500 Yen), tổng
cộng 7,480 Yen (khoảng
88 đô) là bữa ăn tương
đối đắt trong thời
gian chúng tôi ở Nhật,
không ngon và hơi cành
bụng.
Nhưng được ngồi trong
một phòng riêng của
nhà hàng, nướng thịt
bằng than củi (như
than củi ở Việt Nam
ngày xưa), nướng trên
đá của núi Phú Sĩ
trong bầu không khí
yên tĩnh, cũng là một
cái thú, chỉ tiếc là
mình không được biết
trước sẽ ăn thứ gì.
Đời sống và con người
xứ Phù Tang
Nhật là cường quốc
kinh tế thứ nhì của
thế giới, chỉ sau Mỹ.
Lợi tức trung bình đầu
người thuộc nhóm TOP
20, căn cứ theo thống
kê của Quỹ Tiền tệ Thế
giới (IMF) phổ biến
vào năm 2005.
Đứng đầu là Lục Xâm
Bảo ($81,511 Mỹ kim).
Mỹ hàng thứ tư với
$43,223.
Úc hàng thứ 18 với
$33,037
Nhật hàng thứ 20 với
$32,530, hơn cả Pháp,
Đức và Ý.
Việt Nam đứng hàng thứ
122 với $3,393 hơn các
nước Miến Điện, Lào và
dĩ nhiên Việt Nam còn
hơn các nước nghèo đói
bên Phi Châu như
Ethopia, Congo.
Nhưng theo người hướng
dẫn viên du lịch trong
chuyến đi tour Phú Sĩ,
lợi tức trung bình của
người Nhật là 4.5
triệu Yen một năm
(khoảng 53,000 Úc
kim), lợi tức phụ nữ
chỉ bằng nửa đàn ông
và lương tối thiểu của
một nhân công là 790
Yen một giờ (khoảng $
Úc1 kim).
Người Nhật khi đi làm
phải để dành tiền để
khi về già sống với
tiền hưu của mình, chứ
không tự động được
chính phủ cấp tiền
người già (pension
benefit) nếu không có
tiền hưu trí, như ở
Úc. Những người thất
nghiệp cũng có được
trợ cấp khi quá cần
thiết hay khẩn cấp,
nhưng thủ tục cũng khá
khó khăn. Vì ở Nhật,
muốn làm việc là có
việc, chỉ sợ lười mà
thôi, bởi tỉ lệ thất
nghiệp chỉ khoảng 4%.
Nói chung, lợi tức
trung bình của người
Nhật tương đương với
người Úc. Họ chỉ hơn
Úc về mặt sử dụng kỹ
thuật tân tiến sớm và
phổ biến, chứ về mặt
nhà cửa và ăn uống thì
thua xa. Nhà cửa nhỏ
bé, rất đắt; thức ăn
cũng đắt như tôi vừa
trình bày ở trên. Một
đĩa beefsteak ở Tokyo
trung bình tới $40 Úc
kim trong khi ở
Docklands (Melbourne)
hay ở Darling Harbour
(Sydney) chỉ từ $21
đến $30 đô.
Theo ông hướng dẫn
viên du lịch, không
phải người Nhật nào
cũng giống những người
ở khu Ginza mà chúng
tôi thường gặp ở các
cửa tiệm thời trang
hay các tiệm ăn về
đêm. Ông nói thành
phần đó chỉ chiếm
khoảng 1/5 tổng số 127
triệu dân. Theo ông,
đời sống ở Nhật tuy
cao nhưng cũng chật
vật. Thanh niên ít
chịu lấy vợ sớm và
thường sống với cha mẹ
ở các chung cư, cho dù
đã ra trường, đi làm,
để khỏi trả tiền nhà.
Lập gia đình rồi, họ
có khuynh hướng chỉ
một con thôi vì sợ tốm
kém. Theo ông, tuổi
trẻ bây giờ không còn
sùng đạo như thế hệ
của ông (đã 70 tuổi)
nên khi phải chạy theo
cuộc sống và bị áp
lực, thì dễ tìm đến
cái chết. Mỗi năm có
khoảng 30,000 người tự
tử.
Tôi không đi về vùng
quê nên không biết đời
sống nông thôn như thế
nào. Thỉnh thoảng trên
đường đi xa, thấy có
những cánh đồng lúa
vừa phải, bên cạnh là
những căn nhà 2 tầng
nho nhỏ, trông không
nghèo khó như ở đồng
ruộng các nước Đông
Nam Á khác, nhưng
không thể bằng các
nông gia Úc.
Người Việt có câu “Ăn
cơm Tàu, ở nhà Tây,
lấy vợ Nhật”, tôi
không có dịp hỏi mấy
người Việt lấy vợ Nhật
bây giờ có được các bà
chìu chuộng như các cụ
của mình ngày xưa ca
tụng hay không. Ở phố
Ginza, ban ngày tôi
thấy các bà mua sắm
quá trời. Có lần tôi
vào trong cửa tiệm
thời trang tính mua
cái dù để làm kỷ niệm,
tưởng là dù chừng mươi
đô là tối đa như ở
Melbourne, nhưng khi
dòm, thấy đề giá mấy
chục ngàn Yen (khoảng
27,000) là bằng một
cái máy ảnh digital
trung bình! Vậy mà các
bà mua sắm như ta đi
mua hàng Trung Quốc
ngoài phố Richmond. Đó
chỉ là kể sơ qua một
thứ mua sắm.
Còn về ăn nhậu, các bà
các cô Nhật không thua
gì nam giới. Thỉnh
thoảng xem phim tập
“Hàn quốc”, thấy các
cô uống rượu liên miên
chẳng khác nào giới
chị em ta, ca ve, gái
bán bar ở Việt Nam
thời trước, tôi hơi
ngạc nhiên. Qua Nhật,
thấy gái Nhật uống
rượu còn hơn gái Hàn
trong phim. Tưởng là
đàn bà Nhật uống rượu
do trời lạnh, chúng
tôi qua Nhật vào lúc
nóng nhất, trong nhà
hàng luôn thấy các bà
không rượu thì bia, ít
khi thấy họ uống nước
ngọt.
Người ta nói ăn nhậu
về đêm, sau giờ tan sở
là thói quen của trai
gái Nhật có đồng ra
đồng vào. Nếu vậy thì
câu “...lấy vợ Nhật” e
không còn đúng trong
thế kỷ 21 này.
Nhà cửa thì sao? Trong
chuyến đi tour núi Phú
Sĩ, khi xe chay ra
khỏi thành phố (cứ tạm
gọi là ra khỏi ga
Tokyo) chừng 20 chục
cây số, người hướng
dẫn chỉ những dãy nhà
cao tầng nằm san sát
nhau và nói đó là
những chung cư mà
người Nhật sống. Ông
nói một căn nhà nhỏ
nhất cũng 17 triệu Yen
(khoảng $200,000 ngàn
Úc kim) và căn nhà
trung bình 170 triệu
Yen (khoảng 2 triệu
đô). Tôi nghĩ ông ta
muốn nói các apartment
hay flat, chứ ở thành
phố Tokyo, tôi chưa
bao giờ thấy một căn
nhà đúng nghĩa, ngoại
trừ lâu đài của vua
chúa hay dinh thự của
các bộ sở.

Nhà cửa san sát nhau
dọc xa lộ trên đường
ra khỏi thành phố
Tokyo
Chỉ khi đi thăm cố đô
Kamakura ở tỉnh
Kanawaga nơi có tượng
Phật bằng đồng thật
lớn, trên đường vào
chùa, gặp những căn
nhà hai tầng khá lớn,
có sân, nằm rời hoặc
một mặt tường dính nhà
bên cạnh
(semi-detached) giống
các townhouse ở
Melbourne.
Tôi nghe nói ở Nhật,
khi đi thuê nhà người
ta tính theo kiểu
phòng 1 chiếu, 2 chiếu
hay phòng 4 chiếu, có
nghĩa là đủ rộng để
trải 1 hay bốn chiếc
chiếu cho 4 người nằm.
Tôi chưa vào phòng ngủ
của một người nhật
bình thường để xem nhà
cửa ra sao, nhưng trên
đường đi ra các tỉnh
hay tới cố đô Kyoto,
tôi nhìn hai bên
đường, ngoài những cao
ốc thì không kể, những
căn nhà hai tầng (còn
mới) cũng nhỏ như cái
chuồng chim (bird
cage) mà một người Úc
ở Box Hill cùng đi núi
Phú Sĩ với tôi đã nhận
xét. Tôi đoán mỗi bề
của những căn nhà hai
tầng đó cao tay lắm
rộng khoảng 5, 6 mét.
Nhà ở Nhật từ 2 tới 4
phòng ngủ và rộng
khoảng từ 60 đến 90
mét vuông là lớn lắm
và giá cũng phải từ
$450,000 đến $550,000
Úc kim, mà đó là giá
nhà ở các nơi xa thành
phố Tokyo trong khi ở
Úc loại nhà cũ xưa 3
phòng ngủ cũng rộng
trên 100 mét vuông và
những nhà mới xây sau
này, ôi thôi rộng đến
300 hay 400 mét vuông
là chuyện thường
(McMansion ở các khu
mới) với 3 hay 4 phòng
ngủ và vô số các phòng
khác mà ở Nhật người
ta không bao giờ dám
mơ.
Tôi có vào thăm nhà xứ
của cha Nguyễn Xuân
Tiến ở họ đạo Fujiwasa
thuộc tỉnh Kanawaga
nơi người Việt định cư
đông nhất ở Nhật. Nhà
xứ cao 4 tầng và rộng,
nhưng phòng ốc tương
đối nhỏ. Phòng làm
việc của các nhân viên
và nữ tu trong giáo xứ
cũng nhỏ, đủ kê cái
bàn và tủ hồ sơ.
Cha Tiến mời chúng tôi
lên lầu uống nước và
giới thiệu phòng ăn và
phòng khách của 4 linh
mục của giáo xứ (1
chánh và 3 phó). Cha
xin lỗi đề nghị chúng
tôi để dày dép dưới
lầu, vì phong tục của
họ như thế.
Gian phòng sinh hoạt
của các cha gồm bàn ăn
cho 4 người, cái tủ
lạnh, tủ để ly chén và
bồn rửa. Phần còn lại
kê cái bàn xa lông
(coffee table), 4 cái
ghế đẩu để các cha coi
tivi. Tôi nghĩ cái
phòng ăn/phòng
khách/sinh hoạt của
bốn linh mục chỉ lớn
khoảng 4m x 9m là tối
đa. Còn phòng ngủ rộng
như thế nào thì chúng
tôi không biết nhưng
bạn có thể đoán ra.
Đến nước Nhật, thấy
mình được ở đại lục có
tiếng phúc địa này mới
biết rằng mình là
người tị nạn may mắn.
Nhà cửa tuy nhỏ, nhưng
trình bày đẹp, nhất là
họ biết tận dụng cây
cối hoặc cây cảnh.
Vườn Nhật là loại vườn
nổi tiếng thế giới,
nhỏ nhắn, xinh đẹp,
tinh tế như các món ăn
của họ vậy.
Người ta nói người
Nhật rất trọng kỷ luật
và có đầu óc tập thể.
Tôi chỉ nghe nói,
nhưng qua Nhật mới
chứng kiến.
Vệ sinh: Tôi từng đến
Singapore hai lần, mỗi
lần cách nhau hai mươi
năm và phải công nhận
đường sá đất nước này
rất sạch nhờ họ đã áp
dụng một thứ kỷ luật
sắt bằng cách phạt
tiền những người xả
rác hay dục tàn thuốc
ngoài đường. Ở Nhật,
không có bảng cấm xả
rác, nhưng tôi chưa
thấy một người Nhật
nào vất tàn thuốc lá
xuống đất, chứ đừng
nói chi vất giấy rác
bừa bãi. Nơi nào không
có để cái gạt tàn
thuốc, nơi đó không
thấy người (Nhật) hút
thuốc vì hút rồi dục ở
đâu?
Đi chơi, thăm thú
nhiều nơi, chẳng thấy
rác, chỉ một lần thấy
vài miếng giấy vụn
bằng vài ngón tay rơi
trên đường đi trong
khu Phố Tàu rộn rịp
đông người ở thành phố
Yokohama, mà tôi nghi
do du khách vất xuống
lề đường. Một số nơi
không có thùng rác, du
khách phải giữ lại
trong người, đợi đến
chỗ có thùng rác mà
dục. Thế mà cũng không
có nạn vất rác bậy bạ.
Hay thật! Phải chăng
đó là nhờ sự giáo dục,
là tinh thần tự trọng,
là tinh thần quốc gia
đạt đến mức cao độ?
Kính trên: Người ta
nói rằng người Việt
rất thông minh, rất
nổi bật nếu đứng riêng
một mình (học trong
lớp đứng đầu, ra
trường đỗ thủ khoa),
nhưng nước Việt thì
không (hay chưa) làm
được công trình lớn
(so với các nước
khác), họ không làm
việc chung được, bởi
trong mỗi ông người
Việt là một ông quan.
Người Nhật không quá
thông minh như người
ta tưởng, nhưng tụ
họp, họ làm nên chuyện
lớn, suýt làm bá chủ
thiên hạ.
Tập đoàn là hằng tính
của người Nhật. Giai
cấp phong kiến không
còn nữa nhưng người
Nhật ngày nay vẫn duy
trì tính làm việc tập
đoàn, dù đó là trong
một đảng phái, công ty
hay cửa hàng. Họ coi
trọng chủ nhân và dù
chủ nhân có la mắng,
thậm chí có lúc bạt
tai, họ cũng không vì
thế mà thù hận, một
chuyện không thể chấp
nhận ở xã hội Tây
phương. Họ làm việc
với chủ là làm việc
cho đến suốt đời và dĩ
nhiên chủ cũng đối đãi
tử tế và có hậu cho sự
trung thành này. Nếu
không thích hay không
chịu đựng nổi, người
công nhân chỉ việc đi
làm chỗ khác.
Đó là những chuyện
nghe nói. Còn chính
mắt tôi trông thấy
tinh thần kỷ luật và
kính trọng cấp trên
của người Nhật khi hỏi
đường. Đó là trường
hợp các công nhân làm
lục lộ, xây dựng đường
sá. Không biết đường,
thấy một anh công nhân
đứng gần, tôi nhờ anh
ta chỉ đường, nhưng
thay vì trả lời ngay,
anh ta chạy tới ông
xếp cách đấy cả vài
chục mét, cúi đầu nói
gì đó, rồi lại cúi đầu
chào ông xếp, xong mới
trở lại chỗ chúng tôi
để chỉ đường. Không
phải chỉ một lần duy
nhất, mọi lần hỏi
đường xá đều thấy công
nhân phải tới báo cáo
và xin phép xếp rồi
mới đi làm “việc
riêng” như thế.
Cúi lạy: Nói về người
Nhật và nước Nhật, dù
là những người chưa
bao giờ đặt chân đến
Nhật, ai ai cũng biết
tục lệ cúi đầu bái của
người Nhật. Khi nhắc
đến tục lệ này, người
ngoại quốc có thể coi
đấy là điều hay, dễ
thương nhưng cũng có
thể coi đấy là quá
đáng.
Như tôi đã kể với bạn
đọc trước đây, trên
các tuyến xe lửa đường
xa, người kiểm soát vé
hay công nhân đẩy xe
bán thức ăn, mỗi khi
đi qua cửa toa, trước
khi mở và sau khi đóng
cửa, đêàu cúi đầu
chào. Họ đặt hai tay
vào đùi, cúi thật sâu,
có thể tới 90 độ. Họ
làm như cái máy. Càng
kính trọng hay thân
tình thì cúi càng sâu,
bái nhiều lần. Tôi
chưa thấy họ bắt tay
nhau.
Trong các department
store (cửa hàng bách
hóa) sang trọng ở khu
Ginza, cứ bước vào cửa
là thấy có những cô
gái Nhật đứng sẵn cúi
đầu chào. Có cửa có
tới hai cô. Đi cầu
thang cuốn lên tầng
trên lại có cô khác
đứng đợi, cúi lạy. Đi
cầu thang máy cũng có
nhân viên đứng sẵn
trong thang máy vái,
lúc vào lúc ra. Ngày
đầu, chúng tôi cảm
thấy không thoải mái
vì cứ bị người ta nhìn
mình xong cúi đầu thật
thấp khiến mình áy
náy, bởi mình ăn mặc
lôi thôi kiểu du khách
ba-lô, có gì mà họ
phải kính cẩn đến thế.
Người ta nói rằng, để
giải quyết nạn thất
nghiệp, các công ty
hay các cửa hàng bách
hóa lớn tuyển dụng
hàng ngàn cô gái làm
việc tiếp tân, đón
chào khách hàng hay
chỉ làm cảnh hoặc làm
những việc lặt vặt của
cửa hàng. Các cô được
huấn luyện, dạy thật
kỹ càng về cách chào
khách. Mỗi sáng có thể
tới sớm một chút để
tập bái, bái cho đúng
kiểu, đúng độ cao thấp
theo yêu cầu.
Bởi vậy, khi đi mua
sắm, chúng tôi thấy có
những gian hàng chỉ
cần một người là đủ,
vậy mà thấy có bốn năm
đứng vậy, lượn lui
lượn tới hoặc tới hỏi
khách cần gì. Thật là
phí công, phí của
nhưng đó là cách giải
quyết nạn nhân mãn của
Nhật. Tuy nhiên, ở
những cửa tiệm khác,
những cửa hàng nhỏ,
tôi thấy người Nhật
làm việc rất đáng đồng
tiền bát gạo, không tà
tà như người Pháp.
Riêng tư: Nếu bạn quen
xài đồ dùng trong nhà
chung chạ, như muỗng
nĩa, chén đũa, ly
tách, qua Nhật bạn
không nên tiếp tục
thói quen này vì người
Nhật không chấp nhận
thói quen đó.
Nếu bạn ở chung nhà
với người quen, se
phòng hay dùng đồ ở
công sở, xí nghiệp,
bạn phải dùng đồ riêng
của bạn, từ đũa cho
đến ly tách. Hôm tiếp
chúng tôi trong phòng
ăn dành cho các cha
xứ, cha Tiến phải đi
tìm ly tách của cha để
mời chúng tôi uống
nước. Cha nói người
Nhật có thói quen dùng
đồ riêng của mình, chứ
không xài chung hay
dùng đồ của người
khác. Ở các tiệm ăn,
tôi thấy họ hay xài
đũa loại đũa tre, ăn
xong là dục đi.
Nói về sự riêng tư,
tránh đụng chạm, tôi
nhận thấy ở những nơi
công cộng bên Nhật,
ngay cả trên xe lửa,
có hai loại cầu tiêu
(dùng cho việc đại
tiện) mà họ ghi là
Western style và
Japanese style. Cầu
tiêu kiểu Tây phương
là loại ngồi đặt mông
lên trên. Cầu tiêu
kiểu Nhật là loại ngồi
chồm hổm, như cầu tiêu
thời pháp thuộc, nhưng
thời này làm bằng men,
sạch sẽ trông mát mắt.
Có điều, nhiều người
không biết ngồi thế
nào cho đúng, hướng
mặt vào trong hay quay
đầu ra ngoài. Cầu tiêu
“kiểu Nhật” có ở mọi
nơi, ở trên xe lửa.
Không biết trên máy
bay có loại này không,
vì tôi chưa đi máy báy
của Nhật.
Không cho tiền típ:
Người Nhật có thói
quen khi tính tiền cho
bạn, họ sẽ bỏ cái bill
nằm úp trên đĩa hay
khay. Bạn phải lật lên
mới biết số tiền. Bạn
bỏ tiền lên đĩa, họ sẽ
tính và trả tiền lẻ
cho bạn. Bạn cũng có
thể cầm tiền mang tận
quày trả.
Khác với các nước như
Pháp và nhất là ở Mỹ
có thông lệ “phải” cho
tiền típ (vì không cho
đôi khi bị mắng vốn
hay nói khích), ở Nhật
không có lệ cho tiền
tip, ngay ở các nhà
hàng. Và không vì thế
mà các tiếp viên không
làm việc vui vẻ, phục
vụ khách hàng tận
tình. Ở hầu hết mọi
nhà hàng, tôi thấy các
tiếp viên nào cũng dễ
thương.
Không còn lùn: Người
Việt thường gọi người
Nhật là chú lùn, bởi
binh sĩ Nhật qua chiếm
đóng Việt Nam đều rất
thấp. Như thầy Suzuki
của chúng tôi có bề
ngang chứ bề cao của
thầy rất khiêm nhượng,
tôi nghĩ khoảng hơn
1.50 một chút. Và nếu
bạn xem tivi, sẽ thấy
các quan chức Nhật,
các vị thủ tướng của
họ (thuộc thế hệ già)
chẳng có người nào
cao.
Người Trung Hoa cũng
có cách nói mỉa mai
đối với người Nhật.
Sách vở ngày trước gọi
người Nhật là Oa nhân,
Nụy nhân, có nghĩa là
người Lùn. Nhưng sau
Đệ nhị Thế chiến, họ
đã thay đổi cách ăn
uống, nhất là ăn nhiều
thịt hơn ngày xưa, nên
thế hệ mới lớn sau
này, người nào cũng
cao ráo, chẳng thua
dịch Mít tộc ở xứ Úc.
Tôi thấy rất nhiều
thanh niên Nhật cao
hơn tôi. Có những cậu
cao như sếu vườn. Các
cô cũng thế, có chiều
cao, dáng thon thon.
Chúng tôi nhận xét ít
thấy người Nhật (nhất
là con gái) mập. Con
gái Nhật có nước da
trắng, phải nói quá
trắng, không biết là
trắng tự nhiên nay do
dưỡng da, dùng mỹ
phẩm. Bạn cứ tưởng
tượng mặt mày da thịt
của mấy cô diễn viên
“phim Hàn quốc” trắng
ra sao thì gái Nhật
cũng trắng như vậy.
Nhưng bù lại cho nước
da, dáng người xinh
đẹp, các hàm răng của
người đẹp Nhật trông
thật... đáng bất mãn.
Đa số các cô ngậm
miệng thì chẳng sao,
nếu cười một cái là
tôi thấy cả bầu trời
sụp đổ. Răng các cô
phần lớn bị hư, hình
như một phần do nước
uống ở Nhật thiếu chất
vôi. Tiếc thật. Tại
sao nước Nhật rất văn
minh, người Nhật có
lợi tức đầu người cao
hàng đầu thế giới chứ
đâu nghèo như người
Việt Nam mà không lo
chăm sóc răng? Hay họ
chỉ bỏ tiền lo cái mục
làm đẹp da mặt và...
uống rượu?
Không như ở Úc, ở Nhật
các tiệm tạp hóa có
bán bia và nhiều tiệm
tạp hóa mở cửa 24 giờ.
Cạnh khách sạn Mercure
có tiệm tạp hóa bán đủ
thứ cần dùng, từ báo
chí đến bánh kẹo, đồ
khô để nhậu và dĩ
nhiên có cả bia; bia
chỉ nửa hay chưa tới
nửa giá so với các nhà
hàng (khoảng 200 Yen
một lon trong khi ở
tiệm lên tới 650 Yen
một ly).
Có lẽ bạn còn hỏi tôi
mua đồ bên Nhật có rẻ
không? Tôi nghĩ tùy
loại. Có người cho
rằng mua đồ Nhật ở
nước ngoài còn rẻ hơn,
bởi hàng xuất cảng họ
bán rẻ để cạnh tranh.
Tôi chẳng biết có đúng
không, nhưng có cảm
tưởng đồ điện tử ở
Nhật cũng không rẻ
lắm, được cái đồ gì mà
có cái mác “Made in
Japan” là thấy tốt,
chắc ăn (khác vài chục
năm trước, đồ của Nhật
là đồ dổm, vì cần cạnh
tranh nên họ làm chất
lượng vừa phải để bán
với giá rẻ).

Akibahara, thành phố
chuyên bán đồ điện
Muốn mua đồ điện, bạn
nên tới Akibahara, là
thành phố mệnh danh là
thành phố đồ điện
--Electric Town--, nơi
bày bán đồ điện và
điện tử đầy hai bên
đường phố. Một cái máy
ảnh digital trung bình
khoảng từ 20,000 đến
30,000 Yen ($230- $350
Úc kim). Mua loại máy
chỉ bảo đảm trong nước
Nhật thì rẻ, chứ muốn
loại máy được bảo đảm
ở nước ngoài thì phải
tới cả $400 hay $500
Úc kim.
Cuối cùng, nếu bạn qua
Tokyo mà muốn đi lang
thang tới các thành
phố (vùng) trong
Tokyo, nên đi xe lửa
tuyến đường JR
Yamanote Line, tuyến
đường màu lục. Đây là
tuyến đường xe lửa
chạy vòng tròn qua
những khu phố nổi
tiếng mà tôi đã kể cho
bạn nghe. Tôi chỉ biết
sự tiện lợi của tuyến
đường Yamanote Line
này khi đã “tiêu” gần
hết 10 Ngày Đêm ở Xứ
Mặt Trời Mọc.
Hy vọng bút ký Kể
Chuyện Đường Xa mang
lại cho bạn đọc một số
thông tin, kinh nghiệm
hữu ích cho chuyến đi
sắp tới của bạn. Riêng
tôi, vẫn còn ước mơ
một chuyến đi Nhật
khác vào mùa thu để
xem các rừng phong đổi
màu hay vào mùa xuân
để xem hoa anh đào nở.
Đó là hai mùa đẹp nhất
mà người ta cho rằng
những người đi Nhật
lần đầu tiên nên
tới./.