|
CẤM HÚT THUỐC
CỨU SỐNG NHIỀU MẠNG NGƯỜI
Thật vậy, từ tháng giêng năm 2008,
việc cấm hút đã làm giảm 15% số các
trường hợp nhồi máu cơ tim và tai biến
mạch máu não. Những con số này được
thêm vào con số giảm 11% các biến cố
động mạch vành, được quan sát ở Rome,
sau khi Ý đã thông qua đạo luật cấm
hút thuốc vào năm 2005.
Do đó, Hiệp Hội Tim Châu Âu (European
Society of Cardiology) khẩn thiết yêu
cầu các chính phủ hãy cứu sống các
mạng người, bằng cách áp dụng luật cấm
hút thuốc này trên toàn châu Âu. «
Khía cạnh quan trọng nhất của công
trình nghiên cứu này (của Pháp) là sự
làm giảm 70 % mức độ ô nhiễm, từ tháng
mười hai 2007 và tháng giêng 2008, bên
trong các quán café và các cửa hàng ăn
uống.
Người ta đã chứng tỏ rằng nhiễm độc
thuốc lá thụ động (tabagisme passif)
làm gia tăng nguy cơ các bệnh tim mạch
và việc cấm hút thuốc mới đây đã mang
lại kết quả rõ ràng, đối với những
người hút thuốc cũng như những người
không hút thuốc. », Giáo sư Daniel
Thomas, thuộc Hiệp Hội Tim Châu Âu và
là thầy thuốc chuyên khoa tim của bệnh
viện Pitié-Salpetrière (Paris), đã
bình luận như thế.
Ngoài ra Hiệp hội Tim Châu Âu cũng
nhắc lại rằng, các lời khuyến nghị của
Châu Âu về việc phòng ngừa các tai
biến mạch máu não xác nhận rằng nghiện
thuốc lá là nguyên nhân của 50% các
trường hợp tử vong có thể tránh được
và là cơ sở của tai biến mạch máu não
ở mọi lứa tuổi. Thí dụ trong một công
trình nghiên cứu, Giáo sư Pekka
Jousilahti (Phần Lan) đã chứng tỏ rằng
việc hút thuốc lá gây ra sự phóng
thích 400 chất hóa học có khả năng ảnh
hưởng lên tất cả các cơ quan.
« Mặc dầu các bệnh tim mạch có tính
chất rất phức tạp và phát sinh do các
nguyên nhân khác nhau, nhưng việc cấm
hút thuốc, không thể chối cãi được, đã
đưa đến sự giảm các biến cố động mạch
vành, Roberto Ferrari, chủ tịch của
Hiệp Hội Tim Châu Âu đã đánh giá như
vậy. Chính vì thế, Hiệp Hội Tim Châu
Âu khuyến khích việc ngưng thuốc lá
trên toàn cõi Châu Âu bằng những đạo
luật cấm đoán hút thuốc và bằng sự gia
tăng thuế đánh lên thuốc lá. Thật vậy
có một sự nhất trí về các lợi ích của
việc ngưng hút thuốc lá. Những lợi ích
này nói chung có được tức thời và góp
phần làm giảm gánh nặng của các bệnh
tim mạch »
Theo Hiệp Hội Tim Châu Âu, các kết quả
tốt thể hiện qua các con số được báo
cáo ở Pháp, và ở Ý, hẳn phải cổ vũ các
nước châu Âu khác áp dụng cùng các
biện pháp để bảo vệ cuộc sống của nhân
dân các nước họ.
Nguồn : LE JOURNAL DU MEDECIN 7/3/2008
===
UNG THƯ ĐẠI
TRỰC TRÀNG ĐƯỢC CHẨN ĐOÁN TỐT HƠN
Những thương tổn phẳng (lésions
plates), ngày nay đã được phát hiện,
là các thương tổn tiền ung thư của
ruột. Các thương tổn này tuy kín đáo,
nhưng cũng nguy hiểm như các polype.
Đây là một loại thương tổn dễ bị bỏ
sót lúc thăm khám nội soi, nhưng là
loại thương tổn dễ trở thành ung thư
nhất và thường xảy ra hơn là điều mà
người ta nghĩ trước đây, các nhà
nghiên cứu đã báo cáo như vậy
Các thầy thuốc chuyên khoa tiêu hóa,
từ nhiều năm nay, sống với một giáo
điều không thể xâm phạm : sự tiến
triển của những ung thư đại tràng hay
trực tràng được gắn liền với sự hiện
diện của các polypes tiền ung thư, có
thể thấy được và có thể loại bỏ bằng
nội sôi. Và tất cả mọi cố gắng để ngăn
ngừa các khối u này, nguyên nhân tử
vong đứng hàng thứ hai do ung thư ở
Pháp, được căn cứ trên sự phát hiện và
loại bỏ các polype này. Sự điều tra
phát hiện đại trà được thực hiện bằng
phát hiện máu ẩn trong phân, sự điều
tra phát hiện cá thể hóa được tiến
hành bằng nội soi đại tràng.
« Cái nhìn giản đơn mà chúng ta đã có
từ nhiều năm nay, chắc chắn là phức
tạp hơn », Giáo sư René Lambert (Trung
tâm quốc tế nghiên cứu về ung thư,
Lyon) đã đánh giá như thế. Dầu sao cái
ý niệm này đã bị bác bỏ bởi một công
trình nghiên cứu của Hoa Kỳ, được thực
hiện bởi các nhà nghiên cứu của
Veteran Affairs Health System de Palo
Alto (California) và được công bố
trong tờ Journal of the American
Medical Association (Jama), số ngày 5
tháng 3 năm 2008.
Từ những năm 1980, các thầy thuốc Nhật
Bản đã biết rằng trong lòng ruột có
những thương tổn bằng phẳng (lésions
plates), thường có kích thước nằm
trong giới hạn nhìn thấy được của mắt
thường, có cùng màu sắc như phần còn
lại của niêm mạc ruột. Những thương
tổn này được mệnh danh là những thương
tổn « không phải dạng polype » (non
polypoid) ( ở Pháp thương tổn này được
gọi là polype dẹt : polype plan). Các
thương tổn này hoặc hơi nhô cao lên
hoặc như những hố nhỏ ít sâu. Khác hẳn
với các polype ruột xuất hiện như là
những chiếc nấm có cuống và dễ nhìn
thấy. Thế nhưng các hố phẳng (cratères
plans) này lại có một nguy cơ biến đổi
thành ung thư nhanh hơn so với các
polype có cuống.
B.S Christian Boustière, một trong
những người hữu trách của Hội nội soi
tiêu hóa Pháp, đã giải thích : « Tốc
độ thoái hóa của các thương tổn phẳng
là cao hơn. Chúng tiếp xúc trực tiếp
với thành ruột, chúng lan nhanh xuống
trong lớp cơ ruột và tỏa sâu phía dưới
». Các thầy thuốc Nhật Bản thường phát
hiện những thương tổn này trong dạ dày
(ở đây các thương tổn phẳng cũng là
những thương tổn tiền ung thư đáng sợ
của cơ quan này. Nhưng từ lâu, cộng
đồng y khoa quốc tế đã tin rằng các
thương tổn này chỉ xảy ra nơi ruột của
các trẻ em của đất nước Mặt Trời Mọc
mà thôi.
154.000 TRƯỜNG HỢP MỚI
Công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ xuất
hiện trong JAMA, xác nhận những dữ
kiện đã được xác lập bởi người Pháp
René Lambert và chứng tỏ rằng những
người Mỹ cũng có những thương tổn dẹt,
nép mình trong những nếp gấp của ruột.
Các thầy thuốc Hoa Kỳ có khuynh hướng
nghĩ rằng các thương tổn dẹt thường ít
thường xảy ra và ít nguy hiểm hơn ở
Hoa Kỳ, nhưng công trình nghiên cứu
được công bố trên tờ Journal of the
American Medical Association, lại có ý
kiến ngược lại. Một vài thầy thuốc nội
soi cũng đã cảnh giác với các thương
tổn dẹt, nhưng đối với các thầy thuốc
khác, việc tìm kiếm các thương tổn này
lại là một thách thức bởi vì cần có
một đôi mắt được tập luyện và chăm chú
mới có thể tìm thấy các thương tổn và
cần có những kỹ thuật đặc biệt để loại
bỏ chúng.
Điều
đặc biệt quan trọng để đạt được kết
quả là bệnh nhân phải dùng thuốc tẩy
mạnh trước khi tiến hành thủ thuật và
điều này làm cho các bệnh nhân e
ngại.Từ năm 1999, sau khi đã tập luyện
đôi mắt nội soi bên cạnh các thầy
thuốc của National Cancer Center của
Tokyo, các thầy thuốc của các cựu
chiến binh và của đại học Standford (Californie)
đã tìm kiếm một cách có hệ thống các
thương tổn dẹt này, chiếm 30% đến 40%
trong số 150.000 những trường hợp ung
thư mới được phát hiện mỗi năm ở Hoa
Kỳ.
Trên 1.819 cựu chiến binh được thăm
khám bằng nội soi, 9,35% có những
thương tổn phẳng, 5 lần khả dĩ là tiền
ung thư hơn các polype. Và các thương
tổn dẹt, mặc dầu chỉ chiếm 15% các
thương tổn có tiềm năng nguy hiểm được
phát hiện, nhưng lại là căn nguyên của
½ các ung thư được xác nhận.
Ung thư đại tràng là nguyên nhân đứng
hàng thứ hai của tử vong do ung thư ở
Hoa Kỳ, sau ung thư phổi, với khoảng
154.000 trường hợp mới được phát hiện
và 52.000 tử vong mỗi năm. Đây là một
trong vài ung thư hoàn toàn có thể
phòng ngừa được, nếu các u tiền ung
thư được tìm thấy và loại bỏ ; ung thư
này cũng có thể được chữa khỏi, chỉ
với giải phẫu, nếu được tìm thấy khá
sớm.
Hội nội soi tiêu hóa Pháp đã không chờ
đợi kết quả của công trình nghiên cứu
rồi mới hành động và đã khuyến nghị
1.500 hội viên (60% các nhà nội soi
Pháp) hãy mua các đèn nội soi thuộc
thế hệ sau cùng (với bộ phận quang học
có độ phóng đại cao), hãy chuẩn bị
tuyệt hảo ống tiêu hóa bằng thuốc
nhuận trường trước khi thực hiện nội
soi, và hãy sử dụng một kỹ thuật hiện
đại nhuộm màu điện tử. Sau cùng, các
thương tổn này cũng có thể được lấy đi,
như các polype, bằng đường nội soi.
Nguồn : - LE FIGARO 11/3/2008
- INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE
6/3/2008
===
BỆNH ĐÁI
ĐƯỜNG LOẠI 2 : COI CHỪNG CAFEINE !
Caféine làm gia tăng đường trong máu.
Đó là một thông điệp mà BS James Lane
thuộc đại học Duke ( Durham, Caroline
du Nord, Hoa Kỳ) đã gởi đến cho các
bệnh nhân đái đường loại 2 ( đái đường
không phụ thuộc vào insuline, hay đái
đường béo). Các bệnh nhân thuộc loại
đái đường này đông nhất (85% các
trường hợp). Bằng một loạt các xét
nghiệm khá phức tạp (đường huyết,
insuline…) được thực hiện nơi 14 người
bị bệnh đái đường béo ( 11 đàn ông, 3
phụ nữ), công trình nghiên cứu của ông
đã chứng tỏ rằng sự hấp thụ caféine
làm gia tăng nồng độ glucose trong máu,
9% sau bữa ăn sáng, 15% sau bữa ăn
trưa và 26% sau bữa ăn chiều. Nguyên
nhân chính xác vẫn không được biết tới.
Nguồn : PARIS MATCH (13/3-19/3/2007)
===
BỆNH XƠ CỨNG
BÊN TEO CƠ VÀ LITHIUM
Bệnh xơ cứng bên teo cơ (sclérose
latérale amyotrophique) là do sự thoái
hóa của các neurone vận động điều
khiến các cơ, nằm ở vỏ não hoặc trong
tủy sống. Bệnh này dẫn đến bại liệt
dần dần, chỉ thuần vận động. Sự bại
liệt này sẽ đe dọa đến mạng sống khi
các cơ hô hấp đến lượt cũng bị thương
tổn. Trong vòng ba năm, tiến triển của
bệnh sẽ gây tử vong cho một nửa trong
số các bệnh nhân. Nhưng có những
trường hợp ngoại lệ, mà trường hợp nổi
tiếng nhất là nhà vật lý thiên văn
Stephen Hawking, đã sống sót căn bệnh
đáng sợ này từ 40 năm nay. Mặc dầu
trong bệnh xơ cứng bên teo cơ, các
neurone bị thương tổn là do các tác
dụng gây chết người của các gốc tự do
(radicaux libres) hay các chất độc như
glutamate, nhưng nguyên nhân chính xác
của một loạn chức năng như thế vẫn
không được biết đến.
Ở
Pháp, hơn 8000 người bị bệnh này.
Riluzole với tác dụng làm giảm độc
tính của glutamate, là thuốc duy nhất
mà hiệu quả được công nhận cho đến
ngày nay. Nhiều nghiên cứu khác nhau
đã gán những tính chất bảo vệ thần
kinh là do lithium. Giáo sư Francesco
Fornai ở Pise đã muốn trắc nghiệm hiệu
quả của lithium trong bệnh xơ cứng bên
teo cơ bằng một thử nghiệm lâm sàng
trên 44 bệnh nhân. Nơi những bệnh nhân
đã nhận một liều lượng 150 mg , hai
lần mỗi ngày (kết hợp với riluzole),
đã không có một tử vong nào trong 15
tháng theo dõi so với 30% tử vong nơi
các bệnh nhân chỉ nhận riluzole. Mặt
khác, lithium đã làm giảm rõ rệt tiến
triển của các triệu chứng nơi các bệnh
nhân được điều trị. Đây là điều chưa
từng thấy trong bệnh xơ cứng bên teo
cơ cho đến ngày hôm nay.
Nguồn : PARIS MATCH (6/3- 12/3/2008)
====
RAU VÀ ĐÁI
ĐƯỜNG LOẠI 2
Một nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ và Trung
Quốc đã nghiên cứu mối liên kết giữa
việc tiêu thụ trái cây và rau và tỷ lệ
mắc bệnh đái đường loại 2. R.Villegas
và các cộng sự viên đã thực hiện một
công trình nghiên cứu viễn cảnh nơi
64.191 phụ nữ Trung Hoa không có tiền
sử bệnh đái đường loại 2 hay những
bệnh mãn tính khác. Cách ăn uống của
họ được đánh giá bằng những cuộc phỏng
vấn.
Suốt
trong 297.755 người-năm theo dõi,
1.608 trường hợp đái đường mới đã được
chẩn đoán. Các nhà nghiên cứu đã quan
sát thấy rằng việc tiêu thụ rau liên
kết nghịch với nguy cơ mắc phải bệnh
đái đường : sự tiêu thụ nhiều rau
(428g/ngày) được kèm theo một sự giảm
trung bình 28% nguy cơ mắc phải bệnh
đái đường, so với một sự tiêu thụ thấp
(121,5g/ngày). Tất cả các nhóm người
tham dự và tiêu thụ rau, đều liên kết
nghịch và một cách đáng kể với nguy cơ
mắc phải bệnh đái đường. Trái lại,
việc ăn trái cây đã không liên kết với
tỷ lệ mắc phải bệnh đái đường trong
nhóm người được nghiên cứu này. Đối
với các tác giả, vậy thì rau mang lại
một tác dụng bảo vệ chống lại sự phát
triển của bệnh đái đường loại 2.
Nguồn : LE JOURNAL DU MEDECIN 7/3/2008
===
MỘT HƯỚNG
ĐIỀU TRỊ MỚI CỦA BỆNH XƠ CỨNG RẢI RÁC
Sự tiến triển không thể tránh và không
thể đảo ngược được của các di chứng
thần kinh gây tàn phế, không phải là
do các cơn kịch phát của bệnh xơ cứng
rải rác (sclérose en plaques) mà là do
sự thoái hóa tỏa lan mãn tính của não
bộ.
Nhà thần kinh học Christian Confavreux
( Inserm 842, Lyon) đã trình bày hôm
qua trước Viện hàn lâm y học một lý
thuyết mới về nguồn gốc của bệnh xơ
cứng rải rác (sclérose en plaques). Lý
thuyết này, ngày càng được sự ủng hộ
của các nhà nghiên cứu, có thể có
những ảnh hưởng rất quan trọng lên các
chiến lược điều trị. Bệnh xơ cứng rải
rác là một bệnh thần kinh mãn tính
tiến triển, thường xảy ra nhất nơi
những người trưởng thành trẻ tuổi ở
Pháp : cứ 1000 người thì có một người
bị bệnh, hoặc 60.000 người Pháp mắc
phải bệnh này, trong đó 2.000 đến 3000
trường hợp mới xảy ra mỗi năm.
Mặc dầu là đáng ngạc nhiên, nhưng mãi
đến năm 2007, định nghĩa của bệnh xơ
cứng rải rác vẫn là định nghĩa cơ thể
bệnh lý, và chỉ có sự quan sát trực
tiếp các tổn thương mới cho phép chẩn
đoán bệnh này. « Chưa có một xét
nghiệm chẩn đoán đặc hiệu nào đáng tin
cậy », Christian Confavreux đã nhắc
lại như thế.
Hai dạng tiến triển chính xảy ra trong
căn bệnh mãn tính này : những đợt kịch
phát kéo dài hơn 24 giờ , với sự xuất
hiện các triệu chứng mới ( mù mắt, rối
loạn bước đi, liệt) theo sau là một sự
hồi phục một phần ; và một tiến triển
liên tục đưa đến sự tàn phế không hồi
phục và không ngừng bị gia trọng thêm.
Các bệnh nhân có thể chỉ có những cơn
bộc phát, có những dạng mãn tính thứ
phát (85% các trường hợp) hoặc tiến
triển tức thời (15%). « Cái giáo điều
từ 50 năm nay, đó là các đợt bộc phát
liên tiếp của bệnh là nguyên nhân duy
nhất gây nên sự tích lũy của chứng tật
nguyền. Đúng là một tư duy duy nhất !
», M.Confavreux đã giải thích như vậy.
Công trình nghiên cứu với những nhóm
bệnh nhân có số lượng lớn và những cơ
sở dữ kiện từ đầu những năm 1990, đã
cho phép chứng tỏ rằng tốc độ tích lũy
toàn bộ của tật nguyền không bị ảnh
hưởng bởi sự hiện diện hay vắng mặt
của các cơn bộc phát của bệnh.
MỘT CĂN BỆNH THOÁI HÓA THẦN KINH
NGUYÊN PHÁT.
Các trị liệu hoạt động miễn dịch (
traitements immuno-actifs), mặc dầu
thành công trong việc dập tắt, hoặc
hủy bỏ hoàn toàn các đợt bộc phát,
nhưng không dập tắt được sự tiếp tục
tiến triển của các thương tổn thần
kinh và của sự teo của não bộ. Các
interféron beta, được sử dụng như
thuốc được chọn đầu tiên, mặc dầu làm
giảm 30% tần số các cơn bộc phát (và
50% hoạt tính IRM của não bộ) : nhưng
chúng không có hiệu quả lên tiến triển
của bệnh. Ngay cả Alemtuzumab, một
kháng thể rất mạnh chống lại các tế
bào của miễn dịch và được sử dụng
trong xơ cứng rải rác cấp tính (các
cơn bộc phát mạnh, tàn phế nhanh), mặc
dầu cho phép hủy bỏ hầu như tất cả các
cơn bộc phát, lại không có khả năng
làm chậm lại hay làm ngưng tiến triển
của sự tàn phế. Do đó, xơ cứng rải rác
là một bệnh thoái hóa thần kinh nguyên
phát, chứ không phải là một bệnh tự
miễn dịch như chúng ta đã tưởng từ lâu.
“ Chúng ta đã bị thiển cận ”,
M.Confavreux đã tự buộc tội mình như
thế, “ vì chỉ thấy cây của các cơn bộc
phát che dấu khu rừng của sự phá hủy
mãn tính ”.Thật vậy, ngày nay, các kỹ
thuật IRM tiên tiến đã cho phép thấy
được, trong các đợt bộc phát lâm sàng,
sự xuất hiện của các thương tổn khu
trú cấp tính, cho phép liên kết sự
tiến triển của tàn phế thần kinh với
sự tiến triển của sự thoái hóa thần
kinh phân tán mãn tính. “ Điều đó muốn
nói rằng các chiến lược điều trị của
chúng ta phải tiến triển ”, BS
Confavreux đã đánh giá như vậy. “ Việc
điều trị các ổ viêm nhiễm cấp tính
không còn đủ nữa, mà phải tấn công vào
sự viêm nhiễm phân tán mãn tính, ngay
trong sào huyệt nằm sâu trong não bộ.
Đó là biên giới mới của bệnh xơ cứng
rải rác ”.
Nguồn : LE FIGARO 5/3/2008
===
CÁC SẢN PHẨM
SỮA GẦY VÀ HUYẾT ÁP
Lu Wang (Hoa Kỳ) và các cộng sự viên
đã căn cứ những điều khẳng định của họ
trên một công trình nghiên cứu các dự
kiện của 28.886 phụ nữ Hoa Kỳ tuổi 45
hoặc hơn. Các thói quen ăn uống của
những người tham dự đã được đánh giá
bởi một bảng câu hỏi, và đặc biệt là
sự tiêu thụ các sản phẩm sữa gầy (produits
laitiers maigres). Những trường hợp
cao huyết áp mới, đã được ghi nhận
suốt trong một thời kỳ theo dõi 10 năm.
Các tác giả đã chứng nhận rằng các phụ
nữ với chế độ dinh dưỡng có nhiều sản
phẩm sữa gầy nhất, có nguy cơ phát
triển bệnh cao huyết áp thấp nhất. Sự
tiêu thụ các sản phẩm sữa trọn vẹn (produits
laitiers entiers) đã không chứng tỏ
tác dụng bảo vệ này.
Sự
tiêu thụ đều đặn calcium và vitamine
D, được hấp thụ dưới dạng những sản
phẩm sữa, cũng đã được liên kết, trong
nghiên cứu này, với một nguy cơ phát
triển bệnh cao huyết áp ít hơn. Sự
tiêu thụ Ca và vitamine D dưới dạng
các chất bổ sung (suppléments), trái
lại đã không có một tác dụng nào lên
huyết áp .Theo các tác giả, những điều
quan sát này gợi ý vai trò tiềm năng
của các sản phẩm sữa gầy (qua trung
gian Ca và vitamine D mà chúng chứa)
trong việc ngăn ngừa bệnh cao huyết áp
và những biến chứng tim mạch của nó.
Nguồn : LE JOURNAL DU MEDECIN
11/3/2008
===
MỘT VACCIN
CHỐNG LẠI BỆNH CAO HUYẾT ÁP ĐANG ĐƯỢC
NGHIÊN CỨU
Một thử nghiệm lâm sàng của một vaccin
nhằm chống lại bệnh cao huyết áp cho
những kết quả hứa hẹn. Các nhà nghiên
cứu châu Âu đang trên hướng tìm ra một
thuốc chủng, dựa trên một phần tử
giống virus, chống lại angiotensine
II. Đây là công trình nghiên cứu đầu
tiên chứng tỏ rằng sự tiêm chủng chống
lại một tác nhân có tác dụng vận mạch
nội tại, cho phép làm giảm huyết áp
trên người.
Việc nghiên cứu các vaccin chống lại
các bệnh lý không nhiễm khuẩn từ nay
thuận buồm xuôi gió. Đặc biệt, đó là
trường hợp của cao huyết áp. Một thử
nghiệm lâm sàng đầu tiên trên người,
của một vaccin nhằm chống lại một
trong các protéine chịu trách nhiệm
rối loạn sinh lý này, angiotensine II,
vừa được công bố trong The Lancet bởi
nhóm nghiên cứu của Martin Bachmann (Cytos
Biotechnology,Thụy Sĩ).
Thật vậy, mặc dầu có các thuốc thuộc
thế hệ mới rất hiệu quả chống lại
enzyme de conversion de l’angiotensine
hoặc có khả năng phong bế các thụ thể
của phân tử chủ yếu này trong việc
kiểm soát huyết áp, nhưng tất cả mọi
điều không phải là đơn giản như thế
trong thực tế. Bởi vì để chống lại căn
bệnh giết người thầm lặng, không gây
một triệu chứng nào này, bệnh nhân
phải uống các viên thuốc mỗi ngày mà
không cảm thấy được mối lợi tức thời.
Và chính đó là điều chủ yếu, các nhà
nghiên cứu Thụy Sĩ đã lý luận như vậy.
« Chỉ 1/3 các bệnh nhân cao huyết áp ở
Hoa Ky là có một huyết áp được kiểm
soát tốt mà thôi ». Hiểu ngầm : bởi vì
sự tuân thủ điều trị nơi các bệnh nhân
là thấp. Hơn nữa các bệnh nhân phàn
nàn về các tác dụng phụ do thuốc,
trong khi đó họ không cảm thấy một
triệu chứng nào do bản thân cao huyết
áp gây nên cả. Việc nghiên cứu một
vaccin chống cao huyết áp chắc chắn
không phải mới có từ hôm qua. Chính
Irvine Page, nhà sinh lý học Hoa Kỳ
của Cleveland Clinic, vào năm 1958, đã
là người đầu tiên nêu lên khả năng tác
động lên các phân tử nhỏ có nhiệm vụ
kiểm tra huyết áp, bằng một vaccin.
Giáo sư Joel Ménard (cựu tổng giám đốc
y tế) nhắc lại : « Sự tiêm chuẩn đã
bắt đầu với việc tiêm một dạng biến
đổi nhẹ của rénine (can dự trong việc
kiếm soát huyết áp) nhằm làm phát sinh
những kháng thể với mục đích làm giảm
huyết áp ».
MỤC TIÊU : ANGIOTENSINE II
Mặt khác, những tài liệu xuất bản đầu
tiên đã có từ những năm 1950. Gần
chúng ta hơn, một thử nghiệm tiền lâm
sàng của vaccin, được thực hiện năm
2007 trên chuột (Journal of
Hypertension) đã chứng tỏ rằng vaccin
này đúng là gây miễn dịch ( nghĩa là
động vật phát triển các kháng thể ),
chắc chắn và hiệu quả. Mục tiêu tiêm
chủng được lựa chọn là angiotensine II
: thật vậy, hormone này gây nên co
mạch mạnh, và do đó làm cao huyết áp,
cũng như kích thích các tuyến thượng
thận và làm gia tăng tiết aldostérone,
chất này cũng làm gia tăng áp lực của
các động mạch.
Trong công trình nghiên cứu được công
bố tuần vừa qua bởi The Lancet, 72
bệnh nhân có cao huyết áp mức độ thấp
(nhưng thật sự) và vừa phải đã được
phân chia một cách ngẫu nhiên thành 3
nhóm. Các bệnh nhân này đã nhận 3 mũi
tiêm 100 hay 300 microgramme của
vaccin, hay một liều lượng tương đương
của một placebo. Huyết áp đã được đo
trong 24 giờ trước khi tiêm rồi 14
tuần sau đó. Các nhà nghiên cứu đã
chứng nhận một sự giảm đáng kể huyết
áp ban ngày, gần 9 mmHg ( huyết áp thu
tâm bình thường của một người trưởng
thành là 130 mmHg) trong nhóm đã nhận
vaccin với liều lượng mạnh nhất.
Không có một tác dụng phụ nghiêm trọng
nào xảy ra trong suốt 16 tuần nghiên
cứu và thuốc chủng được dung nạp tốt.
Hai bệnh nhân đã dừng điều trị trong
nhóm 100 microgramme, 3 trong nhóm 300
microgramme, và không có bệnh nhân nào
trong nhóm placebo. 5 bệnh nhân đã có
những tác dụng phụ nghiêm trọng. Hầu
hết các tác dụng phụ là vừa phải, như
một phản ứng thoảng qua nơi được tiêm
chủng. 3 bệnh nhân có những triệu
chứng thuộc loại cảm cúm.
Các tác giả kết luận rằng một liều
lượng 300 microgramme vaccin, được lập
lại 3 lần, cho phép làm giảm huyết áp
nơi những bệnh nhân bị cao huyết áp
nhẹ và trung bình, đặc biệt là vào
sáng sớm.
Có nên tiếp tục tiến tới trong lãnh
vực nghiên cứu này ? « Tôi có cảm
tưởng rằng những hiểu biết của chúng
ta là quá thấp », Giáo sư Ménard, năm
2007, đã đánh giá như vậy, để đo lường
đúng tương quan giữa lợi và hại của
một vaccin chồng cao huyết áp, « trong
khi đã có một điều trị cao huyết áp
mỗi ngày bằng đường miệng, và điều trị
này là chắc chắn và được dung nạp tốt.
Lý lẽ cho rằng bệnh nhân tuân thủ điều
trị kém là nghèo nàn và nông cạn ».
Giáo sư Ménard biết rõ điều mà ông ta
muốn nói : năm 1985, ông đã trắc
nghiệm loại tiêm chủng này nơi động
vật ouistiti, và động vật này đã phát
triển một bệnh tự miễn dịch (maladie
auto-immune) của thận, khiến ông phải
dừng lại việc theo đuổi mọi cuộc thí
nghiệm sau đó. Sự kích thích liên tiếp
hệ miễn dịch cũng có thể gây nên những
bệnh lý tự miễn dịch, như chúng ta đã
thấy trong một thử nghiệm vaccin chống
bệnh Alzheimer. Việc tiêm chủng có lẽ
cho phép cải thiện sự tuân thủ của các
bệnh nhân nhưng phải chăng họ sẽ vui
thích khi phải bị chủng ngừa nhiều lần
trong năm với nguy cơ bị một hợp chứng
cảm cúm mỗi lần được tiêm chủng ? Một
vaccin chống cao huyết áp phải chăng
cũng cần khẩn cấp như một vaccin chống
lại bệnh sida hay ung thư ? « Ngay cả
khi chúng ta có thể rút ra những bài
học về cách điều khiển hệ miễn dịch,
mặc dầu vậy, các quy tắc an toàn vẫn
là ưu tiên. », Joel Ménard đã kết luận
như vậy.
Nguồn : - LE FIGARO 14/3/2008
- LE JOURNAL DU MEDECIN 18/3/2008
===
CÁC THUỐC
CHỦNG CHỐNG BÉO PHÌ, NGHIỆN THUỐC LÁ,
BỆNH ALZHEIMER ĐANG TRONG GIAI ĐOẠN
THÍ NGHIỆM
Trong suốt năm thập niên qua, nhiều
thử nghiệm đã đánh giá các vaccin
chống lại các bệnh không nhiễm
khuẩn.Thí dụ, đã được hiệu chính, các
vaccin nhằm bảo vệ chống lại bệnh
Alzheimer, chống ung thư tiền liệt
tuyến ( cancer de la prostate), chống
chứng béo phì (obésité) hoặc chống
nghiện thuốc lá (addiction à là
nicotine). Chúng ta đã đi xa khỏi lãnh
vực truyền thống của các vaccin nhằm
chống lại các bệnh nhiễm trùng. Chúng
ta hãy nhớ rằng vaccin đầu tiên được
hiệu chính bởi Pasteur năm 1885 là
vaccin chống lại bệnh chó dại.
Cách nay 10 năm, vaccin đầu tiên chống
lại bệnh Alzheimer đã là đối tượng của
một công trình nghiên cứu nhiều trung
tâm trên các người bệnh. Thử nghiệm đã
bị dừng lại sớm vào năm 2002, do các
biến chứng thuộc loại viêm não xảy ra
nơi nhiều bệnh nhân. Tuy nhiên, vào
năm 2005, một đánh giá các bệnh nhân
đã dung nạp tốt sự tiêm chủng này, đã
phát hiện một sự cải thiện các chức
năng nhận thức của họ.Và nhiều dự án
mới chống lại bệnh Alzheimer còn đang
được tiến hành. Những thử nghiện đầu
tiên của các vaccin chống lại nghiện
thuốc lá đã được trình bày cách nay 2
năm trong một hội nghị ung thư học ở
Hoa Kỳ và đã báo cáo những kết quả
đáng phấn khởi nơi 229 người hút thuốc
lá. Những người này đã được tiêm chủng
bởi một protéine của virus, ghép đôi
với nicotine. Các thầy thuốc Hoa Kỳ
cũng đã hiệu chính một vaccin chống
lại bệnh béo phì, với những kết quả,
phải công nhận, đến nay vẫn chưa rõ
nét. Sau cùng, các công trình trên
chuột đã nêu rõ ý tưởng rằng có lẽ
chúng ta sẽ có thể, vào một ngày nào
đó, tiêm chủng chống lại bệnh ung thư
tuyến tiền liệt.
Tất cả mọi khó khăn là phải sản xuất
các vaccin có hiệu quả, không gây nên
sự xuất hiện các kháng thể chống lại
các tế bào của cơ thể và như vậy sẽ
gây nên một bệnh tự miễn dịch.
Nguồn : LE FIGARO 14/3/2008
===
CHỨNG TRẦM
CẢM TRONG THỜI KỲ MÃN KINH VÀ
MELATONINE
Các rối loạn của nhịp sinh học (rythme
circadien) có thể góp phần trong sự
phát sinh chứng trầm cảm trong thời kỳ
mãn kinh (dépression de la ménopause).
Người ta đã quan sát thấy nơi các phụ
nữ bị chứng trầm cảm này, một nồng độ
cao mélatonine và một sự xê dịch đường
cong tiết của hormone này vào buổi
sáng.
Chúng ta có thể giả thiết rằng, một sự
thay đổi trong hoạt động chức năng nội
tiết góp phần vào sự xuất hiện chứng
trầm cảm của thời kỳ mãn kinh.Tuy vậy,
dường như khó xác định chính xác những
gì không ổn nơi nhiều phụ nữ vào thời
kỳ này. Barbara L.Parry và các cộng sự
viên (Đại học California, San Diego,
Hoa Kỳ) nghĩ rằng điều giải thích có
thể được tìm thấy trong sự biến đổi
của nhịp sinh học của sự tiết
mélatonine . Để kiểm tra giả thuyết
của họ, các nhà nghiên cứu đã thực
hiện các đo lường nồng độ mélatonine
trong huyết thanh nơi 29 phụ nữ trong
thời kỳ quanh hay sau mãn kinh (péri-
ou postménopause), có hoặc không có
chứng trầm cảm.
Ngoài các đo lường mélatonine mỗi 30
phút, các tác giả cũng đã theo dõi các
nồng độ trong huyết thanh của
gonadotrophines và các hormones
stéroides, cũng như các điểm số trên
một thang đánh giá chứng trầm cảm. Lý
thuyết của các tác giả đã được xác
nhận : nơi các bệnh nhân bị trầm cảm,
thời gian giảm dần của mélatonine bị
chậm lại và bị xê dịch vào buổi sáng,
trong khi các nồng độ của hormone này
gia tăng. Mặt khác có thể quan sát một
mối liên hệ giữa số năm trôi qua từ
khi bắt đầu thời kỳ mãn kinh và thời
gian tiết mélatonine. Ngoài thời gian
tiết mélatonine, những yếu tố khác
cũng có một ảnh hưởng lên các điểm số
của chứng trầm cảm, như chỉ số khối
lượng cơ thể, số năm từ khi bắt đầu
thời kỳ mãn kinh, các nồng độ FSH và
giờ thức giấc.Trái lại, các nồng độ
oestradiol, progestérone và LH không
có ảnh hưởng đáng kể.
Các tác giả đã kết luận rằng một sự
tiếp xúc ít hơn với ánh sáng có thể
giải thích sự khác nhau trong các
đường cong tiết của mélatonine nơi các
bệnh nhân trầm cảm. Do đó các nhà
nghiên cứu đề nghị một phép trị liệu
bằng giấc ngủ và ánh sáng, cũng như sự
sử dụng betabloquants vào sáng sớm để
làm giảm sự tiết mélatonine vào buổi
sáng.
Nguồn : LE GENERALISTE 28/2/2008
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
|
|