|
CÁC PHUƠNG PHÁP NGỪA THAI QUA THỜI
GIAN
Tùy theo thời kỳ và nơi chốn, ước muốn
giới hạn sinh đẻ được thể hiện vì
những lý do dân số, đạo đức, thẩm mỹ
hay một cách giản đơn là để tách sự
khoái lạc với sự sinh sản. Dầu thế nào
đi nữa, trong bất cứ thời kỳ nào và
trong tất các các nền văn minh, sự
ngừa thai là một bộ phận của cuộc sống
hàng ngày và tạo nên một mối quan tâm
quan trọng. Do đó con người đã tưởng
tượng ra rất nhiều phương pháp để cứu
chữa những hậu quả không được mong
muốn của động tác giao hợp. Từ những
phương thức êm ái nhất đến những
phương cách thô bạo nhất, sau đây là
một sơ lược những phương tiện ngừa
thai ngày xưa.
Những tài liệu bắt đầu có từ hơn 4000
năm chỉ rõ rằng những người cổ Ai Cập
sử dụng các viên đạn âm đạo
(suppositoires vaginaux), được cấu tạo
bởi bột men (pâte de levain), mật hay
phân cá sấu để bảo vệ chống lại một
thai nghén không được mong muốn.Tuy
nhiên, người ta xác nhận rằng các sản
phẩm này phải được đưa vào trong âm
đạo trước khi giao hợp, điều này tạo
nên một sự kiện đáng lưu ý vào thời kỳ
đó, nhưng tiếc thay rất mau bị chóng
quên vì lẽ hầu hết các phương pháp về
sau này đều được quy định dùng sau khi
sinh. Để bảo vệ chống lại các bệnh
phong tình, các người lính Ai cập che
phủ bộ phận sinh dục của họ bằng ruột
cừu và như thế cho ra đời những túi
dương vật (préservatif) đầu tiên, 3000
năm trước công nguyên.
Những phương pháp khác còn được mô tả
trong papyrus de Berlin (1.300 trước
công nguyên), trong đó người ta nhận
thấy những chỉ dẫn về một sự hun khói
(fumigation) kết hợp với một hỗn hợp
gồm có mỡ, cỏ và bia ngọt để uống vào
lúc thức dậy, suốt trong 4 ngày ! Có
lẽ hiệu quả hơn : những phụ nữ Ai Cập
không do dự đưa vào trong âm đạo của
họ một nửa của quả trái cây được khoét
rỗng để che phủ cổ tử cung, mặt khác,
dạng mũ cổ tử cung (cape cervicale)
này có lẽ đã được chính Cléopâtre sử
dụng.
LÀM MAU LÊN CHỨ !
Trong thời cổ Hy lạp, các thầy thuốc
cho toa các công thức pha chế phát
xuất từ cổ truyền dân gian. Soranos
d’Ephèse và các đồ đệ chủ trương, nơi
những phụ nữ quá trẻ hay có cuộc sống
bị đe dọa nếu có thai, không được làm
sẩy thai, mà phải sử dụng những phương
pháp nhằm không để cho tinh dịch của
người đàn ông đi vào trong tử cung. Để
được như vậy họ cho những lời khuyên
rất chính xác như đưa vào trong tử
cung những thuốc đạn (suppositoire)
chứa những sản phẩm có tác dụng làm
thắt chặt cổ tử cung (nghệ, acacia,
mandragore...) hoặc đóng lối vào của
cổ tử cung với các nút (tampon) bằng
len. Họ cũng khuyên các phụ nữ đứng
dậy ngay sau mỗi lần giao hợp, hách
xì, bước, nhảy, làm những cử động thô
bạo và đừng do dự khi phải bước lên
các xe bò (tình trạng đường xá thời đó
rất thuận lợi cho những rung chuyển
!). Nếu, mặc dầu những lời khuyên này,
tinh trùng vẫn đi vào tử cung, Soranos
chủ trương trích máu (saignée) nhưng
thường tránh làm sẩy thai. Các loại
thuốc sắc (tisanes) khác nhau còn được
pha chế và tiêu thụ vì những tính chất
ngừa thai.
Trong số những thuốc
sắc này, chúng ta hãy kể dầu olive,
dây thường xuân (lierre), cây liễu,
cây phong (peuplier), cây thông tuyết
(cèdre), bạc hà cay (menthe poivrée),
cây đào gai (aubépine). Việc kiêng
nhịn (abstinence) trong những thời kỳ
sinh sản dĩ nhiên được khuyên nhủ mặc
dầu bây giờ chúng ta biết rằng tiền
nhân hiểu lầm về chu kỳ kinh nguyệt.
Những người La mã sử dụng cùng những
phương thức, đồng thời nhờ đến thụt
rửa âm đạo sau giao hợp (douche
vaginale postcoitale). Để làm được
điều đó, các nhà quý tộc phải nhờ đến
một người nô lệ sau mỗi lần giao hợp.
Họ cũng chế tạo một loại túi dương vật
được cấu tạo bởi ruột và bàng quang
động vật. Điều kỳ lạ là thời Thượng Cổ
người ta không đề cập đến phương pháp
rút dương vật (retrait), mặc dầu thoạt
nhìn điều này rất là hiển nhiên. Tuy
nhiên phương pháp rút dương vật này
được ghi chú trong Thánh kinh với câu
chuyện Oran, trong Talmud và nơi những
người musulman.
TRIỆT ĐỂ HƠN : GIẾT CON MỚI ĐẺ
Dĩ nhiên những người thời xưa đã không
luôn luôn có thể làm chủ được việc
sinh đẻ như họ mong muốn, do đó họ đã
dùng một phương pháp triệt để hơn
nhiều, đó là giết con mới đẻ
(infanticide) ! Đó là chuyện thường
xảy ra ở thời Thượng cổ, là thời người
ta ít coi trọng cuộc sống của các trẻ
em. Dầu đó là Hippocrate, Soranos hay
Platon, tất cả đều nhất trí xét đoán “
những trẻ nào nên được nuôi nấng dạy
dỗ ” . Hãy nhắc lại rằng, ở Rome người
cha có quyền sanh sát đối với các con
mình và tuyên bố, vài ngày sau khi
sinh, ông ta sẽ giữ lại để nuôi dưỡng
trẻ vừa mới được sinh ra đời hay
không. Chính những người Do thái có lẽ
quyết định không thực hiện việc giết
trẻ con sau khi sinh nữa.Vào thế kỷ
thứ VI, Mahomet cấm điều đó trong khi
ở Châu Âu việc này được hủy bỏ bởi
Charlemagne vào thế kỷ thứ VIII. Vào
thời Trung Cổ, còn những phương pháp
khác xuất hiện và được truyền từ thế
hệ này qua thế hệ khác nhưng, nếu
người ta loại trừ những dây nịt tiết
trinh (ceintures de chasteté), thì
phương pháp ngừa thai trong thời kỳ
này không tiến triển được bao nhiêu vì
bị kềm hãm bởi Giáo Hội Cơ Đốc.
Thật vậy, ngay vào thời
kỳ đầu của đạo Cơ Đốc, suốt trong
nhiều thế kỷ, Giáo Hội căn cứ hôn nhân
trên sự sinh đẻ và lên án sự khoái lạc
và sự ngừa thai. Về sự việc này ít có
văn bản chỉ cho chúng ta thấy dân
chúng thời Trung cổ kiểm soát sinh sản
như thế nào, nếu họ dám làm ! Không
nên quên rằng vào thời kỳ này, mọi
phương thức ngừa thai, gồm cả rút
dương vật (retrait), đều được xem như
là một tội phạm và sẽ bị trừng trị.
Vậy chính ở Châu Á là nơi mà các túi
dương vật (préservatifs) tiến triển.
Những túi này được chế tạo bằng giấy
lụa dầu (papier de soie huilée) ở
Trung Quốc và bằng vảy rùa (écaille de
tortue) hay bằng da thuộc (cuir) ở
Nhật bản, nơi đây túi dương vật mang
tên Kabuta-gata.
TÚI DƯƠNG VẬT THỜI TRANG
Ở châu Âu, phải đợi đến thế kỷ XVI và
sự bùng nổ của bệnh giang mai thì các
lính trận mới chịu bảo vệ lấy mình.
Nhà cơ thể học và giải phẫu học người
Ý Gabriel Fallope phát minh một loại
bao bằng vải nhẹ, được tẩm một thứ
nước sắc gồm có cỏ và nước miếng, mà
ông gọi là túi dương vật (sac pénien).
Vào thế kỷ XVII, túi dương vật được
làm bằng lụa hoặc nhung và được trang
trí bởi một đai màu giữ nó vào vị trí.
Từ nay túi dương vật này là một phần
của hoạt động sinh dục và trở nên một
vật phụ thời trang của những nhà quý
tộc và ngay cả của vua chúa.
CHANH KHOÉT RỖNG HAY TÚI DƯƠNG VẬT ?
Vào thế kỷ sau, người Venise Giacomo
Casanova, nổi tiếng về những tình
nhân, đã quảng cáo về chanh được khoét
rỗng (citron évidé) và về túi dương
vật, hai phương pháp mà ông sử dụng
rộng rãi để chống lại những hậu quả
của cuộc đời “ sôi động ” của ông.
Chính Casanova đã đặt tên “ capote
anglaise ” (chiếc áo khoác Anh) cho
cái khúc ruột (bout de boyau) này, lúc
nói rằng “ tôi phải giam mình trong
một khúc da chết (un bout de peau
morte) để chứng tỏ rằng tôi đúng là
còn sống ”. Nữ hầu tước Sévigné đã
định nghĩa túi dương vật như sau : “
Đó là một áo giáp chống khoái lạc và
một mạng nhện chống nguy hiểm ”. Đúng
là bao dương vật chưa tiện nghi lắm
cũng như chưa được tin cậy lắm. Rửa âm
đạo (douche vaginale) với alun,
sulfate kẽm, muối Eratus, dấm và
chlorure de soude, thời đó được sử
dụng nhưng luôn luôn sau động tác giao
hợp. Những ống tiêm đầu tiên và các
dụng cụ để tiêm âm đạo xuất hiện. Cần
ghi nhận rằng chậu rửa đít (bidet)
xuất hiện ở Pháp vào thời đó, phần lớn
được dùng để rửa chân...
ÁO KHOÁT BẢO ĐẢM 5 NĂM.
Việc sử dụng và sự thương mãi của túi
dương vật được hợp pháp hóa sau Cách
mạng Pháp. Vào giữa thế kỷ XIX, hãng
Goodyear Tire and Rubber phát minh túi
dương vật bằng cao su, có thể rửa được
và được bảo đảm năm năm ! Như thế, sau
mỗi lần sử dụng, áo choàng (capote)
được rửa, sấy khô và rắc tan . Người
ta cũng gọi túi dương vật là “ đối thủ
bảo vệ ”, “ túi khoái lạc ”. Năm 1880,
túi dương vật bằng latex đầu tiên được
sản xuất và những tiến bộ đáng kể về
màng ngăn (diaphragme) xuất hiện. Cùng
năm, Walter John Rendell, dược sĩ Luân
Đôn, hiệu chính một vòng đỡ
(pessaire), được cấu tạo bởi quinine
và bơ cacao, dễ tan ở đáy âm đạo.
Phương pháp này giành được thành công
nhanh chóng và được phân phát khắp
toàn thế giới. Vào đầu thế kỷ XX,
nhiều phương pháp ngừa thai xuất hiện.
Chúng ta có thể kể phương pháp Ogino,
mang tên thầy thuốc người Nhật đã phát
minh ra nó. Sự kiêng không giao hợp
được khuyên giữa ngày thứ 12 và 16 của
chu kỳ kinh nguyệt và phương pháp này
đã sinh ra hàng ngàn em bé Ogino !
Còn phương pháp Knauss
nhằm định ngày phóng noãn bằng cách
theo dõi nhiệt độ, thì lại tỏ ra có
hiệu quả đối với những người muốn mang
thai hơn là đối với những người muốn
được bảo vệ. Sau đó là sự xuất hiện
của vòng ngừa thai (stérilet) và thuốc
ngừa thai (pilule contraceptive). Vào
năm 1961, túi dương vật được bôi trơn
(préservatif lubrifié) đầu tiên được
đưa ra thị trường.
Còn việc chống thụ thai ở nam giới thì
sao ? Có chứ, ngoài túi dương vật, đàn
ông cũng tham gia kiểm soát sinh đẻ từ
những năm 70 ! Tuy nhiên từ slip làm
nóng đến các dược phẩm hormone mới,
còn cần phải thực hiện những tiến bộ
quan trọng. Suốt trong nhiều thế kỷ,
các phương pháp ngừa thai và phá thai
đã dựa trên những kiến thức thường sai
lầm về cơ thể học và sinh lý học ! Dĩ
nhiên, trước khi nghĩ đến sự ngừa
thai... phải tự hỏi về sự thụ thai !(
SEMPER 5/2008)
=======
THUỐC LÁ VÀ
THAI NGHÉN : NHỮNG NGUY CƠ HÔ HẤP NƠI
TRẺ SƠ SINH ?
Một công trình nghiên cứu của Canada
đã xác nhận rằng nơi những trẻ sinh
non có mẹ là những người nghiện thuốc
lá ở mức độ trung bình (dưới 5 điếu
mỗi ngày), có một sự đáp ứng thích
nghi ít tốt hơn của nhịp tim với trắc
nghiệm giảm oxy (test d’hypoxie) và
nhất là có một sự hồi phục hô hấp ít
tốt hơn, so sánh với những đứa bé có
bà mẹ không hút thuốc lá. Nicotine làm
rối loạn sự phát triển của những vùng
não bộ kiểm soát những cử động hô hấp.
( PARIS MATCH 25/9-1/10/2008)
====
ĐỘNG KINH :
NHỮNG PHUƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ MỚI
Giáo Sư Michel Baulac, thầy thuốc
chuyên khoa thần kinh của Bệnh Viện La
Pitié-Salpêtrière, Paris, giải thích
từ nay điều trị như thế nào 40% những
bệnh nhân động kinh đề kháng với các
liệu pháp cổ điển.
Hỏi : người ta thường che dấu là bị
một bệnh động kinh, căn bệnh còn bị
kiêng kỵ về mặt xã hội. Thật ra, định
nghĩa của động kinh là thế nào ?
G.S Michel Baulac : Đó là một bệnh lý
thường xảy ra, ở châu Âu cứ 1000 người
thì có một người bị bệnh, trong đó cứ
hai bệnh nhân thì một là trẻ em. Người
ta chỉ thật sự chẩn đoán động kinh khi
các cơn tái diễn. Các cơn này tương
ứng với một đợt phóng điện (une
décharge électrique) bất bình thường
của các nơ ron nằm trên trên một bề
mặt rộng ít hay nhiều của vỏ não. Các
triệu chứng thay đổi tùy theo vị trí
và mặt rộng của vùng bị ảnh hưởng.
Nhiều nguyên nhân có thể là nguồn gốc
của những cơn động kinh này : khối u,
sẹo sau chấn thương, dị dạng đủ loại,
nhưng cũng có tố bẩm di truyền.
Hỏi : Những dạng khác nhau của cơn
động kinh là gì ?
G.S Michel Baulac : Vâng. Có hai dạng
chính. 1. Cơn động kinh toàn thể
(crise convulsive généralisée), trong
đó sự phóng điện nơ ron tỏa lan . Cơn
được phát khởi bằng một sự mất tri
giác tức thời kéo dài vài phút, bệnh
nhân té đột ngột, cứng toàn bộ thân
thể, tăng tiết nước bọt và những rung
giật ở các chi : cơn rất gây ấn tượng
đối với những người chung quanh !
Những cơn động kinh toàn thể khác, ít
gây thương tổn hơn, chỉ đưa đến vắng ý
thức (absence) vài giây hay những rung
giật ngắn ngủi của các chi. 2. Những
cơn động kinh cục bộ (crises
partielles), có những triệu chứng
tương ứng với vùng bị ảnh hưởng :
những rối loạn thị giác, các ảo giác
(hallucinations), những cử động không
tự ý và vắng ý thức kéo dài vài phút
đối với vài bệnh nhân, với mất toàn bộ
sự làm chủ hành vi, do đó tình trạng
mất năng lực quan trọng khi các cơn
xảy ra thường xuyên.
Hỏi : Những người động kinh sống trong
lo sợ sẽ xảy ra một cơn động kinh mới…
Những dấu hiệu báo trước là những dấu
hiệu nào ?
G.S M.B : Có khi vài người phát khởi
một cơn nhỏ (minicrise) vài chốc lát
trước khi cơn trở nên nghiêm trọng
hơn. Nếu có đủ thời gian (khoảng 10
phút), một thuốc có tác dụng nhanh đôi
khi có thể tránh được cơn xảy ra.
Nhưng hầu hết các bệnh nhân không có
một dấu hiệu báo trước nào, do đó cần
có một điều trị thường trực.
Hỏi : Cho đến nay, những điều trị cổ
điển là những điều trị nào, và những
chỉ định của chúng ?
G.S M.B : Một tiến bộ mới đây là khả
năng điều trị các bệnh nhân “ à la
carte “. Có nhiều thuốc chống động
kinh với cách tác dụng khác nhau nhưng
mục đích đều giống nhau : ngăn cản sự
biểu hiện các triệu chứng. Không có
một loại thuốc nào có thể chữa lành
được bệnh . Đối với các cơn động kinh
toàn thể, valproate (Dépakine),
lamotrigine (Lamictal) là được sử dụng
nhiều nhất nhưng không phải là không
có những tác dụng phụ, do đó cần theo
dõi đều đặn. Đối với những cơn động
kinh cục bộ, thuốc thường được cho là
carbamazépine (Tégrétol), vẫn có thế
cho những tác dụng phụ ; lévétiracétam
(Keppra) là một lựa chọn khác.
Hỏi : Với những phương thức điều trị
thuốc bằng đường miệng, những kết quả
thu được là những kết quả nào ?
G.S M.B : Chúng cho phép kiểm soát các
cơn nơi 60% các bệnh nhân.
Hỏi : Như vậy đối với 40% những bệnh
nhân còn lại, cần những điều trị hiệu
quả hơn. Điều trị mới được hiệu chính
gần đây đối với những bệnh nhân đề
kháng này là gi ?
G.S M.B : Trước hết, vài bệnh nhân
được gọi là đề kháng dược liệu
(pharmacorésistant) có thể là những
ứng viên của một can thiệp ngoại khoa,
nhằm lấy đi vùng não bộ gây nên các
cơn động kinh. Về mặt thuốc men, chúng
ta có những thuốc mới chống động kinh,
được cho bằng đường miệng. Trong số
những thuốc mới nhất, zonisamide và
lacosamide đã được trắc nghiệm trong
nhiều công trình nghiên cứu quốc tế,
trong đó chúng đã chứng tỏ một hiệu
quả thật sự trong việc làm giảm tần số
xảy ra các cơn. Những thuốc này có ưu
điểm là có hoạt tính nơi những bệnh
nhân đề kháng nhất.
Hỏi : Người ta có nhận thấy những tác
dụng phụ không ?
G.S M.B : Người ta đã ghi nhận những
cảm giác chóng mặt, chứng ngủ gà, tình
trạng dễ mệt mỏi và vài rối loạn tính
khí.
Hỏi : Khi nào các bệnh nhân động kinh
mới có thể hưởng liệu phát rất mới này
?
G.S M.B : Zonisamide đã được chấp
thuận bởi các giới hữu trách Châu Âu
và đã được thương mãi hóa ở Pháp từ
nhiều tháng nay. Lacosamide vừa mới
được sự chấp thuận của châu Âu và
chẳng bao lâu sẽ có để sử dụng ở Pháp.
Những điều trị các bệnh nhân đề kháng
bằng những thuốc mới này là một bước
tiến quan trọng.
Hỏi : Có chống chỉ định đối với những
thuốc mới này không ?
G.S M.B : Mọi dự định thai nghén phải
được chuẩn bị trước một cách cẩn thận
và vài loại thuốc cần phải tránh. FDA,
cơ quan y tế tối cao của Hoa Kỳ, vừa
gợi ý rằng tất cả các thuốc chống động
kinh mới có thể làm dễ các ý nghĩ tự
tử (idées suicidaires). Do đó cần áp
dụng mọi biện pháp thận trọng nơi
những bệnh nhân trầm cảm có nguy cơ bị
động kinh hơn.
Hỏi : Những thuốc mới này đã được
thương mãi hóa trong các nước khác
chưa ?
G.S M.B : zonisamide khởi đầu đã được
phát triển ở Nhật Bản trong những năm
90, sau đó được đưa vào Hoa Kỳ năm
2000.Vậy chúng ta hưởng được một kinh
nghiệm rộng rãi.Thời gian nhìn lại
ngắn hơn đối với lacosamide.
Sau cùng, phải nhấn mạnh những tiến bộ
mới đây đối với vài dạng động kinh tàn
phá của trẻ em, với sự hiệu chính
những thuốc rất trọng điểm, gọi là
orphelins. Những tiến bộ này thể hiện
đúng tất cả những cố gắng hiện nay của
nghiên cứu chống lại bệnh động kinh
trong tất cả các dạng thức.(PARIS
MATCH 25/9-1/10/2008)
======
VITAMINE C
PHÁ HỎNG HIỆU QUẢ CỦA HÓA HỌC TRỊ LIỆU
PHÁP
Một công trình nghiên cứu tiền lâm
sàng mở rộng đã cho thấy đến mức độ
nào vitamine C cho bổ sung có thể có
một tác dụng âm tính lên hiệu quả của
các thuốc chống ung thư như thế nào.
Việc dùng các chất bổ sung vitamine C
như là chất phụ trợ trong liệu pháp
chống ung thư là đối tượng gây tranh
cãi đã từ một ít lâu nay. Một vài công
trình nghiên cứu đã đi đến kết luận
rằng những bệnh nhân bị một ung thư có
thể hưởng lợi nhờ tác dụng kháng oxy
hóa của vitamine C. Trái lại những
công trình nghiên cứu khác lại quả
quyết điều ngược lại : một vài tác
nhân hóa học trị liệu phóng thích các
gốc oxy (radicaux d’oxygène) để phá
hủy các tế bào ung thư và vitamine C
(với tác dụng kháng oxy) loại bỏ các
gốc này trước khi chúng có thể có một
tác dụng lên các tế bào ung thư.
Chính trong bối cảnh này mà Mark
Heaney và các đồng nghiệp (American
Memorial SlaonKettering Cancer Center)
đã phân tích tác dụng của nhiều tác
nhân hóa học trị liệu (vài chất sản
sinh những gốc tự do (radicaux
libres), những chất khác thì không)
lên các tế bào ung thư và những mô
hình động vật. Rất đỗi ngạc nhiên, các
nhà nghiên cứu đã chứng thực rằng tất
cả các tác nhân hóa học trị liệu tác
dụng kém hơn khi các canh cấy những tế
bào và các động vật thí nghiệm đã được
xử lý trước đó bởi vitamine C. Hiệu
quả của các thuốc đã giảm 30 đến 70 %
trong vài trường hợp.
Một nghiên cứu bổ sung đã chứng tỏ
rằng tác dụng của vitamine C phải được
xét đến trong một bối cảnh rộng hơn là
chỉ gán cho nó tác dụng loại bỏ trực
tiếp các gốc tự do được sinh ra bởi
các tác nhân hóa học trị liệu.Vitamine
C dường như làm gia tăng tính sống
được của các thể hạt (mithochondries)
trong những tế bào ung thư, điều này
cho phép chúng ít bị hủy hoại hơn, và
như vậy tạo một cơ hội sinh tồn tốt
hơn cho tế bào ung thư.
Tuy nhiên, Mark Heaney nêu nhận xét
rằng tác dụng âm tính của vitamine C
chỉ có thể được chứng tỏ trong một
tình huống tiền lâm sàng, nghĩa là
trong những canh cấy tế bào và những
mô hình động vật. Dĩ nhiên chúng ta
không có chứng cớ khẳng định rằng cùng
cơ chế tác dụng này áp dụng nơi những
bệnh nhân ung thư đang được điều trị.
Tuy vậy các nhà nghiên cứu khuyến nghị
rằng trong khi điều trị ung thư, bệnh
nhân nên tránh những liều lượng cao
vitamine C. Trái lại một chế độ ăn
uống đa dạng, giàu rau xanh và trái
cây tươi, được khuyên thực hiện.( LE
JOURNAL DU MEDECIN 3/10/2008)
====
THỰC VẬT ĐỂ
CHỐNG LẠI BỆNH CÚM
Thức ăn của chúng ta là một dược điển
mà các nhà khoa học không ngừng nghiên
cứu khảo sát.
Càng ngày càng có nhiều luận cứ gợi ý
rằng phương cách mà một cơ thể có thể
tự bảo vệ chống lại bệnh cúm, căn bệnh
mà ta mắc phải do virus, có thể được
chi phối bởi các yếu tố dinh dưỡng.
Yếu tố dinh dưỡng xưa nhất chắc chắn
là vitamine C. Mặc dầu sinh tố C can
dự trong chức năng miễn dịch, nhưng
hiệu quả của nó để dự phòng chống các
bệnh virus như cảm mạo hay cúm đã
không được chứng tỏ như người ta
tưởng.
Người ta biết rõ rằng có nhiều tình
trạng thiếu dinh dưỡng có thể làm suy
yếu các khả năng phòng ngự của cơ thể
đứng trước virus. Biết những gì có thể
làm gia tăng những khả năng phòng ngự
thiên nhiên này là quan trọng về mặt y
tế. Đó là một hướng được khảo sát bởi
các probiotique, các thức ăn hay những
chất bổ sung giàu vi sinh vật được xem
là có lợi, hay một vài chất chống oxy
hóa (antioxydant) được biết rõ như
kẽm. Nhưng có những hợp chất khác, kín
đáo hơn bởi vì chúng không được xem là
thiết yếu, nhưng lại có thể mang lại
một hỗ trợ hữu ích cho các khả năng
phòng ngự của cơ thể. Đó là trường hợp
của quercétine, một chất chống oxy
hóa, đặc biệt được tìm thấy trong hành
(nhất là hành đỏ), trong táo (vỏ táo),
myrtille, cải hoa muộn (brocoli), nho,
trà và ruợu
Những thí nghiệm được tiến hành trên
các canh cấy tế bào đã chứng tỏ rằng
quercétine có một khả năng chống
virus. Ngoài ra, sự mệt mỏi được xem
như là một tình trạng làm cho cơ thể
dễ bị nhiễm trùng hơn. Trong một công
trình nghiên cứu mới được công bố
trong American Physiological Society,
các nhà nghiên cứu của Đại Học
Caroline du Sud và của Clemson
University đã đánh giá một cách chính
xác những tác dụng của quercétine trên
chuột, chịu (hoặc không) một sự mệt
mỏi lớn. Như vậy các nhà nghiên cứu đã
thành lập 2 nhóm động vật, một nhóm
trong đó các chú chuột chịu những hoạt
động vật lý mạnh mẽ để gây nên một
tình trạng mệt mỏi. Trong mỗi nhóm,
một nửa các động vật nhận quercétine
được đưa vào thức ăn . Sau đó tất cả
được cho tiếp xúc với một virus cúm
thông thường (H1N1).
Nghiên cứu xác nhận rằng các động vật
bị mệt mỏi mắc bệnh dễ dàng hơn và
nhanh chóng hơn. Trái lại, những chú
chuột bị mệt sau khi đã nhận
quercétine có một tỷ lệ mắc bệnh có
thể so sánh với những động vật không
bị mệt mỏi. Và sau hết, trong số những
động vật “ nhàn rỗi không hoạt động ”,
nhóm quercétine đề kháng tốt hơn nhiều
lúc tiếp xúc với virus so với nhóm
kiểm chứng.
Mặc dầu những dữ kiện này chỉ liên
quan đến chuột, nhưng chúng mở ra
những triễn vọng mới nhằm làm giảm
tính nhạy cảm đối với vài loại nhiễm
trùng. ( LE SOIR 1/10/2008)
=====
TRÁI CÂY, RAU
XANH VÀ UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG
Rau xanh, trái cây và ngũ cốc toàn thể
có bảo vệ chống lại ung thư đại trực
tràng hay không ? Một nhóm nghiên cứu
Hoa Kỳ, Abraham Nomura và các cộng sự
viên đã thực hiện một công trình
nghiên cứu lớn. Giữa năm 1993 và 1996,
85.903 đàn ông và 105.108 phụ nữ đã
điền một bảng câu hỏi về chế độ ăn
uống trong khung cảnh của Multiethnic
Cohort Study. Một chẩn đoán ung thư
đại trực tràng đã được thực hiện nơi
1138 đàn ông và 972 phụ nữ sau một
theo dõi trung bình 7,3 năm.
Những kết quả, được công bố trong
American Journal of Clinical
Nutrition, cho thấy rằng sự tiêu thụ
rau xanh và trái cây được liên kết
nghịch với nguy cơ ung thư đại trực
tràng nơi đàn ông nhưng không nơi phụ
nữ. Sự liên kết này dường như rõ rệt
đối với ung thư đại tràng hơn là đối
với ung thư trực tràng.( LE JOURNAL DU
MEDECIN 3/10/2008)
====
TẠI SAO CHÚNG
TA BỊ RỤNG TÓC ?
Cái vốn tóc của chúng ta có được từ
lúc sinh ra đời. Chúng ta có 100.000
đến 150.000 sợi tóc rãi trên sọ của
chúng ta. Mỗi nang lông (follicule
pileux) có thể sản xuất trung bình 20
đến 25 sợi tóc trong suốt cuộc đời,
với nhịp độ 0,7 đến 2 cm mỗi tháng.
Nơi người đàn ông, một sợi tóc sống từ
2 đến 4 năm và nơi phụ nữ, từ 4 đến 7
năm. Người ta ước tính rằng, trong
trạng thái bình thường, 10% đến 15%
các sợi tóc của chúng ta ở trong tình
trạng thường trực sẵn sàng bị rụng.
Các sợi tóc mọc cho đến khi một sợi
tóc mới “ trục xuất ” chúng để giành
lấy chỗ.
Người ta chứng thực rằng chu kỳ sống
của các sợi tóc ngắn lại khi tuổi càng
cao, nhất là ở đàn ông, ở vùng thái
dương và đỉnh đầu, dưới ảnh hưởng của
những yếu tố di truyền, trong đó có
một yếu tố kiểm soát các hormones nam.
Dần dần hoạt động của các nang lông
chậm lại rồi cuối cùng dừng hẳn. Nơi
phụ nữ, sự rụng tóc được thực hiện một
cách ít khu trú, mặc dầu vùng trên sọ
bị ảnh hưởng hơn phần còn lại của da
đầu. Dĩ nhiên có những hói đầu nghiêm
trọng hơn, hoặc bẩm sinh, hoặc do
những stress quan trọng, do thiếu dinh
dưỡng hoặc do điều trị nội khoa. ( LE
FIGARO 13/10/2008)
====
MỐI LIÊN HỆ
GIỮA UNG THƯ PHỔI VÀ SỰ Ô NHIỄM
Ung thư phổi, mỗi năm gây bệnh cho hơn
23.000 người đàn ông và khoảng 5.000
phụ nữ ở Pháp, được liên kết một cách
rõ ràng với thuốc lá. Gần 85% những
người bị loại ung thư này đang hút hay
đã hút. Nhưng không phải tất cả. Ngoài
thuốc lá và sự tiếp xúc với amiante,
phải chăng còn có những yếu tố khác
trong môi trường làm dễ sự phát sinh
ung thư này ? Sự ô nhiễm không khí
(nguồn gốc xe hơi và công nghiệp) là
một yếu tố, mặc dầu thứ yếu so với
thuốc lá, nhưng có thể làm dễ phát
sinh loại ung thư này. Những nghiên
cứu về vấn đề này là căn bản trên bình
diện chính trị, bởi vì chúng biện minh
một phần cho công cuộc đấu tranh chống
lại sự ô nhiễm gây nên bởi các ô tô.
Tuy vậy những kết luận rút ra vẫn còn
được bàn cãi, vì lẽ những kết quả đôi
khi mâu thuẫn và khó phân tích.
Nhiều yếu tố đã được xếp loại như là
gây ung thư đối với người. Năm 1980,
lần đầu tiên, nhiễm độc thuốc lá thụ
động (tabagisme passif) (nghĩa là thở
khói thuốc của những người khác) đã
được xem như là một yếu tố làm dễ ung
thư phổi. Mặc dầu một sự tiếp xúc thụ
động chỉ làm gia tăng 20% đến 30% nguy
cơ bị ung thư phổi, nhung số người bị
liên hệ đã góp phần làm cho cuộc đấu
tranh chống thuốc lá thụ động thành
một ưu tiên y tế cộng đồng trong hầu
hết các nước châu Âu.
Được bàn cãi hơn là tác dụng của sự ô
nhiễm không khí lên nguy cơ ung thư
phổi. Vấn đề là quan trọng bởi vì hàng
chục triệu người đang bị ô nhiễm. Sự ô
nhiễm này là do những chất khí, như
S02, NO2, 03, cũng như những phần tử
khác nhau được phát ra, một phần lớn,
bởi các động cơ Diesel.
NHỮNG NGHIÊN CỨU PHÙ HỢP NHAU.
Những điều tra đầu tiên về vấn đề này
đã được công bố vào đầu những năm 1990
ở Hoa Kỳ.Trong công trình nghiên cứu
được gọi là “ sáu thành phố ”, các
thầy thuốc Hoa kỳ đã phát hiện một sự
gia tăng tỷ lệ tử vong, mặc dầu thấp,
bởi ung thư phối và các bệnh tim mạch
trong những đô thị bị ô nhiễm nhất so
với những đô thị ít bị ô nhiễm nhất.
Một điều tra khác, lần này trên 154
thành phố, cũng ở Hoa Kỳ, phát hiện
một mối tương quan nhẹ giữa mức độ ô
nhiễm không khí và tỷ lệ tử vong bởi
ung thư phổi.
Năm 2004, Cơ quan an toàn y tế môi
trường của Pháp đã thực hiện một
nghiên cứu, cho phép ước tính tỷ lệ tử
vong bởi ung thư phổi từ 6 đến 11%,
được quy cho do tiếp xúc với các hạt
nhỏ (particules fines) trong 76 thành
phố của Pháp. Mới đây, công cuộc điều
tra châu Âu “ Ô nhiễm không khí và sức
khỏe ” khẳng định rằng từ 1296 đến
1901 trường hợp tử vong bởi ung thư
phổi có thể tránh được mỗi năm trong
23 thành phố châu Âu nếu những mức ô
nhiễm trung bình được thu giảm ¼. Nếu
những dữ kiện về ô nhiễm không khí và
ung thư phổi còn cần được nghiên cứu
thêm, thì ngược lại từ lâu chúng ta đã
biết rằng amiante đóng một vai trò
không chối cãi được trong sự phát sinh
vài ung thư phế quản, ngoài
mésothéliome ra. Sự tiếp xúc với các
vi sợi (microfibre) này trong các
nghành công nghiệp khác nhau, như xây
dựng, đã là nguyên nhân của hơn 2000
ung thư phổi ở Pháp năm 1999. Những sự
tiếp xúc nghề nghiệp khác, với khí
than đá (gaz de houille), hoặc lúc sản
xuất than cốc (coke) hay nhôm, cũng đã
được xếp loại là sinh ung thư. Cũng
vậy, sự tiếp xúc kéo dài với một khí
phóng xạ tự nhiên (radon) được liên
kết với một nguy cơ gia tăng bị ung
thư phổi.
Trong 20 năm qua, khoảng 40 công trình
nghiên cứu dịch tễ học nhằm vào những
hậu quả của khói diesel trong vài nghề
nghiệp (tài xế, thợ cơ khí...). Mặc
dầu các dữ kiện khó giải thích, nhưng
các chuyên gia quả quyết rằng có lẽ có
một sự liên kết ở mức độ thấp giữa
diesel và ung thư phổi . ( LE FIGARO
3/10/2008)
=====
TRÁI BOM NỔ CHẬM CỦA PHÌNH ĐỘNG MẠCH
NÃO KHÔNG BỊ VỠ (ANEVRISME CEREBRAL
NON ROMPU)
Khoảng 1-5% dân chúng sống với một
phình động mạch não không bị vỡ
(anévrisme non rompu), mà không hay
biết gì cả. Đó là một bọc nhỏ được tạo
thành trong một động mạch tưới máu não
bộ và phát triển dần dần,“ âm thầm”
không gây triệu chứng. Với thời gian
trôi qua, áp lực máu có thể đe dọa
thành của bọc máu này vì tổ chức mô
không được chuẩn bị để đề kháng với áp
lực máu.
Nơi người, khi phình
động mạch bị vỡ, các hậu quả có thể là
tai họa. Máu tràn ngập não bộ, không
còn được tưới một cách bình thường
nữa, điều này nhanh chóng dẫn đến mất
tri giác (perte de conscience). Một
phẫu thuật cấp cứu là giải pháp duy
nhất. Hiện nay, cứ hai bệnh nhân thì
có một sẽ chết một tháng sau khi phình
động mạch não bị vỡ. Và 2/3 những
người sống sót sẽ bị những di chứng
quan trọng tùy theo những vùng não bộ
bị ảnh hưởng : liệt, rối loạn lời nói,
rối loạn thị giác, bước đi hay trí
nhớ, đôi khi rất tàn phế. Vấn đề là
các triệu chứng của phình động mạch
không bị vỡ hiếm khi xảy ra : vỡ phình
động mạch não được cảm nhận bằng một
cơn thiên đầu thống bùng nổ (une
migraine explosive), cấp tính đến độ
nó được cảm nhận như là cơn đau đầu
mạnh nhất chưa bao giờ từng có.
MỘT ĐIỀU TRA PHÁT HIỆN GIA ĐÌNH.
Nhưng những dấu hiệu báo trước là hiếm
: “ Đôi khi, bệnh nhân chứng nhận một
đau đầu lính canh (céphalée
sentinelle), một hay hai tuần trước
đó. Phình động mạch não bị nứt, máu
thoát ra nhưng một cục máu đông được
tạo thành sau một giây đồng hồ. Vấn đề
là thường thường điều đó không gây sự
chú ý ” , giáo sư Christian
Raftopoulos, trưởng khoa ngoại thần
kinh của BV đại học Saint-Luc đã giải
thích như vậy. Một profil di truyền và
độc chất học là hiệu quả nhất. Nếu mẹ,
cha hoặc anh chị em của một bệnh nhân
đã phát triển một phình động mạch não,
thì nguy cơ đối với bệnh nhân là cao
hơn, do khả năng dị dạng
(malforamation) của mô động mạch. Việc
tiêu thụ rượu và thuốc lá cũng tạo nên
một nguy cơ gia tăng. Tuy nhiên, trong
phần lớn các trường hợp, chính vào lúc
một thăm khám khác mà phình động mạch
não được khám phá ra. Trong trường hợp
này, có 3 giải pháp. Hoặc chỉ cần theo
dõi, hoặc đặt một coil (một lò xo nhỏ
bằng platine), làm nghẽn phình động
mạch não và loại nó ra khỏi tuần hoàn
động mạch. Một can thiệp được thực
hiện qua một catheter được đưa vào
động mạch. Giải pháp thứ ba là đặt một
clip chirurgical sau khi khoan sọ
(trépanation). Một giải pháp gây ấn
tượng, vì lẽ thầy thuốc ngoại thần
kinh phải làm việc trong một cửa sổ
vài mm. Một giải pháp đến nay phần lớn
dành cho những trường hợp phình động
mạch não mà những thầy thuốc nội huyết
quản gạt bỏ. ( LE SOIR 12/10/2008)
====
VIỆC SỬ DỤNG
ĐIỆN THOẠI CẦM TAY LÀ CÓ HẠI VỀ LÂU VỀ
DÀI
Được thực hiện trong 13 nước, công
trình nghiên cứu Interphone đưa ra
những kết quả mới gây lo ngại. Cần
phải được xác nhận.
“ Việc sử dụng điện thoại cầm tay có
thể có hại cho sức khỏe ” ... Lời nói
ngắn gọn này dường như hôm nay lại
được làm vững vàng thêm nữa do sự công
bố một phần những kết quả mới của công
trình nghiên cứu Interphone. Được chỉ
đạo bởi Trung tâm quốc tế nghiên cứu
về ung thư (Circ), công trình nghiên
cứu, được tiến hành trong 13 nước công
nghiệp, xác lập mối liên hệ giữa vài
loại khối u và việc sử dụng đều đặn
các điện thoại cầm tay (téléphones
portables). Những kết quả tổng hợp
này, cần được xác nhận, là có tầm quan
trọng. Sử dụng một quy tắc chung để
nghiên cứu 4 loại ung thư lớn,
Interphone là công trình nghiên cứu
dịch tễ học lớn nhất từng được được
thực hiện về đề tài này.
Khoảng 2.600 trường hợp u thần kinh
đệm (gliome), 2.300 u màng não
(méningiome), 1.100 u bao Schwann của
dây thần kinh thính giác (neurinome de
l’acoustique) và 400 khối u của tuyến
mang tai (glande parotide) đã được xét
đến.Về u thần kinh đệm (gliome), ung
thư có yếu tố nguy cơ gây tử vong cao
nhất, công trình nghiên cứu ghi nhận
rằng “ Sự góp chung các dữ kiện của
các nước Bắc Âu và một phần của Vương
quốc Anh, đã cho phép rút ra một nguy
cơ gia tăng đáng kể bị u thần kinh
đệm, tương quan với việc sử dụng các
điện thoại cầm tay trong một thời gian
10 năm hoặc hơn, về phía đầu nơi khối
u phát triển” Theo bảng tổng hợp các
kết quả, xác suất phát triển một ung
thư như thế đến 60% cao hơn trong các
nước Bắc Âu , gần 100% ở Pháp và 120%
ở Đức đối với những người sử dụng trên
10 năm.
Về u màng não (méningiome) và u bao
Schwann của dây thần kinh thính giác
(neurinome de l’acoustique), những kết
quả tương phản hơn : “ Những phân tích
toàn bộ các dữ kiện của các nước Bắc
Âu và của Vương quốc Anh đã không phát
hiện một nguy cơ gia tăng mắc phải u
màng não (méningiome), liên kết với
một thời gian sử dụng dài lâu hay mạnh
mẽ, công trình nói tiếp, nhưng có một
nguy cơ gia tăng đáng kể bị u bao
Schwann của dây thần kinh thính giác
(neurinome de l’acoustique), liên kết
với những thời gian sử dụng 10 năm
hoặc hơn, về phía khối u.”
Đối với những khối u của tuyến mang
tai (tumeurs de la glande parotide),
không có một gia tăng nguy cơ nào đã
được quan sát. Ngược lại, “ trong công
trình nghiên cứu của Israel, trong đó
các người sử dụng có khuynh hướng báo
cáo một sự sử dụng điện thoại cầm tay
mạnh mẽ hơn, các kết quả khiến nghĩ
rằng có một mối tương quan giữa sự sử
dụng này và nguy cơ phát triển khối u
tuyến mang tai...”. Những điều tra bổ
sung về mối liên kết này, với những
thời kỳ tiềm tàng dài hơn và một số
lượng lớn những người sử dụng mạnh, là
cần thiết để xác nhận những kết quả
này.
NHỮNG KẾT QUẢ DỨT KHOÁT VÀO NĂM 2009.
“ Người sử dụng đều đặn ” ? Còn phải
nhất trí về một định nghĩa đúng đắn.
Trong lúc chờ đợi sự công bố chính
thức, có lẽ vào năm 2009, của công
trình nghiên cứu chủ chốt này, cần
nhận những kết quả một cách dè dặt.
Chính trên cơ sở của nghiên cứu này mà
các chính phủ các nước châu Âu sẽ phải
điều chỉnh các mức chuẩn tiếp xúc cho
phép với các sóng điện từ ( LE SOIR
15/10/2008)
Bác sĩ Nguyễn
Văn
Thịnh |
|