|
DỊCH
SIDA TIẾN TRIỂN CHẬM LẠI
Tiến triển của dịch SIDA hơi chậm lại
nhưng bệnh vẫn tiếp tục giết hơn 5.700
người mỗi ngày, Onusida (Chương trình
chung của Liên Hiệp Quốc về VIH/sida)
đã loan báo hôm thứ ba như vậy. Khoảng
33,2 triệu người từ nay sống với
virus. So sánh với các con số của năm
2001 cho thấy sự ổn định của dịch :
cách nay 6 tháng, thế giới có 3,2
triệu trường hợp bị lây nhiễm mới và
29 triệu người có huyết thanh dương
tính ( séropositif ) cũng như 1,7
triệu tử vong.
“ Có lẽ chúng ta bắt đầu cảm nhận một
đáp ứng về những gì đã được đầu tư (
trong ngăn ngừa bệnh sida). Những
trường hợp lây nhiễm mới đang lùi lại
và tỷ lệ nhiễm VIH đang ổn định ”.
Peter Piot, giám đốc chấp hành của
Onusida đã vui sướng nhận xét như vậy.
( LE SOIR 21/11/2007)
LAU CHÙI
CÓ MỤC TIÊU ĐỀ CHỐNG LẠI MRSA
Theo một công trình nghiên cứu của Anh,
để chống lại MRSA (methicillin-
resistant staphylococcus aureus) phải
cải thiện việc lau chùi bệnh viện và
đặc biệt là các bề mặt mà các bàn tay
của bệnh nhân sờ mó vào.
Vì lẽ số bệnh nhân mang MRSA gia tăng
nên vấn đề lau chùi (nettoyage) càng
ngày càng trở thành mấu chốt ở bệnh
viện. Nói chung, sự sạch sẽ thường
được đánh giá bằng mắt, điều này không
phải luôn luôn tương ứng với nguy cơ
vi sinh học thật sự. BS Stéphanie
Dancer (Glasgow, Anh) đánh giá rằng
nên tính đến tất các các giai đoạn khả
dĩ của sự lan truyền của tụ cầu khuẩn
vàng ( staphylocoque doré ) giữa người
( bệnh nhân và nhân viên điều dưỡng )
và môi trường chung quanh.
Chúng ta đã biết rằng việc lau chùi là
một chìa khóa thiết yếu nhằm kiểm soát
các nhiễm trùng bởi Clostridium
difficile, cầu khuẩn ruột đề kháng với
vancomycine, norovirus và
Acinetobacter spp. Chính vì thế
Stephanie Dancer đã thực hiện một công
trình nghiên cứu để giải thích tại sao
việc lau chùi có thể có ảnh hưởng lên
sự kiểm soát MRSA hơn là điều mà chúng
ta nghĩ cho đến ngày nay.
Ví dụ bà nghĩ rằng việc thêm các dịch
vụ lau chùi là dễ dàng hơn là việc cải
thiện sự tuân thủ liên quan đến việc
rửa tay. Ở bệnh viện, đối với bà, việc
lau chùi các bề mặt do các bàn tay
đụng vào và dễ bị ô nhiễm bởi các MRSA,
hơn là nhằm vào các bụi bặm nhìn thấy
được, có vẻ là một chiến lược có thể
thực hiện được.Thế mà các quả đấm cửa
(poignées de porte), các thanh giường
( barre de lit ), các bơm truyền dịch
( pompes à perfusion ), những cái ngắt
điện (interrupteurs).. lại không được
sự chú ý đúng mức và ngay cả bị lãng
quên bởi những người lau chùi.
“ Chắc chắn rằng việc rửa tay là giải
pháp hiệu quả nhất để kiểm soát sự lan
truyền của MRSA...nhưng, dầu cho mọi
người đều lau chùi tay một cách đúng
đắn đi nữa, những hiệu quả của một
động tác rửa tay mẫu mực vẫn như không
nếu môi trường chung quanh bị ô nhiễm
nặng bởi MRSA ”, bà Stéphanie Dancer
đã kết luận như vậy( LE JOURNAL DU
MEDECIN 20/11/2007)
TỶ LỆ TỬ
VONG BÀ MẸ VÀ TRẺ EM ĐẠT NHỮNG TIẾN BỘ
CHẬM
Tỷ lệ tử vong của bà mẹ (mortalité
maternelle) không lùi lại khá nhanh để
đạt được những mục tiêu cho sự phát
triển mà Liên Hiệp Quốc đã quy định từ
nay cho đến 2015. Bù lại, ngày nay,
càng ngày càng có nhiều trẻ em sống
sót.
Tỷ lệ tử vong của bà mẹ diễn đạt số tử
vong của các phụ nữ trên 100.000
trường hợp sinh con sống (naissances
vivantes) suốt trong thời kỳ thai
nghén cho đến ngày thứ 42 sau khi
sinh.Tỷ lệ này giảm quá chậm nên khó
mà đạt được mục tiêu thứ năm của Thiên
kỷ cho phát triển (OMD : objectif du
Millénaire pour le développement).Theo
Unicef (Quỹ Nhi Đồng Liên Hiệp Quốc),
OMS (Tổ chức y tế thế giới), FNUAP (Quỷ
Liên Hiệp Quốc phát triển dân số) và
Ngân Hàng thế giới, thì từ nay đến
2015 sẽ khó có thể giảm ¾ số phụ nữ
còn tử vong lúc sinh. Để đạt được điều
này, tỷ lệ tử vong của bà mẹ phải giảm
theo nhịp độ 5,5% mỗi năm từ năm 1990
đến năm 2015, điều này dường như không
còn có thể đuổi kịp được nữa.Thật vậy
những gì đã đạt được là tỷ lệ tử vong
của bà mẹ giảm 0,4% mỗi năm, điều này
tương ứng với 536.000 tử vong của bà
mẹ năm 2005 so với 576.000 năm 1990.Và
lại thêm nữa, tỷ lệ này chỉ là 0,1% ở
châu Phi Sahara.
TÁC ĐỘNG CỦA SỰ NGHÈO KHÓ
Hầu như toàn bộ các tử vong xảy ra
trong những nước không phát triển, là
nơi tỷ lệ tử vong của bà mẹ là 450 phụ
nữ trên 100.000 trẻ sinh ra đời.Tỷ lệ
này lần lượt là 9 và 51 trên 100.000,
trong những nước phát triển và trong
các nước Đông Âu. Châu Phi đặc biệt bị
ảnh hưởng (270.000 tử vong) và Nam Á
là 188.000 tử vong.Toàn bộ hai khu vuc
này của thế giới chiếm tổng cộng 86%
những tử vong của các bà mẹ. Giảm
những tử vong vô ích của 10 triệu phụ
nữ và thiếu nữ, chết từ thế hệ này qua
thế hệ khác trong thời kỳ thai nghén
và trong khi sinh, và của 4 triệu trẻ
sơ sinh, là mục tiêu ưu tiên. Những tử
vong bi thảm này là một trong những
nguyên nhân của sự nghèo nàn trên thế
giới, trong khi chúng có thể được ngăn
cản nhờ những đầu tư với phí tổn thấp.
“ Mỗi giây phút trôi qua sẽ có một phụ
nữ chết một cách vô ích trong khi thai
nghén và trong khi sinh ”, Mary
Robinson, ngày trước là lãnh đạo của
Cọng Hòa Ái Nhĩ Lan đã nói như vậy. Cứ
mỗi thế hệ có đến 10 triệu phụ nữ bị
mất đi. Có những cách biệt lớn lao
giữa các nước giàu và các nước nghèo.
Cứ 6 phụ nữ sẽ có một sẽ chết do những
hậu quả của thai nghén ở Afghanistan,
một trên 2.500 ở Hoa Kỳ và một trên
29.800 ở Thụy Điển, theo những thống
kê của Liên Hợp Quốc năm 2000.
Dành ưu tiên cho việc cải thiện những
săn sóc dành cho các phụ nữ và đảm bảo
việc tiếp cận phổ quát các dịch vụ y
tế sinh đẻ phải là một uu tiên. Nhưng
các phụ nữ còn phải được tiếp cận với
kế hoạch hóa gia đình, ngăn ngừa thai
nghén ngoài ý muốn và nhận những săn
sóc có chất lượng cao trong thời kỳ
thai nghén và trong khi sinh, đặc biệt
là những săn sóc sản khoa cấp cứu.
Về số tử vong hàng năm của trẻ dưới 5
năm, lần đầu tiên con số đã hạ xuống
dưới mức 10 triệu, Unicef đã chỉ rõ
như thế.Vào năm 1990 con số này là
13.000. Trong số 9,7 triệu trẻ chết
mỗi năm, 3,1 triệu tử vong xảy ra ở
các nước Nam Á và 4,8 triệu ở châu Phi
dưới Sahara.Trong các nước phát triển
chỉ có 6 tử vong trên 1000 trẻ được
sinh ra đời.
Giảm tỷ lệ tử vong trẻ em cũng là một
trong những mục tiêu của Thiên kỷ cho
phát triển (Objectifs du Millénaire
pour le développement). Mục tiêu đề ra
từ nay đến 2015 nhằm mức trung bình 27
tử vong trên 1000 trẻ còn sống khi
sinh , so sánh với 55 tử vong trên
1000 năm 1990.Từ nay đến năm 2015, có
thể tránh được tử vong cho 5,4 triệu
mạng sống. ( LE JOURNAL DU MEDECIN
9/11/2007)
MỐI LIÊN
HỆ CHẶT CHẼ GIỮA VIÊM MŨI DỊ ỨNG VÀ
SUYỄN
Thật vậy các nghiên cứu mới đây chứng
tỏ rằng viêm mũi không chỉ là một yếu
tố nguy cơ đối với suyễn mà còn có thể
là một yếu tố gây kịch phát (un
facteur d’exacerbation).
Vào năm 2015 cứ hai người trưởng thành
thì có một người bị ít nhất một dạng
dị ứng như viêm mũi dị ứng (rhinite
allergique), suyễn, chàm (eczéma) và
các dị ứng thức ăn.Viêm mũi và suyễn
thuộc về những bệnh kinh niên thường
gặp nhất trên thế giới. Các trẻ em đặc
biệt dễ bị tổn thương bởi các bệnh này
bởi vì người ta ước tính tỷ lệ mắc
bệnh viêm mũi dị ứng là khoảng 10 đến
20% nơi các trẻ ở lứa tuổi học đường
và từ 15 đến 30% nơi các thiếu niên. Ở
những người trưởng thành, khoảng 80%
những người bị suyễn có một dạng này
hoặc dạng kia của viêm mũi và 15 đến
30% những người bị viêm mũi trở thành
suyễn sau đó.
Dưới ánh sáng của các nghiên cứu căn
bản mới đây và các thử nghiệm lâm sàng,
viêm mũi và suyễn dường như liên kết
mật thiết với nhau, điều này gợi ý
khái niệm « một đường hô hấp, một bệnh
lý » ( voie respiratoire, une maladie
). « Điều quan trọng là các bác sĩ gia
đình phải nhận biết sự hiện diện của
một bệnh viêm mũi nơi những bệnh nhân
suyễn và, ngược lại thăm khám sự hiện
diện suyễn nơi các bệnh nhân bị viêm
mũi »
Thật vậy chúng ta biết rằng cứ ba bệnh
nhân bị viêm mũi dị ứng thì một bệnh
nhân có thể phát triển thành suyễn
trong 10 năm.Thế mà một điều trị tốt
chứng viêm mũi có thể làm giảm nguy cơ
phát triển và gây kịch phát bệnh suyễn.
Do đó các lời khuyên nhấn mạnh vào sự
cần thiết điều trị chứng viêm mũi và
đánh giá tình trạng suyễn nơi những
bệnh nhân bị viêm mũi kéo dài.
Vì lẽ phần lớn các bệnh nhân bị suyễn
cũng bị viêm mũi, nên cần phải điều
trị phối hợp để điều trị những đường
hô hấp dưới và trên, phổi và mũi ( LE
JOURNAL DU MEDECIN 6/11/2007)
PHẢI LỰA CHỌN ASPIRINE HAY LÁI XE
Lần đến khi bạn đau đầu và bạn phải
uống một loại thuốc chống đau trước
khi nhảy lên xe hơi, bạn hãy suy nghĩ
kỹ, « The Independent on Sunday » báo
trước như vậy. Bởi vì ngay những thuốc
có vẻ vô hại như Ibuprofen dường như
cũng làm gia tăng ít nhất 50% các nguy
cơ tai nạn đường xá .
Uống và lái xe, đó là một kết hợp chết
người, chẳng ai nghi ngờ điều đó. Cấm
lái sau khi đã uống ectasy hay những
thuốc ma túy khác chắc chắn không phải
là một ý tưởng tốt, điều đó chúng ta
cũng biết. Nhưng giờ đây một công
trình điều tra của Na Uy tiết lộ rằng
những thuốc mà phần lớn chúng ta có
một cách hợp pháp và sử dụng nhưng vẫn
lái xe, có những tác dụng âm tính lên
tinh thần cảnh giác (vigilance) lúc
cầm lái.
Các nhà nghiên cứu đã xem xét mối liên
hệ giữa tai nạn đường xá và việc dùng
thuốc của khoảng 3 triệu người. Sau đó
các nhà nghiên cứu đã phân chia các
“cobayes” thành các loại tùy theo loại
thuốc mà họ uống vào, từ pénicilline
đến thuốc an thần, codéine và các
thuốc chống suyễn. Đó chỉ là những
thuốc được kê toa bởi các BS chứ không
phải là những thuốc bất hợp pháp.
Công trình điều tra đã phát hiện rằng
79% những người tham dự vào cuộc điều
tra đã dùng một loại thuốc trước khi
bị tai nạn đường xá. Các thuốc an thần
là những thuốc làm biến đổi nhất tinh
thần cảnh giác lúc cầm lái. Điều này
không làm ngạc nhiên lắm. Điều gây
ngạc nhiên nhất là aspirine và những
chất khác thuộc loại này thường cũng
đóng một vài trò trong các tai nạn
công lộ.( METRO 8/11/2007)
TỐC ĐỘ ĐI BỘ CÓ THỂ TIÊN ĐOÁN TUỔI THỌ
Các nhà nghiên cứu đã theo dõi sức
khỏe của gần 500 lão ông trong gần một
thập niên và đã nhận thấy rằng những
lão ông có tốc độ đi bộ nhanh hơn đã
chết ít hơn trong thời gian tiến hành
công trình nghiên cứu.
Các nhà nghiên cứu nói rằng những điều
được tìm thấy gợi ý rằng tốc độ của
bước đi có thể là một dấu hiệu tiên
đoán tốt về khả năng sống sót lâu dài.
Nghiên cứu này được trình bày tại hội
nghị của Hiệp Hội Lão Khoa Hoa Kỳ (Gerontological
Society of America) .
Trong một nghiên cứu liên quan, được
công bố trong số tháng 11 của The
Journal of the American Geriatrics
Society, các nhà nghiên cứu cũng đã
nhận thấy rằng những người mà tốc độ
đi bộ được cải thiện đã làm giảm nguy
cơ tử vong của họ.
“ Chúng tôi không biết tại sao ? ”,
Stephanie Studenski, thuộc trường Y
của Đại học Pittsburgh, một trong
những tác giả của công trình đã phát
biểu như vậy. “ Phải chăng một số
người tham dự công trình nghiên cứu đã
tập thể dục ? Phải chăng một số trong
những người này có những vấn đề về sức
khỏe , đã được điều trị và đã được cải
thiện ? ”.
Công trình nghiên cứu này được trình
bày tại hội nghị lão khoa , đã báo cáo
rằng 9 năm sau khi tốc độ bước đi của
những lão ông tham dự đã được đo lường
, 77% những người được mô tả là bước
chậm đã chết, 50% những người được xem
là bước trung bình đã chết và 27%
những người được xem là bước nhanh đã
chết. ( INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE
22/11/2007)
THUỐC LÁ NỒNG ĐỘ NICOTINE THẤP CÓ
THẾ HỮU ÍCH
Những người nghiện thuốc lá được cho
hút thuốc lá với nồng độ nicotine được
giảm bớt trong 5 tuần và sau đó cho
phép họ hút trở lại thuốc lá có nồng
độ bình thường, cuối cùng những người
này đã hút thuốc lá ít hơn, theo các
tác giả của một công trình nghiên cứu
nhỏ.
Công trình nghiên cứu gợi ý rằng nếu
chính phủ Hoa Kỳ yêu cầu các công ty
thuốc lá làm giảm nồng độ nicotine
trong các điếu thuốc, thì sẽ có nhiều
người hơn có thể có khả năng bỏ thuốc
và ít người bị nghiện thuốc hơn. Các
công ty thuốc lá đã làm các thuốc lá
được ghi là có nồng độ hắc ín và
nicotine thấp. Nhưng các công ty đã
làm như vậy, các nhà nghiên cứu nói,
không phải bằng cách hạ lượng nicotine
mà bằng cách thiết kế thế nào đó để (trên
lý thuyết ) ít nicotine và hắc ín được
hít vào ít hơn.( INTERNATIONAL HERALD
TRIBUNE 22/11/2007)
CÁC NHÀ
NGHIÊN CỨU ĐÃ THÀNH CÔNG BIẾN ĐỔI CÁC
TẾ BÀO DA THÀNH NHỮNG TẾ BÀO GỐC
Khám phá đầu tiên này của Hoa Kỳ và
Nhật bản có thể đưa đến nhiều áp dụng
trong việc chống lại những thoái hóa
mô (dégénérescences tissulaires).
Những gì trong phòng thí nghiệm có thể
được thực hiện với các tế bào gốc của
chuột cũng có thể chẳng bao lâu nữa,
có thể thực hiện ở loài người. Hôm thứ
ba 20/11, hai nhóm nhà sinh học đã
loan báo trong hai tạp chí khoa học
khác nhau, đã thành công in vitro biến
đổi những tế bào lấy trên một cơ quan
người, thành những tế bào có những đặc
tính của những tế bào gốc phôi thai
(cellules souches embryonnaires).
Cùng lúc, hai nhóm nghiên cứu độc lập
công bố trong tuần này những kết quả
của những công trình rất lý thú. Các
nhà nghiên cứu đã thành công “ làm trẻ
hóa ” các tế bào trưởng thành của da,
để làm chúng giống hệt với các tế bào
gốc phôi thai. Không cần trải qua giai
đoạn tách dòng (clonage) của một phôi
thai, G.S Shinya Yamanata của đại học
Kyoto, đã công bố hôm thứ ba phương
thức của ông trong tạp chí Cell : ông
tái chương trình hóa (reprogrammer)
các nguyên bào sợi ( fibroblast ) của
người trưởng thành ( tế bào da ) bằng
cách tiêm vào chúng các gènes tạo nên
4 yếu tố phiên mã ( facteurs de
transcription ).
Nhóm nghiên cứu thứ hai của Hoa Kỳ của
BS James Thomson công bố hôm nay trong
Science, cùng kết quả của công trình
nghiên cứu Nhật bản nhưng với một
phương thức hơi khác. Ông cũng sử dụng
4 gènes yếu tố phiên mã có thể tái
chương trình hóa những tế bào trưởng
thành người, thành những tế bào đa
năng được gây cảm ứng (cellules
pluripotentes induites) có những đặc
điểm vật lý, di truyền và sinh học của
những tế bào gốc phôi thai . Từ một
triệu các tế bào đã được tái chương
trình hóa, các nhà nghiên cứu đã quan
sát sự xuất hiện ngay từ ngày thứ 12,
trong những hộp cấy, các cột tế bào có
hình thái đặc điểm của những tế bào
gốc phôi thai người.
Tương tự với các tế bào phôi thai,
những tế bào đa năng được gây cảm ứng
này sẽ có ích để nghiên cứu sự phát
triển của phôi thai, và các chức năng
của các tổ chức người, để khám phá và
trắc nghiệm những thuốc mới.
Điều đáng đặc biệt chú ý của công
trình này là sự sản xuất các tế bào
gốc phôi thai mà không cần đến phôi
thai (embryon) hoặc quá trình tách
dòng điều trị (clonage thérapeutique)
đã từng dấy lên nhiều vấn đề về đạo
đức. Phải chăng với nghiên cứu này
nhiên hậu sẽ tiến đến việc loại bỏ
việc tách dòng điều trị (clonage
thérapeutique) ? Ian Wilmut, cha đẻ
của Dolly, con cừu cái đã được tách
dòng (cloné) năm 1997, đã tuyên bố ý
muốn của ông muốn bỏ vĩnh viễn kỹ
thuật tách dòng này, nghĩa là chuyển
nhân (transfert nucléaire) từ một nhân
của một tế bào trưởng thành vào trong
một noãn bào (ovocyte) để tạo thành
một thai nhi ( LE FIGARO 22/11/2007) (
LE MONDE 22/11/2007)
VITAMINE B TRƯỚC KHI THAI NGHÉN
Phải chăng vitamines B là thiết yếu
cho thai nhi ngay cả trước khi thụ
thai ?
Đó là điều vừa được tiết lộ bởi một
công trình nghiên cứu được công bố
tuần này trong Annales de L’Académie
Américaine des Sciences. Các nhà khoa
học của Đại học Nottingham đã thực
hiện công trình nghiên cứu này trên
cừu. Một khi trưởng thành, các cừu con
có cừu mẹ thiếu vitamines B trước khi
thụ thai tỏ ra “ bự “ hơn và có huyết
áp cao hơn huyết áp của các cừu con có
cừu mẹ có chế độ ăn uống bình thường (có
vitamine B). Sự thiếu vitamine B nơi
người mẹ là nguồn gốc của những biến
đổi ở ADN của đứa con ( LE SOIR
20/11/2007)
BS
Nguyễn
Văn
Thịnh |
|