|
CHẾ ĐỘ
ĂN UỐNG CHỐNG SA SÚT TRÍ TUỆ
Càng ngày càng tích lũy nhiều yếu tố
chứng tỏ rằng các rối loạn nhận thức
(troubles cognitifs) và chứng sa sút
trí tuệ có thể được ảnh hưởng một cách
dương tính bởi một chế độ ăn uống
nhiều cá (tức là giàu oméga-3).
Ấn bản vừa qua của tờ American Journal
of Clinical Nutrition viết hai chương
mới dành cho câu chuyện khá dài về ảnh
hưởng của thức ăn lên sức khỏe của não
bộ.Thật vậy bài báo nói về hai công
trình nghiên cứu mới chứng tỏ sự hiện
hữu của các mối liên quan giữa việc
tiêu thụ acide béo oméga 3 trong thức
ăn và việc cải thiện các hiệu năng
nhận thức hoặc sự gìn giữ các hiệu
năng này ở những người già
Nhiều công trình nghiên cứu trước đây
đã nhận thấy rằng các chế độ ăn uống
nhiều cá hoặc nhiều dầu cá đã liên kết
với một tỷ lệ thấp hơn bị chứng sa sút
trí tuệ . Còn hai công trình nghiên
cứu vừa qua có tính chất đổi mới bởi
vì chúng chứng tỏ mối liên hệ giữa
việc tiêu thụ acide béo omega 3 và
chức năng nhận thức nơi những người
không bị chứng sa sút trí tuệ. Công
trình này đặc biệt chú ý đến các giai
đoạn sớm của sự suy đồi khả năng nhận
thức với hy vọng ngăn ngừa sự tiến
triển tiến về các giai đoạn của chứng
sa sút trí tuệ thật sự và của sự tàn
phế và điều này trước khi chúng trở
nên không thể hồi phục được.
Vậy thì có nên suy nghĩ lại về chế độ
ăn uống của não bộ ?, Irwin Rosenberg,
chuyên viên về dinh dưỡng ( Boston,
USA ), trong bài xã luận của mình đã
gợi ý như vậy. « Dẫu sao, ý niệm ngăn
ngừa chứng sa sút trí tuệ liên kết với
tuổi là một vấn đề có lợi ích toàn cầu
».
HIỆU QUẢ PHỤ THUỘC LIỀU LƯỢNG
Hai công trình nghiên cứu mới này nói
với chúng ta điều gì ?
Công trình đầu tiên thực hiện ở Na Uy,
đã nghiên cứu mối liên hệ giữa việc
tiêu thụ các lượng khác nhau của đồ ăn
hải sản (cá và các sản phẩm đánh cá),
và các hiệu năng về nhận thức. 2031
người ( 55% phụ nữ ), tuổi từ 70 đến
74 , xuất thân từ dân ở phần phía tây
của nước Na Uy, đã được tuyển mộ và đã
chịu các trắc nghiệm về khả năng nhận
thức ( tests cognitifs ).Theo các kết
quả, những người tiêu thụ trung bình
mỗi ngày trên 10g cá hoặc những sản
phẩm tương tự, có những điểm số
(scores) cao hơn nhiều và có những
hiệu năng nhận thức ( performances
cognitives ) tốt hơn những người ăn
dưới 10 g mỗi ngày. Điểm khác đáng lưu
ý : việc liên kết này rất tùy thuộc
vào lượng được tiêu thụ. Hiệu quả cực
đại được nhận thấy đối với một sự tiêu
thụ khoảng 75g mỗi ngày.
Việc ăn cá ảnh hưởng lên phần lớn các
chức năng nhận thức và hiệu quả càng
rõ rệt đối với cá không được chế biến
( poisson non préparé ) và cá mỡ (
poisson gras ). Đối với các tác giả,
Eha Nurk và các cộng sự viên, nơi
những người già, một chế độ ăn nhiều
cá và các sản phẩm đánh cá được liên
kết với những hiệu năng nhận thức tốt
hơn và điều này tùy thuộc lượng được
tiêu thụ.
Công trình nghiên cứu thứ hai của Hoà
lan là công trình nghiên cứu thăm dò.
Carla Dullemeijer và các cộng sự viên
đã đánh giá sự liên hệ giữa acide béo
polyinsaturé (AGPI) có chuỗi rất dài
và những hiệu năng về nhận thức trong
5 lãnh vực. Các nồng độ của acide béo
được đo vào lúc bắt đầu công trình
nghiên cứu nơi 807 đàn ông và phụ nữ,
tuổi từ 50 đến 70. Các hiệu năng nhận
thức đối với sự ghi nhớ (mémorisation),
tốc độ cảm giác vận động (vitesse
sensori –motrice ) và hiệu năng xử lý
thông tin và sự lưu loát ngôn từ đã
được đánh giá vào lúc khởi đầu công
trình nghiên cứu và 3 năm sau đó. Các
kết quả cho thấy rằng những nồng độ
cao AGPI cho phép tiên đoán một sự suy
đồi xảy ra ít hơn trong vận tốc cảm
giác vận động.Trái lại, chúng không
cho phép tiên đoán những thay đổi
trong trí nhớ, tốc độ xử lý thông tin
hay sự lưu loát ngôn từ trong khoảng
thời gian này.
“ Chúng ta biết rằng các acide béo
oméga-3 chiếm 40% các acide béo của
màng phospholipide trong não bộ. Chắc
chắn các acide béo này có một tác dụng
lên sự vận hành của các thụ thể màng
tế bào ( récepteurs membrannaires ) và
ngay cả lên sự phát sinh các chất dẫn
truyền thần kinh ( neurotransmetteur )
”
Có lẽ các résonances magnétiques và
các tomographies par émission de
positrons sẽ cho phép biết nhiều hơn
về sự vận hành này và sẽ làm sáng tỏ
các lý thuyết được đưa ra về hoạt tính
của các acide mỡ oméga-3 trong não bộ
và giai thích làm sao các acide này có
thể làm chậm lại sự thoái hóa thần
kinh (neurodégénération).
“ Các công trình nghiên cứu về các mối
liên hệ giữa dinh dưỡng và sự vận hành
của não bộ suốt trong một thời gian
dài diễn ra các tiền chứng (prodromes)
của thoái hóa thần kinh do tuổi tác,
sẽ tạo khả năng cho những can thiệp
sớm nhằm đảm bảo sự duy trì chức năng
não bộ và sự làm chậm lại tiến triển
tiến về chứng sa sút trí tuệ, căn bệnh
gây tốn kém về mặt kinh tế và làm giảm
chất lượng sống. ”( LE JOURNAL DU
MEDECIN 16/11/2007)
|
|