Thoi-Nay - Giai Tri va Doi Song

Trang chính
Khoa học kỹ thuật và Đời sống

Mục lục

Vi tính
(hiện tại):

KHKT&DS:

Khoa học kỹ thuật và Đời sống: Phụ trách TN

Chức năng: 
1. Thông tin KHKT & Đời sống
(thiết thực, bổ túc và hướng dẫn)
2. Gạch nối giữa các thế hệ và sợi dây liên lạc của đội ngũ chuyên gia KHKT/VN (giới thiệu các tổ chức, công ty, sản phẩm, công trình nghiên cứu...)
 
BS Nguyễn Văn Thịnh:  
(last updated: 11/2007 - Khoa Học)  
   

GHÉP VÀO TRONG DẠ DÀY, MỘT MÁY TẠO NHỊP LÀM MẤT CẢM GIÁC ĐÓI

Làm mất cảm giác ngon miệng của những người thèm ăn bằng cách gởi một luồng điện vào trong não bộ của họ. Giáo sư Charles-Henri Malbert đã tin như vậy! Với nhóm nghiên cứu gồm nhiều nghành khác nhau của Inra (Rennes), ông vừa đưa đơn văn bằng sáng chế của một máy tạo nhịp (pacemaker) có thể cắm vào trong dạ dày. Máy bắt chước các tín hiệu chạy theo dây thần kinh phế vị (nerf vague) lên đến não bộ và làm nảy sinh cảm giác no nê. Máy tạo nhịp này được điều khiển qua da (trancutanée) này hiện nay đang được nghiên cứu trên heo mắc chứng béo phì : con heo mang máy tạo nhịp giảm lượng thức ăn ăn vào và thay đổi thức ăn được ưa thích (chọn đồ ăn nhiều sợi hơn là glucides) Hiện nay còn cần phải biết xem khám phá không có tác dụng phụ này ở đông vật sẽ có thể áp dụng được trên người hay không ( SCIENCE ET VIE 11/2007)



CÁC TRẺ EM SINH VÀO MÙA HÈ DỄ BỊ CẬN THỊ HƠN

Các trẻ em sinh vào mùa hè sẽ có nguy cơ trở thành cận thị cao hơn so với các trẻ sinh vào mùa đông ! Thật vậy thời gian có ánh mặt trời lâu hơn khiến nhãn cầu bị kéo dài ra, bởi một cơ chế hiện nay chưa được biết rõ. “ Vì nhãn cầu bị kéo dài, các tia sáng hội tụ trước võng mạc (rétine), do đó sự nhìn xa bị mờ đi ”, Giáo sư Michael Belkin của Goldschleger Institut ( Tel -Aviv ) sau khi đã thực hiện một cuộc phân tích trên khoảng 300.000 thiếu niên, đã phát biểu như vậy.

“ Mặc dầu môi trường có thể đóng một vai trò nào đó, nhưng dầu sao di truyền vẫn là nguyên nhân chủ yếu của chứng cận thị, GS José-Alain Sahel của bệnh viện XV-XX (Paris) đã bình luận như vậy. « Do đó những quan sát trên đây cần phải được xem xét một cách thận trọng » ( SCIENCE ET VIE 11/2007)



SỰ CÔ ĐƠN ĐÃ CÓ TỪ TRONG MÁU

Phải chăng sự cô đơn (solitude) đã có một chữ ký phân tử (signature moléculaire) ? Một công trình độc đáo, được công bố trong tạp chí Genome Biology lần đầu tiên chứng tỏ rằng một vài loại gène được biểu hiện một cách khác nhau nơi những người cô độc (solitaire) và nơi những người dễ giao tiếp (sociable) hơn. Hai nhóm nghiên cứu của Hoa Kỳ, một nhóm của Los Angeles và nhóm kia của Chicago, đã nghiên cứu tỉ mĩ 200 gène được biểu hiện bởi các bạch cầu của 2 nhóm sinh viên. Nhóm đầu tiên bao gồm những người độc thân tự bảo là cô đơn trong khi nhóm thứ hai gồm những người sống lứa đôi và tự cho là dễ gần gũi hơn. Các nhà khoa học đã nhận thấy rằng, nơi những người cô đơn cô độc, 78 trong số 209 gène được khảo sát là quá được biểu hiện (surexprimé). Can dự vào trong việc hoạt hóa hệ miễn dịch và những phản ứng viêm, các gène này đã chế tạo nhiều protéines hơn bình thường.

Mặt khác, 131 gène còn lại, can thiệp vào trong đáp ứng chống virus, có một hoạt tính dưới mức trung bình. Nhưng phải chăng chính sự cô đơn làm biến đổi sinh lý của con người hay chính sự di truyền ảnh hưởng lên tính dễ gần gũi của anh ta ? Công trình nghiên cứu này đã được tiến hành trên một số lượng người tham dự quá ít ỏi (14 người) nên không thể đưa ra kết luận được. Tuy nhiên các tác giả hy vọng rằng công trình nghiên cứu này nhiên hậu sẽ hiệu chính các chỉ dấu sinh học (biomarqueur) để nghiên cứu những hậu quả của sự cô đơn lên sức khỏe.Và cho phép làm sáng tỏ lý do tại sao những người cô đơn cô độc có một tỷ lệ tử vong cao hơn. ( SCIENCES ET AVENIR 11/2007)


CHỨNG SA SÚT TRÍ TUỆ TIẾN TRIỂN NHANH NƠI NHỮNG NGƯỜI CÓ HỌC VẤN

Như một con ma hút máu, chứng sa sút trí tuệ tuồng như được nuôi sống bởi vốn kiến thức của nạn nhân. Bệnh nhân càng có học vấn cao, bệnh càng tiến triển nhanh. Đó là điều được tiết lộ bởi một công trình nghiên cứu được công bố trên báo y học Neurology.

Các nhà nghiên cứu đã theo dõi trong 6 năm : 117 người đã phát triển chứng sa sút trí tuệ (démence) trên tổng số ban đầu 448 người tình nguyện. Những người tham dự thuộc nhiều mức độ học vấn khác nhau : từ dưới 3 năm ở trường tiểu học đến những người tốt nghiệp cấp 3.

Kết quả cho thấy rằng bệnh sa sút trí tuệ xuất hiện muộn hơn nơi những người có trình độ học vấn cao. Nghiên cứu chứng tỏ rằng đối với mỗi năm đào tạo bổ sung, sự suy thoái trí nhớ được chậm lại khoảng 2 tháng rưỡi.

Nhưng sự học vấn không phải là cái khiên che chở lâu dài. Một khi đạt đến giai đoạn quyết định, chứng sa sút trí tuệ, như thể để gỡ lại sự chậm trễ của mình, sẽ tiến triển nhanh hơn nơi những người « có văn bằng ». Khi đó nhịp độ mất trí nhớ sẽ là 4% nhanh hơn cho mỗi năm học bổ sung.

Như vậy một người đã theo 16 năm đào tạo ( mà chứng sa sút trí tuệ được chẩn đoán lúc 85 tuổi ) đã bắt đầu giai đoạn gia tốc mất trí nhớ ở tuổi 81.Trong khi đó một người được chẩn đoán ở cùng tuổi nhưng chỉ có 4 năm học vấn sẽ đi vào trong một giai đoạn sa sút trí tuệ ở tuổi 79, một cách ít « ngấu nghiến » hơn. Tiến triển của bệnh ở người này sẽ 50% chậm hơn so với người có học vấn.( LE SOIR 24/10/2007 )


RỤNG RĂNG VÀ CHỨNG SA SÚT TRÍ TUỆ 

Stein (Hoa Kỳ) và các cộng sự đã cố gắng tìm biết xem có một mối liên hệ giữa các tiền sử về các vấn đề ở miệng và sự phát triển của chứng sa sút trí tuệ. Các nhà nghiên cứu đã dựa trên các dữ kiện liên quan đến 144 nữ tu sĩ tuổi từ 75 đến 98 đã tham dự vào công trình nghiên cứu Nun Study, một công trình nghiên cứu dọc về sự lão hóa và bệnh Alzheimer. Các tác giả đã phân tích các dữ kiện y học liên quan đến sự mọc răng và đã đặt chúng trong mối tương quan với các kết quả trắc nghiệm chức năng não bộ được thu thập trong 12 năm. Có những dữ kiện cơ thể bệnh lý của 118 người tham dự chết trước khi chấm dứt công trình nghiên cứu. Các tác giả đã xác nhận rằng các nữ tu sĩ không có các dấu chứng của chứng sa sút trí tuệ lúc bắt đầu công trình nghiên cứu nhưng đã rụng nhiều răng nhất có nguy cơ quan trọng nhất phát triển chứng sa sút trí tuệ về sau này. ( LE JOURNAL DU MEDECIN 30/10/2007 )


BS NGUYỄN VĂN THỊNH

 

 
    Thoi Nay - Giai Tri va Doi Song

Mục lục

Nano
(hiện tại-tương lai):

Vũ trụ:

KHKT&DS:

   
 

Copyright © 2011 | TN InfoWay