|
MARIA MONTESSORI (1870-1952), NGƯỜI
THẦY THUỐC NỮ ĐẦU TIÊN CỦA Ý
Tên Montessori trước hết gợi ý một
phương pháp sư phạm, mặc dầu bị tranh
cãi và chỉ trích, nhưng đến nay vẫn
còn được sử dựng trên thế giới. Người
đàn bà hiện nay được biết như là một
chuyên gia về sư phạm nhi đồng, thế mà
trong thời trẻ đã từ chối trở thành
nhà giáo, chống lại ý kiến của cha
mình, và đã là người phụ nữ Ý đầu tiên
có được mảnh bằng bác sĩ.
MỘT THIẾU NỮ GIA ĐÌNH DANH GIÁ ĐƯỢC
GIÁO DỤC THEO TRUYỀN THỐNG.
Maria Montessori sinh ở Chiaravalle,
tỉnh Ancone ngày 31 tháng 8 năm 1870,
trong một nước Ý đang trong giai đoạn
cuối của quá trình thống nhất, với
nhiều vấn đề chính trị và xã hội được
đặt ra : sự phân chia giữa Nhà Thờ và
Nhà nước, yêu sách cải thiện điều kiện
làm việc của giới lao động, nạn mù
chữ, sự biến đổi vai trò của những
người phụ nữ và những điều kiện sống
của các gia đình theo sau sự công
nghiệp hóa và việc tuyển dụng các phụ
nữ vào làm trong các nhà máy. Một cuộc
cải cách sâu rộng các cấu trúc của xã
hội đang diễn biến.
Maria được dạy dỗ một cách nghiêm khắc
và kiên quyết như mọi thiếu nữ của
giai cấp tư sản trung lưu ở Ý. Cha của
Maria, cựu quân nhân đã từng chiến đấu
trong những chiến trận đầu tiên ở
Risorgimento, là một người đàn ông
lạnh lùng và xa cách và mặc dầu chủ
xướng những tư tưởng tự do phóng
khoáng, như phần lớn những người đàn
ông cùng thời, nhưng ông vẫn cho rằng
thiên chức của người phụ nữ là làm vợ
và làm mẹ. Ông chấp nhận rằng các phụ
nữ có thể được học hành nhưng trong
một lãnh vực mà họ có thể thể hiện
những khuynh hướng làm mẹ của mình, có
nghĩa là trong ngành giảng dạy. Mẹ cô,
Renilde, có thể được định nghĩa như là
một người đàn bà trong thời kỳ quá độ
(une femme de transition) : mặc dầu
chính bà sống một cách truyền thống,
hết lòng phục vụ gia đình và các con,
nhưng bà không do dự khuyến khích và
hổ trợ con gái mình trên bước đường
đoạn tuyệt với các truyền thống.
Renilde là một phụ nữ có học thức,
cháu gái của một nhà sinh học nổi
tiếng, Tu viện trưởng Stopano, và chủ
xướng những tư tưởng tự do. Bà luôn
luôn ủng hộ con gái mình, có lẽ bà
muốn chiếu rọi lên con bà những khát
vọng âm thầm mà bà đã không bao giờ có
thể thực hiện được.
LÀM NỮ SINH VIÊN Y KHOA VÀO THẾ KỶ THỨ
XIX SAO MÀ KHÓ QUÁ !
Marie biểu lộ những thiên khiếu về
toán học và chọn học môn toán lý khi
theo học trung học. Quyết định này
không làm bố hài lòng nhưng Maria năn
nỉ và nhờ sự ủng hộ của mẹ nên cuối
cùng được chấp thuận. Mặc dầu thi đậu
xuất sắc trong các nghành đã được lựa
chọn, nhưng sau đó cô lại quyết định
muốn trở thành thầy thuốc. Động cơ của
cô là gì ? Động cơ này xuất phát từ
cuộc gặp gỡ với một người ăn xin, mang
một đứa bé bệnh hoạn trong tay, điều
này làm cho Maria ý thức về sự cần
thiết phải học những nghành khoa học
có thể giải quyết những vấn đề của con
người.
Quyết định này không được sự tán đồng
của bố và gieo mối bất hòa trong gia
đình. Sự chống đối việc dạy dỗ các phụ
nữ có nguồn gốc trong những dè dặt
xuất phát từ đạo đức hơn là trong
những cấm đoán của luật pháp. Luật
pháp hiện hành không thật sự cấm đoán
phụ nữ theo học cao đẳng và đại học,
không phải do tinh thần rộng mở, nhưng
bởi vì dầu sao, các gia đình cũng thận
trọng và không ghi tên các con gái
mình trong một ngôi trường có con trai
theo học. Những tư tưởng đổi mới giải
phóng các phụ nữ qua việc học vấn,
chống lại những tư tưởng bảo thủ và
truyền thống, theo đó phụ nữ , “ thiên
thần của hộ gia đình ” , thấp kém về
trí tuệ, yếu ớt về thể lực, cần được
bảo vệ … cũng có sự lo ngại về các
nguy cơ chung đụng với con trai. Trong
bối cảnh này, mặc dầu việc các phụ nữ
vào học Y Khoa đã được cho phép một
cách hợp pháp từ năm 1875, nhưng đơn
ghi danh của Maria vẫn bị từ chối. Chỉ
vào năm 1893, sau khi đã theo học và
lấy được chứng chỉ cử nhân khoa học tự
nhiên, Maria sau cùng mới có thể bắt
đầu theo học y khoa trong một bối cảnh
thù địch từ phía các sinh viên nam,
không ngừng gièm pha và diễu cợt cô.
Ông khoa trưởng đã cho Maria một bài
học đích đáng : cô chỉ được phép vào
trong các giảng đường sau tất cả mọi
người, cùng lúc với các giáo sư và
phải giữ một thái độ dè dặt ! Mặt khác
cô phải một mình trơ trọi trong phòng
phẫu tích, bởi vì sự việc một thiếu nữ
học cơ thể con người cùng lúc với các
thanh niên là điều không đúng đắn.
TU Y KHOA ĐẾN SƯ PHẠM.
Maria nhận được văn bằng tốt nghiệp
năm 1896 và như vậy trở thành người
thầy thuốc nữ đầu tiên của nước Ý sau
khi thống nhất. Sau đó bà được bổ
nhiệm làm trợ lý cho bệnh viện tâm
thần của đại học. Trong những bệnh
viện này có những người lớn và trẻ em.
Maria phục vụ chủ yếu các trẻ em bị
những vấn đề về tâm thần và đi đến kết
luận rằng điều trị những vấn đề tâm
thần của các trẻ em bằng những phương
pháp giáo dục là tốt hơn và có hiệu
quả hơn là những điều trị bằng thuốc
men. Ngoài những nghiên cứu về vấn đề
này và để thực hiện chúng, bà đã đi du
lịch tham quan ở Pháp và Anh, và bà
cũng lấy được văn bằng triết học.
Con đường sự nghiệp của bà sau đó đặc
biệt rất thỏa mãn. Bà xuất bản rất
nhiều và phổ biến những tư tưởng sư
phạm trên toàn thế giới. Bố của bà,
mặc dầu không chia sẻ những tư tưởng
của con gái mình, tuy vậy ông đã theo
dõi một cách thán phục con đường sự
nghiệp của con mình. Năm 1900, ông
tặng Maria một tuyển tập tất cả các
bài báo ở Ý cũng như ở nước ngoài có
liên quan đến các hoạt động của bà.
Năm 1907, bà sáng lập Casa dei Bambini
đầu tiên và bắt đầu một hoạt động giáo
dục cho các trẻ em thuộc các gia đình
thợ thuyền ở Rome. Năm 1929, bà sáng
lập Associazione Montessori
internazionale. Trong những năm 30, bà
gặp phải sự không thấu hiểu và những
khó khăn với chế độ phát xít bởi vì bà
chống lại sự việc công trình và các
phương pháp của bà bị biến thành công
cụ phục vụ cho những mục đích chính
trị. Những tác phẩm và hình ảnh của bà
cũng bị đốt bởi các đảng viên quốc xã
ở Berlin và Áo. Năm 1934, bà từ giã
nuớc Ý. Trong đệ nhị thế chiến bà sống
ở Ấn Độ rồi trở lại châu Âu năm 1946.
Năm 1947, ở Ý, bà thành lập lại Opera
Nazionale Montessori, vốn đã bị cấm
đoán bởi nhà cầm quyền phát xít. Công
trình này có mục đích phổ biến và cập
nhật hóa phương pháp của bà. Bà mất
năm 1952 ở Noordwijk, Hoà Lan. Về đời
sống tư, Maria Montessori đã không
cưới chồng nhưng đã có và đã nuôi nấng
dạy dỗ một đứa con trai ngoài giá thú
; như vậy bà đã không do dự đặt mình
bên lề của xã hội tư sản theo truyền
thống lúc bấy giờ. Con trai bà và các
cháu bà vẫn luôn luôn theo đuổi sự
nghiệp của bà.
Gương mặt của Maria Montessori đã xuất
hiện trên các tờ giấy bạc Ý 1000 lires
trong những năm 90 trước khi đồng Euro
xuất hiện, người thầy thuốc nữ đầu
tiên của Ý cũng là người đầu tiên và
duy nhất mà danh dự này đã dành cho.
Là người phụ nữ xuất chúng, bà đã
chống lại một cách tự nhiên, thông
minh và với nhiều tinh thần phê phán,
tất cả hệ thống áp bức con người : đấu
tranh để giải phóng phụ nữ, đấu tranh
để hội nhập trở lại những đứa bé “ có
vấn đề ” và cũng đấu tranh chống chủ
nghĩa phát xít. Maria Montessori là
một người phụ nữ vĩ đại, hoàn toàn
xứng đáng với vinh dự đã dành cho bà.
====
NHỒI MÁU CƠ
TIM VÀ NHỮNG THAY ĐỔI NHIỆT ĐỘ
Những công trình nghiên cứu dịch tễ
học của châu Âu từ lâu đã báo cáo rằng
những tử vong do nhồi máu cơ tim là
nhiều hơn vào mùa đông và rằng có một
mối liên hệ giữa nhiệt độ bên ngoài và
tỷ lệ tử vong do nhồi máu cơ tim.
Như là khi mức nhiệt kế giữa 26 và 28
độ C, thì tỷ lệ tử vong thấp. Chứng
thực khác của công trình nghiên cứu :
khi nhiệt độ hạ 1 độ, tỷ lệ tử vong do
nhồi máu gia tăng hầu như 3% và lên
đến 13% khi nhiệt độ hạ 10 độ ! Tại
sao ? Đó là câu hỏi mà BS Alexandra
Schneider, thuộc viện dịch tễ học của
Munich đã khảo sát. Nhóm nghiên cứu
của ông đã theo dõi hơn 1000 bệnh nhân
có tiền sử nhồi máu cơ tim, nhưng ổn
định về lâm sàng, giữa tháng năm 2003
và tháng bảy 2004, trong 6 thành phố :
Athènes, Augsbourg, Barcelone,
Helsinski, Rome cà Stockholm. Kết quả
: những chỉ dấu máu (marquers
sanguins) của tình trạng viêm được gọi
là “ đáp ứng với lạnh một cách sinh lý
”, càng gia tăng khi nhiệt độ càng hạ,
điều này có thể đủ , nơi những bệnh
nhân có nguy cơ, làm bất ổn định các
mảng xơ mỡ (plaques d’athérome) trên
các động mạch vành, đưa đến một loạt
các biến cố, có thể dẫn đến nhồi máu
cơ tim. Như vậy, trên bình diện ngăn
ngừa, sống trong những nước được chiếu
đầy bởi ánh sáng mặt trời, sẽ có một ý
nghĩa. ( PARIS MATCH 18/9-24/9/2008)
===
Ở CHÂU ÂU CỨ
MỖI 30 GIÂY CÓ MỘT GÃY XƯƠNG HÁNG
Journée Mondiale de l’ Ostéoporose :
Bệnh loãng xương (ostéoporose) ngày
nay ảnh hưởng đến hàng triệu người
trên thế giới và được công nhận là có
một tầm tác động đáng kể lên tỷ lệ
bệnh tật và tử vong. Tỷ lệ mắc bệnh và
các phí tổn nảy sinh tiếp tục gia tăng
là do sự lão hóa của dân số. Tình hình
của bệnh loãng xương trong các nước
Liên Hiệp châu Âu như thế nào ?
Bệnh loãng xương là một bệnh không gây
triệu chứng và thường không được phát
hiện cho đến lúc các gãy xương xảy ra,
điển hình là nơi cổ xương đùi
(fracture du col fémoral). Khoảng 30%
tất các các phụ nữ sau thời kỹ mãn
kinh ở châu Âu bị chứng loãng xương và
hơn 40% trong số những người này bị
những gãy do loãng xương (fractures
ostéoporotiques) trong suốt cuộc đời
của họ. Căn bệnh này không chỉ ảnh
hưởng lên các phụ nữ : từ 15% đến 30%
đàn ông cũng bị một gãy do loãng
xương. Ngay năm 2000, người ta đã tính
được một tổng số 3,8 triệu gãy do
loãng xương, trong đó 0,89 triệu là
các gãy xương háng. Tỷ lệ gãy do loãng
xương hàng năm được ước tính là
7,91/10.000 dân ở Pháp, 8,26 ở Tây Ban
Nha, 12,93 ở Ý, 14,43 ở Anh và 18,17 ở
Đức.
Về các gãy xương đốt sống (fractures
vertébrales), chúng xảy ra nơi 10% đến
24% những đàn ông và phụ nữ trên 50
tuổi và tỷ lệ gia tăng rõ rệt với tuổi
tác. Trong khi tỷ lệ gãy được ước tính
từ 5 đến 10% trong lứa tuổi 50-54
tuổi, tỷ lệ này tăng lên 25% từ 75
tuổi trở đi .Và những con số này có lẽ
bị đánh giá thấp vì các gãy xương đốt
sống không được chẩn đoán trong 1/3
các trường hợp.
MỘT ẢNH HƯỞNG Ở MỌI MỨC ĐỘ.
Những gãy do loãng xương làm giới hạn
cử động của các bệnh nhân và khả năng
thực hiện những công việc hàng ngày
của họ. Sự đau đớn, mất khả năng làm
việc, mất tính độc lập cũng ảnh hưởng
lên tinh thần của những nạn nhân và
làm giảm chất lượng sống của họ. Người
ta thường ghi nhận những triệu chứng
lo âu hay trầm cảm ; khoảng 40% những
phụ nữ bị loãng xương bị mắc chứng
trầm cảm, 58% có một cảm giác khó ở và
41% có một chất lượng sống bị thu
giảm. Sự đau đớn hiện diện nơi 50% các
phụ nữ ; 26% phát biểu chịu đau đớn
hơn 10 giờ mỗi ngày.
Trên bình diện tỷ lệ tử vong, ở Châu
Âu, 24% các phụ nữ và 33% đàn ông chết
trong năm sau khi bị gãy xương háng.
Trong số những người sống sót, khoảng
40% không có khả năng di chuyển một
mình và 60% còn cần đến một sự giúp đỡ
nào đó, hơn 1 năm sau khi bị gãy
xương. Nguy cơ tử vong trong năm sau
một gãy xương là 12,9 nơi phụ nữ 60
tuổi và 13,4 nơi đàn ông cùng lứa
tuổi.
Một yếu tố khác góp phần làm gia tăng
tỷ lệ tử vong là tần số xảy ra những
biến cố tim mạch (các bệnh động mạch
vành và tai biến mạch máu não) 4 lần
cao hơn được quan sát trong nhóm các
phụ nữ bị loãng xương so với nhóm
placebo. Điều này khiến người ta nghĩ
rằng chứng loãng xương được liên kết
với một nguy cơ gia tăng mắc phải các
bệnh tim mạch, tỷ lệ với độ nghiêm
trọng và số các gãy xương và độc lập
với tuổi tác và những yếu tố nguy cơ
tim mạch khác.
Sau cùng trên bình diện kinh tế, những
phí tổn trực tiếp liên quan với chứng
loãng xương được ước tính ở châu Âu là
31,7 tỷ Euro, với một dự kiến 77 tỉ
vào năm 2050, do sự lão hoá dân số.
Chính những gãy xương háng là gây nên
những phí tổn cao nhất do thời gian
nhập viện kéo dài. Phí tổn nhập viện
đã được ước tính là 20.000 euro ở Đức,
18.500 ở Anh, 6.500 ở Ý và 5.000 ở Tây
Ban Nha. Ở châu Âu, phí tổn của điều
trị trong năm đầu tiên sau một gãy
xương háng được ước tính là 14,7 tỷ
Euro. ( LE JOURNAL DU MEDECIN
24/10/2008)
===
CHỨNG TRẦM
CẢM VÀ NGUY CƠ BỊ TAI BIẾN MẠCH MÁU
NÃO
Chứng trầm cảm, nhất là khi bệnh này
nghiêm trọng, làm gia tăng nguy cơ bị
những rồi loạn tim mạch, là một sự
kiện càng ngày càng được xác nhận.
Một nhóm các nhà nghiên cứu người Anh
đã thực hiện một cuộc duyệt xét kỹ
những dữ kiện liên quan đến hơn 20.000
bệnh nhân tham gia một công cuộc điều
tra dịch tễ học rộng rãi. Lúc đọc các
kết quả, người ta nhận xét rằng sự
hiện diện của những tiền sử về bệnh
trầm cảm hay một trầm cảm đang trong
thời kỳ hoạt động nhưng ở mức độ trung
bình, không ảnh hưởng đến nguy cơ mắc
phải tai biến mạch máu não. Trái lại
chứng trầm cảm càng trở nặng, thì nguy
cơ bị tai biến mạch máu não càng bị
gia tăng đáng kể. Do đó, điều quan
trọng nơi những người bị trầm cảm nặng
là cần theo dõi sát và điều trị tích
cực mọi yếu tố nguy cơ tim mạch, cũng
như phát hiện và điều trị một cách dự
phòng và chủ động mọi nguy cơ trầm cảm
hay lo âu.( LE GENERALISTE 16/10/2008)
====
CHỨNG LOÃNG
XƯƠNG : QUÁ NHIỀU XƯƠNG GÃY !
Giáo Sư Christian Roux, chủ tịch của
nhóm nghiên cứu GRIO, báo động về sự
khẩn thiết phải điều trị những phụ nữ
mãn kinh đã bị một lần gãy xương đầu
tiên.
Hỏi : Những con số nào cho thấy một
vấn đề y tế thật sự được đặt ra bởi
chứng loãng xương (ostéoporose).
G.S Christian Roux : Ở Pháp, nơi những
phụ nữ mãn kinh, người ta ước tính
50.000 gãy cổ xương đùi (fracture du
col fémoral) mỗi năm ; 50.000 gãy cổ
tay (fracture du poignet) ; 80.000 đến
100.000 gãy đốt sống (fracture
vertébrale). Những điều chứng thực này
càng có tính chất báo động khi người
ta dự kiến trong những năm sắp đến, có
một sự gia tăng số những trường hợp
gãy xương này vì lý do sự lão hóa của
dân số.
Hỏi : Ông có thể giải thích những lý
do của chứng loãng xương này ?
G.S C.R : Phải biết rằng lưới xương
(trame osseuse) gồm có 3 loại tế bào :
các tạo cốt bào (ostéoblaste) “ xây
dựng ” xương, hủy cốt bào
(osteoclaste) phá hủy xương, và các tế
bào xương (ostéocytes) có tác dụng
kiểm soát để duy trì sự cân bằng giữa
các hiện tượng xây dựng và phá hủy
xương này. Vào thời kỳ mãn kinh, với
sự ngừng tiết các oestrogène bởi các
buồng trứng, một sự bất quân bình xuất
hiện (quan trọng ít hay nhiều tùy theo
các phụ nữ) và những tế bào hủy hoại
(cellules destructrices) thắng thế
những tế bào khác, làm cho hệ xương dễ
vỡ.
Hỏi : Tại sao, sau một gãy xương đầu
tiên, 80% các phụ nữ này đã không đi
thăm khám để được phát hiện chứng
loãng xương ?
G.S C.R : Rất thông thường, các phụ nữ
này đã không xác lập một mối liên hệ
giữa gãy xương của họ với một bệnh
loãng xương tiềm tàng. Mặc dầu chấn
thương là không đáng kể đi nữa, các
phụ nữ quy ngay việc gãy xương là do
va chạm. Bởi vi chỗ gãy xương này sau
đó cứng lại rất tốt, nên họ không cảm
thấy một chút lo âu nào và nghĩ rằng
họ đã lành bệnh trong khi đó chỉ là
một dấu hiệu báo động về tính dễ vỡ
của xương (fragilité osseuse) mà họ
hiện đang có.
Hỏi : Làm sao chẩn đoán chứng loãng
xương và điều trị như thế nào ?
G.S C.R : Cùng một mật độ xương
(densité osseuse) và lứa tuổi như
nhau, nhưng các phụ nữ mãn kinh, đã là
nạn nhân của một lần gãy xương đầu
tiên, có một nguy cơ bị những gãy
xương khác lớn hơn nhiều so với những
phụ nữ cho đến lúc đó chưa từng bị gãy
xương. Sau một gãy xương đầu tiên nơi
một phụ nữ ở tuổi mãn kinh, cần phải
tìm kiếm những nguyên nhân (ngoài sự
việc bị té ngã) bằng một loạt các thăm
khám lâm sàng, sinh học, và một
densitométrie (đo mật độ xương). Trong
trường hợp bị loãng xương, một điều
trị thích ứng cho phép làm giảm những
nguy cơ tái phát. Hiện nay đang có sẵn
để sử dụng, nhiều liệu pháp với những
cách tác dụng khác nhau, mà mục đích
là cải thiện độ cứng của hệ xương.
Những điều trị này (trong nhiều năm)
cần một sự theo dõi.
Hỏi : Những phụ nữ nào là có khuynh
hướng phát triển chứng loãng xương
nhất ?
G.S C.R : Những phụ nữ đã là nạn nhân
của một lần gãy xương. Những phụ nữ mà
cha mẹ họ đã bị những gãy do loãng
xương (fractures ostéoporotiques).
Những phụ nữ quá gầy. Những phụ nữ đã
được điều trị hay đang được điều trị
bởi cortisone một cách dài lâu. Những
phụ nữ đã có một thời kỳ mãn kinh xảy
ra sớm (ménopause précoce).
Hỏi : Đối với những phụ nữ có nguy cơ
này, ông có khuyên một vệ sinh cuộc
sống nào đó hay không ?
G.S C.R : Đảm bảo rằng những phụ nữ
này có một nồng độ vitamine D tối ưu
(được cung cấp chủ yếu bởi ánh sáng
mặt trời nhưng đồng thời tôn trọng một
vài điều thận trọng), đó là điều thiết
yếu. Người ta cũng thường khuyên dùng
những thức ăn giàu vitamine D cũng như
cho dưới dạng bổ sung. Đồng thời, sự
luyện tập thể dục, ví dụ đi dạo bộ mỗi
ngày, cũng rất hữu ích để tăng cường
hệ cơ.
Hỏi : Đối với những phụ nữ mãn kinh
không có nguy cơ đặc biệt, ông có lời
khuyên nào không ?
G.S C.R : Hãy bảo thầy thuốc gia đình
của họ tìm những yếu tố nguy cơ gây
gãy xương và, nếu một trong những yếu
tố này hiện diện, thì họ cần phải được
đo mật độ xương (densitométrie).(
PARIS-MATCH 16/10- 22/10/2008)
====
CHỨNG BÉO PHÌ
BỤNG LÀM GIA TĂNG NGUY CƠ BỊ SA SÚT
TRÍ TUỆ
Quá dư thừa mỡ bụng, hoặc bụng có
profil dạng quả táo (profil en forme
de pomme), hơn là dạng quả lê (en
forme de poire), sẽ thường được liên
kết với chứng sa sút trí tuệ (démence)
lúc cao tuổi, theo một công trình
nghiên cứu của Hoa Kỳ.
Mối liên hệ giữa chứng béo phì bụng
(obésité abdominale) và một nguy cơ
gia tăng bị chứng sa sút trí tuệ
(démence) dường như độc lập với thể
trọng toàn thể hay sự hiện diện của
một bệnh đái đường hay một bệnh tim
mạch.Thật vậy, những công trình nghiên
cứu trước đây đã xác lập một mối liên
hệ giữa sự thặng dư mỡ bụng và bệnh
đái đường loại 2, các bệnh tim mạch và
tai biến mạch máu não.
Công trình nghiên cứu này, được thực
hiện bởi Rachel Whitmer (Hoa Kỳ), chú
ý đến trọng lượng cơ thể, vòng thân
(tour de taille) và những yếu tố khác
hiện diện nơi 6.583 người đàn ông và
phụ nữ vốn đã tham gia vào công trình
Kaiser Permanent Ledical Care Program
ở Caroline du Nord. Sự tham gia này
được bắt đầu từ 1964 đến 1973.
Sau 36 năm theo dõi, 1.040 người tham
gia đã phát triển một chứng sa sút trí
tuệ. Chứng bệnh này thường xảy ra hơn
trong nhóm có chứng béo phì bụng rõ
rệt nhất, ngay cả sau khi đã điều
chỉnh về lứa tuổi, chủng tộc, trình độ
học vấn, hộ tịch, sự kiện bị bệnh đái
đường, nồng độ lipide cao trong máu,
huyết áp cao và các bệnh lý tim mạch.
Những người có chỉ số khối lượng cơ
thể bình thường (BMA : body mass
index) và có một thặng dư mỡ bụng có
một nguy cơ 1,89 lần cao hơn những
người có một BMA bình thường và một
lượng mỡ bụng bình thường. Nguy cơ này
cao nhất nơi những người bị béo phì
với thặng dư mỡ bụng ( 3,6 lần cao
hơn).( LE JOURNAL DU MEDECIN
17/10/2008)
====
TÁI TẠO MỘT
CHIẾC RĂNG BẰNG NHỮNG TẾ BÀO GỐC
Xét vì những kết quả dương tính trên
chuột, các nhà nghiên cứu dự kiến sử
dụng các tế bào gốc để sửa chữa ngà
răng (dentine) và tủy răng bị hỏng,
hoặc chế tạo một “ chiếc răng sinh học
”. Tuy nhiên hy vọng này vẫn còn là
một thách thức do tính chất phức tạp
của cơ quan này.
Trong hội nghị về “ những tế bào gốc
tủy răng ” (les cellules souches
pulpaires), vừa mới tổ chức mới đây ở
Paris bởi Viện nghiên cứu răng của
Pháp, người ta phát biểu rằng trong
tương lai, chúng ta sẽ có khả năng chế
tạo qua trung gian của những tế bào
gốc, một chiếc răng hoàn toàn, còn
sống, được phân bố mạch máu, và được
nối bởi một dây thần kinh với hệ thần
kinh trung ương. Khi đó, sự ra đời của
chiếc răng sinh học (dent biologique)
hẳn sẽ đưa vào viện bảo tàng các
implant, bridges và những bộ răng khác
đang được dùng hiện nay.
MỘT NƠI DỰ TRỮ LÝ TƯỞNG
Ngay năm 2003, một nhóm nghiên cứu Hoa
Kỳ và Úc Đại Lợi đã khám phá trong tủy
răng sữa bị đánh mất bởi các trẻ em từ
7 đến 8 tháng, sự hiện diện của những
tế bào gốc, có khả năng biệt hóa, và
cho ngoài những tế bào tủy, những tế
bào thần kinh, xương hay mỡ. “ Những
chiếc răng sữa có thể tạo nên một kho
dự trữ lý tưởng của những tế bào gốc
để sửa chữa cấu trúc răng bị tổn hại
hay để kích thích sự tái tạo xương, và
có thể để điều trị một thương tổn nơ
ron hay những bệnh thoái hóa ”, những
nhà nghiên vào thời kỳ đó đã viết như
vậy. Theo họ những tế bào gốc phát
xuất từ các chiếc răng sữa có một yếu
tố tăng sinh ưu việt hơn những tế bào
gốc được chứa trong những chiếc răng
trưởng thành.
Với 20 răng sữa cho mỗi trẻ em, và từ
12 đến 20 tế bào gốc đối với mỗi răng
sữa, khám phá này tạo nên một dự trữ
quan trọng và để khai thác sử dụng.Tin
chắc rằng mỗi một chúng ta mang trong
hàm một kit comphet để tái sinh mô, mà
sự sử dụng hoàn toàn miễn phí, giáo sư
Minoru Ueda và nhóm nghiên cứu của đại
học Nagoya đã thành lập năm ngoái một
ngân hàng các tế bào gốc phát xuất từ
các chiếc răng sữa.
KHÔNG NHỮNG RĂNG SỬA MÀ CẢ RĂNG CẤM
Các răng cấm cũng đầy hứa hẹn. Cũng
như các răng sữa, các răng cấm là
những cơ quan tăng trưởng, do đó không
trưởng thành.Vì lẽ này, tủy răng của
chúng chứa những tế bào gốc có khả
năng tăng sinh cao, có thể được biệt
hóa thành những tế bào gan, xương và
ngay cả thần kinh, vừa làm cho các
hormone khác nhau tác dụng lên chúng.
Vào năm 2007, một nhóm những nhà
nghiên cứu của Đại Học Osaka đã thành
công biệt hóa những tế bào gốc, được
lấy trên những chiếc rằng cấm của
người, thành những tế bào gan. Những
tế bào này sau đó được tiêm vào một
chú chuột bị thiếu hụt, mà gan không
có khả năng sản xuất albumine. Sự điều
trị đã cho phép phục hồi chức năng sản
xuất albumine trong 3 tuần.
Vào năm 2006, một nhóm nghiên cứu của
Inserm đã cho thấy rằng các tế bào gốc
của tủy xương, giống rất nhiều với
những tế bào gốc của răng, có khả
năng, sau khi biệt hóa, cho những tế
bào có can dự trong sự cấu tạo men
răng và ngà răng.( LE JOURNAL DU
MEDECIN 3/10/2008)
====
KHÁM PHÁ MỘT
GENE LÀ NGUỒN GỐC CỦA BỆNH HÓI ĐẦU
Hai công trình nghiên cứu quốc tế độc
lập đã tiết lộ rằng rụng tóc dần dần
sau 45 tuổi được liên kết với một vùng
nằm trên nhiễm sắc thể 20.
Trắc nghiệm di truyền (test génétique)
để biết xem có bị nguy cơ trở thành
hói đầu hay không dường như sẽ có thể
thực hiện trong không còn bao xa nữa.
Thật vậy, hai nghiên cứu di truyền,
được công bố trong Nature Genetics
tiết lộ rằng một gène nằm trên nhiễm
sắc thể 20 rất có thể liên quan đến sự
xuất hiện của chứng hói đầu
(calvitie). Các nhà nghiên cứu quan
tâm đến dạng hói đầu xảy ra từ từ và
rất phổ biến mà người ta gọi là
alopécie androgénique. Sự rụng tóc
được thực hiện theo một “ hình vẽ ”
luôn luôn như nhau, mở rộng vùng thái
dương rồi tiến dần lên đỉnh sọ, hướng
về phía sau.
Công trình nghiên cứu đầu tiên đã được
thực hiện bởi một nhóm nghiên cứu của
đại học McGill của Montréal, của
King’s College của Luân Đôn, kết hợp
với những nhà nghiên cứu của hãng dược
phẩm GlaxoSmithKline. Các nhà khoa học
của Thụy Sĩ, Island và Hoà Lan cũng
tham gia vào công trình nghiên cứu. Họ
đã xem xét cac gène của 1.125 người
châu Âu bị chứng hói đầu và đã nhận
thấy rằng sự rụng tóc này được liên
kết với 2 vùng của nhiễm sắc thể 20.
Điều này xác nhận mối liên hệ giữa một
dạng nào đó của gène của nhiễm sắc thể
20 và sự rụng tóc dần dần. ( LE FIGARO
13/10/2008)
===
U XƠ TỬ CUNG
(FIBOMYOMES)
Ở phụ nữ, các khối u hiền tính thường
xảy ra nhất ở hố chậu là các u xơ tử
cung (fibromyomes hay fibromes). Gần
một nửa các thai nghén bắt đầu trong
một tử cung u cơ (myomateux) và cuối
cùng bị sẩy, và 50% các phụ nữ trên 50
tuổi và không ở tuổi mãn kinh có những
u xơ tử cung.
Chữ u xơ (fibrome) phát xuất từ nguồn
gốc sợi (fibreuse) của khối u khi nhìn
bằng mắt trần, còn u cơ (myome) chỉ
nguồn gốc cơ của khối u này. Nhưng sự
chính xác mô học ưa thích thuật ngữ
léiomyome (u của mô cơ trơn) hay
fibromyome ( u cơ và sợi) hơn. Ở Hoa
Kỳ, vô địch thế giới về cắt bỏ tử
cung, cứ 3 phụ nữ có 1 phải chịu phẫu
thuật này trước năm 60 tuổi và vì ly
do bị u cơ trong gần 2/3 trường hợp.
Trái lại, ở Châu Âu, cuộc đấu tranh để
gìn giữ tử cung được phát động từ 20
năm nay. Ngoài phẫu thuật cổ điển cắt
bỏ tử cung bằng đường bụng và bằng
đường âm đạo đối với những tử cung bé
nhỏ hơn, các kỹ thuật bảo tồn gia tăng
để gìn giữ sự vẹn toàn vật lý của các
phụ nữ, khả năng sinh đẻ của họ, cũng
như để tránh tình trạng són đái sau mổ
(cắt bỏ tử cung làm gia tăng nguy cơ
bị són đái 5 đến 10%).
Các u cơ dưới thanh mạc (myomes
sous-séreux), to lớn nhưng ít gây xuất
huyết, hiếm khi làm khó chịu bệnh
nhân. Những bệnh nhân này lo ngại hơn
trong trường hợp u cơ dưới niêm mạc
(myomes sous-muqueux), chịu trách
nhiệm rong kinh dồi dào. Không có điều
trị thuốc men nào làm biến mất được
các u cơ tử cung. Điều trị có tính
chất triệu chứng trong lúc chờ đợi
tuổi mãn kinh vì vào thời kỳ này, nếu
không điều trị bằng hormone thay thế
(THS), thì các u cơ này sẽ thu nhỏ
lại. Các progestatif làm giảm sự phì
đại của nội mạc tử cung, các
anti-fibrinolytique cải thiện sự xuất
hiện các cục máu đông, và một liều cao
oestrogène có thể làm ngưng một đợt
xuất huyết cấp tính. Các thuốc điều
trị triệu chứng này nhường chỗ cho
phẫu thuật dưới mọi dạng thức.
NGOẠI KHOA CÀNG NGÀY CÀNG BẢO THỦ
Chúng ta có sự lựa chọn giữa phẫu
thuật cắt bỏ tử cung hay chỉ cắt bỏ
các u cơ, hoặc làm tan rã chúng bằng
cách hủy bỏ phân bố mạch của chúng
hoặc bằng một tác nhân vật lý làm hủy
hoại. Sự lấy đi các u cơ trơn tử cung
(myomectomie) được thực hiện bằng mở
bụng (laparotomie), nội soi
(coelioscopie) hay nội soi tử cung
(hysteroscopy), bằng dao điện hay bằng
siêu âm và, mới đây hơn, bằng tia
laser. Sự làm tiêu cơ (myolyse) có thể
được thực hiện bằng cách làm nghẽn
mạch (embolisation), dưới sự kiểm soát
của rọi quang tuyến, những động mạch
tử cung bởi những vi phần tử
(microparticules) (polyvinylalcool hay
microsphènes). Kỹ thuật này dường như
hay hơn cắt bỏ u cơ tử cung
(myomectomie) bởi vì với phẫu thuật
sau đó cứ hai trường hợp có một trường
hợp tái phát. Sự làm nghẽn mạch
(embolisation) có thể được thực hiện
dưới gây mê tại chỗ, nhưng cần điều
trị chống đau sau giải phẫu.
Một dạng thức làm tiêu cơ (myolyse)
khác : làm tiêu lạnh bằng nội soi
(cryolyse sous coelioscopie), cho phép
làm đông giá và gây chết mô ở nhiệt độ
âm 50 độ C. Một kỹ thuật tốn kém nhưng
ít đau đớn sau thủ thuật. ( LE
GENERALISTE 16/10/2008)
====
SỬ DỤNG QUÁ
MỨC MÁY NHẠC CẦM TAY LÀM ĐIẾC TAI VĨNH
VIỄN
10 triệu các thanh thiếu niên châu Âu
có nguy cơ bị điếc vĩnh viễn trong
trường hợp nghe máy nhạc cầm tay
(appareil à musique portatif hay
baladeur) kéo dài và với cường độ âm
thanh cao.
Năm 2006, John Kiel Patterson, một chủ
hãng của Lousiane (Hoa Kỳ) đã đưa đơn
kiện trước tòa án San José ở
Californie chống lại hãng kết xù
Apple, chuyên chế tạo các máy nhạc cầm
tay iPod. M. Paterson cùng nhiều người
đưa đơn kiện khác cho rằng máy iPod
của ông có thể đã được tăng cường độ
âm thanh lên đến 115 décibels (dB), và
ngay cả đến 125 dB đối với một vài
loại nhạc. Mà những mức âm thanh cực
kỳ này có nguy cơ đưa đến những rối
loạn thính giác thường trực, thậm chí
vĩnh viễn nơi người sử dụng dài lâu.
Từ năm 2001 hãng đã bán hơn 160 triệu
máy nhạc cầm tay này trên khắp thế
giới. Những vật này có kích thước của
một carte crédit dày, và người ta có
thể télécharger vào máy những bộ phiếu
nhạc (fichiers musicaux) từ
ordinateur. Máy nhạc cầm tay sử dụng
một logiciel để đọc các bộ phiếu và
phát nhạc.
Hiện tại, gần 5 đến 10% trong số 50
đến 100 triệu công dân của 27 nước của
Liên Hiệp Cháu Âu có nguy cơ trở nên
điếc vì nghe quá mức những máy nhạc
cầm tay này. Lo ngại về những mối đe
dọa mới lên sức khỏe thính giác của
các thiếu niên, nhưng cũng của những
người lớn, gây nên bởi việc nghe rất
phổ biến những máy nhạc cầm tay nhỏ
xiu này, ủy viên châu Âu về những vấn
đề tiêu thụ Meglena Kuneva, đã xin một
ý kiến khoa học mà những kết luận đã
được công bố.
Kết quả : năm giờ nghe mỗi tuần với
mức âm thanh cực đại, làm người nghe
chịu một tiếng ồn rất cao hơn tiếng ồn
được cho phép trong các nhà máy ồn ào
nhất (80 dB trong 8 giờ mỗi ngày hay
48 giờ mỗi tuần). Mặc dầu đa số những
người sử dụng bằng lòng với một mức âm
thanh trung bình từ 75 đến 85 dB,
nhưng 10% trong số những người này,
hoặc một thiểu số lớn, vặn volume âm
thanh tôi đa. Mặc dầu, điều lệ của
Pháp đã buộc hãng Apple và các hãng
cạnh tranh không được vượt quá 100 dB,
nhưng theo báo cáo, mức độ âm thanh
này đã trên rất nhiều mức âm thanh gây
nên bởi một chiếc phản lực cơ cất cánh
ở kế cận. Chính sự tích lũy liều lượng
hàng ngày trong năm năm tạo nên mối
hiểm nguy cho thính giác. ( LE FIGARO
15/10/2008)
Bác sĩ Nguyễn
Văn
Thịnh |
|