|
1/ MỘT
THUỐC CHỦNG CHỐNG LẠI BỆNH SỐT RÉT ?
Được công bố trong « The Lancet », các
kết quả của thử nghiệm của thuốc chủng
Tây Ban Nha chống lại bệnh sốt rét RTS/S
được tiến hành trên các nhũ nhi ở
Mozambique, là đáng phấn khởi vì hai
lẽ. Trước hết, không có một phản ứng
phụ nào đã được ghi nhận.Sau đó, sau 3
mũi tiêm ở tuần lễ thứ 8,12 và 16,
người ta đã quan sát thấy nguy cơ bị
nhiễm ký sinh trùng đã giảm 62%, với
22 nhiễm trùng trong nhóm được tiêm
chủng so với 46 trong nhóm kiểm chứng.
Tuy vậy đã có những chỉ trích lý luận
rằng thuốc chủng chỉ làm chậm sự xuất
hiện các cơn sốt rét, do tác dụng một
phần của thuốc lên chu kỳ phức tạp của
ký sinh trùng.Ứng viên vaccin này, một
tiền hồng cầu (préérythrocytaire) PEV,
chỉ tác động trước khi ký sinh trùng
đi vào trong các tế bào máu. Những
hướng nghiên cứu khác cũng đang được
thăm dò. Trong khi chờ đợi vaccin được
thương mãi hóa, chúng ta cần nhớ rằng
đứng trước tai ương gây một triệu tử
vong mỗi năm này, thách thức chính yếu
vẫn là việc tiếp nhận được thuốc men
điều trị .Theo một báo cáo mới đây của
Unicef, chưa được 1/3 các trẻ em bị
sốt rét là nhận được một điều trị
thích hợp mà thôi .( SCIENCES ET
AVENIR 12/2007)
2/ XÉT NGHIỆM MÁU PHÁT HIỆN BỆNH PHÌNH
ĐỘNG MẠCH CHỦ
Theo nhóm nghiên cứu của nhà phẫu
thuật John Elefteriades, thuộc trường
Y của đại học Yale (Hoa Kỳ), ngày mai
đây, chỉ cần xét nghiệm máu cũng có
thể cho phép phát hiện một phình động
mạch chủ (anévrisme de l’aorte). Phình
động mạch chủ là một sự giãn khu trú
của thành của động mạch chủ, dẫn đến
sự tạo thành một bọc máu (poche) có
thể bị vỡ đột ngột mà không cho một
triệu chứng báo hiệu nào, và gây nên
xuất huyết đưa đến tử vong trong ½
trường hợp. Ngày nay, bất thường bệnh
lý được điều trị tốt bằng phẫu thuật
ngoại khoa này chỉ có thể được phát
hiện bằng khám quang tuyến. Điều đó
nói lên tầm quan trọng của việc khám
phá bởi các nhà nghiên cứu của đại học
Yale. Các nhà nghiên cứu đã phân tích
các dạng vẻ biểu hiện di truyền (profils
d’expression génétique) của những tế
bào máu lưu thông của 94 người tham
gia, trong đó có 58 người mang một
phình động mạch chủ và 36 nhân chứng.
Ngạc nhiên : 41 gènes hoặc là được
biểu hiện quá độ (surexprimés), hoặc
được biểu hiện kém (sous-exprimés) nơi
những người mang bất thường bệnh lý
này. Đúng là một “ chữ ký » thật sự
được giải thích bởi sự kiện là các tế
bào của hệ miễn dịch (lưu thông trong
máu) chắc chắn đóng một vài trò then
chốt trong sự phát triển bất thường
của động mạch chủ. Để hợp thức hóa “
chữ ký » này, 33 người khác ( trong đó
có 22 người với một phình động mạch
chủ ) đã được xét nghiệm một cách
thành công. Dạng vẻ (profil) đúng là
được nhận diện nơi 78% các bệnh nhân .
Một thử nghiệm lâm sàng để phát hiện
với quy mô rộng lớn hơn theo dự kiến
sẽ được phát động vào năm đến. (
SCIENCES ET AVENIR 12/2007)
3/ KIỂM TRA TỐT ĐƯỜNG HUYẾT, KHẢ NĂNG
CÓ CON ĐƯỢC CẢI THIỆN
Một công trình nghiên cứu của Thụy
Điển xác nhận rằng khả năng có thai bị
giảm hơn và các nguy cơ thai nghén bị
biến chứng cao hơn nơi các phụ nữ bị
bệnh đái đường. Công trình nghiên cứu
này dựa trên các sổ ghi được thiết lập
trong 40 năm (1965-2004) và liên hệ
đến 6000 phụ nữ trước 16 tuổi, được
nhập viện vì bệnh đái đường phụ thuộc
insuline (diabète
insulinodépendant).Tuy nhiên công
trình nghiên cứu cũng chứng tỏ rằng
trong 20 năm qua, một kiểm tra
chặt chẽ đường huyết đã cho phép gần
như bình thường hoá tỷ lệ sinh sản (taux
de fertilité), còn tỷ lệ dị tật
(malformation) thì giảm từ 11,7% xuống
6,9%.( SCIENCES ET AVENIR 12/2007)
4/ ỨC CHẾ CATHEPSINE CHỐNG BỆNH LOÃNG
XƯƠNG
Tin vui từ Hoa Kỳ : một công trình
nghiên cứu mới đây, được trình bày tại
hội nghị vừa qua của Hiệp hội Hoa Kỳ
về cốt học (ostéologie), chứng tỏ rằng
chúng ta có thể chống lại tính dễ vỡ (fragilité)
của xương (nghĩa là bệnh loãng xương)
bằng cách làm nhiễu loạn chu kỳ của
cathepsine K. Thật vậy enzyme có cấu
tạo protéine này đóng một vai trò quan
trọng trong sự thoái biến collagène
của xương. 400 phụ nữ ở tuổi mãn kinh
và bị bệnh loãng xương (ostéoporose)
đã được điều trị với một chất có tác
dụng ức chế đặc hiệu lên cathepsine K,
tên gọi là odanacatib. Được cho bằng
đường miệng, thuốc điều trị này nhìn
toàn bộ được dung nạp tốt ngoại trừ
vài triệu chứng ngoài da do collagène
được chứa trong dược phẩm.Trong vòng 1
năm, người ta ghi nhận một gia tăng
2,5% đến 3,5% mật độ muối khoáng của
xương (densité minérale osseuse) nơi
cột sống thắt lưng (rachis lombaire)
và của cổ xương đùi cũng như một sự
chậm hẳn lại quá trình luân chuyển
xương (remodelage osseux, turnover).
Những công trình nghiên cứu mới được
dự kiến để đánh giá tác động của phép
điều trị này lên nguy cơ gãy xương do
chứng loãng xương.( SCIENCES ET AVENIR
12/2007)
5/ 1,3 TRIỆU TỬ VONG
Con số 1,3 triệu trường hợp tử vong
xảy ra hàng năm trên thế giới là do
việc sử dụng các bơm tiêm không được
tiệt trùng.Theo Tổ Chức Y Tế Thế Giới,
6 tỷ lần tiêm đã được thực hiện với
dụng cụ được tái sử dụng hoặc không
được tiệt trùng. Điều này chiếm 40%
những tiêm chích được thực hiện trong
những nước đang phát triển.( SCIENCES
ET AVENIR 12/2007)
6/ TRỌNG LƯỢNG VÀ UNG THƯ
Một báo cáo mới đây được công bố bởi
Quy thế giới nghiên cứu chống ung thư,
dựa trên phân tích hơn 7000 công trình
nghiên cứu được tiến hành 50 năm qua,
xác nhận rằng việc gia tăng thể trọng
(surpoids) làm gia tăng nguy cơ mắc
phải vài loại ung thư : vú, ruột, tụy
tạng, thực quản, tử cung, thận. Các
chuyên gia đề nghị giới hạn ăn thịt đỏ
(viande rouge) còn 500 g mỗi tuần và
tránh đồ thịt lợn (charcuterie).(
SCIENCES ET AVENIR 12/2007)
7/ GHÉP CÁC TẾ BÀO GỐC LÀM HỒI PHỤC
TỐT TRÁI TIM BỊ THƯƠNG TỔN
Được ghép vào trong tim, các tế bào
gốc (cellules souches) xuất phát từ
tủy xương có được biến đổi thành những
tế bào cơ tim hay không ? Từ giữa
những năm 1990, vài chục bệnh nhân
trên thế giới đã thấy tình trạng sức
khỏe của họ được cải thiện nhờ những
ghép tiền phong này… mặc dầu cơ chế
vận hành hoàn toàn không được làm sáng
tỏ một cách rõ ràng. Nhưng những công
trình của Piero Anversa của Viện bệnh
học tim phân tử ở Louisville (Hoa Kỳ)
chứng tỏ rằng việc ghép các tế bào gốc
đúng là đã sửa chữa thành của các trái
tim bị thương tổn, thí dụ bởi các nhồi
máu cơ tim xảy ra nhiều lần. Cùng với
nhóm nghiên cứu, thầy thuốc khoa tim
đã theo dõi hàng giờ số phận của các
tế bào gốc được ghép trong một trái
tim bị hư hỏng của chuột. Bằng cách sử
dụng những chỉ dấu tế bào ( marqueurs
cellulaires ) ( một loại « thẻ căn
cước « phân tử ), ông đã có thể thấy
sự biến đổi diễn ra thật sự. Những tế
bào được ghép đã bắt đầu mất những đặc
điểm của tế bào gốc của chúng trong 24
đến 36 giờ sau phẫu thuật. Sau 36 giờ,
những vùng rộng lớn của tim đã được
sửa chữa nhờ sự xuất hiện của những tế
bào cơ tìm mới !( SCIENCE ET VIE
12/2007)
8/ MẬT TẠO NÊN NHỮNG ĐIỀU THẦN DIỆU
Các bệnh viện của Anh và xứ Galle
chẳng bao lâu nữa sẽ có thể sử dụng
một phương thuốc từ thời Pharaon để
làm dễ sự hóa sẹo của những vết thương
và những vết bỏng : mật.
Theo BS Faisal Khan, nhà nghiên cứu
của National Service de Bangor ở xứ
Galle, càng ngày càng có nhiều nghiên
cứu khoa học chứng tỏ rằng mật là một
chất kháng khuẩn có hiệu quả, kể cả
chống lại tụ cầu khuẩn vàng (staphylocoque
doré) đáng sợ. Mật làm dễ sự hóa sẹo
và làm giảm sự đau đớn. Những tính
chất này một phần do mật có khả năng
hút độ ẩm của không khí (hygroscopique)
và có tính acide.( SCIENCE ET VIE
12/2007)
9/ ỚT CÓ THỂ DÙNG ĐỂ CHỐNG ĐAU
Bằng cách kết hợp một thuốc gây tê tại
chỗ cổ điển, QX-134 và capsaicine,
phân tử khiến ớt có vị cay, một nhà
nghiên cứu của Hoa Kỳ đã thành công
làm cho các chú chuột vô cảm với sự
đau đớn mà không làm biến đổi các cử
động của chúng. Thật vậy capsaicine
chỉ gắn chặt vào những neurone phụ
trách về cảm giác đau đớn.Việc gắn
chặt này khiến cho chất thuốc gây tê
đi vào trong những neurone này mà thôi.(
SCIENCE ET VIE 12/2007)
10/ MONOXYDE DE CARBONE (CO) CÓ THỂ LÀ
THUỐC HAY
Monoxyde de carbone gây tử vong với
liều lượng cao.Với liều lượng thấp, CO
làm giảm các phản ứng viêm, làm gia
tăng sự giãn mạch, tránh sự tạo thành
các cục máu đông và ngăn cản các tế
bào miễn dịch tấn công các cơ quan
được ghép.Trong y khoa, CO tỏ ra quá
nguy hiểm nên không thể được sử dụng.
Nhưng các nhà nghiên cứu người Anh đã
hiệu chính những phân tử trong đó
monoxyde liên kết với một chất kim
loại ( ruthénium, sắt hoặc manganèse
). Hòa tan trong nước, các phân tử này
có thể được tiêm dễ dàng.( SCIENCE ET
VIE 12/2007)
BS
Nguyễn
Văn
Thịnh |
|