|
ANANDIBAI
JOSHI GOPAL (1865- 1887), NGƯỜI THẦY
THUỐC NỮ ĐẦU TIÊN CỦA ẤN ĐỘ
Ở Ấn Độ, họ của cô, Anandibai, có
nghĩa là “ người phụ nữ hạnh phúc ”.
Mặc dầu được nuôi dạy trong một cung
điện hindou và theo những truyền thống
Bà la môn thuần túy nhất, thế mà
Anandibai sẽ thoát ra được cung điện
để đi Hoa Kỳ học lấy văn bằng y khoa.
Tuy là người thầy thuốc nữ đầu tiên
của Ấn độ, nhưng cô sẽ không có cơ hội
để hành nghề, vì bị ngã bệnh qua đời
vào lúc đang còn ở tuổi thanh xuân.
NHỮNG VẺ HUY HOÀNG VÀ NHỮNG NỖI KHỐN
KHỔ CỦA MỘT NÀNG CÔNG CHÚA HINDOU.
Anandibai sinh năm 1865 ở Punah, Ấn
Độ, phía bắc Bombay, trong một gia
đình Bà là môn. Ngay từ khi sinh ra
đời, số phận của cô đã được vạch sẵn :
đó là số phận của một nàng công chúa
Ấn Độ, được vây bọc chung quanh bởi
một đám người phục dịch sẵn sàng thỏa
mãn tất cả những ao ướt của cô, nhưng
cô không được quyền đi ra khỏi cái nhà
tù vàng son để đi lại tự do, cũng như
không được quyền xuất hiện trước công
chúng.
Vào năm 9 tuổi, bố mẹ Anandibai gã cô
cho một người đàn ông góa vợ, lớn hơn
cô 20 tuổi, tên là Gopalrao Goshi. Ở
lứa tuổi này, chúng ta có thể tưởng
tượng dễ dàng rằng Anandibai không có
quyền được lựa chọn và việc cưới hỏi
này được áp đặt lên cô.
Nhưng cô Anandibai bé nhỏ có được một
sự may mắn : chồng cô là một người đàn
ông có những tư tưởng tiến bộ.
Gopalrao quyết định dạy dỗ người vợ
còn rất trẻ tuổi của mình và nhận được
sự đồng ý của ông bố vợ để mang lại
cho Anandibai một trình độ học vấn.
Sau các bức tường của lâu đài,
Anandibai đã học tiếng Phạn, như
truyền thống mong muốn như vậy. Nhưng
chồng cô lại cho rằng học tiếng Anh là
quan trọng hơn nên đã khai tâm cô bé
cái ngôn ngữ này.
MỘT THIÊN CHỨC KHÔNG THỂ THỰC HIỆN
ĐƯỢC Ở ẨN ĐỘ
Năm 1878, Anandibai chỉ mới 12 tuổi,
sinh ra đời một đứa con đầu lòng, chỉ
sống được vài ngày. Cái chết của đứa
con đã đánh dấu một bước ngoặt trong
cuộc đời của Anandibai. Dầu còn trẻ
tuổi, nhưng điều đó không ngăn cản
Anandibai hiểu rằng con cô đã chết vì
thiếu những săn sóc điều trị thích
đáng. Tình hình y tế thật là thảm hại
đối với các phụ nữ ở Ẩn Độ thời đó,
vẫn còn bị siết chặt trong hệ thống
đẳng cấp. Đúng là có vài thầy thuốc,
nhưng cũng như các người đàn ông khác,
những vị thầy thuốc này không có quyền
thăm khám các phụ nữ, huống hồ là các
công chúa bị cấm cung , và nếu cần
phải thăm khám, thì họ phải đưa bàn
tay qua một bức màng treo. Như thế thì
làm sao bảo đảm được sự chính xác và
tính chất nghiêm túc của một công tác
y khoa được thực hiện trong những điều
kiện như vậy...
Khi đó ý tưởng trở thành thầy thuốc
đến với Anandibai. Giấc mơ không thể
thực hiện được đối với một phụ nữ Bà
la môn vào thời kỳ đó. Nhưng
Anandibai, như tên cô chỉ rõ, là một
phụ nữ có may mắn : cô được tất cả sự
ủng hộ và những lời khích lệ của chồng
cô.
Nhưng dầu cho Gopalrao là một người
chồng tiến bộ, có những tư tưởng cải
cách chăng nữa, anh ta vẫn không thể
thay đổi gì được sự việc là người vợ
của anh không thể nào theo học y khoa
ở Ấn Độ. Ra khỏi cung điện, mua sách
vở, gặp gỡ người ta, đó là những điều
không được đánh giá tốt đối với một
phụ nữ Ấn độ thuộc đẳng cấp như cô.
Các người Bengale chính thống nhất sẽ
không ngần ngại đến trách cô về những
vi phạm truyền thống mà cô đã phạm
phải. Ham muốn đi học là một ý nghĩ
tốt đối với một nữ tội phạm nhưng
không tốt đối với một người con gái Bà
la môn.
Nếu Anandibai muốn trở thành thầy
thuốc, thì cô không còn có giải pháp
nào khác hơn là phải đi Hoa Kỳ, nơi mà
từ ít lâu nay người ta đã thành lập
trường y dành cho phụ nữ ở Pensylvania
(Female Medical College de
Pensylvanie). Mặt khác, những thầy
thuốc trường y này đã phát triển những
quan hệ với châu Á nhằm cải thiện tình
trạng săn sóc y tế ở đó.
NHỜ MỘT NHÀ TRUYỀN GIÁO, MỘT PHỤ NỮ
NGƯỜI MỸ, MỘT NHA SĨ VÀ SỰ TÌNH CỜ.
Gopal nhờ đến một nhà truyền giáo cơ
đốc người Mỹ, Royal Wilder. Ông này
sẵn sàng giúp hai vợ chồng nhưng đặt
điều kiện là Gopalrao và vợ phải theo
đạo cơ đốc. Hai vợ chồng từ chối vì
điều này không thể chấp nhận được đối
với họ. Nhưng dầu sao Wilder vẫn giúp
họ một cách gián tiếp. Thật vậy, ông
công bố câu chuyện này trong tập san
của hội truyền giáo, Princeton’s
Missionary Review. Tập san này rơi vào
tay một phụ nữ người Mỹ, bà Theodicia
Carpentier. Bà này lật xem tập san
trong khi kiên nhẫn ngồi chờ trong
phòng đợi của người nha sĩ. Cảm động
vì câu chuyện của cô gái Ấn Độ ước
muốn trở thành thầy thuốc, Theodicia
đã viết cho Anandibai đề nghị giới
thiệu cô theo học trường y dành cho
phụ nữ ở Pensylvanie.
NHỮNG NĂM THÁNG CHĂM CHỈ CHUYÊN CẦN VÀ
SỰ LƯU ĐẦY THƯƠNG TÂM.
Như thế Anandibai đi Hoa Kỳ, ngày 7
tháng 4 năm 1883 và sự việc cô đến Hoa
Kỳ một mình đúng là một cuộc cách mạng
thật sự đối với một cô gái trẻ người
Ấn Độ thuộc đẳng cấp như cô. Chồng cô
không thể đi theo vì lý do tài chánh.
Do hành động của Anandibai và do sự
ủng hộ mà anh đã thể hiện đối với vợ
mình, Gopalrao bị phế truất ra khỏi
đẳng cấp của anh.
Như thế cô bắt đầu theo học và các khả
năng của cô được phát hiện tương xứng
với động cơ học tập mà cô theo đuổi.
Không gì ngăn cản cô người Ấn độ trẻ
tuổi sống một cuộc sống như những sinh
viên khác mà cô đã gặp.
Nhưng Aanandibai, mặc dầu đánh mất
danh giá trong đất nước mình vì đã vi
phạm những quy tắc về hạnh kiểm áp đặt
lên các phụ nữ, nhưng sống ở Hoa Kỳ,
cô vẫn tôn trọng đạo đức và phong tục
Ấn Độ, không thay đổi gì hết phong
cách ăn mặc cũng như cách ăn uống.
Anandibai càng gắn bó với truyền thống
của mình, nhất là khi cô phải sống khổ
trong kiếp lưu đày : căn phòng sinh
viên của cô chẳng giống gì hết với cái
cung điện hindou, còn cuộc sống ở Mỹ
thì không được thanh thản và yên tĩnh
bằng cuộc sống mà cô đã trải qua ở Ấn
Độ và ngoài ra cô phải đau buồn khi
phải sống xa chồng.
Anandibai mất đi sự thanh thản, cô lo
lắng và làm việc càng say mê khi cô
càng bị trầm uất bởi sự thay đổi lối
sống và sự cô đơn. Cô không chịu nổi
sự thay đổi khí hậu, và sự thay đổi
giờ giấc thật là quá lớn.
Sau cùng cô đã xuất sắc trong kỳ thi
ra trường cũng như khi trình luận án
và đã nhận văn bằng tốt nghiệp năm
1886.
SỰ CÔNG NHẬN VÀ SỰ QUA ĐỜI Ở TUỔI
THANH XUÂN.
Anandibai đã nhận được văn bằng tốt
nghiệp, nhưng đồng thời tình trạng sức
khỏe của cô càng ngày càng trở nên suy
kém. Khi Gopal đến tìm kiếm cô ở Hoa
Kỳ, thì đó là một một người vợ gầy ốm
và nhỏ người đi về mặt vật lý cũng như
tinh thần, kết quả của sự tàn phá bởi
bệnh lao mà cô đã mắc phải. Tình trạng
của Anandibai đáng lo ngại đến độ
chồng cô khuyên cô ở lại Hoa Kỳ. Nhưng
Anandibai muốn hành nghề y khoa ở Ấn
Độ. “ Tôi biết văn hóa và tập tục ở Ẩn
Độ, tôi có thể rất hữu ích cho đất
nước tôi ”.
Vả lại, ông hoàng Kohalpur đã bổ nhiệm
cô, ngay cả trước khi cô trở về, để
phụ trách khoa dành cho các phụ nữ,
được dự kiến thành lập trong bệnh viện
rất mới Albert Edward Hospital vừa
được khánh thành. Một vinh dự tốt đẹp
đối với người thầy thuốc nữ đầu tiên
hết gốc Ấn Độ...mặc dầu bị phế truất
không còn là tín đồ Bà la môn nữa.
Ngoài ra nữ hoàng Victoria đã gởi đến
cho cô những lời khen ngợi.
Anandibai trở về Ấn Độ tháng 10 năm
1886 nhưng cô sẽ không bao giờ có cơ
hội để đem những khả năng chuyên môn
của mình phục vụ nhân dân của đất nước
cô. Cô qua đời vài tháng sau đó, vào
tháng hai năm 1887, được bao quanh và
được tôn vinh ngay bởi những kẻ đã
từng chỉ trích, cho rằng những hành
động mà cô đã phạm phải là phạm tội.
Tuy qua đời vào năm 22 tuổi, nhưng cô
gái tiền phong trẻ tuổi của nền y khoa
cho phái nữ này đã mở các cánh cửa cho
sự giải phóng dành cho các phụ nữ Ân
độ, và đồng thời mở các cánh cửa cho
sự phát triển nền y tế của đất nước
này. Năm 1899, Ấn Độ có 94 bệnh viện,
trong đó 34 thầy thuốc nữ từng tốt
nghiệp ở châu Âu và châu Mỹ, cùng làm
việc với 75 thầy thuốc nữ tốt nghiệp
từ các trường y hindou.( LA SEMAINE
MEDICALE 2/10/2008)
====
ĂN KHÔNG
THÍCH THÚ LÀM DỄ PHÁT SINH CHỨNG BÉO
PHÌ
Để giữ thân hình mảnh khảnh, không gì
bằng sự cảm thấy thích thú trong khi
ăn ! Thật vậy, những người bị gia tăng
thể trọng (surpoids) là kết quả của sự
thiếu hụt trong việc hoạt hóa những
trung tâm não bộ phụ trách về sự thích
thú (plaisir) và do đó ăn nhiều hơn để
bù trừ sự thiếu hụt này, theo Eric
Stice thuộc đại học Texas. Nhờ những
kỹ thuật chụp hình ảnh não bộ, ông ta
đã theo dõi sự đáp ứng của đường vòng
khen thưởng (circuit de récompense)
nơi những thiếu nữ đang nhấm nháp
milk-shake au chocolat. Vùng này của
não bộ tiết dopamine, chất dẫn truyền
thần kinh gây nên một cảm giác thích
thú, tỷ lệ với lượng thức ăn được ăn
vào. Đây là một phương cách của cơ thể
cho biết là tình trạng no nê đã đạt
được. Nơi vài thiếu nữ, dopamine được
tiết không được đầy đủ và các thụ thể
của dopamine hiện diện với số lượng
thấp hơn. Thế mà chính những thiếu nữ
này lại có chỉ số khối lượng cơ thể
(indice de masse corporelle) cao nhất
sau một năm thí nghiệm. Một hướng để
tìm những thuốc mới chống bệnh béo
phì. ( SCIENCE ET VIE 12/2008)
===
TUỔI THỌ :
MỘT ĐẶC ĐIỂM CÓ TÍNH CÁCH GIA ĐÌNH
Tỷ lệ mắc phải các bệnh liên quan với
tuổi tác nơi những hậu duệ của những
người bách niên, được xem là có khuynh
hướng sống già và khỏe mạnh, là tỷ lệ
nào ? Emily Adams và các cộng sự viên
đã thực hiện một công trình nghiên cứu
nơi 440 người con của các vị bách niên
(cha mẹ ít nhất đạt đến 97 tuổi) và
192 người chứng, tuổi trung bình của
hai nhóm là 72 tuổi khi họ điền bảng
câu hỏi lúc bắt đầu công trình nghiên
cứu. Thời gian theo dõi thay đổi từ
3,5 đến 3,9 năm.
Công trình nghiên cứu này là công
trình đầu tiên chứng nhận về tình
trạng sức khỏe của các người con của
các bách niên.
Những kết quả cho thấy rằng, so với
nhóm kiểm chứng, các người con của các
vị bách niên có 78% nguy cơ ít hơn bị
nhồi máu cơ tim, 83% nguy cơ ít hơn bị
tai biến mạch máu não và 86% nguy cơ
ít hơn bị bệnh đái đường loại 1. Trái
lại không có sự khác nhau đáng kể về
sự xuất hiện những bệnh khác liên quan
với tuổi tác.
Ngoài ra, công trình nghiên cứu này đã
nhận thấy rằng tỷ lệ tử vong của những
người này trong thời gian theo dõi
giảm 81% so với nhóm kiểm tra. Tỷ lệ
sinh tồn (taux de survie) chứng tỏ
rằng tuổi thọ là một vấn đề gia đình
và các kết quả xác nhận rằng những yếu
tố sinh lý và di truyền ảnh hưởng lên
tuổi thọ gia đình.
Những kết quả này phú hợp với những
kết quả trước, gợi ý rằng sự vắng mặt
hoặc thời gian xuất hiện của những
bệnh tim mạch và những yếu tố nguy cơ
tim mạch, trong đó có cao huyết áp và
bệnh đái đường, gắn liền với các gia
đình của các vị bách niên, và đặc biệt
hơn với các người con của các vị bách
niên này.( LE JOURNAL DU MEDECIN
28/11/2008)
===
MỘT MÁY KÍCH
THÍCH NÃO BỘ (STIMULATEUR CEREBRAL)
CHỐNG LẠI CÁC RỐI LOẠN ÁM ẢNH
(TROUBLES OBSESSIONNELS)
Neurochirurgie : Sau bệnh Parkinson,
vài rối loạn ám ảnh thúc bách
(troubles obsessionnels compulsifs)
(TOC) thể nặng và không đáp ứng với
điều trị, cũng có thể được điều trị
với kỹ thuật này.
Sự kích thích điện (stimulation
éléctrique) nơi một vài vùng não bộ
cho phép làm giảm bớt những triệu
chứng tâm thần đáng sợ : các rối loạn
ám ảnh thúc bách (troubles
obsessionnels compulsifs hay TOC). Dầu
sao, đó là điều được chứng tỏ bởi
những kết quả đầy hứa hẹn của một thử
nghiệm lâm sàng, được thực hiện ở Pháp
trên 16 bệnh nhân bị bệnh nặng và đề
kháng với những điều trị thông thường.
Công trình nghiên cứu này được công bố
hôm nay trên New England Journal of
Medicine.
Được đặt tên là kích thích sâu não bộ
(stimulation cérébrale profonde),
phương pháp này nhằm dùng phẫu thuật
để cắm những điện cực nhỏ xíu trong
những vùng bị bệnh của não bộ, để kích
thích chúng với những dòng điện liên
tục trong mục đích cải thiện các triệu
chứng.
Xuất hiện vào cuối những năm 1980,
kích thích điện não bộ trước hết được
áp dụng thành công nơi những thể nặng
nhất của bệnh Parkinson. Ngày nay, 400
bệnh nhân bị bệnh Parkinson được mổ
mỗi năm ở Pháp.
CẢI THIỆN LÂM SÀNG.
TOC, gây bệnh cho 2% dân số, là những
rối loạn tâm thần rất gây phế tật :
các bệnh nhân bị ám ảnh bởi tính sạch
sẽ, tính ngăn nắp, sự đối xứng, hoặc
họ bị xâm chiếm bởi những mối nghi
ngờ, những niềm sợ hãi phi lý. Để làm
giảm sự lo âu, họ thực hiện những nghi
thức (rituels) sắp xếp, giặt rửa hoặc
kiểm tra trong nhiều giờ mỗi ngày, đối
với những trường hợp nặng.
Những hành vi bệnh lý này làm bệnh
nhân khốn khổ và chịu phế tật quan
trọng, thường kéo dài trong nhiều năm.
1/3 những bệnh nhân TOC đề kháng hoàn
toàn với những liệu pháp hành vi
(thérapie comportementale) và các
thuốc chống trầm cảm thường được kê
đơn. Thế mà công trình nghiên cứu của
NEJM cho thấy rằng sự kích thích điện
não bộ đã mang lại lợi ích một cách
đáng kể đối với 7 trên 10 bệnh nhân,
với sự biến mất 25% các triệu chứng .
Ngoài ra, theo các tác giả, 6 bệnh
nhân trên 10 đã đạt được “ một chức
năng toàn bộ thỏa mãn với một khó chịu
chỉ ở mức độ trung bình ”.
Tất cả bắt đầu năm 2002, khi nhóm
nghiên cứu của Luc Mallet ở Bệnh Viện
Pitié-Salpêtrière, Paris, đã có một
nhận xét lạ kỳ về hai bệnh nhân bị
bệnh Parkinson nhưng đồng thời cũng bị
chứng TOC trầm trọng đã nhiều năm.
Những bệnh nhân này đã được trang bị
những điện cực cắm vào trong nhân xám
trung ương của vùng dưới đồi (noyau
gris central sous-thalamique) để hủy
bỏ hoặc làm giảm các triệu chứng run,
cứng cơ và những rối loạn vận động gây
nên bởi bệnh Parkinson.Thế mà các thầy
thuốc đã nhận thấy rằng bệnh TOC nơi
những bệnh nhân bị Parkinson này đã
được chữa lành một cách “ diệu kỳ ”
bằng sự kích thích điện.
Nơi những bệnh nhân Parkinson, việc
đặt một điện cực vào trung tâm của
nhân dưới đồi (noyau sous-thalamique)
cho phép làm biến mất các rối loạn vận
động. Nhưng chỉ cần xê dịch nơi kích
thích vài milimet cũng có thể quan sát
những biến đổi của trạng thái tâm thần
và của hành vi của các bệnh nhân.
Chính khái niệm mới này là nguồn gốc
của thử nghiệm được công bố hôm nay.
Đối với những bệnh nhân là nạn nhân
của TOC, sự cắm các điện cực cho phép
tác động một cách rất chính xác và có
thể đảo ngược, và không tạo nên những
thương tổn não bộ. Đó là một tiến bộ
to lớn : cộng đồng ngoại thần kinh
cách nay nhiều năm đã đưa ra giả
thuyết về một rối loạn chức năng của
một đường vòng não bộ (circuit
cérébral) liên quan đến những nhân xám
trung ương nơi những bệnh nhân bị TOC.
Để cắt đường vòng này, những cố gắng
nhằm phá hủy các vùng não bộ có liên
quan đã được thực hiện ở nhiều nước (ở
Pháp bị bỏ từ 15 năm nay). Do việc
chọn lựa mục tiêu của não bộ không
đúng, nên những can thiệp này đã không
cho những kết quả thuyết phục.
Tuy nhiên, sự cải thiện lâm sàng đáng
kể trên 16 bệnh nhân người Pháp đặt ra
những câu hỏi mới : Đâu là mục tiêu để
kích thích tốt nhất trong não bộ để
chống lại bệnh TOC ? Những kỹ thuật
không xâm nhập khác có một vài trò hay
không ? Làm sao chọn lựa những chỉ
định tốt nhất trong số 12.000 bệnh
nhân TOC đề kháng ở Pháp?( LE FIGARO
13/11/2008)( LE JOURNAL DU MEDECIN
18/11/2008)
====
GÃY ĐỐT SỐNG
DO LOÃNG XƯƠNG VÀ RALOXIFENE (EVISTA)
Giáo Sư Teven Boonen, đại học công
giáo Louvain (UCL), Bỉ, giải thích về
nguy cơ gãy xương đốt sống do loãng
xương (fracture vertébrale
ostéoporotique) và tác dụng phòng ngừa
của raloxifène (Evista), thuốc cản quá
trình tiêu xương.
Hỏi : Đến mức độ nào thì mật độ xương
(densité osseuse) là quan trọng ?
G. S Steven Boonen : Một mật độ xương
thấp là một trong những yếu tố nguy cơ
của gãy xương. Do đó những người có
một mật độ xương thấp là những ứng
viên tốt để được điều trị chống loãng
xương (traitement anti-ostéporotique),
và điều này vì lẽ : một mặt, nguy cơ
bị gãy xương gia tăng rõ ràng nơi
những người có mật độ xương thấp, mặt
khác, vài dữ kiện có sức thuyết phục
cho thấy rằng một điều trị cản quá
trình tiêu xương (traitement
inhibiteur de la résorption osseuse)
là có lợi nơi những người này. Ngoài
những phụ nữ có một mật độ xương dưới
một trị số tối thiểu được xác định
(T-score < -2,5), vài phụ nữ với một
hay nhiều gãy lún đốt sống (tassements
vertébraux) cũng có thể được xét đến
để điều trị cản quá trình tiêu xương.
Những người bị gãy lún đốt sống cần
phải được điều trị, dầu cho mật độ
xương như thế nào đi nữa. Nói một cách
khác : trong trường hợp gãy lún đốt
sống, phải tiến hành điều trị cản sự
tiêu xương một cách có hệ thống , ngay
cả khi T-score trên –2,5.
Hỏi : Trong trường hợp nào đo mật độ
xương là cần thiết và trong trường hợp
nào là không cần thiết ?
G.S SB : Nơi những phụ nữ sau thời kỳ
mãn kinh, đã từng có gãy lún đốt sống
(tassement vertébral), để chẩn đoán
bệnh loãng xương và xác định chỉ định
để điều trị, thì việc đo mật độ xương
trong trường hợp này là thừa. Trái
lại, trong trường hợp bệnh nhân chưa
từng có một gãy lún đốt sống nào xuất
hiện, việc đo mật độ xương cho phép
phát hiện bệnh loãng xương (khi
T-score <-2,5) và như vậy xác định có
nên tiến hành điều trị cản tiêu xương
hay không. Thăm khám để phát hiện
loãng xương nhờ đo mật độ xương được
chỉ định nơi tất cả các phụ nữ sau
thời kỳ mãn kinh, trên 65 tuổi. Trong
nhóm phụ nữ này, việc đo mật độ xương
được chỉ định không chỉ trên phương
diện y khoa, mà còn trên phương diện
kinh tế (thật vậy, nơi các phụ nữ trên
65 tuổi, ít nhất một phụ nữ trên ba bị
chứng loãng xương). Trước 65 tuổi, sự
đo mật độ xương chỉ được khuyên thực
hiện khi có vài yếu tố nguy cơ đặc
biệt. Những chỉ định để đo mật độ
xương trước 65 tuổi là : tiền sử cá
nhân và gia đình bị gãy xương, thể
trạng mảnh khảnh (IMC< 20), mãn kinh
trước 45 tuổi và điều trị với
corticoides bằng đường miệng. Mặc dầu
việc đo mật độ xương là rất cần thiết
để phát hiện những người có nguy cơ
cao, nhưng nó không đủ đáng tin cậy để
đo lường hậu quả của các thương tổn.
Thật vậy, một điều trị không chỉ giới
hạn vào việc tăng cường mật độ xương,
mà còn phải tác động lên vi cấu trúc
cửa xương nữa.
Hỏi : Làm sao giải thích những kết quả
của xét nghiệm đo mật độ xương
(densitométrie) ?
G.S SB : Nơi những bệnh nhân được điều
trị bằng thuốc ức chế sự tiêu xương,
không có một liên hệ nhất quán nào
giữa sự bảo vệ chống lại gãy xương và
sự tiến triển của mật độ xương. Do đó,
việc đo mật độ xương trong lúc điều
trị không được thực hiện để đánh giá
hiệu quả điều trị, nhưng để cho bệnh
nhân một feedback dương tính và, như
thế, cải thiện sự tuân thủ điều trị.
Hỏi : Còn về calcium và vitamine D thì
sao ?
G.S SB : Caicium và vitamine D là
những thành phần chủ yếu của mọi điều
trị chống loãng xương. Vì lẽ những
biến đổi của chế độ ăn uống hiếm khi
có thể bình thường hóa được cân bằng
calcium, nên một điều trị phối hợp dựa
trên những bổ sung calcium và vitamine
D là tỏ ra cần thiết. Một điều trị
bằng thuốc ức chế quá trình tiêu xương
phải được kết hợp một cách hệ thống
với calcium và vitamine D. Liều lượng
trung bình được đòi hỏi là 1.000 và
1.200mg calcium và ít nhất 800 UI
vitamine D mỗi ngày. Một liều vitamine
D 400 UI là không đủ.
Hỏi : Tầm quan trọng của những gãy
xương đốt sống là gì ?
G.S SB : Nơi các phụ nữ sau mãn kinh
bị chứng loãng xương, nguy cơ bị gãy
lún đốt sống (tassements vertébraux)
là quan trọng hơn nguy cơ bị mọi gãy
xương khác. Trước tuổi 70, những gãy
xương đốt sống hẳn là nổi bật và việc
làm giảm các gãy xương đốt sống là mục
tiêu của điều trị. Từ 70 đến 75 tuổi,
mức độ quan trọng của những gãy xương
háng và những gãy xương không phải đốt
sống khác gia tăng nhanh chóng. Trước
70 tuổi, ngay cả với sự hiện diện của
một mật độ xương bị giảm nơi háng,
nguy cơ gãy xương nơi các phụ nữ trước
hết là một nguy cơ gãy xương đốt sống.
Tầm quan trọng của các gãy lún đốt
sống vẫn còn bị đánh giá thấp.Tuy vậy,
những gãy xương đốt sống được liên kết
với một tỷ lệ bệnh tật đáng kể và với
một sự giảm chất lượng cuộc sống, đặc
biệt sự hiện diện của chứng đau lưng
mãn tính (dorsalgie) và những vấn đề
hô hấp do tăng gù lưng (hypercyphose).
Ngoài ra, những công trình nghiên cứu
mới đây phát hiện một tỷ lệ tử vong
liên kết với gãy xương đốt sống. Do đó
sự ngăn ngừa các gãy xương đốt sống là
ưu tiên trong điều trị bệnh loãng
xương sau mãn kinh nơi những phụ nữ từ
50 đến 70 tuổi. Trong trường hợp này,
alendronate cũng như raloxiphène
(Evista) và risédronate (Actonel) có
thể được sử dụng. Với điều trị, nguy
cơ bị gãy đốt sống được giảm khoảng 40
đến 50%, và nguy cơ bị gãy nhiều đốt
sống được giảm hơn 90% ! Tác dụng bảo
vệ có được với raloxiphène (Evista) có
thể tương đương với tác dụng của các
biphosphonates. Mục tiêu chính là
tránh “ tác dụng domino của gãy xương
” .
Hỏi : Mối liên hệ giữa một mật độ
xương thấp ở cổ xương đùi và nguy cơ
bị gãy xương đốt sống ?
G.S GB : Trước tuổi 70, một mật độ
xương bị giảm không nhất thiết hàm ý
một nguy cơ gia tăng bị gãy xương
háng. Thật vậy, trong lứa tuổi này,
nguy cơ té ngã còn được giới hạn. Nơi
những bệnh nhân này, một T-score nơi
xương đùi, chủ yếu có một giá trị tiên
đoán đối với những gãy xương đốt sống
tương lai. Nơi những phụ nữ có một mật
đó xương bị giảm, những thuốc ức chế
quá trình tiêu xương ( ví dụ
raloxiphène, Evista) cho phép làm giảm
rõ rệt nguy cơ gãy xương đốt sống.
Điều chứng nhận này nhấn mạnh tầm quan
trọng của một chẩn đoán sớm bệnh loãng
xương (ostéoporose).
Hỏi : Ngoài những lợi ích trên xương,
những lợi ích khác liên kết với điều
trị với raloxifène là những lợi ích
nào ?
G.S SB : Raloxifène (Evista) đảm bảo
sự bảo vệ chống lại ung thư vú. Các
biphosphonates, ngược lại, chỉ tác
động duy nhất trên xương. ( PATIENT
CARE 10/2008)
===
ĐỜI SỐNG TÌNH
DỤC LÚC VỀ GIÀ
Dân số thế giới đã gia tăng gấp 6 lần
từ năm 1800 đến nay. Từ năm 1996 đến
2025, dân số người trên 65 tuổi sẽ
tăng từ hơn 20% lên hơn 30%. Từ năm
1995 đến 2000, hy vọng sống thêm
(l’espérance de vie) đã gia tăng 18
năm đối với đàn ông và 20 năm đối với
phụ nữ. Sự loạn năng cương
(dysfonction érectile) bắt đầu ngay
năm 40 tuổi, và vào tuổi 70, cứ 3
người đàn ông thì có hai người bị loạn
năng cương ở những mức độ khác nhau.
Nhiều yếu tố ảnh hưởng lên chất lượng
sống của người đàn ông lúc về già :
những giới hạn về mặt nhận thức và vật
lý trầm trọng dần theo năm tháng.
Sự hiện diện của một rối loạn cương
làm gia tăng nguy cơ tai biến mạch máu
não, ở cùng lứa tuổi. Cũng vậy, có một
tương quan trực tiếp giữa những rối
loạn cương và mức độ nghiêm trọng của
những bệnh đường tiểu.
Điều trị rối loạn cương bằng thuốc ức
chế phosphodiestérase loại 5 (IPDE5 :
inhibiteurs de la phosphodiestérase
type 5) như Viagra, Cialis, Levitra.
Giới tính trị liệu pháp (sexothérapie)
có một vai trò ít hơn nơi các người
trẻ bởi vì ở đây phần thân thể
(somatique) quan trọng hơn phần tâm
lý.
Tỷ lệ mắc phải loạn chức năng sinh dục
nữ (dysfonction sexuelle féminine) là
25% nơi các phụ nữ dưới 30 tuổi và lên
hơn 80% sau tuổi 70.
Tỷ lệ các rối loạn “ kích dục ” (“
arousal ”) (chủ yếu là sự bôi trơn âm
đạo) vượt quá 30% sau 50 tuổi . Tỷ lệ
rối loạn ham muốn là 42% nơi phụ nữ
mãn kinh và 46% nơi các phụ nữ mãn
kinh xảy ra sau phẫu thuật. Những
nguyên nhân của những rối loạn này chủ
yếu là hormone, thuốc và tâm lý. Điều
trị nhằm cho một thuốc bôi trơn
(lubrifiant) hay một điều trị tại chỗ
bằng hormone hay một giới tính trị
liệu pháp nếu nghi một vấn đề về hành
vi.
Huyền thoại theo đó tình dục tắt đi
với tuổi tác phải được bác bỏ. Mặc dầu
những thoái hành sinh lý xảy ra lúc
lớn tuổi, nhưng sự ham muốn và thỏa
mãn vẫn hoàn toàn nguyên vẹn. 23%
người Bỉ nghĩ rằng những người già
không còn thích thú về tình dục. 15%
nghĩ rằng các người già không làm giao
hợp nữa. Tần số các giao hợp này giảm
khi tuổi tác gia tăng, nhưng một nửa
những người từ 70 đến 80 tuổi giao hợp
từ 1 đến 4 lần mỗi tháng . Những thói
quen tình dục không bị biến đối với
tuổi tác. Tình yêu của các lão niên ít
sinh dục (génital) nhưng gợi dục
(érotique) hơn, có ít cảm giác
(sensations) nhưng nhiều cảm xúc
(émotions) hơn. ( LA REVUE DE LA
MEDECINE GENERALE 11/2008)
===
NHỮNG UNG THƯ
GIAI ĐOẠN TIẾN TRIỂN TRỞ THÀNH BỆNH
MÃN TÍNH
G.S David Khayat giải thích những điều
trị nhắm đích (traitements ciblés) mới
làm ngừng tiến triển của nhiều loại
ung thư. Ông cũng là tác giả của “
Mots sur les maux du cancer ”
Hỏi : Ngày nay, tỷ lệ lành bệnh của
những ung thư thường xảy ra nhất là
những tỷ lệ nào ?
G.S David Khayat : Về ung thư vú, hơn
80% các phụ nữ được điều trị hiện nay
sẽ lành bệnh. Chúng ta sẽ có một tỷ lệ
lành bệnh khá gần đối với các ung thư
tiền liệt tuyến (75%) và đối với các
ung thư của trực tràng (70%). Với
những trị liệu hiện nay, cũng có một
tỷ lệ lành bệnh rất cao nơi những
người bị vài ung thư hạch và tinh
hoàn. Các ung thư của trẻ em cũng được
hưởng rất nhiều những tiến bộ điều
trị.
Hỏi : Cách tác dụng của những điều trị
nhắm đích (traitements ciblés) mới
nhất là gì ?
G.S David Khayat : Các tiên lượng của
vài loại ung thư đã có được một sự cải
thiện rõ rệt nhờ các vũ khí mới nhắm
đích ! Thay vì dội bom toàn bộ các tế
bào của cơ thể với các thuốc hóa học
trị liệu, người ta tìm cách chỉ tấn
công vào những cơ chế phân tử mà các
tế bào ung thư sử dụng để trở thành
đáng sợ. Với những điều trị mới này,
người ta nhắm một cách đặc hiệu những
phân tử là nguồn gốc của những cơ chế
tai hại này, nhằm phong bế hay giết
chết những tế bào ung thư, đồng thời
gìn giữ các tế bào lành mạnh.
Hỏi : Những loại ung thư nào đã được
hưởng những liệu pháp mới này ?
G.S D.K : Các ung thư vú với hai loại
thuốc hoàn toàn đổi mới. Loại thuốc
thứ nhất, trastuzamab, nhắm một cách
đặc hiệu vào những tế bào ung thư của
một nhóm các ung thư vú (12%) mang một
chất đặc hiệu, HER2. Với điều trị bằng
thuốc này, tỷ lệ khỏi bệnh tăng lên
hơn 40% ! Loại thuốc thứ hai,
bevacizumab, nhằm vào các huyết quản
nuôi dưỡng khối u, như thế tước đi
nguồn năng lượng cần thiết cho sự tăng
trưởng của nó. Được sử dụng trong các
giai đoạn di căn ung thư vú, thuốc này
làm gia tăng 40% hiệu quả của các hóa
học trị liệu cổ điển. Các ung thư đại
tràng di căn cũng được cải thiện với
điều trị bởi bevacizumab : kết hợp với
một hóa học trị liệu, thuốc làm gia
tăng khoảng 30% các tỷ lệ thuyên giảm
bệnh. Một loại thuốc mới khác,
cetuximab, được cho để điều trị vài
loại ung thư đại tràng, thành công
phong bế một cách rất đặc hiệu các thụ
thể (récepteurs) nằm trên những tế bào
ung thư cho phép chúng tăng trưởng và
tăng sinh. Trong trường hợp này, sự
kết hợp thuốc với hóa học trị liệu làm
gia tăng, trong cùng tỷ lệ, những hy
vọng thuyên giảm lâu dài.
Hỏi : Người ta cũng có thể điều trị
nhắm đích vài loại ung thư phổi chứ ?
G.S D.K : Đối với ung thư phổi không
phải loại các tế bào nhỏ (à petites
cellules), đã có một tiến bộ rất lớn
với sự xuất hiện của một điều trị nhắm
đích, erlotinib, được cho không phải
bằng đường tĩnh mạch nữa, mà bằng
đường miệng. Thuốc này nhắm vào một
thụ thể đặc hiệu hiện diện trên phần
lớn các khối u. Thuốc này có ưu điểm
là có hiệu quả khi dùng đơn độc, không
phối hợp với hóa học trị liệu. Tất cả
những điều trị nhắm đích này không gây
nên rụng tóc hay nôn mửa. Nhưng chúng
có thể gây nên những tác dụng phụ
khác, như nổi mụn, hạ huyết áp...
Hỏi : Những tiến bộ khác là gi ?
G.S D.K : Theo ý kiến của tôi, tiến bộ
lớn nhất được quan sát là sự kiện, khi
một bệnh nhân bị tái phát với sự xuất
hiện một di căn, ngày nay chúng ta có
những phương tiện để chữa lành nó
trong một số trường hợp không phải là
ít ỏi. Điều đó là một cuộc cách mạng
thật sự ! Không những là cách mạng y
khoa, mà còn là cách mạng trong quan
niệm của bệnh này. Những kết quả dương
tính không những chỉ do các điều trị
nhắm đích, mà còn do những hóa học trị
liệu pháp mới, những điều trị kháng
hormone mới, một vài biphosphonates,
như acide zolédronique. Cũng phải nói
về phẫu thuật ngoại khoa, ngày nay cho
phép lấy đi một và thậm chí nhiều di
căn. Tiến bộ quan trọng khác : vaccin
chống papillomavirus, tác nhân nhiễm
khuẩn gây ung thư cổ tử cung.( PARIS
MATCH 20-26/11/2008)
===
SỰ THÀNH CÔNG
CỦA PHẪU THUẬT GHÉP KHÍ QUẢN ĐẦU TIÊN
TRÊN THẾ GIỚI
Thérapie cellulaire : Những nhà nghiên
cứu đã chế tạo, từ một cơ quan của
người cho (un organe de donneur), một
khí quản mới, bằng những tế bào của
chính người bệnh.
Claudia, một người mẹ gia đình còn
trẻ, 30 tuổi, người Columbia, trong 4
năm trời đã trải qua một cơn ác mộng y
khoa vì bị bệnh lao khí quản và phế
quản. Cô vừa có được một kết cục may
mắn và vĩnh viễn (chúng ta hy vọng),
nhờ một nhóm nghiên cứu và các nhà
phẫu thuật người Anh, Tây Ban Nha và
Ý. Thật vậy họ đã thực hiện trên người
phụ nữ này phẫu thuật ghép một khí
quản của người cho (une trachée de
donneur), được cấy bởi những tế bào
của chính người bệnh. Đây là phẫu
thuật ghép khí quản thành công đầu
tiên mà bản báo cáo đã được công bố
trong The Lancet.
Chiến lược đầy hứa hẹn chế tạo một khí
quản trong tương lai có thể mang lại
lợi ích cho những bệnh nhân bị ung thư
họng hay kể cả những dị tật bẩm sinh.
Khí quản, chiếc ống dẫn mảnh dẻ này
cần thiết cho sự trao đổi khí và cho
sự hô hấp. Khí quản có thể bị xâm lấn
bởi các khối u ung thư, bị làm biến
dạng bởi những thủ thuật thông nội khí
quản lúc hồi sức hay gây mê, hay là
nơi xảy ra những rò đáng sợ giữa khí
quản và thực quản (fistule
trachéo-oesophagienne).
Thiên nhiên đã trang bị cho khí quản
các vòng sụn cứng, mà các biểu mô hô
hấp che phủ bằng các lông mao có tác
dụng bài xuất bụi bặm và niêm dịch.
Chính tính cứng (rigidité) tự nhiên
này giữ khí quản luôn luôn được mở,
khi hít vào và khi thở ra. Và cho mãi
đến ngày nay, không có một phẫu thuật
thay thế khí quản bằng các ống được
cấu tạo bởi những vật liệu khác nhau,
hay các stents, đã đạt được sự thành
công.
Trường hợp của Claudia đặc biệt khó
khăn. Cô thiếu nữ người Columbia này
bị một bệnh lao phổi thâm nhiễm khí
quản nơi phần cổ và làm tắc nghẽn hoàn
toàn cuống phổi bên trái. Sau khi được
điều trị và chữa lành bệnh phổi,
Claudia vẫn giữ các di chứng mãn tính
do các sẹo lao phổi, không thể loại bỏ
nếu không can thiệp ngoại khoa. Trong
thì đầu tiên của cuộc phẫu thuật, các
nhà phẫu thuật đã cắt bỏ một khúc
cuống phổi bị trít nghẽn và thay thế
nó bằng một ống được cấu tạo bằng
silicone. Kết quả rất tồi : Bệnh nhân
ho thường trực, bị nhiều viêm phổi
nặng. Ống bằng silicone này phải được
lấy đi. Người phụ nữ trẻ được tái nhập
viện tháng 3 năm 2008, vì suy hô hấp
cấp tính.
Không thể quyết định cắt bỏ một lá
phổi vẫn còn sinh lực của Claudia, G.S
Martin Birchall (đại học Bristol) và
các đồng nghiệp của ông của bệnh viện
Barcelone khi đó đi đến một quyết định
dứt điểm : làm lại toàn bộ khí quản,
từ một cái cốt khí quản của người cho,
nhưng được phủ bởi những tế bào của
chính người bệnh.
Các nhà phẫu thuật đã lấy một đoạn khí
quản với độ dài 7 cm, trên một người
cho, 51 tuổi, trong tình trạng chết
não. Trước hết, tất cả các mô liên kết
đã được lấy bỏ ra khỏi khí quản của
người cho và đoạn khí quản này đã được
tưới rửa dài lâu sau đó.
” BIOREACTEUR ”
Sau đó người ta trích lấy những tế bào
phế quản nơi Claudia. Những tế bào này
được chọn lựa, làm tinh khiết và cấy.
Sau đó, những chế phẩm gồm những tế
bào biểu mô và những tế bào sụn này
được gieo mầm trong khí quản của người
cho rồi tất cả được thiết đặt trong
một “ bioréacteur ”, trong đó mảnh
ghép khí quản được xoay tròn trong 96
giờ, trong một môi trường cấy. Các chế
phẩm lấy từ người bệnh sẽ lót cái cốt
khí quản của người cho để bảo vệ cái “
tân khí quản ” (néotrachée) chống lại
mọi hiện tượng thải bỏ. Chính cái khí
quản được tái tạo này đã được ghép
thành công trong ngực của Claudia.
Mãi đến ngày nay, phẫu thuật thử
nghiệm duy nhất tái tạo một khí quản,
đã được thực hiện thành công trên
nhiều bệnh nhân, ở bệnh viện
Marie-Lannelongue, bởi G.S Philippe
Dartevelle và B.S Frédéric Kolb. Để
thực hiện cuộc giải phẫu này, các phẫu
thuật viên đã cắt trên bệnh nhân một
mảnh da có động mạch và tĩnh mạch, và
sau đó may vào khí quản bị bệnh, rồi
đưa vào trong bề dày của mảnh da ghép
này những mẫu sụn sườn.( LE FIGARO
19/11/2008)
===
HỘI CHỨNG
GILLES DE LA TOURETTE
Hội chứng Gilles de la Tourette (SGT)
là một rối loạn thần kinh hay sinh hóa
thần kinh, được đặc trưng bởi những cử
động nhanh, không tự ý, lặp đi lặp lại
một cách máy móc, thường được gọi là
chứng “ máy cơ ” (“ tic ”). Các tic
này cũng có thể phát âm : những tiếng
động không tự ý, những tiếng kêu,
những lời tục tĩu. Các triệu chứng xảy
ra từng cơn, với những thời kỳ yên
nghỉ.
Bệnh SGT còn tương đối ít được biết
đến. Những điều tra được thực hiện
trong những người ở lứa tuổi học đường
cho thấy rằng bệnh xảy ra nơi con trai
3 đến 4 lần nhiều hơn. Theo giả thuyết
thường được đưa ra, bệnh này là do
hoạt tính gia tăng của hệ
dopaminergique trong vài vùng của
paléoencéphale : thalamus, vùng dưới
đồi, amygdales, hệ limbique.
Có một tố bẩm đa gène di truyền đối
với bệnh SGT. Nếu cha hoặc mẹ bị bệnh
này, người ta ước tính rằng đứa bé có
50% khả năng phát triển bệnh. Tuy
nhiên, các gènes và cách truyền bệnh
chưa được biết và các yếu tố môi
trường cũng có thể đóng một vài trò
quan trọng trong sự xuất hiện hợp
chứng.
CÁC MÁY CƠ (TICS)
Người ta thường phân biệt hai loại máy
cơ :
- Máy cơ đơn giản, vận động (nháy mắt,
những cử động đột ngột của đầu, của
vai, nhăn mặt) hay âm thanh (sủa ăng
ẳng, kêu khóc, hít mạnh)
- Máy cơ phức tạp : nhảy nhót, sờ mó,
xoay trở (pirouettes). Trên bình diện
thanh âm, đó là những lời nói biểu lộ
ngoài bối cảnh, chứng lặp lời nói
(écholalie) hay những từ tục tiểu
(coprolalie).
Những hành vi này có thể xen lẫn vào
nhau một cách rất phức tạp, bắt bệnh
nhân phải chịu một cách không cưỡng
được như một cái hắt hơi. Bệnh nhân
đôi khi có thể cố thực hiện một kềm
chế tạm thời nào đó lên những biểu
hiện này, nhưng sự kềm chế này được
theo sau đó bởi một sự bùng nổ hàng
loạt các máy cơ. Có khi vài bệnh nhân
chạy vội vàng vào nhà cầu để có thể “
thả bầu tâm sự ”, hầu tránh sự nhòm
ngó. Các cơn có thể được gia tăng bởi
stress hoặc trái lại được giảm đi khi
bệnh nhân thực hiện một công tác thu
hút tâm trí.
LÀM SAO NHẬN BIẾT MỘT TIC ?
Các máy cơ (tics) được phân biệt với
những cử động bất thường không tự ý
trong bệnh múa giật (chorée), chứng
giật rung cơ (myoclonus), chứng loạn
trương lực (dystonie) ở chỗ là các máy
cơ có thể được hủy bỏ trong chốc lát
bởi một cố gắng ý chí. Sự kềm chế tạm
thời này nói chung thường được tiếp
theo sau đó bởi một cơn bù. Các cơn
được gia tăng khi đứng trước công
chúng cũng như khi dùng chất kích
thích, nhưng các cơn hiếm xảy ra khi
bệnh nhân đang được thăm khám. ( LE
GENERALISTE 6/11/2008)
===
LỊCH SỬ CỦA
HỘI CHỨNG GILLES DE LA TOURETTE
Chính vào năm 1885 mà BS Georges
Edouard Brutus Gilles de la Tourette,
thầy thuốc của các bệnh viện, chuyên
khoa thần kinh thuộc nhóm của J.M.
Charcot ở bệnh viện La Salpêtrière,
lần đầu tiên đã mô tả đầy đủ căn bệnh
mang tên ông ( “ một cái tên rất đẹp
để chỉ một bệnh khủng khiếp đến như
thế ”, một nữ bệnh nhân đã nói như
vậy). Tư liệu thời trung cổ ghi chú
trường hợp một linh mục lên cơn nhăn
mặt và thét lên mỗi khi ông cầu nguyện
Đức Mẹ. Được xem như là bị quỷ ám và
đề kháng lại với tất cả những phù phép
trừ tà ma, cuối cùng nạn nhân khốn khổ
phải bị lên giàn hỏa thiêu. Người ta
kể rằng hoàng tử của Condé dùng những
vật vớ được trong tầm bàn tay để bịt
miệng mình lại và tự ngăn cản không để
thốt ra những điều điên rồ khi ông
đứng trước vua Louis XIV. Nữ hầu tước
Dampierre, nhân vật quan trọng của
giới quý tộc trong những năm 1820, đã
bị những cơn co cứng và uốn éo, kèm
theo những tiếng kêu la và những lời
nói không mạch lạc, điều này hẳn có
thể nổ ra trong những phòng tiếp
thượng lưu thời đó. Vì lý do này, bà
bị giam vào trong một tu viện. Hai
nhân vật lịch sử này có lẽ bị bệnh
SGL. Hoàng đế La Mã Claude, xa hoàng
Pierre le Grand, Mozart và Emile Zola
có lẽ cũng bị hội chứng này. Gần chúng
ta hơn, chúng ta có André Malraux, bộ
trưởng văn hóa của tướng De Gaule.
Những người có cơ hội thấy ông ta
trong những buổi nói chuyện trên
truyền hình thời đó, hẳn không thể
không nhận xét rằng André Malraux bị
những máy cơ nơi miệng, kèm theo những
tiếng kêu phát ra trong cổ họng, mà
ông ta đã cố gắng che dấu bằng cách
hút thuốc một cách bực tức, hết điếu
này đến điếu khác và đồng thời đưa một
bàn tay lên che miệng, khiến cho những
lời phát biểu của ông như một tiếng
nói thì thầm đứt khúc và khó mà theo
dõi được.
Bác sĩ Nguyễn
Văn
Thịnh |
|