|
CUỘC LUẬN CHIẾN VỀ MỐI
LIÊN HỆ GIỮA UNG THƯ VÀ SỰ TIÊU THỤ
RƯỢU
Các chuyên gia khẳng định :
việc uống rượu đều đặn là việc không
nên làm.
Cuốn sách mỏng của Viện ung
thư quốc gia và của Tổng giám đốc y tế,
trong tháng qua đã giải thích rằng
ngay việc uống một ly rượu mỗi ngày
cũng làm gia tăng một ít nguy cơ bị
ung thư, đã gây nên sự la ó ầm ĩ.
Những nhà làm rượu, những người trồng
nho, và ngay cả một vài thầy thuốc đã
lâm chiến chống lại tài liệu này và
xác nhận rằng sự tiêu thụ rượu với mức
độ thấp là có lợi, đặc biệt là chống
lại bệnh tim mạch. Ngay cả một cuốn
sách mỏng nhằm nói chống lại cũng đang
được sửa soạn để phát hành. “ Chủ đề
này đã bị hiểu sai, giáo sư Dominique
Maraninchi, tổng giám đốc viện quốc
gia ung thư, đã giải thích như vậy.
Chúng tôi đã muốn đưa ra một thông
tin. Chúng tôi nói rằng, về rượu,
ngưỡng tiêu thụ không gây nguy cơ,
nghĩa là ngưỡng trong đó người ta
không nhận thấy tác dụng có hại về mặt
ung thư, là rất thấp. Những lời phát
biểu của chúng tôi không phải là để
cấm đoán bất cứ điều gì, nhưng chỉ là
những thông tin.” Đối với giáo sư
Michel Reynaud, “ tất cả vấn đề là xem
liệu chúng ta có muốn có một cuộc sống
với một nguy cơ số không hay là không.
Nếu những lợi ích của một lượng nhỏ
rượu vang trên các bệnh tim mạch vẫn
không chắc chắn, trong khi những nguy
cơ bị ung thư được xác lập khá rõ, thì
việc tiêu thụ rượu vẫn có những lợi
ích khác. Uống rượu đặc biệt cho phép
con người ta cảm thấy thoải mái. Uống
rượu làm dễ sự giao tiếp trong đời
sống xã hội của mình. Ngược lại, điều
chắc chắn là, những liều lượng nhỏ
rượu, được tiêu thụ một cách đều đặn,
là nguy hiểm hơn những liều nhỏ thuốc
trừ sâu hay còn nguy hiểm hơn cả các
antennes-relais ”. Nguy cơ của những
liều lượng nhỏ rượu cũng được liên kết
với một tố bẩm cá nhân, với sự liên
kết với những độc chất khác như thuốc
lá..
Sự phân tích các mối liên kết
giữa ung thư và rượu được căn cứ trên
những điều tra dịch tễ quy mô lớn, so
sánh trên những nhóm người với số
lượng to lớn, tỷ lệ mắc phải ung thư
với những thói quen tiêu thụ rượu.
Những nghiên cứu thí nghiệm cho phép
kiểm tra tính đúng đắn của những kết
luận này, bằng cách xem xét tác dụng
của rượu lên các canh cấy tế bào, lên
các mô hình động vật.
MỘT SỰ VỮNG VÀNG KHÔNG
THỂ TRANH CÃI.
Năm 2007, Viện ung thư quốc
gia đã phát hành một báo cáo hoàn
chỉnh về vấn đề này, xem xét mức độ
nguy cơ tùy theo lượng rượu được uống
vào. Các kết quả không phải là kết quả
của một điều tra, nhưng là tổng số của
nhiều công trình nghiên cứu khoa học
trên thế giới. Điều này mang lại một
sự vững chắc không thể tranh cãi được.
Mặc dầu vài con số khiến những giải
thích dị biệt bởi vì dịch tễ học
thường để tồn tại những vùng không rõ
ràng. Bản báo cáo này, được biên soạn
bởi một nhóm chuyên gia, dầu sao đảm
bảo một cách rõ ràng rằng “ việc tiêu
thụ rượu đều đặn là không nên. Sự gia
tăng nguy cơ là đáng kể ngay cả đối
với một sự tiêu thụ mức độ trung bình,
với một nguy cơ càng cao nếu sự tiêu
thụ càng cao. ” Ngay cả đối với những
lợi ích tim mạch, mối liên hệ cũng
không rõ ràng lắm. Trong những năm
1980, rượu vang với mức tiêu thụ thấp
đã được xem là một yếu tố bảo vệ. Ngày
nay, những điều chắc chắn này đã hơi
bị tan biến đi. Vài chuyên gia, nhưng
không phải là tất cả, cho rằng những
kết quả này là thiên lệch. Từ nay uống
rượu với mức độ thấp chỉ có lợi ích là
cho cảm giác khoái trá và cảm giác dễ
chịu. Trong thời buổi của chúng ta
hiện nay, điều đó không phải là không
đáng kể.
(
LE FIGARO 25/3/2009)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr115.htm
(TSYH số 115, bài số 3)
===
SỰ GIẬN DỮ, LÒNG THÙ HẬN VÀ NGUY CƠ
TIM MẠCH
Một phân tích méta đã cho
thấy rằng những cảm xúc như sự giận dữ
và lòng thù hận được liên kết với một
sự gia tăng 19% nguy cơ bị những biến
cố động mạch vành nơi những người lành
mạnh và 24% nơi những người đã bị
những vấn đề động mạch vành.
Mối liên hệ xuất hiện
rõ hơn nơi những người đàn ông. Đó là
kết luận của một duyệt xét các tư liệu,
được thực hiện bởi Yoichi Chida và
Andrew Steptoe (Unversity College de
Londres), về sự xuất hiện những biến
cố động mạch vành nơi những người lành
mạnh và nơi những người đã có những
vấn đề động mạch vành.
Những
công trình nghiên cứu, được tiến hành
trên 80.000 người ở Úc châu, châu Á,
châu Âu và Hoa Kỳ. Các tác giả đã
chứng nhận rằng những cảm xúc như sự
giận dữ và lòng thù hận được liên kết
với một nguy cơ bị những biến cố động
mạch vành cao hơn nơi những người lành
mạnh và có một tiên lượng xấu nơi
những người vốn đã có những vấn đề
động mạch vành.
Trong một bài xã luận đi
kèm bài báo được đăng tải trong
Journal of the American College of
Cardiology, Johan Denollet và Susanne
S.Pedersen (Tilburg, Hoà Lan) viết
rằng công trình nghiên cứu này cho
thấy những ý nghĩa lâm sàng quan trọng
bởi vì nó ủng hộ giả thuyết cho rằng
những yếu tố tâm lý âm tính can thiệp
trong sự phát triển của một bệnh lý
động mạch vành. Do đó những triệu
chứng giận dữ và thù hận phải được xét
đến một cách nghiêm chỉnh. Theo
Denollet, điều này muốn nói rằng các
thầy thuốc phải gợi ý với các bệnh
nhân bị những cảm xúc quá mức như thế,
phải nên theo một liệu pháp hành vi (thérapie
comportementale).
(LE JOURNAL DU MEDECIN
24/3/2009)
===
ĂN ÍT LÀM GIẢM SỰ TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁC
KHỐI U
Từ một thế kỷ nay, người ta
đã biết rằng sự hạn chế ăn uống làm
giảm sự tăng trưởng của vài khối u,
nhưng người ta không biết lý do vì sao
: các nhà nghiên cứu, công bố công
trình nghiên cứu trong Nature số tuần
này, đã thành công phát hiện vai trò
của một enzyme, PI3K
(phosphatidylinositol 3-kinase), đóng
vai trò trọng yếu trong sự tăng sinh
của các tế bào ung thư, bởi vì sự hoạt
hóa của enzyme này kềm hãm những tác
dụng của một chế độ ăn uống ít hơn.
Vài khối u (đại tràng và hai dạng ung
thư vú) giảm sự tăng trưởng dưới tác
dụng của sự thu giảm chế độ ăn uống,
trong khi những khối u khác (tiền liệt
tuyến, não bộ và một dạng ung thư vú)
không nhạy cảm với tác dụng
này. “ Bằng cách điều biến sự
hoạt hoá của PI3K, chúng ta có thể
chuyển biến một khối u đề kháng với sự
hạn chế ăn uống thành một khối u nhạy
cảm với nó ” , các nhà nghiên cứu đã
xác nhận như vậy.
(
LE SOIR 13/3/2009)
====
CÀ PHÊ VÀ BỆNH
ALZHEIMER
Những người uống cà phê có
mức độ, làm giảm 65% nguy cơ phát
triển chứng sa sút trí tuệ và bệnh
Alzheimer.
Cà
phê được biết là nguồn thực phẩm chính
của caféine, phân tử mà các tác dụng
lên hệ thần kinh đã được nghiên cứu từ
lâu. Người ta thường tìm kiếm tác dụng
kích thích tức thời của cà phê để
chống lại sự mệt mỏi. Trái lại cà phê
có thể làm khó ngủ. Nhưng những tác
dụng về lâu về dài của cà phê lên hệ
thần kinh trung ương vẫn còn không
được biết đến nhiều. Sự thoái biến
diễn ra chậm và dần dần của hệ thần
kinh trung ương có liên quan trong
chứng sa sút trí tuệ, mà thể thông
thường nhất là bệnh Alzheimer. Bệnh
Alzheimer hiện gây bệnh cho 13 triệu
người trên thế giới.
Xét vì sự lão hóa của dân số
và sự vắng bóng của một phép điều trị
thực sự, người ta có thể dự kiến một
sự gia tăng của các trường hợp sa sút
trí tuệ.
Những công trình nghiên cứu
trước đây đã gợi ý rằng sự tiêu thụ cà
phê khả dĩ có một tác dụng lợi ích
chống lại sự xuất hiện của bệnh
Alzheimer.
Tuy nhiên, sự phát triển của
chứng sa sút trí tuệ này bắt đầu nhiều
năm trước khi xuất hiện những dấu hiệu
lâm sàng. Do đó, tác động của chế độ
ăn uống lên tiến triển của bệnh phải
được xét đến khá sớm trước khi xuất
hiện bệnh. Và chính đó là một con chủ
bài quan trọng của một công trình
nghiên cứu, được thực hiện bởi Đại học
Kuopio (Phần lan), Viện Karolinska của
Stockholm (Thụy Điển), và Viện Y Tế
công cộng Phần Lan. Các nhà nghiên cứu
đã theo dõi việc tiêu thụ cà phê và
trà trong 21 năm, đồng thời mỗi 5 năm
cập nhật các thói quen của những người
tiêu thụ. Sau đó, các nhà nghiên cứu
đã thăm khám lại 1.409 người tuổi từ
65 đến 79 tuổi, để chẩn đoán những
trường hợp sa sút trí tuệ. Các kết quả
được công bố trong Journal of
Alzheimer’s Disease.
MỘT SỰ TIÊU THỤ CÓ
MỨC ĐỘ LÀM GIẢM CÁC NGUY CƠ BỊ SA SÚT
TRÍ TUỆ.
Các dữ kiện tiêu thụ cà phê
được xếp thành 3 nhóm : những người
uống ít (0-2 tách mỗi ngày), những
người uống mức trung bình (3-5 tách)
và những người uống nhiều (trên 5 tách).
Đối với trà, các tác giả đã sắp xếp
những người tham gia thành những người
uống (ít nhất một tách) và không uống
(dưới một tách mỗi ngày).
Phân tích các kết quả cho
thấy rằng sự tiêu thụ cà phê trong
thời kỳ theo dõi được liên kết với một
nguy cơ phát triển sa sút trí tuệ thấp
hơn. Những lợi ích lớn nhất xuất hiện
đối với những người uống cà phê mức
trung bình : nơi những người này, nguy
cơ phát triển sa sút trí tuệ hay bệnh
Alzheimer giảm 65%, so với những người
không uống hoặc uống ít cà phê. Trái
lại, đối với trà, cũng chứa caféine,
nhưng với số lượng thấp hơn, sự việc
uống hoặc không uống đã không có ảnh
hưởng lên nguy cơ sa sút trí tuệ (có
lẽ sự tiêu thụ không đủ quan trọng).
Các tác giả xác nhận rằng sự khám phá
của họ phải được xác nhận bởi những
công trình nghiên cứu khác, nhưng nó
đã mở ra cánh cửa của một khả năng can
thiệp bằng chế độ ăn uống để làm biến
đổi nguy cơ sa sút trí tuệ.
( LE SOIR
16/3/2009)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr118.htm
(TSYH số 118, bài số 6)
===
HÚT THUỐC LÚC
CÒN TRẺ LÀM GIA TĂNG NGUY CƠ MẮC BỆNH
XƠ CỨNG RẢI RÁC
Vào đầu những năm 80, các
nhà khoa học nghĩ rằng bệnh xơ cứng
rải rác (sclérose en plaques) có thể
được gây nên bởi các yếu tố (cho mãi
đến khi đó vẫn không được biết) can
thiệp vào giai đoạn sớm của đời sống.
Mặt khác, một công trình nghiên cứu đã
phát hiện một mối liên hệ giữa thuốc
lá và bệnh xơ cứng rải rác.
Joseph Finkelstein (John
Hopkins University School of Medicine,
Baltimore) và các cộng sự viên đã muốn
biết xem việc hút thuốc ở một lứa tuổi
tương đối trẻ có thể gây nên bệnh hay
không. Cộng tác với Veterans Affairs
MS Center for Excellence, họ đã phân
tích một mẫu nghiệm đại diện, gồm
30.092 người đã tham gia vào công
trình nghiên cứu 2002 National Health
Interview Survey. Công trình nghiên
cứu của họ sẽ được trình bày ở hội
nghị hàng năm lần thứ 61 của Viện Hàn
Lâm Thần Kinh Học Hoa Kỳ, sẽ diễn ra ở
Seattle từ 25 tháng 4 đến 2 tháng 5
năm 2009.
Các tác giả đã chứng thực
rằng, trong nhóm những người không bị
bệnh, 19,3% những người tham dự đã hút
thuốc trước 17 tuổi. Trong nhóm những
người bị xơ cứng rải rác, con số này
lên đến 32 ,6%.
Sau khi điều chỉnh đối với
giống tính, trình độ học vấn và những
yếu tố khác khả dĩ ảnh hưởng lên nguy
cơ bị xơ cứng rải rác, họ đã nhận thấy
rằng những người hút thuốc sớm có 2,7
lần nguy cơ nhiều hơn phát triển bệnh.
Điều này không xảy ra nơi những người
chỉ bắt đầu hút thuốc sau năm 17 tuổi.
Theo các tác giả, thuốc lá gây thiệt
hại lên các mô, làm dễ phản ứng viêm
và ảnh hưởng lên hệ miễn dịch. Có lẽ
chính những tác dụng này giải thích
tại sao hút thuốc lúc còn trẻ được
liên kết với một nguy cơ phát triển
bệnh xơ cứng rải rác.
( LE JOURNAL DU MEDECIN 6/3/2009)
===
PARKINSON VÀ CÁC THUỐC
MA TÚY : CÙNG NHỮNG NEURONE
Striatum, một trong những vùng của não
bộ, đóng một vai trò chủ chốt trong
chứng nghiện ma túy và bệnh Parkinson.
Mỗi năm, khoảng 9 triệu
người ở châu Âu được điều trị vì một
vấn đề phụ thuộc chất ma túy
(dépendance aux drogues) (rượu và/hoặc
chất ma túy bất hợp pháp). “ Điều trị
theo dõi gây tổn phí cho Cộng đồng 57
tỉ euros ”, ULB (Université Libre de
Bruxelles) đã chỉ rõ như vậy. “ Bệnh
Parkinson về phần mình gây bệnh cho
1,2 triệu người và tổn phí 11 tỉ Euro
mỗi năm ”, các nhóm nghiên cứu của
Alban de Kerchove d’Exaerde và của
Laboratoire de neurophysiologie của
Đại học Y Khoa đã xác nhận như thế.
Hai nhóm nghiên cứu này vừa thực hiện
một tiến bộ đáng chú ý về hai căn bệnh
này. Thật vậy họ đã phát hiện vai trò
bất ngờ của một nhóm
tế bào thần kinh trong chứng phụ thuộc
chất
ma túy và trong sự kiểm soát vận động
(bệnh
Parkinson).
Công trình nghiên cứu
của họ được công bố trong tạp chí
Nature Neuroscience.
“ Sự phụ
thuộc vào các chất ma túy và bệnh
Parkinson lần lượt có liên quan đến
một sự thặng dư quá mức hay một sự
thiếu hụt của chất dẫn truyền thần
kinh dopamine, các nhà nghiên cứu đã
xác nhận như thế. Dopamine chủ yếu
được phóng thích trong một vùng của
não bộ (striatum), có liên hệ đồng
thời trong sự khen thưởng (récompense),
nghĩa là trong sự phụ thuộc chất ma
túy, và trong sự kiểm soát vận động,
nghĩa là trong bệnh Parkinson.”
Vùng
này được cấu tạo chủ yếu bởi hai nhóm
neurones, mà các vai trò lần lượt của
chúng đến nay vẫn còn được bàn cãi. Để
biết rõ hơn về vấn đề này, các nhà
nghiên cứu của Phòng thí nghiệm sinh
lý thần kinh đã phá hủy một trong hai
nhóm neurone này trong một mô hình
chuột. Như thế họ đã chứng minh in
vivo rằng một trong hai nhóm neurone
này, các neurones striatopallidaux,
cản hoạt động vận động cũng như cản sự
ưa thích hơn (préférence) và sự ghi
nhớ (mémorisation) gây nên do sự tiêu
thụ chất ma túy.
Nói một
cách khác, các chú chuột không có nhóm
neurone này sẽ có một sự gia tăng hoạt
động vận động và, một cách bất ngờ,
chúng có một sự ưa thích lớn hơn và
trong một thời gian lâu hơn, đối với
nơi mà chúng nhận chất ma túy.
Trong lúc phát hiện
vai trò bất ngờ của nhóm neurone này,
các nhà nghiên cứu mở ra một triển
vọng điều trị mới : hoặc là kích thích
nhóm neurone này trong trường hợp phụ
thuộc chất ma túy, hoặc ức chế chúng
trong trường hợp bệnh Parkinson.
(LE
SOIR 9/3/2009)
===
VỚI NGÀY CÀNG NHIỀU
NHỮNG CHUYẾN BAY ĐƯỜNG DÀI, TỶ LỆ MẮC
CÁC BỆNH LÝ NGÀY CÀNG BAY CAO
Hiện nay, số hành khách
hàng không đạt gần 2 tỉ mỗi năm. Các
nguy cơ huyết khối nghẽn tĩnh mạch (thromboembolie
veineuse) trong các chuyến bay đường
dài, sự tiếp xúc với các bức xạ vũ trụ,
những tác dụng do lệch giờ giấc và
những thiếu sót về chất lượng khí
trong các cabine, kết hợp lại để làm
gia tăng những vấn đề sức khỏe liên
kết với những chuyến không hành.
Từ nay, vấn đề năng lực vật
lý để thực hiện một chuyến không hành
được đặt ra một cách gay gắt, đứng
trước số lượng rất quan trọng các cá
nhân, các khách du lịch hay những hành
khách đi công tác ; Các hành khách
ngày càng ý thức những vấn đề liên
quan với các chuyến bay. Các thăm dò
cho thấy rằng 95% các cá nhân vốn có
những vấn đề sức khỏe, thích được nhận
nhiều lời khuyên về y tế trước khi
bay.
ĐỘ CAO TỪ 1524 ĐẾN 2438 m
Đâu là những vấn đề sức khỏe
liên kết với những chuyến bay thương
mãi ? Danielle Silverman và Mark
Gendreau (Hoa Kỳ) đã điểm lại các tư
liệu y học trong The Lancet.
- Áp suất bên trong cabine
: sự điều áp (pressurisation) tương
ứng với một độ cao 1524 đến 2438m,
điều này khả dĩ gây nên những triệu
chứng của bệnh ở độ cao (mal de
l’altitude) ngay sau 3 giờ bay. Một
điều áp ở cao độ 2.438 m làm giảm
Pa02 từ 95 mmHg xuống còn 60, với một
sự giảm 3-4% độ bảo hòa của
oxyhémoglobine ; các hành khách bị
bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (BPCO) có
thể bị một suy hô hấp nhẹ trong một
chuyến bay.
Sau một phẫu thuật quan
trọng, nên khuyên bệnh nhân phải đợi 2
tuần trước khi bảy, vì lẽ khi áp suất
bị giảm, sẽ có sự nỡ của chất khí
(expansion des gaz) bên trong cơ thể.
- Chúng ta không nghĩ đầy
đủ đến sự kiện là một tình trạng thiếu
oxy hơi giảm áp (une hypoxie
légèrement hypobare) làm gia tăng độ
keo (viscosité) của máu và rằng sự mất
nước cũng làm gia trọng độ keo này. Sự
phòng ngừa huyết khối (thromboprophylaxie)
dựa trên những lời khuyên bỏ rượu, bỏ
caféine, tránh sự bất động, với chỉ
định dùng HBPM (héparine trọng lượng
phân tử thấp) đối với những hành khách
có nguy cơ ở mức độ vừa phải và đã
không sử dụng thuốc kháng đông một
cách thường quy.
Việc
sử dụng bas de contention thường hữu
ích.
NHỮNG BỨC XẠ MẶT TRỜI.
- sự tiếp xúc với các tia vũ
trụ, nghĩa là những tia xuất phát từ
hệ mặt trời, được liên kết với các hạt
nhỏ (particules) của sưởi ấm mặt trời.
Nhiều ung thư đã được liên kết với các
tia vũ trụ (vú, da, u hắc tố) và những
lời khuyến nghị đã được đưa ra nhằm
giới hạn việc tiếp xúc của các nhân
viên phi hành.
Những nghiên cứu về vấn
đề này mãi đến nay không cho phép xác
định mối nguy cơ. Tuy nhiên, Cơ quan
quản trị hàng không Hoa Kỳ khuyến nghị
rằng các phụ nữ có thai (nhân viên phi
hành hay hành khách) nên tìm kiếm trên
Internet những thông tin phát xuất từ
hệ báo động về những bức xạ mặt trời
trước khi bay để không vượt quá giới
hạn 1mSv (millisievert).
- Sự chênh lệch giờ giấc
(décalage horaire hay jet lag), được
liên kết với sự bất đồng bộ của các
đồng hồ sinh học. Những loại thuốc
khác nhau đã được đề nghị, nhưng
mélatonine vẫn là điều trị chuẩn. Một
phân tích méta 10 công trình nghiên
cứu (Cochrane) đã kết luận rằng uống
0,5 đến 5mg vào lúc ngủ trước khi đến,
có hiệu quả làm giảm những cảm giác
gây ra do sự thay đổi múi giờ.
- Các bệnh nhiễm trùng : việc
gò bó trong những khoảng không gian
giới hạn, trong những khoảng thời gian
kéo dài, làm dễ sự phát tán của những
tác nhân nhiễm khuẩn. Từ năm 1946,
những trận dịch đã được liên kết với
các hành khách hàng không như bệnh đầu
mùa, bệnh lao, bệnh cúm, bệnh sởi,
SRAS, các viêm ruột do siêu vi trùng.
Bây giờ các công ty hàng
không sử dụng những máy lọc có hiệu
quả cao để đổi mới hơn 50% không khí
của cabine.
Nguy
cơ bị truyền bệnh trên máy bay được
giới hạn vào những người ngồi gần một
bệnh nhân, khoảng cách dưới hai hàng
ghế.
Người ta thiếu các dữ kiện về
quy mô của các sự cố y khoa xảy ra
trong các máy bay.
Nhưng hầu hết đều không đáng kể và
liên hệ đến những người trên 70 tuổi.
( LE JOURNAL DU
MEDECIN 3/3/2009)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr117.htm
(TSYH 117, bài số 5)
===
TIM ĐẬP CHẬM HƠN KỀM
HÃM NHỒI MÁU CƠ TIM
Làm chậm lại một cách
hiệu quả tần số của những người bị
bệnh tim, cho phép tránh được một nhồi
máu thứ hai. Đó là kết luận của công
trình nghiên cứu Beautiful mới được
trình bày ở Hiệp hội tim châu Âu. Công
trình nghiên cứu cho thấy rằng việc
cho thêm một loại thuốc, ivabradine,
một thứ thuốc chỉ tác dụng lên tần số
tim, cho phép làm giảm 36% nguy cơ tim
mạch nơi những người có bệnh động
mạch vành được phát hiện. Hoặc khoảng
2 triệu người ở Pháp, G.S Yves Cottin,
trưởng khoa tim của CHU Dijon đã xác
nhận như vậy. Người ta đã biết rằng
một tần số tim trên 70 đập /phút làm
gia tăng 46% nguy cơ nhồi máu cơ tim.
Thế mà, ivabradine có một cơ chế tác
dụng phức tạp, chỉ tác động lên tham
số của tần số. Đó là chất ức chế dòng
Na và K đầu tiên, dòng được gọi là khử
cực (courant de dépolarisation), được
ghi nơi những tế bào tim. Được thương
mãi hóa ở Pháp dưới tên Procolaran,
tuy nhiên thuốc không được sử dụng nơi
những người có tần số tim dưới 70 đập
mỗi phút. Cần ghi nhận rằng việc đo
tần số này, dầu chỉ là một động tác
đơn giản, thế mà không phải luôn luôn
được thực hiện bởi các thầy thuốc
(SCIENCES ET
AVENIR 3/2009)
===
CHẨN ĐOÁN CỦA UNG THƯ
BUỒNG TRỨNG : LỢI ÍCH ĐƯỢC CHỨNG TỎ
CỦA NGOẠI KHOA SOI Ổ BỤNG
(COELIOCHIRURGIE)
G.S Michel Canis, thầy thuốc
chuyên khoa phụ sản của CHU
Clermont-Ferrand, bình luận về những
lợi ích của kỹ thuật vi xâm nhập này,
được trình bày nhân dịp hội nghị
chuyên đề vừa qua của Viện hàn lâm
ngoại khoa quốc gia.
Hỏi : Tỷ lệ mắc bệnh của
ung thư buồng trứng (cancer de
l’ovaire) là gì ?
Michel
Canis : Ung thư này không xảy ra
thông thường.
Ở
Pháp, người ta thống kê được 4500
trường hợp mỗi năm, và dưới 5% trong
số này có một yếu tố di truyền. Phần
lớn được chẩn đoán vào một giai đoạn
muộn bởi vì chúng tiến triển một cách
thầm lặng. Khi những triệu chứng được
biểu hiện, như là những cơn đau bụng
hay một sự gia tăng thể tích bụng, thì
bệnh đã phát triển nhiều rồi.
Hỏi : Xét nghiệm nào
cho phép chẩn đoán một khối u buồng
trứng ?
Michel Canine : Hiện
nay không có chương trình phát hiện
ung thư buồng trứng. Xét nghiệm thông
thường nhằm phát hiện ung thư buồng
trứng là siêu âm (échographie). Nhưng
thông thường nhất là do tình cờ mà
chúng ta khám phá ra nó.
Hỏi : Đối với loại
ung thư này, mức độ tin cậy của siêu
âm là gì ?
Michel Canine : Nhờ xét nghiệm
chụp ảnh này, ta có thể thấy rõ một
khối u buồng trứng (masse ovarienne),
nhưng siêu âm không cho phép chẩn đoán
tính chất hiền tính hay ác tính. Tuy
nhiên xét nghiệm này cho vài yếu tố
định hướng : khối u có thể là dịch (liquide),
rắn (solide) hay nửa dịch nửa rắn (mi-liquide
mi-solide). Khi khối u là dịch, có 99%
khả năng là chúng hiền tính. Khi khối
u nửa dịch nửa rắn, nguy cơ ung thư là
40% đến 50%. Khi khối u là rắn, nguy
cơ hạ xuống 20%.
Hỏi : Làm sao đảm
bảo một cách dứt khoát về tính chất
của khối u ?
Michel Canine : Bằng ngoại khoa
soi ổ bụng (chirurgie coelioscopique),
sẽ cho phép thấy buồng trứng và biết
được lấy đi bằng cách nào để khám dưới
kính hiển vi (phân tích mô học). Vấn
đề là, mãi cho đến ngày nay, kỹ thuật
này đã không được sử dụng nhiều, vì
người ta e ngại một nguy cơ làm lan
tràn (risque de dissémination). Thế mà,
nguy hiểm này có thể hoàn toàn tránh
được, khi động tác giải phẫu được thực
hiện một cách nghiêm túc.
Hỏi : Những hậu quả của việc
không sử dụng soi ổ bụng (coelioscopie)
để chẩn đoán là gì ?
Michel Canine : Vài
bệnh nhân, mà thương tổn thật ra là
lành tính, đã phải chịu một cách hệ
thống phẫu thuật mổ bụng cổ điển (laparotomie
classique à ventre ouvert), với một
đường xẻ thẳng đứng 10 cm (được thực
hiện trong trường hợp xác nhận ung thư)
thay vì chỉ cần một ngoại khoa vi xâm
nhập (chirurgie mini-invasive).
Hỏi : Chẩn đoán
bằng ngoại khoa soi ổ bụng (coeliochirurgie)
là gì ?
Michel Canine : Can
thiệp diễn ra dưới gây mê tổng quát và
gồm nhiều giai đoạn.
1. Thầy
thuốc bơm phồng bụng với thán khí (gaz
carbonique), làm căng xoang bụng.
2.
Qua một lỗ nhỏ 10 mm đường kính, một
trocart được đưa vào. Trong trocart
này một minicamera sẽ được chuồi vào,
cho phép chiếu phẫu trường lên trên
một màn ảnh.
3.
4 lỗ nhỏ khác đường kính 5mm được thực
hiện để phẫu thuật viên có thể đưa
dụng cụ ngoại khoa vào (đường kính
5mm). 4.
Phẫu thuật viên xem xét ổ bụng và
trích lấy chất dịch.
5.
Nhà phẫu thuật lấy đi hoàn toàn khối u
; khối u này được đặt trước hết trong
một túi nội soi (sac endoscopique) để
tránh mọi
nguy cơ làm lan tràn. Khối u được lấy
ra và được thăm khám tại chỗ với kính
hiển vi bởi nhà chuyên khoa mô học.
Nếu sự khám xét này không phát hiện ác
tính, phẫu thuật viên đóng lại các vết
mổ. Bệnh nhân sẽ ở lại bệnh viện trong
48 giờ và sẽ cảm thấy rất ít triệu
chứng. Trong trường hợp khối u là ung
thư, thầy thuốc phụ khoa sẽ thực hiện
kỹ thuật ngoại khoa cổ điển cùng lúc
với phẫu thuật nội soi.
Hỏi : Những chỉ
định chính xác của kỹ thuật này (coeliochirurgie)
là gi ?
Michel Canine :
Chúng tôi khuyên áp dụng kỹ thuật này
ngay khi khám phá ra một khối u buồng
trứng, và trong trường hợp u dịch kéo
dài (tumeur liquide persistante).
Hỏi : Nói tóm lại,
những lợi ích của kỹ thuật chẩn đoán
này là gì ?
Michel Carine :
1.
Độ tin cậy của chẩn đoán.
2.
Có thể thực hiện chẩn đoán và, trong
trường hợp cần thiết, điều trị ngoại
khoa trong cùng thì giải phẫu. 3. Ưu
điểm đối với các phụ nữ có một khối u
lành tính là tránh được một giải phẫu
nặng nề và chỉ phải chịu một động tác
vi xâm nhập (un acte mini-invasif).
( PARIS MATCH 5/3-11/3/2009)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr61.htm
(TSYH 61,
bài số 9
===
BUỒNG TRỨNG : CÁC XÉT
NGHIỆM ĐẦY HỨA HẸN
Siêu âm bằng đường âm đạo (échographie
vaginale) và xét nghiệm máu cho phép
tăng gấp đôi số trường hợp ung thư
được phát hiện sớm và có thể điều trị.
Cũng như những dạng ung
thư khác, như những ung thư tuyến tiền
liệt hay ung thư tử cung, ung thư của
buồng trứng (cancer de l’ovaire) có
tiến triển chậm, đặc biệt khó được
chẩn đoán sớm. Các buồng trứng cử động
khá tự do trong ổ bụng.
Đó
là lý do tại sao vào lúc bắt đầu bị
bệnh, các bệnh nhân có ít triệu chứng.
Khi các triệu chứng xuất hiện, chúng
rất ít đặc hiệu : đau bụng mơ hồ, cảm
giác căng phồng, nôn, táo bón, đi tiểu
thường xuyên một cách bất thường, gia
tăng thể tích của bụng (quần áo chật).
Mệt mỏi và mất cân có thể xuất hiện.
Hậu quả, đó là những ung
thư buồng trứng bị chẩn đoán muộn :
70% các phụ nữ bị ung thư buồng trứng
ở vào một giai đoạn tiến triển, với
một tỷ lệ sống còn khoảng 20 đến 30%
vào 5 năm sau chẩn đoán. Thật là đáng
tiếc, vì lẽ ung thư này nếu được phát
hiện sớm, tỷ lệ chữa lành là 90%.
Vậy có những phương tiện
chắc chắn để phát hiện sớm là chiếc
chìa khóa để cứu hàng ngàn sinh mạng :
những tiến bộ của siêu âm bằng đường
âm đạo (échographie transvaginale) và
sự phát triển một điểm số nguy cơ (un
score de risque) để giải thích những
kết quả của một xét nghiệm máu tìm chỉ
dấu ung thư (xét nghiệm “ CA125 ”) đã
gợi ý rằng một chương trình điều tra
phát hiện sớm quy mô lớn là có thể
thực hiện.
Để kiểm chứng điều đó,
giáo sư Ian Jacobs của Londres đã đánh
giá hiệu quả của hai phương pháp (siêu
âm và xét nghiệm máu) và hiệu quả của
chúng lên tỷ lệ tử vong. Những người
tham gia sẽ được trắc nghiệm cho đến
cuối năm 2012 và được theo dõi về mặt
y khoa cho đến cuối năm 2014, nhưng
những kết quả đầu tiên, đầy hứa hẹn,
được công bố tuần này bởi tạp chí
Lancet Oncology.
Giữa năm 2001 và 2005, ở
Vương Quốc Anh, 202.638 phụ nữ mãn
kinh, tuổi từ 50 đến 70, đã được phân
chia thành các nhóm, với chương điều
tra phát hiện theo hai phương pháp (siêu
âm và xét nghiệm máu), hoặc chỉ theo
một phương pháp (siêu âm). Theo các
kết quả, chương trình điều tra đã cho
phép phát hiện phần lớn các phụ nữ có
một ung thư buồng trứng. Gần một nửa
các ung thư được phát hiện ở các giai
đoạn đầu, trong khi bình thường, chỉ
một phần tư các ung thư xâm nhập
(cancers invasifs) là được phát hiện
vào giai đoạn đầu tiên hết.
CHÍN LẦN ÍT PHẪU
THUẬT HƠN.
Tổng cộng, 87 ung thư đã được phát
hiện nhờ chương trình điều tra, có
những tỷ lệ tương tự, với hai phương
pháp kết hợp hay chỉ siêu âm mà thôi.
Tuy nhiên, sự liên kết của hai xét
nghiệm là đáng chú : ít thực hiện lại
trắc nghiệm trong trường hợp kết quả
bất thường và gần như 9 lần ít hơn bị
phẫu thuật do ung thư được phát hiện.
Tính toàn bộ, điều này mang lại một
mối lợi hai năm về mặt thời gian trên
bệnh. Mỗi năm bệnh ung thư buồng trứng
giết chết khoảng 100.000 phụ nữ trên
toàn thế giới. Một chẩn đoán nhanh hơn
có thể cứu được nhiều mạng người. Tuy
nhiên, để chắc chắn rằng một chương
trình điều tra phát hiện như thế cho
phép cứu được mạng người, sẽ phải đợi
sự chấm dứt của các thử nghiệm lâm
sàng, vào năm 2014.
( LE SOIR 12/3/2009)
Bác sĩ
Nguyễn
Văn
Thịnh |