|
1/CYTOKINE, ĐỒNG MINH CỦA BỆNH SIDA
Người ta hiểu tốt hơn tại sao các phép
điều trị chống lại bệnh sida hiện nay
không bao giờ trừ tiệt được virus VIH
(HIV) ra khỏi cơ thể người bệnh. Chứng
tỏ cho điều này là sự tái phát sinh
nhanh chóng và hầu như có hệ thống của
căn bệnh sida một khi bệnh nhân ngưng
dùng thuốc.Nhưng người ta cũng hiểu rõ
hơn virus ẩn trốn ở nơi đâu, ngay cả
sau nhiều nằm điều trị.Thật vậy, lúc
nghiên cứu các mô hình động vật, một
nhóm nghiên cứu người Pháp của Inserm,
của CNRS và của Viện Pasteur, dưới sự
lãnh đạo của Jérome Estaquier, đã khám
phá một chỗ chứa virus (un réservoir à
virus) nằm chủ yếu trong những hạch
bạch huyết của vùng ruột ( hạch màng
treo ruột : ganglions mésentériques).
Siêu vi trùng bệnh sida có thể ẩn trốn
ở đó sau hơn 10 năm nhiễm trùng mặc
dầu virus không thể được phát hiện ở
những nơi khác : thật vậy lượng virus
trong máu lúc đó là zéro..
Các nhà nghiên cứu đã hiểu được một
phần tại sao.Họ đã chứng minh rằng các
« tế bào lympho sát nhân »
(lymphocytes tueurs), tức là các tế
bào lympho T CD8 độc với tế bào (cytotoxique)
của các hạch màng treo ruột, có thời
gian sống ngắn ngủi. Bình thường các
tế bào lympho sát nhân này có khả năng
kiểm soát sự tăng sinh virus bằng cách
tiêu hủy các tế bào bị nhiễm trùng.
Nhưng các nhà nghiên cứu đã khám phá
một khuyết tật trong bộ áo giáp của
những tế bào lympho này.Trong những
hạch màng treo ruột, các “ tế bào
lympho sát nhân ” nhạy cảm với sự hiện
diện của một cytokine TGF-beta.
Cytokine này ngăn cản các tế bào
lympho làm đúng công việc của chúng
cũng như ngăn cản chúng thiết lập một
đáp ứng miễn dịch.
Các kết quả này mang lại niềm hy vọng
hiệu chính các chiến lược mới chống
sida, nhằm vào sự phong bế cytokine
hoặc gia tăng tuổi thọ của các lympho
sát nhân.(SCENCES ET AVENIR 9/2007)
2/HAI NIỀM HY VỌNG CHỐNG LẠI CÁC U
LYMPHO (LYMPHOME)
Khám phá một chiến lược điều trị mới
chống lại các ung thư máu này.
Hai loại thuốc được sử dụng như tác
nhân ức chế miễn dịch (immunosuppresseur)
có thể tạo nên một vũ khí mới chống
lại các ung thư máu là các u lympho (lymphomes).
Đây là một khám phá của nhóm nghiên
cứu được điều khiển bởi Jacques
Ghysdael (Viện Curie).Ông này đã nhận
diện sự có mặt trên tế bào ung thư một
enzyme được hoạt hóa thường trực,
calcineurine. Mà enzyme này đúng là
mục tiêu của cyclosporine và của
FK506, hai chất thuờng được sử dụng để
làm giảm hoạt tính của hệ miễn dich
nơi những người bị ghép cơ quan. Người
ta đã quan sát rằng các chất này in
vitro đã gây nên sự phá hủy hàng loạt
các tế bào u ở người bằng cách khởi
động cái chết được chương trình hóa
của chúng. In vitro, ở loài chuột được
dùng như mô hình động vật, thời gian
sống còn hầu như đã tăng gấp đôi sau
khi cho một trong hai thuốc ức chế
miễn dịch này với liều lượng được sử
dụng trong điều trị ở người.
« Những kết quả này đặc biệt đáng quan
tâm, Jacques Ghysdael giải thích như
vậy, bởi vi các u lympho vẫn tiếp tục
tiến triển theo nhịp độ 12.000 bệnh
nhân mới mỗi năm ở Pháp. Bây giờ mục
tiêu của chúng tôi là thử nghiệm các
chất ức chế miễn dịch này nơi các bệnh
nhân không đáp ứng với hoá học trị
liệu đang được sử dụng hiện nay, tuy
nhiên với hy vọng được hổ trợ bởi các
nhà chế tạo những dược phẩm rất đắc
giá này ». Để làm nhạy cảm quần chúng
về loại ung thư không được biết đến
này, một Ngày quốc tế về bệnh u lympho
sẽ được tổ chức vào ngày 15 tháng 9
sắp đến bởi Association France
Lymphome Espoir.( SCIENCES ET AVENIR
9/2007)
3/THUỐC CHỐNG SỐT RÉT KHÔNG CẦN TIÊM
CHÍCH
Cho thuốc chống sốt rét bằng đường
trực tràng (administration
intrarectale) là một lựa chọn đáng
quan tâm trong trường hợp sốt rét thể
nặng cần phải tiến hành điều trị trong
một thời hạn ngắn ngủi nhất.Theo phân
tích của khoảng 30 công trình nghiên
cứu dược liệu học và lâm sàng được
thực hiện trên những người lành mạnh
và những bệnh nhân bị sốt rét, các dẫn
xuất chính của artémisine có hiệu quả
bằng đường trực tràng cũng như bằng
đường tiêm chích. Sau khi cho thuốc
bằng đường trực tràng, các nồng độ của
thuốc trong cơ thể thay đổi nhiều tùy
theo cá nhân, nhưng việc loại bỏ ký
sinh trùng bằng đường trực tràng
thường nhanh hơn so với đường tiêm
chích.(SCIENCES ET AVENIR 9/2007)
4/MỘT ÍT ĐƯỜNG VÀ NHIỀU XƯƠNG
Bộ xương của chúng ta bản thân là một
hệ nội tiết.Thật vậy, theo một nhóm
nghiên cứu của trung tâm y khoa của
đại học Columbia (Nữu Ước) thì xương
của chúng ta có khả năng điều hòa
lượng đường trong máu qua sự tiết một
hormone gọi là ostéocalcine. Chất này
kích thích tiết insuline và làm gia
tăng tính nhạy cảm của các tế bào đối
với hormone này để tiêu thụ đường
trong máu. Đây là lần đầu tiên một
phân tử có hai chức năng này được khám
phá.( SCIENCES ET AVENIR 9/2001).
5/LIỀU LƯỢNG CALCIUM TỐT NHẤT CHO
XƯƠNG CỦA NGƯỜI GIÀ
Uống calcium bổ sung hoặc calcium và
vitamin D dùng kết hợp, có thể làm
giảm nguy cơ gãy xương và mất mật độ
xương (bone density) nơi người già,
miễn là các chất bổ sung được uống đều
đặn và với liều lượng đủ lớn.
Một duyệt xét 29 thử nghiệm, bao gồm
hơn 63.000 đàn ông và đàn bà trên 50
tuổi đã nhận thấy rằng nguy cơ gãy
xương có thể giảm 12% với các chất bổ
sung calcium và vitamin D.Tốc độ mất
xương giảm khoảng 0,5-1% ở xương háng
và 1,9% ở xương sống. Nguy cơ gãy
xương giảm gần ¼ trong những nghiên
cứu trong đó các chất bổ sung được
uống một cách chu đáo.
Công trình duyệt xét, được công bố
trong số 25/8 của The Lancet đã nhận
thấy rằng hiệu quả tốt nhất với các
liều lượng 1.200 mg calcium và 800 đơn
vị quốc tế vitamin D. Khẩu phần được
khuyên đối với calcium ở người trên 50
tuổi là 1.200 mg nhưng đối với vitamin
D là 400 đơn vị đối với những người từ
50 đến 70 tuổi và 600 đơn vị đối với
những người 71 tuổi hoặc hơn.
Thêm vitamin D vào calcium không có vẻ
làm gia tăng tác dụng bảo vệ xương.
Nhưng các nghiên cứu thiếu các con số
về liều lượng cao của vitamin D.Tuy
nhiên các tác giả khuyên rằng nếu
vitamin D phải được sử dụng như chất
hỗ trợ thì nên được cho với những liều
lượng vượt quá 800 đơn vị quốc
tế.(INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE
6/9/2007)
6/NGUY CƠ MẮC PHẢI CHỨNG SA SÚT TRÍ
TUỆ ĐỐI VỚI PHỤ NỮ
Các phụ nữ mà buồng trứng bị lấy đi
trước thời kỳ mãn kinh có thể có nguy
cơ gia tăng bị chứng sa sút trí tuệ
(dementia), một nghiên cứu mới đã báo
cáo như vậy.
Các nhà nghiên cứu đã khảo sát 1.489
phụ nữ có một hoặc hai buồng trứng bị
cắt bỏ, so sánh họ với một nhóm kiểm
chứng 1.472 phụ nữ có các buồng trứng
nguyên vẹn. Nhóm nghiên cứu đã theo
dõi các phụ nữ này trong 25 đến 30 năm,
phỏng vấn họ hoặc người chăm sóc họ để
xác định tình trạng tâm thần.
Các phụ nữ lúc bị giải phẫu cắt bỏ
buồng trứng càng trẻ thi nguy cơ bị
rối loạn thần kinh tâm thần càng cao.
Các phụ nữ được mổ trước năm 43 tuổi
có nguy cơ bị rối loạn tâm thần 67%
cao hơn so với các phụ nữ có những
buồng trứng nguyên vẹn trong thời kỳ
mãn kinh. Các phụ nữ được điều trị
thay thế bằng oestrogène cho đến năm
50 tuổi không có nguy cơ gia tăng mặc
dầu số phụ nữ được điều trị quá ít ỏi
nên không có ý nghĩa về mặt thống kê.
Các tác giả, viết trong số tháng 9
Neurology lý thuyết rằng sự thiếu hụt
oestrogène gây nên bởi việc cắt bỏ
buồng trứng là động lực khởi đầu cho
những thay đổi sinh lý làm gia tăng
nguy cơ sa sút trí tuệ.
“ Có một thời người ta nghĩ rằng việc
cất bỏ buồng trứng là hoàn toàn có lợi
(ngăn ngừa ung thư buồng trứng) và
tuồng như không có bất lợi nào
”.Walter Rocca của Mayo Clinic, tác
giả hướng dẫn công trình nghiên cứu đã
phát biểu như vậy. “ Vẫn còn có những
tình huống cho rằng cắt bỏ buồng trứng
là một ý nghĩ hay, nhưng điều này
không phải sẽ áp dụng cho tất cả các
phụ nữ “INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE
6/9/2007)
B.S NGUYỄN VĂN
THỊNH
===========Xem thêm:
|
|