|
CÔNG CUỘC KHÁM PHÁ CÁC HORMONES
Cách nay gần hơn 100 năm, các nhà khoa
học đã khám phá sự hiện hữu của cái gì
đó giống với với các hormones. Thầy
thuốc người Anh Edward Albert
Sharpey-Schafer đã đóng một vai trò
quan trọng trong công cuộc khám phá
này.
Sự khám phá các hormone ( xuất phát từ
chữ Hy Lap “ hormao ”, có nghĩa là “
tôi làm chuyển động ” ) tương đối mới
xảy ra gần đây. Người thầy thuốc người
Anh Edward Albert Schfer, gốc Đức, có
cuộc đời khá đặc biệt, đã đóng một vai
trò không phải là ít trong việc khám
phá này.
Edward Albert Scafer sinh ngày 2 tháng
sáu năm 1850 ở Hornsey, Middlesex. Ông
là đứa con thứ ba của một thương gia
sinh ở Hambourg ; ông này lấy quốc
tịch Anh một ít lâu sau khi di trú
sang Anh. Scafer học Y Khoa ở
University College ở Luân Đôn và ông
nhận văn bằng năm 1874. Ngay tức thời,
ông được bổ nhiệm làm trợ lý sinh lý
học thực hành. Vào năm 28 tuổi, ông
được bầu Fellow of the Royal Society.
Năm 1899, ông dời đến Ecosse. Ở đây
người ta đề nghị ông ghế giáo sư, một
chức vụ mà ông đã chấp nhận và giữ cho
đến lúc về hưu năm 1933.
CHỐNG ĐỨC
Thế giới chiến tranh lần thứ nhất đóng
một vai trò quan trọng trong cuộc đời
của Schafer. Vào năm 1912, ông trở
thành chủ tịch của British Medical
Association và năm 1913, ông được
phong hiệp sĩ (chevalier). Hai đứa con
trai của ông (ông cũng có 3 cô con
gái) chết vào lúc chiến tranh. Chính
ông đã thay đổi tên họ thành
Sharpey-Schafer. Một mặt để tỏ lòng
tôn kính người dìu dắt ông là William
Sharpey và, mặt khác, để thoát khỏi
những tình cảm chống Đức vào thời đó.
Ông chết ngày 29 tháng ba năm 1935 ở
North Berwick.
Nhưng chúng ta hãy trở lại năm 1893.
Vào lúc một buổi lên lớp, trong khi
ông đang đo huyết áp của một con chó,
thì Schafer được George Olivier đến
viếng thăm. Sau sự việc làm ông rối
loạn này, Schafer bắt đầu đo huyết áp
trở lại cho con chó. Sau khi huyết áp
đã được đo xong, Olivier yêu cầu ông
đo lại, nhưng sau khi đã tiêm vào con
chó một chất trích của tuyến thượng
thận. Vào lúc đo lần thứ hai này,
huyết áp con chó hoàn toàn lên cao
vút.
ADRENALINE
Olivier đã đạt mục đích, và cùng với
Schafer, họ bắt đầu nghiên cứu yếu tố
có công hiệu đã gây nên một phản ứng
mạnh như thế. Nhưng đó là việc hoài
công bởi vì hai nhà khoa học đã không
bao giờ tìm ra yếu tố này. 10 năm sau,
năm 1901, hoạt động độc lập với nhau,
nhưng gần như cùng thời, Jokichi
Takamine và Thomas Bell Aldrich đã
khám phá ra Adrénaline. Hay đúng hơn
là épinéphrine, như người ta đã thường
gọi ở Hoa Kỳ. 3 năm sau, Friedrich
Stolz đã thành công tổng hợp được chất
này. Như thế Adrénaline đã trở nên
hormone đầu tiên được tổng hợp, mặc
dầu thuật ngữ hormone chưa hiện hữu
vào thời kỳ đó.
Những công trình tiền phong của
William Maddock Bayliss và người anh
rể của ông Ernest Henry Starling, cũng
tiến triển và ngày 16 tháng giêng năm
1902, họ đã tiêm acide
hydrochlorhydrique vào trong tá tràng
(duodénum) của một con chó. Trong thí
nghiệm của họ, tá tràng được nối duy
nhất vào cơ thể của con chó bằng các
tĩnh mạch, như thế cho phép Bayliss và
Starling quan sát rõ những tác dụng
gây nên bởi các mũi tiêm acide
hydrochlorhydrique. Họ đã chứng nhận
rằng, để phản ứng lại với mũi tiêm
này, tụy tạng của con chó bắt đầu tiết
ra một chất dịch. Từ đó họ kết luận
rằng tá tràng đã gởi vào trong tụy
tạng một chất và tụy tạng đã phản ứng
lại với chất này. Họ đã gọi chất này
là sécrétine và đã tường thuật lại “
một buổi chiều lớn vì khoa học ” trong
một bài báo dành cho công cuộc khám
phá mà họ đã thực hiện.
Còn về những hormone khác, phần lớn
còn phải đợi lâu hơn. Vào mùa thu năm
1929, Edward Doisy đã loan báo rằng
ông đã phân lập được hormone nữ
oestrogène. Năm 1934, đến lượt
progestérone. Chỉ vào năm 1935, ở
Amsterdam, Ernst Laqueur đã phân lập
testostérone từ các tinh hoàn của bò
mộng . Ông theo đuổi công trình của
nhà khoa học người Đức Adolf
Butenandt. Ông này vào năm 1931 đã
phân lập androstérone từ 25.000 lít
nước tiểu nam giới. Còn hormone tăng
trưởng, somatotrophine, chỉ được khám
phá vào năm 1972 và còn phải đợi 5 năm
nữa người ta mới khám phá ra EPO.
( SEMPER 9/2008)
===
GIẢI THƯỞNG
NOBEL DÀNH CHO CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG
LẠI VIRUS
Giải thưởng Nobel cho các nhà khám phá
các siêu vi trùng gây bệnh sida và
papillome người. Giải thưởng Nobel về
y học năm 2008 đã được trao cho các
người Pháp Luc Montagnier và Françoise
Barré-Sinoussi của Viện Pasteur vì đã
khám phá ra virus gây bệnh sida năm
1983, và cho người Đức Harald zur
Hausen vì những công trình của ông về
ung thư của cổ tử cung.
Người ta đâu có nạp đơn ứng viên để
xin được giải thưởng Nobel về y học.
Chính vì thế Françoise Barré-Sinoussi,
sau khi đã hay tin hôm sáng thứ hai
rằng bà đã được giải thưởng Nobel về y
học, trong khi bà đang làm việc trong
văn phòng của viện Pasteur Phnom Penh,
bà đã không thể che dấu được sự ngạc
nhiên và xúc động. Bà chia sẻ giải
thưởng này với Luc Montagnier (được
biết nhiều hơn), vì đã có công khám
phá ra virus gây bệnh sida vào năm
1983.
Hai nhà nghiên cứu
người Pháp chia nhau một nửa của giải
1,02 triệu euros. Harald zur Hausen
nhận nửa kia của giải. Đây là lần đầu
tiên các nhà nghiên cứu người Pháp
nhận giải Nobel về y học từ năm 1980,
là năm giải được trao cho giáo sư Jean
Dausset. Việc trao giải thưởng này cho
nhóm nghiên cứu của Viện Pasteur, mà
không có các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ,
cho phép kết thúc vĩnh viễn cuộc tranh
cãi giữa Montagnier và Gallo. Hai nhà
nghiên cứu này đã đấu tranh trong
những năm dài, trước khi những công
trình nghiên cứu trong việc khám phá
virus gây bệnh sida của nhóm nghiên
cứu người Pháp được công nhận là xảy
ra trước nhóm nghiên cứu của Hoa Kỳ.
Ngày 20 tháng 5 năm 1983, trong một
bài báo được công bố trong Science,
một nhóm nghiên cứu của Viện Pasteur
Paris, được điều khiển bởi giáo sư Luc
Montagnier, đã mô tả một virus mới, bị
nghi là nguyên nhân của hội chứng suy
giảm miễn dịch mắc phải (SIDA :
syndrome d’immunodéficience acquise,
hay AIDS : acquired immunodeficiency
syndrome). Được phân lập từ một bệnh
nhân với huyết thanh dương tính
(séropositif), virus này đã được đặt
tên là LAV vì siêu vi trùng này liên
kết với bệnh hạch bạch huyết
(lymphadénopathie). Công cuộc khám phá
của Barré-Simoussi, 61 tuổi, và của
giáo sư Luc Montagnier, 76 tuổi, “ đã
là thiết yếu cho sự thông hiểu hiện
nay về sinh học và trị liệu kháng
rétrovirus của bệnh này ”, các chuyên
gia của ủy ban Nobel đã ghi nhận như
thế.
MỘT QUYỀN TÁC GIẢ ĐƯỢC CÔNG NHẬN
Quyền tác giả được công nhận là một
quyết định dứt khoát trong mối tranh
chấp giữa nhóm nghiên cứu của
Montagnier với nhóm nghiên cứu của
người Mỹ Gallo ; ông này được công
nhận như là người cùng khám phá ra
virus, nhưng ủy ban Nobel lại không
nêu tên ông này trong bảng thông báo.
Vào tháng 4 năm 1984, Gallo đã loan
báo là đã phân lập được một virus
giống với virus do Viện Pasteur khám
phá. Sau khi những tài liệu nội bộ
được tiết lộ, Gallo đã được công nhận,
là có “ cách cư xử khoa học xấu ” .
“ Người ta biết rằng đó là một khám
phá quan trọng nhưng người ta đã không
đo lường được quy mô của trận dịch như
người ta biết hiện nay ” , Françoise
Barré-Sinoussi đã nhớ lại như thế. “
Người ta đã không đo lường được tác
động của trận dịch lên lục địa châu
Phi. Vào thời kỳ đó, người ta nói về
căn bệnh của những người đồng tình
luyến ái, của những người bị bệnh ưa
chảy máu (hémophiles), của những người
nghiện ma túy và người ta chưa có ý
niệm rằng đó là một bệnh được lây
truyền bằng đường sinh dục (maladie
sexuellement transmisible). ”
Chúng ta hãy nhắc lại rằng tác nhân
gây bệnh sida phá hủy vài bạch cầu,
điều này khiến cho bệnh nhân dễ bị
những nhiễm trùng được gọi là cơ hội
(infections opportunistes) như lao,
viêm phổi do pneumocystis carinii
(pneumocytose), bệnh toxoplasma
(toxoplasmose) hay một vài khối u ung
thư (thường nhất là sarcome de
Kaposi).
Được truyền bằng đường sinh dục, máu,
hay từ mẹ sang con lúc thai nghén hay
lúc cho bú sửa, virus sinh sản bằng
cách sống ký sinh trên các lympho bào
T4 hay CD4, của những bạch cầu đóng
vai trò nhạc trưởng của hệ miễn dịch.
Sau quá trình tăng sinh, các virus mới
phá hủy tế bào mà chúng làm tổ và đến
gây nhiễm các tế bào khác. Sự phá hủy
này gây nên một sự suy yếu của hệ miễn
dịch. “ Tầm quan trọng của các công
trình của Barré-Sinoussi và Montagnier
phải được xét đến trong khung cảnh của
trận dịch ảnh hưởng lên gần 1% dân số
thế giới ”, ủy ban Nobel đã ghi nhận
như thế. “ Sự thành công của liệu pháp
rétrovirus đã cho phép làm gia tăng hy
vọng sống (espérance de vie) của những
người bị nhiễm bởi HIV, ngày nay tương
tự với hy vọng sống của những người
lành mạnh ”.
( LE SOIR 7/10/2008)
====
ROBERT GALLO,
NGƯỜI CÙNG KHÁM PHÁ VIRUS HIV
Thường được giới thiệu như là người
cùng khám phá ra virus HIV với Luc
Montagnier, nhưng nhà nghiên cứu này
của Hoa Kỳ đã không có tên trong danh
sách của những người được giải thưởng
của ủy ban Nobel Thụy Điển.
“ Năm nay, công cuộc khám phá virus
bệnh sida đã được tặng thưởng bởi giải
Nobel y học ” . Hôm chủ nhật, nhiều
site thông tin khoa học đã đưa ra
những tiên đoán, và mỗi lần như vậy
đều nêu các tên của người Mỹ Robert
Gallo và người Pháp Luc Montagnier.
Khi đó không ai tưởng tượng rằng nhà
nghiên cứu Hoa Kỳ sẽ không có tên
trong danh sách của những người được
giải thưởng Nobel. Tuy vậy, đó là điều
đã xảy ra. Cũng không có ai đề cập đến
tên của Françoise Barré-Sinoussi.
Ủy ban Nobel đã làm ngạc nhiên mọi
người, công nhận sự khám phá của những
người Pháp và chấm dứt vĩnh viễn một
cuộc tranh cãi, phải nói là đã được
giải quyết từ nhiều năm nay. Thật vậy,
năm 2002, Gallo và Montagnier đã ký
kết một thỏa thuận hợp tác nghiên cứu
giữa hai cơ quan mà họ vẫn còn lãnh
đạo cho đến hôm nay, đó là Viện virus
học người, thuộc đại học Maryland và
Cơ quan nghiên cứu và phòng ngừa bệnh
sida thế giới. Vào tháng 12 cùng năm,
cả hai đã ký một quan điểm về tương
lai của nghiên cứu về HIV, trong tạp
chí Hoa Kỳ Science. “ Chúng ta đã trở
nên khôn ngoan và chín mùi hơn ”, cả
hai nhà nghiên cứu đã tuyên bố như vậy
với báo chí, rất đổi ngạc nhiên về sự
thông hiểu nhau tốt đẹp này. Thật vậy,
vào giai đoạn đầu tiên của những
nghiên cứu về bệnh dịch, họ đã cộng
tác chặt chẽ với nhau, Robert Gallo là
một trong những chuyên viên giỏi nhất
về các rétrovirus, HIV thuộc vào họ
của những siêu vi trùng này.
Hôm qua, Robert Gallo, chơi đẹp, đã
công nhận với thông tấn xã AP, rằng
ông ta “ thất vọng ” vì đã không được
giải thưởng Nobel. Nhưng ông không
chối cãi rằng “ Barré- Sinoussi và
Montagnier xứng đáng được phần thưởng
của họ ” . Tuy nhiên ông cũng chỉ rõ
rằng nếu giải thưởng Nobel có thể được
cấp cho ba người, thì có lẽ ông đã có
thể có được một giải rồi. Tuy nhiên
người ta ghi nhận rằng ủy ban Nobel
Thụy Điển đã không hề đề cập đến
Robert Gallo trong thông báo của họ.
Robert Gallo, hơi gay gắt, đã cho biết
rằng giải Nobel là một giải Châu Âu và
rằng dưới mắt ông, ít nhất có những
giải khác cũng uy tín như vậy trên thế
giới.
( LE FIGARO 7/10/2008)
===
SIDA ĐÃ XUẤT
HIỆN NGAY THẾ KỶ THỨ XIX
Bệnh Sida xuất hiện 50 năm sớm hơn
người ta tưởng và virus đã biến dị
nhiều lần trước khi tăng sinh.Virus
chịu trách nhiệm 95% những lây nhiễm
hiện nay có thể đã chào đời giữa năm
1884 và 1924. Virus, nguyên nhân của
trận đại dịch sida trên thế giới ngày
nay, được khám phá năm 1981 và đã làm
lây nhiễm 55 triệu người vào cuối năm
2007, đã đến từ đâu ? Một công trình
nghiên cứu mới, được thực hiện bởi
những nhà nghiên cứu Hoa Kỳ, Congo,
Pháp và Bỉ, và được công bố bởi tạp
chí Nature, mang lại một ánh sáng mới
về nguồn gốc của HIV.
Mãi đến ngày nay, người ta nghĩ rằng
HIV, siêu vi trùng gây suy giảm miễn
dịch nơi người, đã xuất hiện vào
khoảng năm 1930, ở châu Phi, do sự
truyền giữa các loài (transmission
interespèce) của một biến thể của
virus dạng khỉ, từ con tinh tinh
(chimpanzé) qua người, có thể xảy ra
trong lúc săn bắn hay lúc ăn phải thịt
bị nhiễm trùng. Một công trình nghiên
cứu di truyền “ khảo cổ học ”, mà các
kết quả được công bố trong tạp chí
Nature, đặt thời điểm truyền bệnh này
ít nhất nửa thế kỷ trước đó, hoặc một
thế kỷ trước khi virus trở nên một vấn
để y tế công cộng quan trọng, vào năm
1981, tức hai năm trước khi Montagnier
và Gallo nhận diện được virus.
Các nhà nghiên cứu đã tiến hành như
thế nào để đạt được kết luận này ? Họ
đã phân tích một mẫu nghiệm virus HIV,
trích từ một bệnh phẩm của hạch bạch
huyết được bảo quản trong paraffine và
rất mới đây vừa được làm cập nhật.
Bệnh phẩm này, được bảo quản ở khoa cơ
thể bệnh học của Đại học Kinshasa, rồi
được chuyển về Đại học Arizona, vốn đã
được lấy từ một phụ nữ 48 tuổi ở
Kinshasa vào năm 1960. Michael Worobey
(đại học Tucson, Arizona) đã phân tích
bệnh phẩm này và đã khám phá, trong
một mẫu nghiệm sinh thiết của một hạch
bạch huyết của người phụ nữ này, dấu
vết của virus bệnh sida. Đó là các
acide nucléique, hay nói một cách
khác, là các mảnh của các gène của
ADN, đã được bảo quản như thế trong 48
năm. Thế mà, mãi đến ngày nay, chỉ có
một mẫu nghiệm duy nhất khác, có từ
trước năm 1976, được khám phá vào năm
1959, cũng ở Kinshasa.
Các nhà nghiên cứu sau đó đã phân tích
di truyền hai giống gốc 1959 và 1960
(ZR59 và DRC60), và đã so sánh chúng
với một trăm mẫu nghiệm mới đây, để
quan sát những biến dị đã xảy ra. Kết
quả ? Sự so sánh cho thấy rằng hai
virus đã rất khác nhau, khiến có thể
suy đoán rằng tổ tiên chung của virus
này đã xuất hiện sớm hơn nhiều điều mà
người ta đã nghĩ trước đây.
ADN của virus HIV biến dị một triệu
lần nhanh hơn ADN của một loài động
vật, BS Paul Sharp đã ước tính như thế
trong một bài báo của Nature. Trong
vài thập niên, một số không phải là ít
những biến dị của virus bệnh sida đã
được quan sát.
Theo các nhà nghiên cứu, nếu người ta
tính đến tốc độ biến dị của virus bệnh
sida, thì tổ tiên nguồn gốc của trận
đại dịch thế giới ngày nay, ắt hẳn
phải cổ hơn nhiều.Trong lịch sử của
trận dịch nơi người, tổ tiên virus của
HIV là một virus của sự giảm miễn dịch
của khỉ (SIV). Virus cổ đại này đã gây
nhiễm tự nhiên các con tinh tinh ở
vùng Trung và Tây phi.
Những nghiên cứu khảo cổ học về một
virus có ích lợi gì ? “ Như đối với
virus cúm năm 1918, một sự hiểu biết
sâu rộng hơn về tiến triển của virus
và phương cách mà nó biến dị từ những
trường hợp đầu tiên ở châu Phi, có thể
cho một cái nhìn chính xác hơn về độc
lực và về tiến triển của những giống
gốc hiện nay. Điều này có thể cho
những hướng để ngăn ngừa trận dịch ”,
các nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh như
thế. 33 triệu người sống với virus HIV
và 28 triệu người đã chết vì nó từ năm
1981.
( LE SOIR 3/10/2008) ( LE FIGARO
2/10/2008)
===
NHỮNG ƯU ĐIỂM
VÀ NHỮNG HẠN CHẾ CỦA CẮT BAO QUY ĐẤU
CHỐNG SIDA
Vào lúc mà hiệu quả của sự cắt bao quy
đầu như là phương tiện phòng ngừa đang
gây tranh cãi, những dữ kiện mới trên
hiện trường vừa được trình bày ở Hội
Nghị Quốc tế về sida lần thứ XVII,
diễn ra ở Mexico. Chúng ta hãy nhớ
rằng 33 triệu người bị nhiễm trùng bởi
VIH vào cuối năm 2007 .
Từ tháng 12/ 2006, người ta biết rằng
sự cắt bao quy đầu nơi nam giới làm
giảm60%. các nguy cơ truyền VIH. Thật
vậy bao quy đầu được cấu tạo bởi những
tế bào đặc biệt rất dễ bị thương tổn
bởi virus. Đó cũng là một vùng mảnh
dẻ, nơi các thương tổn vi thể có thể
xuất hiện lúc giao hợp. Sau cùng, môi
trường nóng và ẩm của nó làm dễ sự tồn
tại của VIH sau khi bị lây nhiễm. Do
đó, cắt bỏ bao quy đầu làm giảm những
cửa đi vào của virus. Da của dương vật
cứng lại, trở nên một hàng rào chắn
tốt hơn. Vấn đề duy nhất : cắt bao quy
đầu làm giảm nguy cơ, nhưng không có
tác dụng bảo vệ.
Làm sao tránh những cảm giác an toàn
giả tạo và nhiều hành vì nguy cơ hơn ?
.Một công trình nghiên cứu của Pháp,
của cơ quan nghiên cứu quốc gia về
bệnh sida, thực hiện trên 1.201 người
đàn ông và 1.399 phụ nữ của quận
Orange Farm ở Nam Phi, cho thấy rằng
55% đàn ông đã tuyên bố là đã được cắt
bao quy đầu nhưng thực ra không phải
là như vậy. Sự không hiểu biết này
tăng cường ý tưởng rằng, để được chấp
nhận và có hiệu quả, sự cắt bao quy
đầu phải được thực hiện miễn phí và
kết hợp với một mức cao về thông tin.
( SCIENCES ET AVENIR 9/2008)
====
BISPHENOL A
Bisphénol A (BFA) , ngày nay có thể
được phát hiện nơi hơn 90% dân số,
dường như được liên kết với một sự gia
tăng nguy cơ bị bệnh đái đường và bệnh
tim mạch. Được thêm vào polycarbone
được sử dụng trong nhiều đồ vật, những
bình sữa cho con bú cũng như trong
những résines époxy hiện diện ở mặt
trong các đồ hộp thực phẩm bằng sắt
tây, BFA có mặt khắp nơi trong môi
trường sống của chúng ta. Năm qua, các
trung tâm kiểm tra và phòng ngừa bệnh
tật đã tiết lộ rằng BFA đã được phát
hiện trong nước tiểu của 93% những
người tham dự vào công trình nghiên
cứu National Health and Nutrition
Examination Survey.
Những nồng độ cao bisphénol a (BPA),
được sử dụng trong việc chế tạo các
chai bằng plastique và bao bì thực
phẩm, được liên kết với một nguy cơ
cao hơn mắc phải bệnh tim mạch, bệnh
đái đường và các bất thường gan, theo
một công trình nghiên cứu được công bố
trong Jama.
Phân tích các dữ kiện, được thực hiện
trên 1.455 người Mỹ, tuổi từ 18 đến
74, các tác giả của nghiên cứu đã khám
phá rằng những nồng độ cao nhất của
BPA trong nước tiểu được liên kết với
một sự gia tăng trung bình 39% nguy cơ
bị bệnh tim mạch, bệnh đái đường loại
2 và những bất thường của các men gan.
Các nhà nghiên cứu đã chia những người
tham dự thành 4 nhóm ngang nhau, tùy
theo nồng độ của BPA trong nước tiểu
của họ. 15% những người tham dự có
nồng độ BPA cao nhất, có một nguy cơ
bị bệnh tim mạch gần 3 lần lớn hơn 25
% những người tham dự có nồng độ BPA
thấp nhất. Đối với bệnh đái đường,
nguy cơ được nhân lên 2,4 giữa hai
nhóm này. Sự gia tăng của nguy cơ bị
bệnh đái đường và bệnh tim mạch được
nhận thấy ngay cả khi sự tiếp xúc hàng
ngày với những nồng độ BPA, 50 đến 100
lần thấp hơn những nồng độ đến nay
được cho là an toàn. Công trình nghiên
cứu này, được thực hiện giữa năm 2003
và 2004 là công trình rộng rãi nhất
được thực hiện trên người để đánh giá
nguy cơ do BPA gây nên.
Công trình nghiên cứu này xác nhận
những kết quả của nhiều công trình
nghiên cứu, đã được thực hiện trên
động vật và đã phát hiện những hiệu
quả có hại của BPA với nồng độ thấp,
đặc biệt vào lúc tăng trưởng . Như thế
BPA có thể gây nên những biến đổi
trong não bộ, tuyến tiền liệt, các
tuyến vú và biến đổi tuổi dậy thì nơi
các thiếu nữ.
BPA là một sản phẩm hoá học thuộc họ
các hợp chất hữu cơ thơm (composés
organiques aromatiques). Chất này cũng
được xem như là một chất gây rối loạn
nội tiết (un perturbateur
endocrinien). BPA đã là đối tượng của
nhiều nghiên cứu trong những năm 1930,
khi người ta thấy đó là một oestrogène
tổng hợp.Trên cơ sở những công trình
nghiên cứu khoa học được tài trợ bởi
công nghiệp các chất plastique, từ lâu
công nghiệp này lập luận rằng BPA
không có một mối nguy cơ nào bằng
đường ăn uống đối với loài người.
Nhưng những nghiên cứu khác, độc lập,
được tiến hành trên chuột và người,
mới đây đã đi đến kết luận khác, đối
với BPA lẫn phtalates. Những chất
phtalates cũng hiện diện trong cac đồ
plastique và có thể có một tác dụng âm
tính lên những chức năng nội tiết, đã
bị cấm chỉ trong Liên Hiệp Châu Âu.
Được công bố năm 2007 trong tạp chí
Environmental Health Perspective, một
công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ đã
xác lập nơi người những mối tương quan
giữa các nồng độ phtalates trong nước
tiểu và chứng béo phì vùng bụng
(obésité abdominale).
Vào giữa tháng 4 năm nay, chính phủ
Canada loan báo ý định cấm sự thương
mại hóa các bình sữa (biberons), được
cấu tạo bởi plastique chứa bisphénol A
(BPA), từ nay được xem là chất độc bởi
đất nước này. Ở Hoa Kỳ, nhiều người
hữu trách thuộc đảng Dân Chủ vừa yêu
cầu Cơ quan quản trị thực và dược phẩm
hãy đánh giá lại những mức độ tiếp xúc
có thể được xem là có thể chấp nhận
được về phương diện y tế.
( LE SOIR 29/9/2008) ( LE JOURNAL U
MEDECIN 2/10/2008) ( LE MONDE
6/5/2008)
====
UNG THƯ CỔ TỬ
CUNG : VACCIN BỊ ĐẶT VẤN ĐỀ
Để biết xem việc tiêm chủng có sẽ làm
giảm tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong
hay không là quá sớm. Cũng vậy, chúng
ta không biết được bao lâu vaccin sẽ
che chở cuộc sống của các phụ nữ được
tiêm chủng.
Từ vài năm nay, cộng đồng y khoa và
nhiều giới hữu trách y tế quốc gia đã
tán dương vaccin chống lại vài
papillomavirus, nguồn gốc của các ung
thư cổ tử cung. Tuy vậy nhiều tiếng
nói lạc điệu đã được nghe ở hội nghị
thế giới về ung thư tổ chức ở Genève.
Trong New England Journal of Medicine
(21/8/2008) nhiều bài báo và một bài
xã luận đặt những câu hỏi mà những kỹ
nghệ gia lẫn các cơ quan y tế đều
không thể trả lời được.
Hiện nay, hai vaccin Gardasil (Sanofi
Pasteur Merck Sharp Dome) và Cervarix
(GlaxoSmithKline) được cho phép và
khuyến nghị ở Pháp cũng như ở Hoa Kỳ
và trong 61 nước khác. Chúng bảo vệ
chống lại sự nhiễm trùng bởi hai giống
gốc papillomavirus người (HPV16 và
18), được lây truyền bằng đường sinh
dục. Gần 80% các phụ nữ trưởng thành
bị nhiễm trùng (có hàng trăm giống gốc
virus, nhưng HPV 16 và 18 chịu trách
nhiệm 70% các ung thư ). Những virus
này gây nên sự xuất hiện các thương
tổn tiền ung thư, không gây triệu
chứng trong thời gian lâu, và các mụn
cóc sinh dục (verrues génitales), cuối
cùng lót đường cho ung thư cổ tử cung.
Một nửa triệu những trường hợp ung thư
mới xảy ra mỗi năm, trong đó 80% trong
các nước nghèo, điều này biện minh cho
chiến dịch chủng ngừa. Nhưng từ khi
được thương mãi hóa tháng 6 năm 2006,
nếu hàng chục triệu các thanh thiếu nữ
và phu nữ được chủng ngừa, và mặc dầu
những mong đợi lớn và những kết quả
thử nghiệm lâm sàng đầy hứa hẹn, nhưng
nhiều câu hỏi vẫn không được trả lời .
Trước hết không ai biết được các thiếu
nữ trẻ tuổi người Pháp (14 tuổi) được
chủng ngừa, có sẽ tránh được một số
lượng ung thư quan trọng hay không,
cũng như không ai biết được tỷ lệ tử
vong của ung thư này có sẽ được làm
giảm bởi vaccin hay không ?
Câu hỏi khác : vaccin chống HPV có thể
bảo vệ các phụ nữ trong bao lâu ?
Câu hỏi khác : hai vaccin chỉ bảo vệ
chống lại HPV 16 và 18, thế mà có
nhiều papillomavirus khác, một vài
thường ít gặp hơn. Thế thì, có thể có
một nguy cơ tạo nên, do việc tiêm
chủng, một áp lực chọn lọc làm xuất
hiện những virus khác mà vaccin không
có hiệu quả ?
(LE FIGARO 29/8/2008)
====
UỐNG MỘT VIÊN
THUỐC NHỎ ASPIRINE MỖI NGÀY CÓ BẢO VỆ
CHỒNG LẠI BỆNH NHỒI MÁU CƠ TIM ?
Trước hết phải xác nhận rằng việc điều
chỉnh toàn bộ các yếu tố nguy cơ của
bệnh động mạch vành phải là điều chủ
yếu. Nếu không có những yếu tố nguy cơ
thì việc uống aspirine mỗi ngày đã
không được chứng tỏ là có một lợi ích
gì, trong khi đó vẫn có những tác dụng
phụ có thể xảy ra. Những phản ứng phụ
này chủ yếu rối loạn dạ dày tá tràng
và khả năng chảy máu kéo dài trong
trường hợp bị vết thương hay nhổ răng.
Nghiêm trọng hơn là xảy ra, nhưng
hiếm, một loét dạ dày và, rất ngoại
lệ, một xuất huyết dạ dày-ruột hay não
.
Trái lại, nơi những người với tiền sử
tai biến tim mạch (nhồi máu, tai biến
mạch máu não, can thiệp trên các động
mạch vành, viêm động mạch ngoại biên)
hay có một nguy cơ gia tăng rõ rệt bị
biến chứng động mạch vành căn cứ trên
profil nguy cơ của họ, những lợi ích
của vai trò bảo vệ của aspirine vượt
trội những bất lợi liên quan với những
tác dụng phụ này. Ngay ở những người
với nguy cơ thấp, vai trò phòng ngừa
những tai biến tim mạch bởi aspirine
được chứng minh trên cơ sở những kết
quả của một phân tích méta của 6 công
trình nghiên cứu, với một sự giảm tỷ
lệ nguy cơ bị nhồi máu 23%. Để làm
giảm những tác dụng phụ, cần uống mỗi
ngày một viên aspirine nồng độ thấp
(từ 75 đến 100 mg). Liều lượng này đủ
để kiểm soát tình trạng tăng đông
huyết của máu, vừa làm giảm thiểu nguy
cơ bị các biến chứng. Chúng ta cần
biết rằng vài loại thuốc có thể cản
tác dụng của aspirine, như vài chất
kháng viêm. Chính vì lẽ đó luôn luôn
cần hỏi ý kiến BS gia đình của mình.
Vẫn còn hai câu hỏi không được giải
quyết :
Xét vì khả năng gây ra những phản ứng
phụ tuy thấp nhưng có thật, thế thì có
nên cho aspirine trong trường hợp nguy
cơ tim mạch thấp hay không ? Chúng ta
sẽ đợi những kết quả của một công
trình nghiên cứu lớn (ARRIVE) hiện
đang được tiến hành, rồi mới phát
biểu.
Câu hỏi khác : Aspirine có phải uống
một cách vô hạn định hay không ?
Có lẽ vâng, vì lẽ ngay ở những người
mà những yếu tố nguy cơ được kiểm soát
tốt, nguy cơ tai biến tim mạch còn lại
vẫn cao so với những người không có
yếu tố nguy cơ. Ngừng điều trị (thí dụ
lúc phẫu thuật, nhổ răng, đục thủy
tinh thể) sẽ không bao giờ được làm mà
không có ý kiến của thầy thuốc, và
không được quên uống trở lại aspirine
ngay khi có thể được ( thường ngay
sáng hôm sau sau phẫu thuật).
Thật vậy, một phân tích méta trên
50.000 bệnh nhân đã cho thấy rằng
những người ngừng điều trị một cách
không cân nhắc có một nguy cơ tai biến
tim mạch nhân lên 3 lần. Những kết quả
tương tự có thể xảy ra trong trường
hợp uống thuốc không đều đặn. Điều này
đặc biệt đúng đối với những người mang
một stent động mạch. ( COEUR ET
ARTERES 9/2008)
=====
BỆNH THIÊN
ĐẦU THỐNG : CHÚ Ý NHỮNG BÁO ĐỘNG THỊ
GIÁC
Bệnh thiên đầu thống (migraine) được
kèm theo bởi các dấu hiệu báo trước,
nhất là thị giác, hay chứng thiên đầu
thống với aura, gây bệnh cho khoảng 7%
dân số, theo những thống kê mới nhất
của Hoa Kỳ. Như những dữ kiện thu được
trong công trình nghiên cứu nổi tiếng
Women’s Health Study gợi ý, trong đó
26.000 phụ nữ đã tham dự và được theo
dõi trong 11 năm, chẩn đoán thiên đầu
thống với aura phải được theo sau bởi
một bilan tim mạch chính xác. Thật
vậy, sự hiện diện của một aura trong
thiên đầu thống là một chỉ dấu tốt báo
trước nguy cơ bị tai biến mạch máu
não, ngay cả khi không có yếu tố nguy
cơ huyết quản. Ngược lại, sự hiện hiện
của một aura chỉ làm gia tăng khả năng
xảy ra một nhồi máu cơ tim nếu đã có
những yếu tố nguy cơ tim, và đặc biệt
những nồng độ cao cholestérol. Về
thiên đầu thống không có aura, trường
hợp này dường như không làm gia tăng
nguy cơ đột quỵ hay nhồi máu cơ tim.
( SCIENCES ET AVENIR 10/2008)
===
BỆNH HƯ KHỚP
VÙNG THẮT LƯNG ( ARTHROSE LOMBAIRE) :
MỘT PHẪU THUẬT VI XÂM NHẬP MỚI
Hỏi : Các hư khớp (arthroses) ở vùng
các đốt sống thắt lưng có thường xảy
ra không ?
BS Jean- François Lepeintre : Vâng,
sau 60 tuổi, khoảng 25% dân số bị hư
khớp ở cột sống thắt lưng.
Hỏi : Các triệu chứng của hư khớp thắt
lưng là gi ?
BS J.F.L : Lúc đầu các triệu chứng
được biểu hiện bởi những cơn đau đớn
thuần vùng thắt lưng khi cử động hàng
ngày, rồi sự đau đớn khó chịu này gia
tăng với thời gian, càng ngày càng làm
bệnh nhân trở nên làm mất năng lực.
Nói chung, các hư khớp này sau cùng
đưa đến những cơn đau loại đau dây
thần kinh tọa trong các cẳng chân, gây
nên do các rễ thần kinh bị đè ép nơi
các đốt sống thắt lưng.
Hỏi : Thường thường một hư khớp vùng
thắt lưng được điều trị như thế nào ?
BS J.F.L : Ngay khi chẩn đoán được xác
lập, người ta xem xét ngay điều trị
nội khoa bao gồm các chất chống viêm
cho bằng đường miệng và tiêm ngấm tại
chỗ (infiltrations locales), các thuốc
chống đau và các chất làm duỗi cơ
(décontractants musculaires). Thường
thường người ta kết hợp thêm các buổi
vật lý trị liệu pháp để phục hồi những
cử động và sự cân bằng tĩnh của vùng
thắt lưng. Nơi một số bệnh nhân,
phương cách điều trị nội khoa này cho
phép kềm chế các triệu chứng trong
nhiều tháng, thậm chí nhiều năm. Tiếc
thay, đối với những bệnh nhân khác,
cách điều trị này không đủ hiệu quả và
những cơn đau sẽ vẫn tồn tại kéo dài.
Hỏi : Trong những trường hợp nào, phải
nghĩ đến phẫu thuật ?
BS J.F.L : Nơi những bệnh nhân vẫn
tiếp tục đau mặc dầu sau nhiều tháng
điều trị nội khoa. Quyết định này được
thực hiện sau một cuộc hội chẩn giữa
thầy thuốc khoa thấp khớp và một thầy
thuốc ngoại khoa chuyên về bệnh nhân
cột sống. Mục đích của phẫu thuật là
giải thoát các rễ thần kinh bị đè ép
bởi các khớp bị thương tổn và gia tăng
thể tích. Thường nhất, sự đè ép này
được gia tăng bởi một sự thoái hóa đĩa
liên đốt sống (mất chiều cao liên đốt
và thoát vị đĩa liên đốt sống).
Hỏi : Với kỹ thuật quy ước, động tác
ngoại khoa là động tác nào ?
BS J.F.L : Đó là một phẫu thuật khá
nặng nề : nhà phẫu thuật cắt bỏ các cơ
vùng thắt lưng để giải tỏa các đốt
sống. Rồi thực hiện một sự giảm đè ép
các rễ thần kinh để giải thoát chúng
(lấy đi các khớp bị thương tổn và đĩa
liên đốt sống). Sau đó cần phải thực
hiện phẫu thuật làm ổn định cột sống
bằng ghép xương.
Hỏi : Phương thức cổ điển để thực hiện
phẫu thuật làm cứng khớp (arthrodèse)
này ?
BS J.F.L : Phương thức bao gồm một sự
tự ghép (autogreffe) với mảnh ghép
(greffon) được lấy hoặc ở xương chậu,
hay ở các miếng xương của cột sống đã
được lấy đi.Tùy theo những trường hợp,
nhà phẫu thuật cắm mảnh ghép vào nơi
của đĩa liên đốt sống bị cắt bỏ hoặc
thiết đặt hai bên cột sống hai loại
cột xương nâng đỡ. Mặc dầu những kết
quả tốt, phẫu thuật được thực hiện
bằng đường cổ điển có vài bất tiện :
trước hết cần một đường xẻ lớn từ 15
đến 20 cm, điều này dễ đưa đến nguy cơ
xuất huyết trong lúc phẫu thuật không
phải là ít (như vậy cần phải thường
xuyên truyền máu). Những cơn đau sau
phẫu thuật, thường mạnh, đòi hỏi điều
trị bằng Morphine và nằm liệt giường
48 giờ. Thời gian nhập viện thay đổi
từ 8 đến 10 ngày. Đời sống hoạt động
chỉ có thể tái tục sau hai hoặc ba
tháng.
Hỏi : Một kỹ thuật mới có cho phép làm
giảm tính hung bạo của phẫu thuật này
hay không ?
B.S J.F.L : Có một phẫu thuật ít xâm
nhập hơn, trong đó người ta không cắt
các cơ nữa và người ta thực hiện một
đường xẻ nhỏ 20 mm ở hai bên đường
chính diện ở vùng dưới của lưng. Qua
đường xẻ này, nhà phẫu thuật, dưới sự
kiểm tra của quang tuyến, trước hết
đưa vào một ống có đường kính 1mm cho
đến tận vùng cần được mổ. Nhưng để có
thể có một phẫu trường đầy đủ, cần
phải mở rộng lỗ mổ này. Nhà phẫu thuật
sẽ thực hiện điều đó bằng cách đưa vào
lần lượt các ống có đường kính tăng
dần cho đến khi mở được một khoảng 20
mm.Vào giai đoạn kế tiếp, với những
dụng cụ ngoại khoa được thích ứng một
cách chuyên biệt, nhà phẫu thuật sẽ
thực hiện cùng các động tác giải phẫu
như trong kỹ thuật quy ước.
Hỏi : Những kỹ thuật mới vi xâm nhập
qua cơ này có đáng phấn khởi không ?
B.S J.F.L : Ở Pháp, với một khoảng
thời gian nhìn lại 2 năm rưỡi, các kết
quả tỏ ra cũng tốt bằng những kết quả
được quan sát sau một phẫu thuật cổ
điển : 80 các bệnh nhân tuyên bố thỏa
mãn với sự biến mất hoặc giảm rõ rệt
các cơn đau và trở ngại lúc bước.
Hỏi : Những ưu điểm chính của giải
phẫu vi xâm nhập này ?
B.S J.F.L : Có 6 ưu điểm quan trọng :
1. Đường xẻ nhỏ hơn làm giảm các nguy
cơ nhiễm trùng và để lại một vết sẹo
ít được thấy rõ.
2. Trong lúc phẫu thuật, những xuất
huyết rõ rệt ít quan trọng hơn. 3. Vì
người ta không cắt cơ nửa, nên những
đau đớn hậu phẫu ít hơn.
4. Thời gian nhập viện ngắn hơn :
khoảng 4 ngày.
5.Việc tái hoạt động trở lại nói chung
nhanh hơn : một tháng sau phẫu thuật.
6. Do tính chất ít hung bạo hơn, kỹ
thuật này có thể thích hợp với những
người lớn tuổi hơn. Đối với những
người này, các thầy thuốc thường do dự
khi đề nghị phương pháp ngoại khoa cổ
điển.
( PARIS MATCH 4/9-10/9/2008)
Bác sĩ Nguyễn
Văn
Thịnh |
|