|
DU LỊCH TẾ BÀO Ở
BANGKOK
Ở Thái Lan các thầy thuốc khoa tim tiêm những tế bào được cho là tế bào gốc (cellules souches) vào trong tim của những bệnh nhân không còn có thể cứu chữa được nữa bởi y khoa cổ điển. Đây là những người tiền phong của phép điều trị bằng tế bào (thérapie cellulaire) hay là các lang băm ?
Vào cuối năm 2005, Georges Smith, một y sĩ về hưu 78 tuổi ở Hawaii, được biết qua thầy thuốc khoa tim của ông rằng ông chỉ còn sống thêm 18 tháng nữa mà thôi. Ở tuổi 55, ông đã là nạn nhân của một nhồi máu cơ tim ( infarctus du myocarde ), một thương tổn của cơ tim gây nên do sự nghẽn tắc của một động mạch nuôi dưỡng. Từ đó ông đã được điều trị bởi rất nhiều loại thuốc cũng như được đặt 2 « stents » ( những lò xo nhỏ nhằm làm cho các động mạch vành được mở ra ). « Nhưng sự mệt mỏi và những khó khăn về hô hấp càng ngày càng gia tăng , các xét nghiệm được thực hiện không cho phép dự kiến một can thiệp ngoại khoa và chứng tỏ rằng tình hình sức khỏe của ông càng ngày càng tệ hại thêm », Georges Smitth đã nhớ lại như vậy.
Biết rằng bệnh không còn có thể cứu chữa được nữa và do tuổi tác việc ghép tim cũng không thể thực hiện được, nên nhà y sĩ đành phải tìm kiếm một lựa chọn cuối cùng. Ông được biết rằng những thử nghiệm lâm sàng đã được tiến hành ở Trung Quốc và Ba Tây để hợp thức hóa việc sử dụng những tế bào gốc của tủy xương trưởng thành của chính bệnh nhân trong điều trị các bệnh về tim.
Được tiêm vào trong tim của người bệnh, các tế bào gốc này dường như cải thiện tình trạng sức khỏe tổng quát của người bệnh, có lẽ bằng cách tạo nên các vi huyết quản mới mang lại các chất dinh dưỡng và oxy cho tim bị thương tổn. Tóm lại, đó là một loại bắc cầu ( pontage, bypass ) tự nhiên nhằm tái lập lưu thông của máu chung quanh vùng tim bị thương tổn. Một lý thuyết khác cho rằng các tế bào gốc này cũng làm phát sinh những tế bào cơ tim mới để tái tạo những tế bào đã bị hủy hoại.
Mặc dầu cơ chế và hiệu quả của phương pháp này đang bị tranh cãi kịch liệt trong cộng đồng khoa học, nhưng sự an toàn của phẫu thuật dường như được đảm bảo. Không có nguy cơ bị thải bỏ (rejet), mặc dầu các tế bào được tiêm vào thuộc về người cho (donneur).Vấn đề đạo đức cũng không bị đặt ra vì lẽ các tế bào gốc không được lấy từ một phôi thai (embryon).
Chính vào lúc đó Georges Smith nhận được một thông tin gây ngạc nhiên : “ Tôi đã biết được rằng một nhân vật nổi tiếng ở Honolulu, nhạc sĩ người Hawaii Don Ho vốn mắc phải một bệnh cơ tim (cardiomyopathie) và mang trong người một máy tạo nhịp ( pacemaker ). Ông ta đã trở về từ Thái Lan ; tại đây ngày 6 tháng 12 năm 2005, ông ta đã nhận được một mũi tiêm các tế bào gốc ». Trên thực tế, đó không phải là những tế bào gốc theo đúng nghĩa mà chúng ta sẽ thấy. Georges nói tiếp : « Don Ho nói là ông ta sửng sốt về kết quả điều trị. Khi đó tôi đã được xem một DVD của công ty Vescell đã nhận điều trị ông ta. »
Vescell là một chi nhánh của Thera Vitae, một start-up sinh kỹ thuật (biotechnologie) được tạo dựng năm 2003 bởi một thầy thuốc nhãn khoa Israel, Valentin Fulga, và một nhà thầu khoán của Hoa Kỳ có cơ sở ở Thái lan, Robert Lark. Với 5 triệu dollar tiền vốn đầu tư, công ty Thera Vitae ngày nay đề nghị với các khách hàng một « phép trị liệu tế bào » ( thérapie cellulaire) tim có tính chất thương mãi đầu tiên . Trong khi đó những nơi khác trên thế giới, kỹ thuật này được xem như còn trong thời kỳ thí nghiệm. Thế mà trên site Internet của Thera Vitae, công ty đã loan báo : « Nếu bạn là một bệnh nhân bệnh tim mà y học không còn có thể cứu chữa được nữa, thì không có một thầy thuốc khoa tim nào trên thế giới có thể cứu giúp bạn hơn Thera Vitae, trừ phi ông thầy thuốc khoa tim này sử dụng những tế bào gốc trưởng thành ».
Được thuyết phục, George Smith tiếp xúc với công ty và được liên hệ với các thầy thuốc khoa tim của Thái lan. “ Sau khi đã phân tích trường hợp của tôi, sau khi đã nghiên cứu phim chụp mạch máu , các kết quả siêu âm , các thử nghiệm làm lúc gắng sức của tôi...họ đã chấp nhận tôi trong chương trình phẫu thuật của họ ”. Vào tháng 2 năm 2006, viên y sĩ về hưu đã bay chuyến du lịch tìm cơ may cuối cùng dưới cái nhìn hoài nghi của người thầy thuốc khoa tim riêng của ông.Trước khi đi, ông đã ký một ngân phiếu 34.500 dollars ( 24.500 Euro ), chưa kể tiền ăn ở lưu trú và du lịch.
Ở Bangkok , chủ tịch của công ty Thera Vitae Thái lan, Narin Apichairuk, một thương gia trẻ tuổi , ăn mặc chải chuốc, được gọi với một cái tên rất Hoa Kỳ “ Jimmy ”, đã tổ chức du lịch chữa bệnh từ A đến Z. George Smith được đảm nhận tại phi trường bởi một nhân viên điều hợp bệnh nhân rồi được an tọa trong một phòng bệnh viện 5 sao dành cho những bệnh nhân ngoại quốc giàu có. Gia đình thân nhân cũng được hoan nghênh tiếp đón.Từ tháng 3 năm 2005 đến tháng 10 năm 2007 đã có 240 bệnh nhân đi cùng con đường của George. 70% là người Mỹ, 25% là người châu Âu, châu Á, châu Úc, Ấn Độ, Canada và 5% là người Thái Lan. Theo lời của Jimmy thì hiện nay đơn xin nhận điều trị đang được tích lũy với nhịp độ 2-3 đơn mỗi tuần và công ty đang chuẩn bị khẩn trương để bước vào thị trường tài chánh của Thái Lan.
Giáo sư Supachai Chaithiraphan, giám đốc của trung tâm về tim thuộc bệnh viện Chaophya Hospital ( một trong hai cơ sở tư nhân tiến hành phẫu thuật này ), nói : “ Chúng tôi chỉ chữa trị những bệnh nhân mà y khoa cổ điển phải bó tay và chỉ những bệnh nhân đó mà thôi. Còn những bệnh nhân khác có thể điều trị bằng thuốc men, ballonnets, stents hay giải phẫu. ”
“ Lúc đến bệnh viện, bệnh nhân sẽ phải trải qua một loạt các thăm khám y khoa, chụp quang tuyến, điện tâm đồ, IRM tim, trắc nghiệm bước...”. Sau đó là giờ phút lấy bệnh phẩm. “ Các nhóm nghiên cứu khác trên thế giới chọc tủy sống còn chúng tôi thì chỉ lấy máu, đơn giản hơn, ít thô bạo hơn, ít đau đớn hơn. Mẫu nghiệm máu được đóng phong bì và gởi đi...Israel . Tại phòng thí nghiệm ở đây các tế bào máu của bệnh nhân sẽ được tách ly và nhân giống. Phải đợi khoảng một tuần lễ để các ống tiêm máu được làm phong phú và được gởi trở về từ Israel. Nguoi ta cho rằng các ống tiêm này chứa các tế bào gốc để điều trị.
George Smith lòng đầy hy vọng, sốt ruột chờ đợi mũi tiêm quý báu trong một phòng bệnh của Bangkok Hospital. Ở đây người ta chích các tế bào gốc qua một ống nội soi ngực (thorascope). Hơn 50 % các trường hợp đã được mổ như vậy. Giáo sư Kittipan Arom, giám đốc khoa tim tán đồng việc tiêm trực tiếp các tế bào gốc vào cơ tim bởi vì “ tuồng như điều này hiệu quả hơn đối với các trường hợp suy tim mãn tính, những suy tim nghiêm trọng nhất ”. “ Chúng tôi thực hiện một đường rạch nhỏ 2 cm ở đáy tim rồi chúng tôi đưa vào đó một canule mảnh. Từ ống này sẽ phóng xuất 1,5 triệu tế bào trong vòng chưa đầy 30 phút ”
Ở Chaophya Hospital, Giáo Sư Supachai Chaithiraphan thích đưa máu được làm phong phú đến tận tim qua một catheter hơn.Theo ông, phương pháp này có lợi đối với các nhồi máu cơ tim. Cũng như lúc thực hiện phẫu thuật tạo hình động mạch vành (angioplasty), thầy thuốc khoa tim đưa một ống mảnh vào trong một động mạch ở bẹn dưới sự kiểm tra của quang tuyến. Rồi ông ta đưa dần lên đến tận động mạch vành bị nghẽn tắc. Đầu catheter được trang bị bởi một quả bóng (ballon) nhỏ. Quả bóng này một khi được thổi căng phồng sẽ nghiền nát mảng xơ mỡ gây tắc nghẽn và tái lập sự lưu thông máu. Chính vào lúc đó, vị thầy thuốc khoa tim sẽ tiêm 3 ống tiêm chứa máu đã được làm phong phú.
Sau một đêm ở phòng hồi sức, George Smith vẫn nằm lại bệnh viện trong 4 ngày ở Bangkok. Rồi ông trở lại Hawai. Cũng như những bệnh nhân khác, sau đó , tháng này qua tháng khác, ông phải tường trình tiến triển của ông.Trong tam cá nguyệt đầu, ông được làm siêu âm tim và một trắc nghiệm lúc gắng sức, và vào tháng thứ 6 ông còn phải được kiểm tra IRM.Tất cả được lập lại một năm sau đó.Vào tháng 10 năm 2007 tức 8 tháng sau khi được phẫu thuật, George Smith kể lại : “ Trong 3 tháng, sự mệt mỏi và các khó khăn về hô hấp của tôi đã biến mất, hai lá phổi của tôi đã được dọn sạch và kích thước của trái tim đã trở lại bình thường. Trắc nghiệm bước 6 phút hai lần tốt hơn. Cũng như 75% trong số 240 bệnh nhân đã được điều trị, viên y sĩ đã cảm thấy một cải thiện rõ rệt về tình trạng sức khỏe của ông những tháng sau khi nhận được mũi tiêm, lấy lại một cuộc sống gần như bình thường.Trên 96 trường hợp được thực hiện bởi Giáo Sư Supachai Chaithiraphan, không có một trường hợp nào tử vong do phẫu thuật, mà chỉ có 4 tử vong một tháng sau đó, một nhiễm trùng thận, một nhiễm trùng hô hấp và một trường hợp tự tử.
Đối với hầu hết các bệnh nhân của Thera Vitae, phép điều trị tế bào được thực hiện ở đây dường như có kết quả dương tính toàn bộ.Tuy nhiên, 4 công trình nghiên cứu nghiêm chỉnh nhất được tiến hành ở Đức và Hoa Kỳ, từ những ống tiêm các chất trích từ tủy xương ( chứa các tế bào gốc !) lại chứng tỏ ngược lại. Trên 4 thử nghiệm chỉ có một là tỏ ra thuận lợi. Thế thì làm sao giải thích, ở Thái lan, hiệu quả của các ông tiêm máu, mặc dầu đã « được làm phong phú » nhưng lại không chứa những tế bào gốc ? Hầu hết các nhà nghiên cứu và lâm sàng nhất trí rằng những mũi tiêm máu này, ngoài một tác dụng placebo, chắc chắn là gây ra một tác dụng “ tăng thế ”( “ booster ” ) lên trái tim. Có lẽ là do các tiền chất nội mô ( précurseurs endothéliaux ) mạch máu làm tiết các yếu tố hóa học kích thích sự phân bố mạch ( vasculariation ) và kềm hãm sự chết tế bào ( apoptose ). Những hiện tượng này chỉ tạm thời bởi vì đời sống ngắn ngủi của các tiền chất ( précurseurs ) trong tim.
Mặc dầu bị đả kích bởi các nhà nghiên cứu về phương cách thực hiện, công ty Thera Vitae có ý định mở rộng tối đa tầm hoạt động của mình, nhằm vào nhiều hơn nữa các đối tượng người Mỹ và châu Âu. Công ty cũng bắt đầu phát triển việc điều trị các bệnh lý khác như thiếu máu cục bộ chi dưới (ischémie des membres inférieurs )( SCIENCES ET AVENIR 12/2007)
BỆNH VIÊM TAI CỰC KỲ ĐỀ KHÁNG XUẤT HIỆN Ở HOA
KỲ
Một giống gốc vi khuẩn Streptococcus pneumoniae đề kháng với tất cả các kháng sinh cổ điển đã được nhận diện nơi các trẻ em ở Nữu ước, nạn nhân của các bệnh viêm tai lập đi lập lại (otites à répétition). Đặc điểm đáng ngại khác của giống gốc này là tình trạng không nhạy cảm đối với một thuốc chủng đã được sử dụng ở Hoa Kỳ từ năm 2000 và đã có hiệu quả chống lại vi khuẩn cho mãi đến ngày nay. Hiện thời chỉ có 9 trẻ em đã được chẩn đoán bởi các nhà nghiên cứu của đại học Rochester. Các nhà nghiên cứu này gợi ý sẽ phát triển càng sớm càng tốt một vaccin bao gồm những dạng vẻ (profil) mới của vi khuẩn.Trong lúc chờ đợi, cần phải theo dõi vi khuẩn gây bệnh. ( SCIENCE ET VIE 12/2007)
CÁC CHỈ DẤU (MARQUEUR) CỦA BỆNH ALZHEIMER
Một xét nghiệm máu để phát hiện bệnh Alzheimer ? Trong lúc phân tích 259 mẫu máu của những bệnh nhân có hoặc không có những triệu chứng của bệnh Alzheimer, một nhóm nghiên cứu của Hoa Kỳ đã nhận diện 18 protéines có thể được dùng làm các chất chỉ dấu (marqueurs). Các protéines này đã cho phép tiên đoán, trên 47 bệnh nhân được xét nghiệm, 20 trên 22 trường hợp bệnh Alzheimer đã phát triển nơi họ trong 2 đến 5 năm. Như vậy bệnh lý này có thể được chẩn đoán ở giai đoạn « trước sa sút trí tuệ » ( prédémentiel ).Vấn đề là còn phải xác nhận tính hiệu quả của xét nghiệm này trên quy mô lớn hơn, trước khi dự kiến sử dụng trên lâm sàng.( LA RECHERCHE 12/2007)
NGUY CƠ HUYẾT QUẢN DO TRUYỀN MÁU ĐƯỢC GIẢI THÍCH
Máu được bảo quản tồi. Hai công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ chứng tỏ rằng các hồng cầu chỉ trong vài giờ đã mất đến 80% của một hợp chất có tác dụng làm dễ sự hấp thụ oxy của các mô.
Vài người được truyền máu có nguy cơ gia tăng bị nhồi máu và tai biến tim mạch.Thế mà điều này xảy ra mặc dầu nồng độ hémoglobine đã được nâng cao lên trở lại ( hémoglobine là phân tử của các hồng cầu có chức năng vận chuyển oxy trong máu đến các mô ). Hai nhóm nghiên cứu của Hoa Kỳ thuộc đại học Durham quy tác dụng này (nguy cơ huyết quản) là do sự sụt giảm lưu lượng máu trong các động mạch vành và đã chỉ rõ cơ chế : các tế bào hồng cầu được tích trữ trong các bọc máu truyền đã đánh mất nitrosohémoglobine ( hay SNO-Hb ), một hémoglobine mà phần protéine gắn vào oxyde nitrique. Thế mà oxyde nitrique (NO) có tác dụng điều hòa trương lực huyết quản ( tonus vasculaire ) . Đặc biệt khi áp suất oxy giảm, SNO-Hb phóng thích oxyde nitrique. Chất này gây giãn các huyết quản và do đó làm cho sự hấp thụ oxy ở các mô được tốt hơn.
Nhóm nghiên cứu của Timothy McMahon đã theo dõi tiến triển của nồng độ nitrosohémoglobine trong các hồng cầu từ lúc lấy máu trên 15 người tình nguyện đến lúc làm cô đặc và suốt trong thời kỳ tích trữ trong các bọc máu truyền. Kết quả : nồng độ SNO-Hb được chia 5,4 chỉ sau 3 giờ ! Jonathan và các cộng sự viên đã làm nổi bật sự tương quan giữa nồng độ nitrosohémoglobine của các hồng cầu trích từ các bọc truyền máu và hoạt tính giãn mạch in vitro của chúng.( LA RECHERCHE 12/2007)
CHÂM CỨU ĐƯỢC CÔNG NHẬN LÀ CÓ HIỆU
QUẢ
Nhiều công trình nghiên cứu lâm sàng đã chứng tỏ tính hiệu quả của châm cứu, kỹ thuật xa xưa này ở châu Á.
Mặc dầu chưa có một giải thích khoa học nào về các hiệu quả của châm cứu, hàng ngàn các thử nghiệm lâm sàng đã chứng tỏ rằng châm cứu có thể có hiệu quả để điều trị một vài rối loạn. Ngay năm 1997, các Viện Y Tế Quốc Gia của Hoa Kỳ đã xác nhận lợi ích y khoa của châm cứu để điều trị các triệu chứng nôn và mửa sau hoá học trị liệu pháp hoặc sau một phẫu thuật, các triệu chứng nôn trong thời kỳ thai nghén và các đau đớn sau khi giải phẫu răng.
« Từ năm 1973, BS Johan Nguyễn thuộc Collège français d’acupuncture nói rõ, đã có hơn 3000 thử nghiệm lâm sàng trong đó châm cứu được so sánh hoặc với một châm cứu giả ( acupuncture factice ), hoặc với một điều trị khác nơi các bệnh nhân được lựa chọn bằng cách rút thăm. Các kết quả thử nghiệm đã chứng tỏ lợi ích của châm cứu đặc biệt đối với đau lưng mãn tính ( lombalgie chronique ), bệnh hư khớp ( arthrose ) gối và các viêm gân ở cùi chỏ. Nơi các bà mang thai với thai phô mông ( présentation du siège ), cứu một huyệt nơi ngón chân út gây nên sự xoay thai, như vậy tránh được 62% các trường hợp ( so với 47% nếu không được cứu ), thai phô mông, nguồn gốc của những biến chứng và mổ césarienne phòng ngừa. ». Đó cũng là ý kiến của Edzard Ernst, chuyên gia người Anh về đánh giá các nền y học cổ truyền.
MỘT BỘ MÔN RIÊNG
Các kết quả của chương trình Gerac ( German Acupuncture Trials ) của Đức đã chứng tỏ rằng châm cứu có hiệu quả đối với chứng đau nửa đầu (migraine) hay đau đầu nói chung, dầu cho kim châm được đặt vào các điểm chính xác của y học cổ truyền Trung Hoa hay được lấy bất kỳ nơi nào trên cơ thể. Đối với hư khớp gối (arthrose du genou), châm cứu làm giảm đau tốt hơn là điều trị bằng thuốc chống viêm thường dùng. Ngược lại, theo một công trình nghiên cứu có quy mô lớn nhất từ trước đến nay, thì phương pháp này dường như không có hiệu quả lên cao huyết áp.
“ Các kết quả có được đã thuyết phục Hội nghị các khoa trưởng của các đại học y khoa cho một ý kiến thuận lợi về việc tạo một văn bằng về năng lực châm cứu trên bình diện quốc gia.Văn bằng quốc gia này đã trở nên có hiệu lực vào tháng 4 năm 2007 ”. Johan Nguyên đã nói thêm như thế.
Mặc dầu châm cứu trở nên một bộ môn riêng có khả năng điều trị vài bệnh nhân, tuy vậy bộ môn này dưới mắt của khoa học phương tây vẫn giữ mọi vẻ bí hiểm của nó. Chụp hình não bộ ( imagerie cérébrale ) dường như chỉ rõ một vùng đặc thù của não bộ bị kích thích khi những điểm huyệt chính xác được châm vào. Ở chú chuột, các nhà nghiên cứu đã có thể đi xa hơn bằng cách chứng tỏ rằng chỉ việc châm vào những huyệt có trong danh mục cũng đủ cho phép giúp cai rượu hoặc làm giảm đau do viêm đại tràng.( LA RECHERCHE 10/2007)
VŨ KHÍ TRIỆT ĐỂ CỦA CÁC KHÁNG
SINH
Làm sao các kháng sinh giết được vi khuẩn ? Một cách tác dụng chung vừa được làm sáng tỏ : sự tạo thành các gốc tự do (radicaux libres), rất độc.
Có hai loại kháng sinh.Vài loại chỉ có tác dụng làm ngừng sự tăng trưởng của các vi khuẩn ( thuốc kìm hãm vi khuẩn : bactériostatiques ). Những loại khác giết chết vi khuẩn ( thuốc diệt vi khuẩn : bactéricides ) : đó là trường hợp của pénicilline và các beta-lactamines khác có tác dụng diệt vi khuẩn bằng cách làm phong bế sự tạo thành thành của vi khuẩn. Đó cũng là trường hợp của các quinolones có tác dụng nhằm vào ADN, hay của aminoglycosides với tác dụng làm nhiễu loạn sự tổng hợp của các protéine. Nhưng cơ chế giải thích 3 loại kháng sinh được gọi là thuốc diệt vi khuẩn này (bactéricide) này đến nay vẫn còn khá bí ẩn.
James Collins và các công sự viên của ông thuộc đại học Boston Hoa Kỳ vừa chứng tỏ rằng, các thuốc diệt khuẩn, để giáng một đòn trí mạng lên các vi khuẩn, đã cùng sử dụng chung một vũ khí : chúng kích thích sự tạo thành các gốc tự do (radicaux libres). Chính những hợp chất hóa học rất phản ứng này ( những dẫn xuất của oxy ) đã tạo nên những tổn hại không hồi phục được cho các thành phần sinh tử của các tế bào, ADN, protéines hay lipides.
Các nhà sinh học đã phát hiện sự tích tụ của các gốc tự do trong lòng của các vi khuẩn nhờ một chỉ dấu phát huỳnh quang ( marqueur fluorescent ). Các nhà nghiên cứu cũng đã chứng tỏ rằng bằng cách gài bẫy các gốc tự do này ( mà độc hại nhất là gốc hydroxyle OH ), ta có thể hủy bỏ tác dụng diệt vi khuẩn.
“ Đó là một bước tiến đáng kể của khoa học, Jean Marie Pagès, thuộc đại học Địa Trung Hải ở Marseille đã nhấn mạnh như thế. Từ trước đến nay, các dữ kiện về tác dụng của các kháng sinh diệt vi khuẩn rất tản mác. Đây là lần đầu tiên, chuỗi các biến cố dẫn đến sự chết của vi khuẩn được làm sáng tỏ, và các enzyme phụ trách vài giai đoạn của quá trình đã được nhận diện.
Các kết quả này cho phép hình dung những chiến lược mới nhằm chống lại các nhiễm trùng, để cố gắng đánh bại những đề kháng càng ngày càng thường xảy ra đối với các kháng sinh hiện nay. Nhưng mà những vi khuẩn lại có những hệ thống phòng ngự tự nhiên chống lại các gốc tự do, đặc biệt là để sửa chữa ADN của chúng. Do đó các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đề nghị phong bế các hệ thống phòng ngự này để gia tăng tính hiệu quả của các thuốc diệt vi khuẩn đang có hiện nay. Do đó phương thức sẽ là phối hợp 2 yếu tố hoạt động : chính bản thân kháng sinh cộng với một chất hỗ trợ. “ Ý tưởng rất là quyến rũ và mở ra những triển vọng mới, Jean Marie Pagès đánh giá như vậy. Tuy nhiên kháng sinh phải được tập trung đầy đủ trong vi khuẩn. Bởi vì một trong những cơ chế đề kháng đối với các kháng sinh lại là sự vận chuyển tích cực các kháng sinh này ra khỏi các tế bào. » ( LA RECHERCHE 11/2007)
KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA PHỤ NỮ : NGUYÊN NHÂN DO CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG ?
Lối sống của 17.544 phụ nữ đã được quan sát bởi các nhà nghiên cứu của đại học Havard, trong mục đích xác định chế độ ăn uống thuận lợi nhất cho sự xuất hiện một thai nghén. Không nên ăn uống quá nhiều thịt, các sản phẩm sữa lấy bớt mỡ (produit laitier allégé), đường tinh chế và acide béo. Không nên tiêu thụ các sợi, các vitamine và những thức ăn (thịt) có nhiều sắt.Vậy phải thay thế những protéines động vật bằng các protéine thực vật như đậu nành, đậu lăng (lentille), quả hạnh (amande). Một chế độ ăn uống thích ứng sẽ làm giảm rất nhiều nguy cơ vô sinh. Sau cùng, theo các nhà nghiên cứu, các phụ nữ có một hoạt động thể thao hàng ngày và kiểm soát được thể trọng của mình sẽ có khả năng sinh sản hơn. ( PARIS MATCH 29/11-5/12/2007)
MỘT PHƯƠNG TIỆN ĐƠN GIẢN ĐỂ TỰ THEO DÕI NGUY CƠ TIM
MẠCH
Tỷ số đo giữa vòng thân ( tour de taille ) và vòng hông ( tour de hanche ) ( được viết tắt là RTH ) sẽ là một chỉ dấu có hiệu quả về nguy cơ tim mạch và đái đường, có ý nghĩa hơn là chỉ dấu khối lượng cơ thể ( IMC : indice de masse corporelle ), bình thường dưới 25. Chỉ dấu khối lượng cơ thể là một chỉ dấu toàn bộ, không tính đến sự phân bố của mỡ trong cơ thể. Trái lại, RTH là một đo lường đơn giản về sự tích mỡ ở bụng ( adiposité abdominale ), phản ảnh khá tốt khối lượng mỡ được chôn vùi trong các cơ quan nội tạng và dọc theo các động mạch của chúng ta. Để có được chỉ số này, chỉ cần đo theo đơn vị centimètre vòng thân ( tour de taille) của mình nơi phần hẹp nhất, rồi đo vòng hông nơi phần rộng nhất, và sau đó lập tỷ số giữa vòng thân và vòng hông. Ở các phụ nữ, tỷ số RTH phải dưới 0,8 ; ở đàn ông tỷ số này là 1. Nếu tỷ số trên 1, nguy cơ tim mạch sẽ cao. Các dữ kiện của công trình “ Dallas Heart Study ” đã chứng tỏ rằng, trên 2.744 người được nghiên cứu , mức độ mắc phải chứng vữa xơ động mạch ( athérosclérose ) sẽ tương quan tốt với RTH hơn là với IMC ( ở đàn ông cũng như ở phụ nữ). Một công trình nghiên cứu khác của I.D.E.A ( được thực hiện trên 168.159 bệnh nhân trong 63 nước) mà kết quả đã được công bố trong tạp chí “ Circulation” cũng đã xác nhận điều đó . Mối liên hệ giữa RTH với nguy cơ tim mạch, các rối loạn cholestérol, tăng đường huyết ( hyperglycémie ) là chặt chẽ hơn so với vòng thân ( tour de taille ) hoặc IMC. ( PARIS MATHCH 29/11-5/12/2007)
PHỤ NỮ HÚT THUỐC VÀ NGUY CƠ MẮC PHẢI UNG THƯ TRỰC TRÀNG
Dường như các phụ nữ hút thuốc có nguy cơ phát triển ung thư trực tràng tăng gấp đôi so với các phụ nữ đã không bao giờ hút thuốc. Đó là điều được đúc kết từ một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ mà các kết quả đã được công bố trong Journal of the National Cancer Institute.
E.Paskett (Hoa Kỳ) và nhóm nghiên cứu của ông đã chứng nhận rằng nguy cơ mà một phụ nữ phát triển ung thư trực tràng tỷ lệ với số điếu thuốc được hút mỗi ngày, số năm nghiện thuốc lá và ở vào lứa tuổi nào người phụ nữ này đã ngừng hút thuốc. Các nhà nghiên cứu đã căn cứ trên các dữ kiện của 146.877 phụ nữ tuổi từ 50 đến 79, đã tham gia vào Women’ s Health Initiative, một công trình nghiên cứu quan sát dài hạn.Trong nhóm những người phụ nữ được nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu đã đánh giá đo lường tỷ lệ mắc bệnh ung thư đại tràng - trực tràng và đặt trong mối tương quan với hành vi hút thuốc lá của những người được nghiên cứu. Một nửa các phụ nữ được nghiên cứu ( 50% ) đã báo cáo là đã không bao giờ hút thuốc lá, 42% là những bà trước đây đã hút thuốc, và 7% là những bà đang hút thuốc tích cực vào lúc thực hiện công trình nghiên cứu. Suốt trong một thời kỳ 7,8 năm, có 1.242 phụ nữ đã phát triển một ung thư đại tràng - trực tràng xâm nhập ( un cancer colorectal invasif ). Cứ 176 trường hợp có một ung thư trực tràng. Các tác giả đã chứng nhận rằng các phụ nữ đã từng hút thuốc có 95% khả năng bổ sung phát triển một ung thư trực tràng như thế. Trái lại nguy cơ ung thư đại tràng vẫn không thay đổi. ( LE JOURNAL DU MEDECIN 30/11/2007)
NGUY CƠ MẮC PHẢI BỆNH TIM SAU KHI SINH
NON
Một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ đã thiết lập một mối quan hệ giữa một lần sinh non (un accouchement prématuré) và một sự gia tăng nguy cơ bị một bệnh tim mạch đối với bà mẹ nhiều chục năm sau khi sinh. J.M.Catov ( Hoa kỳ ) và các cộng sự viên đã nghiên cứu các dữ kiện từ 446 phụ nữ có tuổi trung bình 80. Ở các phụ nữ đã từng có một lần sinh non ( cách nay trung bình 57 năm ), các tác giả đã có thể xác lập một tỷ lệ mắc phải các bệnh về tim mạch lớn hơn. Nguy cơ bị một bệnh tim mạch trong nhóm phụ nữ đã sinh non là 2,85 lần cao hơn nguy cơ của các phụ nữ đã có đứa con đầu tiên sinh đủ tháng ( trên 2.500 g). Hành vi hút thuốc lá ( comportement tabagique ) dường như không được tính đến. Theo các tác giả, các phụ nữ sinh non một đứa trẻ với trọng lượng lúc sinh thấp ( 2.500g ) sẽ có nguy cơ phát triển về sau trong đời sống của họ một bệnh tim mạch 3,31 lần nhiều hơn so với các phụ nữ sinh ra đời đứa con đầu tiên với trọng lượng khi sinh bình thường. ( LE JOURNAL DU MEDECIN 4/12/2007)
BS
Nguyễn
Văn
Thịnh |
|