|
RƯỢU,
YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA GÃY DO LOÃNG XƯƠNG
BRUXELLES. Rượu là một trong những yếu
tố nguy cơ có thể biến đổi được (facteurs
de risque modifiables) của bệnh loãng
xương (ostéoporose), cũng như chứng
nghiện thuốc lá, thể trọng thấp, một
chế độ ăn uống thiếu chất, luyện tập
thể dục không đầy đủ, thiếu calcium
hay vitamine D và té ngã thường xuyên
Thật vậy, các công trình nghiên cứu
được thực hiện ở Châu Âu, ở Bắc Mỹ và
ở Úc Đại Lợi chứng tỏ rằng uống trên 2
đơn vị alcool mỗi ngày (hoặc 20g/ngày)
sẽ làm gia tăng nguy cơ gãy do loãng
xương (fractures ostéoporotiques) và
gãy xương háng nơi đàn ông và phụ nữ,
có lẽ do độc tính trực tiếp của rượu
lên các tạo cốt bào (ostéoblaste), là
những tế bào cấu tạo các mô xương.
Tiêu thụ hơn 4 đơn vị rượu mỗi ngày sẽ
làm tăng gấp đôi, lên cả hai phái tính,
nguy cơ gãy xương háng. Rượu dường như
có một tác dụng độc hại trực tiếp lên
xương, làm giảm mật độ khoáng của
xương (densité minérale osseuse)
Trong số báo ra vừa rồi, Viện phòng
ngừa và giáo dục y tế quốc gia nhắc
lại rằng các nguy cơ liên kết với rượu
cũng có thể được quy cho những tác
dụng khác của rượu, như là sự thoái
hóa của tình trạng sức khỏe chung, đặc
biệt là nơi những người già, và sự gia
tăng nguy cơ té ngã.
Trên thế giới, ở những người trên 50
tuổi, một phụ nữ trên ba người và một
người đàn ông trên năm người, sẽ bị
mắc phải chứng loãng xương (ostéoporose).
Đặc điểm của chứng loãng xương là sự
giảm mật độ xương (densité osseuse) và
điều này là nguyên nhân của sự gia
tăng tính dễ vỡ của xương (fragilité
osseuse). Gãy xương đốt sống (
fracture vertébrale) và gãy đầu trên
xương đùi (cổ xương đùi) là những biến
chứng chính của căn bệnh loãng xương
thường xảy ra hơn nơi các phụ nữ trên
50 tuổi này ; 50% các phụ nữ sẽ không
tìm lại được khả năng độc lập của mình
sau khi bị gãy xương đùi( LE METRO
2/1/2008)
------
MỘT PHÉP ĐIỀU TRỊ ĐỘC ĐÁO CHO CÁC BỆNH
ỈA CHẢY THỂ NẶNG
« Trị liệu bằng phân » (thérapie
fécale), trên cơ sở phân người, là một
phép trị liệu đang trên đà tiến triển.
Sau Scandinavie vào đầu năm 2000, đến
lượt Bắc Mỹ đã sử dụng phương pháp này
để điều trị các bệnh nhân bị nhiễm
trùng bởi Clostridium difficile.Vi
khuẩn này bình thường hiện diện một
cách tự nhiên trong ruột của chúng ta,
nhưng sẽ bắt đầu tăng sinh khi các vi
khuẩn “tốt ” trong ruột (đặc biệt có
nhiệm vụ giúp đỡ chúng ta tiêu hóa
thức ăn), bị hủy diệt bởi một điều trị
kháng sinh quá hung hãn. Trong lúc
tăng sinh, Clostridium difficile sản
xuất một độc tố làm thương tổn ruột
non, gây nên ỉa chảy nặng, có thể dẫn
đến tử vong. Ở Canada, BS Tom Louie
của Foothills Hospital, Calgary, trong
tỉnh Alberta, đề nghị từ nay dùng
phương pháp trị liệu này. “Trị liệu
bằng phân” nhằm ghép (transplanter),
qua thụt (lavement) vào ruột, một dung
dịch muối trong đó đã được hoà lẫn
phân lấy từ những người thân thuộc.
Như thế, sau khi đã được tái du nhập
vào ruột, các vi khuẩn “ tốt ” sẽ phục
hồi các chức năng ruột của bệnh nhân.
Phép điều trị này mặc dầu còn bị tranh
cãi, có hiệu quả 90%, theo những người
chủ xướng.( SCIENCE ET VIE 1/2008)
------
U HẮC TỐ ( MELANOME) LÀ DO TÁC DỤNG
CỦA MỘT PROTEINE
Người ta hiểu rõ hơn vì sao một nốt
ruồi (grain de beauté) lại trở thành
ung thư. Quá trình này liên hệ đến một
protéine được gọi là b-caténine, cho
phép các tế bào trở thành bất tử, theo
Véronique Delmas và Lionel Larue (
Inserm-CNRS). Cần nhiều giai đoạn để
các tế bào tạo thành một u hắc tố. Sự
biến dị của một vài loại gènes gây nên
sự tăng sinh tạm thời của các tế bào.
Rồi sau đó các tế bào bắt đầu « ngủ »
trong nhiều năm. Nhưng đôi khi các tế
bào này thức dậy và lần này chúng phân
chia mãi mãi : chúng trở thành bất
tử.Thế mà, đó là do b-caténine, một
protéine có tác dụng phong tỏa sự hoạt
động của gène p16 .Gène này lúc bình
thường có nhiệm vụ điều hoà chu kỳ tế
bào.( SCIENCE ET VIE 1/2008)
------
GIỜ CHẾT ĐƯỢC ĐỌC Ở ĐÁY MẮT
Việc xác lập giờ tử vong ( l’heure du
décès ) của một nạn nhân thường là tốn
kém và phức tạp. TOD kit ( time of
death kit), một thiết bị xách tay mới,
có thể đơn giản hóa công việc của các
nhà điều tra, theo lời những nhà phát
minh Torleiv Rognum (đại học Oslo) và
Didrik Saugstad ( Riks hospital d’Oslo).
Thiết bị này xác định giờ tử vong bằng
cách đo, trong nhãn cầu, nồng độ
hypoxanthine. Chất này tích tụ khi
không có oxygène. Phương pháp này cho
phép đánh giá khá chính xác, mãi cho
đến 4 ngày sau khi tử vong. Được tưởng
tượng vào đầu những năm 1990, thiết bị
này mãi đến nay chỉ được dùng trong
phòng thí nghiệm. Dụng cụ này còn phải
được thử nghiệm bởi FBI và Scotland
Yard. ( SCIENCE ET VIE 1/2008)
-----
NGUYÊN NHÂN CỦA BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG LOẠI 1
VẪN CÒN GÂY TRANH CÃI
Tỷ lệ mắc bệnh đái đường loại 1 nơi
trẻ em đã gần như tăng gấp đôi trong
vòng 20 năm qua ở Pháp.Tỷ lệ này đạt
đến khoảng 15 trường hợp trên 100.000
trẻ em dưới 15 tuổi, theo báo cáo vừa
rồi của Inserm/inVS. « Người ta đặc
biệt nhận thấy một sự xê dịch về một
lứa tuổi càng ngày càng thấp, dưới 5
tuổi », Anne Fagot Campagna đã nhấn
mạnh như thế. Bệnh đái đường loại 1 là
do một sự phá hủy tự miễn dịch (une
destruction auto-immune) của những tế
bào tụy tạng sản xuất insuline. Điều
này xảy ra là do tác dụng hỗ tương
giữa yếu tố di truyền và môi trường ;
thế mà chỉ có môi trường là có thể bị
biến đổi trong 20 năm qua. Chế độ ăn
uống và vệ sinh của nhũ nhi đã bị nghi
ngờ đến trong việc làm gia tăng tỷ lệ
mắc bệnh này. Những năm 1970 đã chứng
kiến việc đưa các protéines sữa bò và
ngũ cốc hoàn toàn (céréales complètes)
vào trong việc dinh dưỡng trẻ em. Việc
này đã liên kết với một gia tăng nguy
cơ phát triển bệnh đái đường loại 1.
Mặt khác, vì quá bảo vệ các em bé khỏi
bị vi khuẩn, chúng ta đã ngăn cản sự
trưởng thành của hệ miễn dịch của các
em bé này. Nhưng đó chỉ là giả thuyết.
« Để hiểu rõ hơn sự can dự của những
yếu tố môi trường này, cần phải biết
rõ hơn nữa về những cơ chế tế bào của
bệnh đái đường loại 1 », Claire
Lévy-Marchal, tác giả của báo cáo đã
giải thích như vậy.( SCIENCE ET VIE
1/2008)
------
MỘT GIẤC NGỦ BỊ RỐI LOẠN LÀM GIA TĂNG
NGUY CƠ BỊ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG LOẠI 2
Các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã chứng
nhận rằng một giấc ngủ bị rối loạn sẽ
làm suy yếu khả năng của cơ thể điều
hòa nồng độ đường trong máu, do đó có
khả năng làm gia tăng nguy cơ phát
triển một bệnh đái đường loại 2.Thí
nghiệm đã được tiến hành trên 9 người
tình nguyện, 5 đàn ông và 4 nữ . Cứ
mỗi lần những người tham gia đi vào
giấc ngủ sâu, các nhà khoa học bắt đầu
gây tiếng ồn để làm rối loạn giấc ngủ
nhưng không làm họ thức dậy hoàn toàn.
Sau 3 ngày, khả năng điều chỉnh lượng
đường nơi những người tình nguyện sụt
giảm 25 %.
Ngăn cản một người nào đó ngủ một giấc
ngủ say (sommeil profond) sẽ làm gia
tăng nguy cơ xuất hiện bệnh đái đường
loại 2 nơi người đó.Thật vậy khả năng
của cơ thể điều hòa nồng độ đường sẽ
giảm sau một buổi nghỉ ngơi kém chất
lượng. Đó là điều đuợc tiết lộ trong
ấn bản on-line của Annales de
l’Académie Américaine des Sciences.
Giấc ngủ say, trong đó các cử động của
cơ và nhãn cầu được thực hiện ở mức
tối thiểu, được biết là có tác dụng
bồi sức nhất. Điều mà các nhà nghiên
cứu của Centre médical de Chicago đã
quan sát là sau 3 đêm giấc ngủ say bị
hủy bỏ, các thanh niên tình nguyện trở
nên ít nhạy cảm hơn đối với insuline.
Hormone này được tiết ra bởi tụy tạng
và đóng một vài trò quan trọng trong
chuyển hóa của glucose. Lúc gắn vào
các thụ thể (récepteur) của tế bào,
insuline cho phép đường từ máu vào
trong các tế bào. Như vậy, sau khi bị
mất ngủ, các người tình nguyện phải
cần nhiều insuline hơn để có thể hấp
thụ cùng một lượng đường vào các tế
bào. Nhưng tụy tạng lại không có thể
tiết nhiều insuline hơn. Kết quả : quá
nhiều đường trong máu và một nguy cơ
gia tăng phát triển bệnh đái đường
loại 2. Sự hạ thấp tính nhạy cảm đối
với insuline được quan sát lúc thí
nghiệm, có thể được so sánh với sự hạ
thấp của tính nhạy cảm này lúc bệnh
nhân tăng thể trọng từ 9 đến 13 kg !
Trong khi các nghiên cứu trước đây đã
chứng tỏ rằng lượng giấc ngủ (quantité
du sommeil) là một yếu tố quan trọng
cho một chuyển hóa tốt của glucose,
thì công trình nghiên cứu này chứng tỏ
rằng chất lượng của giấc ngủ (qualité
du sommeil) cũng góp phần nhiều vào
việc chuyển hóa này. « Việc giảm thời
gian của giấc ngủ say được liên kết
với quá trình lão hóa và với những vấn
đề gặp phải trong chứng béo phì, Giáo
sư Văn Cauter, một trong các tác giả
của công trình đã giải thích như vậy.
« Những kết quả của chúng tôi gợi ý
rằng việc thực hiện các chiến lược
nhằm cải thiện chất lượng và số lượng
của giấc ngủ có thể giúp ngăn ngừa
hoặc làm chậm lại sự xuất hiện của
bệnh đái đường loại 2 nơi những nhóm
người có nguy cơ ».(METRO 2/1/2008) (
LE SOIR 2/1/2008)
-----
MÁU KINH NGUYỆT CÓ THẾ SẢN XUẤT CÁC TẾ
BÀO GỐC
Một nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ và Canada
vừa nhận diện nơi phụ nữ một loại mới
các tế bào gốc hiện diện trong nội mạc
tử cung (endomètre : niêm mạc bao phủ
mặt trong tử cung mà bề dày gia tăng
mỗi tháng trước khi hành kinh). Dòng
tế bào gốc mới này, được gọi là ERC
(Endometrial Regenerative Cells) có
nhiều lợi thế so với các tế bào gốc
phát xuất từ một cuống rốn hay từ tủy
xương. Ngoài việc thu được dễ dàng,
dòng tế bào gốc từ máu kinh nguyệt sẽ
tăng sinh nhanh chóng hơn và có thể
được biệt hóa thành 9 loại tế bào.Với
5 ml máu kinh nguyệt, các nhà nghiên
cứu đã thu được sau 2 tuần lễ, các tế
bào tim có khả năng co bóp, như thế
chứng tỏ rằng dòng tế bào gốc này có
thể được cấy với quy mô lớn và nhanh
chóng. Đây là một bước tiến trong điều
trị, bởi vì các tế bào gốc này có thể
cho phép thay thế các cơ quan bị
thương tổn và đồng thời giới hạn được
những vấn đề thải bỏ do việc ghép cơ
quan. ( SCIENCE ET VIE 1/2008)
-----
CÁC TẾ BÀO THAI NHI BẢO VỆ NGƯỜI MẸ
CHỐNG LẠI UNG THƯ
Nơi một vài phụ nữ có thai, các tế bào
của thai nhi đi vào trong tuần hoàn
máu họ. Được dung nạp bởi hệ miễn dịch
của người mẹ, các tế bào thai nhi lưu
lại ở đó trong nhiều năm, nhưng người
ta không biết những gì sẽ xảy ra sau
đó đối với các tế bào này.Thế mà, hai
thầy thuốc của trung tâm nghiên cứu
chống ung thư của đại học của tiểu
bang Washington, ở Seattle, nghĩ rằng
những tế bào này đóng một vai trò che
chở chống lại ung thư vú. Các nhà
nghiên cứu đã xem xét 60 người mẹ đã (
hoặc không) phát triển một ung thư vú
sau khi sinh.Trong số các phụ nữ bị
một ung thư vú, chỉ có 14% là đã nhận
các tế bào thai nhi, so sánh với tỷ lệ
43% nơi những phụ nữ không bị ung thư
vú. Các thầy thuốc gợi ý rằng trong số
những tế bào thai nhi này, có những tế
bào miễn dịch có khả năng nhận biết
những tế bào tiền ung thư và đã tiêu
diệt chúng trước khi những tế bào này
trở thành hoạt động.( SCIENCE ET VIE
1/2008)
-----
CÁC EM BÉ ĐÃ BIẾT PHÂN BIỆT NGƯỜI TỐT
VỚI KẺ XẤU
Các em bé ( bébé) ưa thích những người
thân thiện hơn là những người thù địch
khi chúng quan sát hành vi của những
người này đối với nhau. ! Chúng ta đã
biết rằng một em bé hiểu được những
mối tương tác có tính chất xã hội
(interactions sociales) : nó mong chờ
một người nào đó thích một người giúp
đỡ anh ta hơn là ai đó cản trở anh ta.
Kiley Hamlin và các đồng nghiệp của
Đaị Học Yale (Hoa Kỳ) đã muốn biết xem
các em bé có khả năng tự mình thực
hiện sự phân biệt này hay không. Các
nhà nghiên cứu đã cho các em bé từ 6
đến 10 tháng xem một màn kịch nhỏ.
Trong màn kịch này, một nhân vật đầu
tiên bằng gỗ giúp một nhân vật khác
leo lên một ngọn đồi. Sau đó các em bé
được xem một màn kịch thứ hai, trong
đó một nhân vật khác làm té lộn xuống
một người đang trèo lên đồi.Ý kiến của
các em bé thật rõ ràng : chúng thích
chơi với nhân vật mà chúng đã nhận
thấy là tử tế. Hơn thế nữa, chúng
thích một nhân vật tử tế hơn là một
người có lập trường trung lập và thích
một người trung lập hơn là một kẻ thù
địch. Như thế điều này chứng tỏ khả
năng của các em bé biết đánh giá các
hành vi một cách dương tính cũng như
âm tính.Theo Hamlin, « sự nghiên cứu
này có thể chỉ ra tính chất bẩm sinh
của các khả năng phán đoán , có lẽ bởi
vì chúng thiết yếu cho sự sinh tồn
trong thế giới xã hội ». Các nhà
nghiên cứu đã đang lập lại thí nghiệm
này với các em bé 3 tháng. ( SCIENCE
ET VIE 1/2008)
BS
Nguyễn
Văn
Thịnh |
|