|
BÉO
PHÌ BỤNG : MỘT NGUY CƠ TIM MẠCH CẦN
ĐƯỢC THEO DÕI
Để đánh giá sự vạm vỡ (corpulence) của
một người, các thầy thuốc tính toán
chỉ số khối lượng cơ thể (IMC : indice
de masse corporelle), tương ứng khá
tốt với các nguy cơ tim mạch. Ngày
nay, người ta biết rằng sự béo phì (obésité)
xảy ra ở đùi hay mông không có cùng
mức độ trầm trọng tiềm tàng như béo
phì bụng (obésité abdominale), phản
ảnh trung thành hơn sự hiện diện của
các ứ đọng mỡ trong các cơ quan nội
tạng và các mạch máu (một chỉ dấu
chính xác hơn IMC). Chứng béo phì bụng
tương ứng với một vòng thân (tour de
taille) trên 102 cm nơi đàn ông và 88
nơi phụ nữ.
Một công trình nghiên cứu của châu Âu
được công bố mới đây trong New England
Journal of Medicine, được tiến hành
trong 9 nước, nơi 359.387 người thuộc
hai giới tính, từ 25 đến 70 tuổi vào
lúc bắt đầu công trình nghiên cứu và
được theo dõi trong 10 năm, vừa xác
nhận giá trị tiên đoán của yếu tố này
(chứng béo phì bụng) : 14.723 người
tham dự chết trong thời kỳ theo dõi.
Những kết quả đã cho thấy rằng chứng
béo phì bụng thật sự là một yếu tố
nguy cơ hoàn toàn riêng biệt, độc lập
với những yếu tố khác như thuốc lá,
rượu, và rằng nó nhân gấp đôi nguy cơ
tử vong do các bệnh tim mạch, ngay cả
ở những người có IMC bình thường ! Vậy
sự đánh giá chứng béo phì bụng là một
công cụ cần thiết : chỉ cần một cây
thước đo của người thợ may là đủ.(
PARIS MATCH 11/12-17/12/2008)
====
NIỀM HẠNH PHÚC CÓ TÍNH CHẤT LÂY NHIỄM
VÀ ĐƯỢC LAN TRUYỀN GIỮA BẠN BÈ
Psychologie : Một công trình nghiên
cứu được thực hiện trên 5.000 người
chứng tỏ rằng hạnh phúc được lan
truyền qua các mạng lưới xã hội (các
người láng giềng hay bạn bè), theo một
sơ đồ được xác định.
“ Để sống hạnh phúc, chúng ta hãy sống
ẩn dật ” , một ngạn ngữ của Pháp đã
nói như vậy nhưng rất có thể là sai.
Trong các năm trước, những nhà nghiên
cứu Hoa Kỳ đã chứng tỏ rằng bạn bè của
những người mắc bệnh béo phì có khuynh
hướng béo phì, những người láng giềng
của những người nghiện thuốc cũng hút
thuốc và những người thân thích của
những người nghiện rượu cũng uống rượu
không kém gì. Thế thì, cũng dường như
rằng những người bạn của những người
hạnh phúc sung sướng cũng có khuynh
hướng được sung sướng hạnh phúc. Một
công trình điều tra rất tư liệu được
công bố trong số 4/12 của British
Medical Journal tiết lộ rằng niềm vui
là một hiện tượng tập thể, được lan
truyền từng đợt qua tất cả các mạng
lưới xã hội, như một mối cảm xúc mang
tính chất lây nhiễm và có thể lan
truyền được.
Để đạt được một chứng minh như vậy,
Nicolas Christakis (Đại học Havard) và
James Fowler (Đại học Californie) ở
Hoa kỳ đã khảo sát công trình nghiên
cứu được thực hiện trong thành phố
Fragmingham. Công cuộc điều tra khổng
lồ này đã được khởi xướng vào năm
1948, trên hơn 5.200 người, nhằm tìm
hiểu nguồn gốc của các bệnh tim mạch,
nhất là xuyên qua các hành vi, thuốc
lá, rượu, thức ăn, stress, hạnh phúc.
Hơn 5.200 hậu duệ của những người tình
nguyện Fragmingham đã được đưa vào
trong một nhóm mới, năm 1971. Một nhóm
thứ ba (thế hệ thứ ba) hơn 4.000 người
đã được tạo nên năm 2002.
Tất cả 5000 người tình nguyện của năm
1971 đã được hỏi 3 lần, giữa năm 1983
và 2003, về tình cảm hạnh phúc của họ
: “ Trong tuần vừa qua, các bạn có tin
tưởng vào tương lai không ? Có vui vẻ
không ? Có sống hạnh phúc không ? ” và
các câu hỏi cũng được đưa ra cho những
người láng giềng, bạn bè, anh hay chị.
Nhờ các dữ kiện được tích lũy và thông
tin hóa này, tổ chức của đời sống xã
hội ở thành phố Framingham đã được tạo
lại, trong không gian và thời gian.
Các mối liên hệ gia đình, các mạng
lưới láng giềng, các nhóm bạn bè, các
tập thể nghề nghiệp đã được vạch lại.
Sự lan truyền hạnh phúc đã được xem
xét xuyên qua hơn 50.000 mối liên hệ.
Sau những phân tích phức tạp, ý tưởng
về sự lan truyền xã hội của hạnh phúc
đã được xác nhận một cách rõ ràng.
Các tác giả đã tính toán rằng, khi một
người trở nên hạnh phúc sung sướng,
thì một trong số những người bạn của
anh ta sống cách đó dưới 1km có 25%
xác suất, đến lượt mình, trở nên sung
sướng hạnh phúc ; một trong những
người anh hay chị của anh ta có xác
suất 14% là như vậy ; người láng giềng
ở cùng cầu thang có xác suất 34% ; khi
người vợ anh ta trở nên hạnh phúc, thì
người vợ của một người cùng nơi cư ngụ,
đến lượt mình, có 8% cơ may là như vậy.
Người bạn càng ở gần thì sự lan truyền
càng mạnh.
Công trình nghiên cứu này làm sáng tỏ
tầm quan trọng của sự gần gũi vật lý.
Nếu các con hay bè bạn sống ở xa, thì
tình cảm hạnh phúc không lan tỏa.
NHỮNG NGƯỜI HẠNH PHÚC, RỘNG RÃI HƠN.
Niềm vui của những người láng giềng
không có tác động khi họ ở xa hơn 25m.
Nỗi buồn dường như được lan truyền ít
dễ dàng hơn : trung bình, mỗi người
bạn thân trở nên sung sướng sẽ mang
lại cho anh 9% cơ may cũng được hạnh
phúc đến lượt mình ; mỗi người bạn trở
nên bất hạnh sẽ làm gia tăng nguy cơ
cho bạn 7%. Các tác giả không tìm thấy
sự lây nhiễm của hạnh phúc giữa các
đồng nghiệp trong công tác.
Những cơ chế nào giải thích những hiện
tượng này ? Mặc dầu các tác giả để mở
câu hỏi, họ nêu lên tác động của những
biểu lộ gương mặt và những cảm xúc
dương tính có thể truyền đạt niềm vui.
Và những người sung sướng có thể rộng
rãi hơn trong tình bạn, thời gian và
tiền bạc.. Vào năm 1984, các nhà
nghiên cứu Hoa Kỳ đã tính toán rằng sự
việc trúng số 5.000 dollars chỉ làm
gia tăng hạnh phúc 2%. “ Trong khung
cảnh này, khả năng của những kẻ khác
tác động lên anh là cao hơn nhiều, vì
lẽ người bạn của một người bạn mà anh
không biết và trở nên sung sướng hạnh
phúc tác động lên anh như thể anh có 5
lần 5000 dollars ! Có nhiều ý nghĩa
trong công trình nghiên cứu này. Trước
hết, chúng ta phải có một trách nhiệm
lớn hơn đứng trước hạnh phúc riêng của
mỗi người bởi vì nó ảnh hưởng lên
những người khác. Sự theo đuổi hạnh
phúc không phải là một mục tiêu đơn
độc. Chúng ta được nối kết với nhau và
niềm vui của chúng ta cũng thế. ” ( LE
FIGARO 24/12/2008) ( LE SOIR
12/12/2008)
====
THÂN THỂ CHÚNG TA CHỨA MỘT CHẤT CHỐNG
ĐAU TỰ NHIÊN CÓ CÔNG HIỆU MẠNH
Hoạt tính tám lần lâu hơn morphine,
protéine PAP (phosphatase acide
phosphatique) hiện diện tự nhiên trong
cơ thể. Phân tử này hủy bỏ tác dụng
của các thông tin hóa học của cảm giác
đau đớn. Nó cũng cho phép sản xuất
adénosine, một phân tử được biết có
tác dụng chống đau nơi các động vật có
vú. Để chứng tỏ điều đó, một nhóm
nghiên cứu Hoa Kỳ và Phần Lan đã tạo
nên những chú chuột không có phân tử
PAP. Những con chuột này đã tỏ ra nhạy
cảm hơn nhiều với các đau đớn mãn tính.
Ngược lại, chỉ cần một mũi tiêm PAP
cũng đủ làm ngưng sự đau đớn của chúng.
Một thời gian yên nghỉ kéo dài 8 lần
lâu hơn so với một mũi tiêm morphine.(
SCIENCE ET VIE 12/2008)
===
ĐỘNG KINH : NGOẠI KHOA RẤT HIỆU QUẢ
NHƯNG KHÔNG ĐƯỢC THỰC HIỆN NHIỀU
Neurologie : Trong các trường hợp mà
thuốc men không hiệu quả, việc nhờ đến
con dao mổ cho phép những tỷ lệ chữa
lành quan trọng và những di chứng hiếm
khi xảy ra.
Quá ít, quá muộn. Mặc dầu có thể cải
thiện một cách đáng kể đời sống và
ngay cả hy vọng sống thêm (espérance
de vie) của một vài người bị bệnh động
kinh, ngoại khoa vẫn ít được sử dụng
và được thực hiện quá chậm, các thầy
thuốc Hoa Kỳ trong ấn bản vừa qua của
Jama, tờ báo của Hiệp hội y sĩ Hoa Kỳ,
đã phàn nàn như vậy. Một điều chứng
thực hoàn toàn được chia sẻ bởi các
chuyên viên người Pháp. “ Phải thôi
cho rằng điều trị ngoại khoa bệnh động
kinh là một điều trị của cơ may cuối
cùng. Trái lại có thể đó là điều trị
có khả năng tốt nhất không được bỏ qua
” , G.S Bertrand Devaux, thầy thuốc
ngoại thần kinh của bệnh viện
Sainte-Anne (Paris) đã tóm tắt như vậy
trong báo cáo mới đây về những điều
trị ngoại khoa của bệnh động kinh ở
Pháp.
Là bệnh mãn tính gây phế tật, có thể
bắt đầu từ tuổi ấu thơ, động kinh có
liên quan từ 0,5 đến 1% dân số thế
giới, hoặc gần 500.000 người ở Pháp.
Những nguyên nhân gây nên những phóng
điện bất thường ở các tế bào thần kinh
này rất là nhiều. Cũng như các triệu
chứng của các cơn động kinh cũng vậy,
tùy thuộc vào vị trí của các thương
tổn.
Trong hầu hết các trường hợp, bệnh
được kiểm soát bởi một điều trị nội
khoa, nhưng các loại thuốc vẫn không
có hiệu quả nơi 20 đến 30% các bệnh
nhân. Chính những người được gọi là “
đề kháng với dược ” (pharmaco-résistant)
này, đôi khi rất tàn phế trong cuộc
sống hàng ngày, là đối tượng mà phẫu
thuật có khả năng nhằm đến. Tuy nhiên
không phải tất cả mọi trường hợp đều
có thể mổ được. Phẫu thuật chỉ có thể
được đề nghị khi thương tổn não, nguồn
gốc của các cơn động kinh, được khu
trú trong một vùng mà sự cắt bỏ ít có
nguy cơ đưa đến các di chứng trên bình
diện chức năng.
BILAN TIỀN PHẪU NẶNG NỀ.
Công trình nghiên cứu được công bố
trong Jama bởi B.S Hyunmi Choi (thầy
thuốc thần kinh của Đại Học Columbia,
Nữu Ước), được thực hiện trên bệnh
động kinh của thùy thái dương (épilepsie
du lobe temporal), thể thông thường
nhất của bệnh nơi người trưởng thành,
và là một trong những thể thường đề
kháng nhất đối với các thuốc chống
động kinh. Các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ
cho thấy rằng nơi những bệnh nhân ở
lứa tuổi trung bình (35 tuổi), giải
phẫu cho phép làm gia tăng 5 năm hy
vọng sống thêm (espérance de vie) so
với điều trị nội khoa. Thật vậy, BS
Choi nhắc lại, bệnh động kinh đề kháng
với thuốc làm gia tăng tỷ lệ tử vong
do những tai nạn chết người xảy ra sau
các cơn, do các cơn nặng (cơn động
kinh liên tục), do tự tử hay chết đột
ngột.
Còn các kết quả về chất lượng sống,
theo cùng công trình nghiên cứu, chúng
biện minh cho ưu thế của điều trị
ngoại khoa nơi 96% các bệnh nhân.
Những lợi ích của phẫu thuật (cải
thiện rõ rệt các cơn, hoặc kể cả chữa
lành) vượt xa hơn nhiều những nguy cơ
của can thiệp ngoại khoa. Tuy vậy, như
chủ bút của tờ Jama xác nhận, “ không
những phần lớn các ứng viên của phẫu
thuật đã không bao giờ được giới thiệu
đến một phẫu thuật viên, mà những bệnh
nhân được mổ thường quá chậm để có thể
ngăn ngừa những phế tật sinh lý và xã
hội của bệnh động kinh. ”
Trung bình, ở Hoa Kỳ,
can thiệp ngoại khoa được thực hiện
sau hơn 20 năm tiến triển của bệnh.
Một tình trạng có thể được so sánh với
Pháp. Khoảng 400 bệnh nhân bị động
kinh (trong đó 100 là trẻ em) được mổ
mỗi năm trong một trong 17 trung tâm
của Pháp, hoặc khoảng một nửa của các
nhu cầu. “ Quá nhiều bệnh nhân vẫn
được theo dõi rất lâu bởi những thầy
thuốc không biết rõ ngoại khoa hoặc
không có một cái nhìn dương tính về
phẫu thuật ”, G.S Devaux đã nhấn mạnh
như thế.
Tính toàn bộ, từ lúc bắt đầu đến cuối
những năm 1950, ở bệnh viện
Sainte-Anne, phẫu thuật của bệnh động
kinh đã được thực hiện nơi 5.000 bệnh
nhân ở Pháp. Những kết quả, được phân
tích nơi 2000 bệnh nhân được mổ trong
số này, là một trong những kết quả tốt
nhất, ở trình độ quốc tế . Trái với
một thành kiến, những di chứng thần
kinh là khá hiếm (2,5% các trường hợp),
và tỷ lệ tử vong là ngoại lệ (0,15%).
Tỷ lệ chữa lành là khoảng 80% trong
trường hợp các động kinh vùng thái
dương (épilepsie temporale). Những kết
quả còn tốt hơn nhiều trong nhi khoa,
đối với vài khối u bẩm sinh và những
dị tật phát triển của não bộ. Theo GS
Devaux, nhiên hậu, phẫu thuật này hẳn
phải được thực hiện càng ngày càng
nhiều nơi các trẻ em, và một phần
trong số các trẻ em này có thể được mổ
“ để phòng ngừa ” , ngay khi thương
tổn gây động kinh được khám phá. Mới
đây, nhóm phẫu thuật Sainte-Anne đã
can thiệp để điều trị một dị tật não
nơi một bé gái chỉ bị một cơn động
kinh.
Tuy vậy, bilan tiền phẫu là nặng nề
đối với các bệnh nhân. Bilan có thể
đặc biệt cần những xét nghiệm xâm nhập
như SEEG (stéréoélectroencéphalographie),
trong đó những điện cực được cắm trực
tiếp trong não bộ để định vị thương
tổn gây động kinh. Những phương pháp
này càng ngày càng được thay thế bởi
những kỹ thuật chụp hình hiện đại, thí
dụ TEP (tomographie à émission de
positons), kết hợp với IRM (imagerie
par résonance magnétique). Sự kết hợp
của hai xét nghiệm này cho phép chẩn
đoán và do đó mổ các thương tổn, đặc
biệt là những dị tật (malformations)
trước đây không được phát hiện.
Về các kỹ thuật mổ, chúng hiện đang
trên đà tiến triển. Cắt bỏ vùng bị
bệnh vẫn là cổ điển nhất. Càng ngày
càng có những phương pháp thay thế ít
xâm nhập hơn : kích thích dây thần
kinh phế vị, ngoại quang tuyến (radiochirurgie),
đốt điện (electrocoagulation) hay
déconnexion.( LE JOURNAL DU FIGARO
8/12/2008)
===
EM BÉ ĐẦU TIÊN TỪ MỘT BUỒNG TRỨNG ĐUỢC
GHÉP
Sau khi được ghép một buồng trứng lấy
từ người em gái sinh đôi, một phụ nữ
người Đức đã sinh ra đời một em bé gái.
Sự ghép của cơ quan này đã được thực
hiện năm 2006 ở Trung tâm Vô sinh
Saint Louis (Hoa Kỳ). Kỹ thuật này mở
đường cho việc gìn giữ các buồng trứng
bằng đông lạnh trước khi ghép trở lại
nơi những phụ nữ bị bệnh ung thư mà
các trị liệu làm phương hại đến các
khả năng thai nghén.( SCIENCE ET VIE
1/2009)
===
MỐI LIÊN KẾT GIỮA SỰ GIA TĂNG THỂ
TRỌNG VÀ CHỨNG ĐAU ĐẦU
Một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ
gợi ý một mối liên hệ giữa sự gia tăng
thể trọng (surpoids) và một nguy cơ
gia tăng bị đau đầu. Thật vậy, Earl
Ford và các cộng sự viên (US Centers
for Disease Control and Prevention,
Atlanta) đã nghiên cứu mối liên hệ
giữa chỉ số khối lượng cơ thể (BMI:
Body Mass Index) và những đau đầu nơi
những người trưởng thành đã tham gia
vào công trình nghiên cứu 1999-2002
National Health and Nutrition
Examination Survey.
Các nhà nghiên cứu đã phân tích các dữ
kiện có liên quan đến 7.601 người
trưởng thành. Khoảng 15% đàn ông và
28% các phụ nữ đã báo cáo những đau
đầu nghiêm trọng trong 3 tháng trước
khi bắt đầu công trình nghiên cứu.
Khoảng 35% dân chúng được khảo sát ở
trong tình trạng gia tăng thể trọng
(BMI= 25-30), 30% bị béo phì ( BMI >
30) và 33% có một trọng lượng bình
thường (BMI=18,5- 25).
Các tác giả đã có thể xác lập rằng
chứng béo phì (obésité) và sự gia tăng
thể trọng (surpoids) làm gia tăng nguy
cơ bị đau đầu lên 1,2 đến 1,4 lần. Sau
khi đã điều chỉnh một loạt các yếu tố
có khả năng ảnh hưởng, các đau đầu vẫn
còn xuất hiện thường hơn trong nhóm
những người bị gia tăng thể trọng và
béo phì. Cần một công trình nghiên cứu
sâu rộng hơn để kiểm tra xem có một
mối liên hệ giữa chứng béo phì và đau
đầu hay không.( LE JOURNAL DU MEDECIN
23/12/2008)
===
NÃO BỘ DƯỚI TÁC DỤNG CỦA ĐIỆN CAO THẾ
Đó là một công trình nghiên cứu có tầm
quan trọng, vừa được công bố bởi nhóm
nghiên cứu của bác sĩ Anke Huss, thuộc
đại học Berne. Được tiến hành trên
toàn bộ lãnh thổ Thụy Sĩ, sự nghiên
cứu này thiết lập mối liên hệ giữa
việc tiếp xúc của những người dân với
những điện từ trường (champs
électromagnétique) có cường độ thấp,
phát xuất từ những đường cao thế và sự
phát triển các bệnh thoái hóa thần
kinh (maladies neurodégénératives).
Để thực hiện công tác này, các nhà
nghiên cứu Thụy Sĩ đã làm việc trên
toàn bộ dân chúng, giữ lại một mẫu
nghiệm 4,65 triệu người, loại trừ các
thanh niên dưới 30 tuổi. “ Các nguyên
nhân y khoa của 282.378 trường hợp tử
vong, được đăng ký giữa năm 2000 và
2005, đã được đánh chéo với các nơi ở
của những người quá cố, các tác giả đã
nhận xét như vậy. Việc đánh giá sự
tiếp xúc được căn cứ trên khoảng cách
từ nơi thường trú đến những đường điện
cao thế gần nhất. Chúng tôi đã bao gồm
tất cả những đường điện 220-380 kV ở
Thụy Sĩ trên tổng cộng gần 5.110 km. ”
Ba hành lang kế cận các đường cao thế
được xét đến trong công trình nghiên
cứu : thứ nhất, dưới 50m ; thứ hai, từ
50 đến 200m ; và sau cùng, từ 200 đến
600m. Những khoảng cách này, được xem
như 3 yếu tố nguy cơ khác nhau, đã
được đặt trong tương quan với thời
gian thường trú của các người được
nghiên cứu.
Kết quả ? Những người sống cách một
đường cao thế dưới 50 m có nguy cơ gia
tăng 24% chết vì bệnh Alzheimer và sa
sút trí tuệ lão niên (démence sénile).
Và nguy cơ này gia tăng tùy theo thời
gian trải qua dưới các đường điện cao
thế này : 51% trong vòng 5 năm, 78%
trong 10 năm và 100% trong một thời
gian 15 năm. “ Trái lại, có ít bằng cớ
về sự gia tăng nguy cơ xơ cứng rải rác
(sclérose en plaques) và bệnh
Parkinson. ”
Mặc dầu các tác giả công nhận rằng
không có sự nhất trí về mối liên hệ
được chứng tỏ giữa các dòng điện cao
thế và các hậu quả sinh học, họ cũng
đưa ra giả thuyết liên kết những điện
từ trường này với bệnh Alzheimer, do
sự gia tăng nồng độ các gốc tự do (radicaux
libres), có thể gây nên sự oxy-hóa có
hại cho môi trường tế bào.
Sau hết, các nhà nghiên cứu cho rằng
ảnh hưởng về mặt y tế cộng đồng vẫn
được giới hạn. Chỉ dưới 1% những người
chết là có liên hệ. “ Những hậu quả
thật sự là rất khó xác định, các tác
giả đã kết luận như vậy. Những tỷ lệ
bệnh Alzheimer có lẽ 2-8 lần cao hơn
nếu các chẩn đoán được căn cứ trên một
thăm khám lâm sàng thay vì giấy khai
tử. Dầu sao, những kết quả này hẳn làm
an lòng dân chúng sống cách đường điện
cao thế từ 50 đến 600 m. ”( LE SOIR
22-23/12/2008)
===
QUÁ NHIỀU ĐƯỜNG LÀM TĂNG NGUY CƠ BỊ
UNG THƯ VÚ
Nơi những phụ nữ béo phì và những phụ
nữ mãn kinh, những nồng độ insuline
quá cao làm gia tăng nguy cơ bị ung
thư vú.
Một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ,
được công bố trong Journal of the
National Cancer Institute, ngày 7/1,
cho thấy rằng có một mối liên hệ giữa
nồng độ insuline trong máu quá cao và
nguy cơ phát triển một ung thư vú nơi
những phụ nữ béo phì (với chỉ số khối
lượng cơ thể >30).
Công trình nghiên cứu này, được thực
hiện trên 93.676 phụ nữ sau thời kỳ
mãn kinh, đã được tiến hành dưới sự
chỉ đạo của Khoa Dịch Tễ Học của đại
học Albert Einstein ở Nữu Ước.
“ Người ta đã nghi ngờ chứng béo phì (obésité)
là nguồn gốc của một nguy cơ gia tăng
phát triển một ung thư vú nơi các phụ
nữ sau thời kỳ mãn kinh, các tác giả
của công trình nghiên cứu đã giải
thích như vậy. Một phần bởi vì những
tế bào mỡ tổng hợp các œstrogène.
Nhưng chứng béo phì cũng được liên kết
với một nồng độ cao của insuline, một
hợp chất được biết có tác dụng làm dễ
sự tăng sinh của những tế bào, lành
mạnh hay ung thư. Tuy nhiên chưa có
một công trình nghiên cứu nào quan tâm
đến mối liên hệ giữa những mức nồng độ
insuline trong máu và/hoặc yếu tố tăng
trưởng của nó và nguy cơ phát triển
một ung thư vú. Điều này độc lập với
các nồng độ œstrogène. ”
Bây giờ, đây là điều đã được thực hiện.
“ Công trinh nghiên cứu này đúng là
xác định mối liên hệ giữa nồng độ
insuline trong máu và nguy cơ bị ung
thư vú ”, BS David Servan-Schreiber đã
bình luận như vậy
“ Trong công trình nghiên cứu này,
nguy cơ mắc phải ung thư vú nơi các
phụ nữ mãn kinh không sử dụng điều trị
hormone là 2,4 hoặc gia tăng 140% nguy
cơ. Điều đó xác nhận một trong những
kết luận của tôi : vai trò quan trọng
của chế độ ăn uống quá nhiều đường
trong sự xuất hiện vài ung thư. Điều
đó một lần nữa nhấn mạnh sự cần thiết
cần phải truyền đạt nơi những bệnh
nhân đã bị một ung thư, tầm quan trọng
theo một chế độ ăn uống có chỉ dấu
đường huyết thấp, nhằm làm giảm sự
tiết insuline và ảnh hưởng của nó lên
sự tăng trưởng của các tế bào ung thư
” LE SOIR 9/1/2009)
===
TỪ RUỘT ĐẾN XƯƠNG
Sérotonine, được chế tạo bởi vài
neurone, là một yếu tố chủ yếu đối với
não bộ : sérotonine có liên hệ trong
chu kỳ thức-ngủ (cycle veille-sommet),
trong sự điều hòa nhiệt độ hay cả
trong sự kiểm soát vận động. Tuy nhiên,
95% sérotonine của cơ thể được chế tạo
bởi ruột và chúng không bao giờ đi đến
não bộ. Một nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ vừa
tìm thấy một vaì trò cho sérotonine :
sérotonine cản sự tăng sinh của những
tế bào tổng hợp xương (các tạo cốt bào).
Như vậy, khi được phóng thích với
lượng lớn, sérotonine ruột làm giảm
khối lượng xương. Cơ chế này sẽ có
liên quan trong hai bệnh xương hiếm
xảy ra và giải thích tại sao các bệnh
nhân bị autisme (có một nồng độ
sérotonine cao máu) thường bị chứng
loãng xương (ostéoporose).( LA
RECHERCHE 1/2009)
===
VACCIN CHỐNG ROTAVIRUS : AN TOÀN ĐỐI
VỚI NHỮNG NHŨ NHI
Nơi các trẻ nhỏ, viêm dạ dày-ruột (gastroentérite)
do một nhiễm trùng bởi rotavirus là
một nguyên nhân quan trọng của sự mất
nước, gây nên bởi nôn mửa và tiêu chảy
và thường đòi hỏi phải nhập viện. Hơn
98% các nhiễm trùng nhi đồng bởi
rotavirus ở châu Âu được gây ra bởi 5
loại rotavirus (G1,G2,G3,G4 và G9).
VIÊM DẠ DẦY-RUỘT : KHÔNG PHẢI LUÔN
LUÔN VÔ HẠI !
Những triệu chứng đặc trưng của viêm
dạ dày-ruột do rotavirus (gastroentérite
à rotavirus) là ỉa chảy nước, nôn mửa,
sốt và đau bụng. Mức độ nghiêm trọng
biến thiên từ những thể không có triệu
chứng (đại đa số các trường hợp) đến
những thể nặng kèm theo mất nước quan
trọng và có tiềm năng gây tử vong. Do
đó sự bồi hoàn nước (réhydratation) là
yếu tố quan trọng nhất của điều trị và
phải được bắt đầu càng nhanh càng tốt.
Một thể có vẻ nhẹ cũng có thể tiến
triển rất nhanh thành một thể có khả
năng gây tử vong và đòi hỏi bù dịch
bằng đường tĩnh mạch và cần phải nhập
viện.
Ở lứa tuổi lên 5, hầu như tất cả các
trẻ em ít nhất đã bị một lần viêm dạ
dày-ruột do rotavirus. Ở châu Âu, mỗi
năm, có khoảng 3,6 triệu trẻ em bị một
đợt viêm dạ dày-ruột do rotavirus.
Cũng mỗi năm, 200 đến 250 trẻ em châu
Âu dưới 5 tuổi chết vì một nhiễm trùng
bởi rotavirus, 87.000 trẻ em (1 trên
54) phải được nhập viện và hơn 700.000
trẻ em ( 1 trên 7) phải đi khám thầy
thuốc.
Tuy vậy hiện nay chúng ta có một
vaccin hiệu quả chống lại viêm dạ
dày-ruột do rotavirus, RotaTeq, một
vaccin chống rotavirus 5 hoá trị, cho
một hiệu quả đặc hiệu chống lại 5 loại
rotavirus gây bệnh. RotaTeq được chỉ
định để tạo miễn dịch hoạt động cho
các nhũ nhi từ tuổi 6 tuần để chống
lại viêm dạ dày-ruột do rotavirus.
Sự tiêm chủng này ngày nay được công
nhận như là biện pháp có hiệu quả để
làm giảm một cách đáng kể tỷ lệ mắc
bệnh và tử vong gây nên bởi viêm dạ
dày ruột nặng ở trẻ em (gastroentérite
pédiatrique sévère).
MỘT PHÂN TÍCH MỚI ĐẦY XÁC NHẬN TÍNH
HIỂU QUẢ VÀ ĐỘ AN TOÀN CỦA ROTA TED
NƠI CÁC NHŨ NHI.
Một phân tích mới đây được công bố
trong The Pediatric Infectious Disease
Journal cho thấy rằng sự tiêm chủng
với RotaTeq cho phép tránh, trung bình,
100% các trường hợp viêm dạ dày-ruột
nghiêm trọng (gastroentérite sévère),
gây nên bởi các rotavirus thuộc các
loại G1,G2,G3 và G4 nơi các nhũ nhi
được cho bú. Nơi các nhũ nhi đã không
bao giờ được cho bú, tỷ lệ hiệu quả
lần lượt là 100% và 95,4%.
Những công trình nghiên cứu lâm sàng
lớn khác về RotaTed đã chứng tỏ rằng
98% đến 100% các viêm dạ dày-ruột nhi
đồng thể nặng, do các rotavirus thuộc
các loại G1,G2,G3 và G4 có thể tránh
được. Vaccin cũng đã làm giảm 94,5% số
lần nhập viện và thăm khám cấp cứu,
liên quan với các loại rotavirus này.
RotaTeq mang lại một khả năng bảo vệ
sớm ngay liều đầu tiên và một khả năng
bảo vệ thường trực lên đến 3 năm sau
khi tiêm chủng, điều này cho phép trẻ
được che chở trong thời kỳ chính yếu
có nguy cơ bị nhiễm trùng bởi
rotavirus.
KẾT LUẬN : KHÔNG CÓ LÝ DO LO NGẠI
TRONG THỜI KỲ CHO BÚ.
Như vậy, các bà mẹ và các thầy thuốc
của họ không phải lo ngại về việc tiêm
chủng với RotaTeq trong thời kỳ cho bú
và không được ngừng cho bú để thực
hiện sự tiêm chủng này. Sự tiêm chủng
với RotaTed có thể được thực hiện bắt
đầu từ tuổi 6 tuần, ngay cả khi nhũ
nhi được cho bú. Sự tiêm chủng này bảo
vệ nó chống lại những nhiễm trùng
rotavirus trong thời kỳ nguy cơ chính
yếu, nghĩa là giữa tuổi 3 tháng và 3
năm.( LE JOURNAL DU MEDECIN
14/11/2008)
Bác sĩ
Nguyễn
Văn
Thịnh |
|