|
CHỈ
MỘT
VIÊN
THUỐC
ĐỂ
CHỐNG
LẠI
CÁC
BỆNH
TIM
MẠCH
PHARMACOLOGIE.
Một
viên
thuốc
chứa
một
chất
kháng
cholestérol,
3 loại
thuốc
chống
cao
huyết
áp và
aspirine,
có thể
làm
giảm
50%
nguy
cơ bị
nhồi
máu cơ
tim và
đột
qụy.
Một
viên
thuốc
duy
nhất
để
ngăn
ngừa
các
bệnh
tim
mạch
đối
với
những
người
trên
50
tuổi ?
Quan
niệm
này đã
được
nêu
lên từ
nhiều
năm
nay,
bây
giờ
bắt
đầu
trở
thành
hiện
thực.
Thật
vậy,
các
thầy
thuốc
Ấn Độ
vừa
công
bố
trên
site
Internet
của
tạp
chí y
khoa
The
Lancet
các
kết
quả
của
một
thử
nghiệm,
được
thực
hiện
với
một
polypill
chứa 5
chất
có
hoạt
tính
chống
lại
các
bệnh
tim
mạch.
Những
trắc
nghiệm
này
xác
nhận
rằng
chỉ
một
viên
thuốc
cũng
có
hiệu
quả
như 5
loại
thuốc
được
kê toa
một
cách
độc
lập.
Các
tác
giả,
cũng
đã
trình
bày
những
công
trình
này
hôm
thứ
hai,
nhân
hội
nghị
thường
niên
American
College
of
Cardiology
ở
Orlando
(Florida),
đánh
giá
rằng
một
viên
thuốc
như
thế,
được
cho để
phòng
ngừa,
có thể
làm
giảm
gần
một
nửa
các
trường
hợp
tai
biến
tim và
các
cơn
đột
qụy.
Những
thử
nghiệm
khác,
với
quy mô
lớn
hơn,
vẫn
phải
được
tiến
hành
để xác
nhận
những
kết
quả
này.
Những
bệnh
tim
mạch,
hiện
đang
bùng
nổ
trong
các
nước
đang
phát
triển,
vẫn là
một
trong
những
nguyên
nhân
chính
gây tử
vong
trong
các
nước
phương
Tây,
mặc
dầu có
sự
giảm
bớt do
việc
điều
trị
tốt
hơn
(cao
huyết
áp,
tăng
cholestérol-huyết,
chứng
nghiện
thuốc
lá).
Sự
ngăn
ngừa
này,
được
căn cứ
trên
sự sử
dụng
nhiều
thứ
thuốc,
đã đặt
ra vấn
đề
tuân
thủ
điều
trị,
không
hoàn
toàn
được
tôn
trọng
một
cách
đúng
đắn.
Và
điều
này có
thể
được
cải
thiện
bằng
cách
uống
một
viên
thuốc
duy
nhất.
Thử
nghiệm
điều
trị
này
(được
tài
trợ
bởi
Phòng
bào
chế Ấn
Độ
Cadilla
Pharmaceuticals)
đã
được
tiến
hành ở
Ấn Độ,
trong
50
trung
tâm y
tế,
trên
2.053
người
tham
dự,
tuổi
từ 45
đến
80, đã
không
bao
giờ bị
bệnh
tim
mạch,
nhưng
chỉ có
một
yếu tố
nguy
cơ
(cao
huyết
áp,
cholestérol
cao…).
THIẾU
CÁC
CÂU
TRẢ
LỜI
TINH
TẾ.
Mục
đích
là để
đánh
giá sự
dung
nạp
của
điều
trị
phối
hợp
này và
xác
định
xem
viên
thuốc
phối
hợp
này có
tác
dụng
lên
nguy
cơ tim
mạch
giống
như
mọi
loại
thuốc
được
uống
riêng
rẻ hay
không.
Thử
nghiệm
đã so
sánh
polypill
với 8
protocole
điều
trị
khác
(statine
dùng
đơn
độc,
aspirine
dùng
đơn
độc,
bêta-bloquant
dùng
đơn
đọc)
trên
huyết
áp,
trên
nồng
độ
cholestérol
hay
trên
nhịp
tim.
Viên
thuốc
chứa
những
liều
lượng
thấp
của 3
loại
thuốc
chống
cao
huyết
áp
(12,5
mg
thiazide,
50 mg
atenolol
và 5mg
ramipril)
cũng
như 20
mg
simvastatin
(một
thuốc
kháng
cholesterol),
và 100
mg
aspirine
(với
tác
dụng
kháng
đông).
Các
kết
quả đã
cho
thấy
nồng
độ
cholestérol
giảm
với
mức độ
quan
trọng
nơi
những
người
được
điều
trị
bởi
polypill
cũng
như
nơi
những
người
chỉ
dùng
statine
đơn
độc.
Cũng
như
thế
đối
với
huyết
áp khi
dùng
các
thuốc
chống
cao áp
đơn
độc.
Tính
chất
lưu
thông
của
máu
được
cải
thiện
bởi
polypill
giống
như
với
aspirine
dùng
riêng
rẻ.
Các
tác
dụng
phụ
của
polypill
cũng
giống
với
các
tác
dụng
gây
nên
bởi
mỗi
thành
phần
được
dùng
riêng
rẻ. “
Chúng
tôi
ước
đoán
rằng
polypill
có lẽ
có khả
năng
làm
giảm
60%
các
bệnh
tim và
50%
các
đột
qụy,
B.S
Salim
Yusuf,
thuộc
Population
Health
Research
Institute
của
Université
McMaster
(Canada)
đã
đánh
giá
như
vậy. Ý
tưởng
những
người
có thể
chỉ
uống
một
viên
thuốc
để làm
giảm
nhiều
nguy
cơ tim
có thể
cách
mạng
hóa sự
ngăn
ngừa
các
bệnh
tim
mạch ”
.
Hiện
nay,
thử
nghiệm
lâm
sàng
đã chỉ
đánh
giá sự
cải
thiện
các
hằng
số
sinh
học
với
điều
trị
phối
hợp
này.
Bây
giờ
cần
phải
tiến
hành
những
điều
tra
quy mô
lớn để
đánh
giá
tác
dụng
lên tỷ
lệ mắc
bệnh
và
trên
tỷ lệ
tử
vong.
Trong
những
nước
giàu
có,
những
viên
thuốc
như
thế có
thể
đơn
giản
hóa sự
phòng
ngừa.
“ Khái
niệm
này
không
phải
là
không
hấp
dẫn,
G.S
Nicolas
Danchin
thuộc
bệnh
viện
Georges-Pompidou
khẳng
định
như
thế.
Vấn đề
là còn
phải
chứng
tỏ
rằng
thuốc
không
có các
tác
dụng
phụ
lúc
dùng
lâu
dài và
rằng
điều
đó cho
phép
cải
thiện
sự
tuân
thủ
điều
trị.”
Việc
phòng
ngừa
là một
chương
trình
dài
hạn. “
Vấn đề
của
viên
thuốc
phối
hợp
này,
đó là
nó
không
đáp
ứng
một
cách
tinh
tế
những
vấn đề
chính
xác
của
mỗi
người,
B.S
Yves
Benacin
(thầy
thuốc
chuyên
khoa
tim,
Paris)
đã
giải
thích
như
vậy.
Nhưng
có lẽ
đó là
một
giải
pháp
cho
những
người
có
nguy
cơ
không
tuân
thủ
điều
trị
một
cách
đều
đặn,
và dĩ
nhiên
đó là
một
giải
pháp
cho
các
nước
đang
phát
triển.
”
Tuy
nhiên
đừng
quên
rằng
một
chế độ
ăn
uống
lành
mạnh
và tập
thể
dục
đều
đặn 5
lần
mỗi
tuần,
làm
giảm
một
cách
không
chối
cải
được
cholestérol,
huyết
áp,
đường
huyết
và
tăng
sức
cho
trái
tim.
( LE
FIGARO
1/4/2009)
===
CHỨNG
BÉO
PHÌ,
TÌNH
DỤC VÀ
KHẢ
NĂNG
SINH
SẢN
Trong
một
công
trình
nghiên
cứu,
được
thực
hiện
nơi 64
người
đàn
ông
béo
phì,
một
nhóm
nghiên
cứu
Hoa
Kỳ,
vừa
cho
thấy
rằng
khi sự
gia
tăng
thể
trọng
(surcharge
pondérale)
càng
quan
trọng,
thì
tình
dục và
nồng
độ
testostérone
càng
giảm
nhiều.
Trong
một
công
trình
nghiên
cứu
khác,
được
thực
hiện
nơi 94
phụ nữ
béo
phì,
các
nhà
nghiên
cứu Úc
đã xác
lập
cùng
loại
tương
quan
giữa
thể
trọng
và khả
năng
sinh
sản
của
phụ
nữ.
Những
nồng
độ
lipide
cao
làm
biến
đổi
chuyển
hóa
mỏng
manh
của
buồng
trứng.
Về
những
rối
loạn
hoạt
động
sinh
dục và
dục
tính
nơi
đàn
ông,
chúng
rõ
ràng
được
cải
thiện
sau
khi
điều
trị
ngoại
khoa :
vòng
dạ dày
(anneau
gastrique)
hay
chuyển
đạo
tiêu
hóa
(dérivation
digestive).
(PARIS
MATCH
2/4-8/4/2009)
===
CAO
HUYẾT
ÁP :
ALISKIREN
DÙNG
CHO
NHỮNG
TRƯỜNG
HỢP
CAO
HUYẾT
ÁP ĐỀ
KHÁNG
VỚI
THUỐC
G.S
Xavier
Girend,
thầy
thuốc
chuyên
khoa
tim
của
Hôpital
de la
Pitié-Salpêtrière,
giải
thích
tác
dụng
của
một
thuốc
chống
cao áp
mới sẽ
được
thương
mãi
hóa ở
Pháp
trong
vài
tháng
tới.
Hỏi :
Ông có
thể
nhắc
lại
cho
chúng
tôi
những
đặc
điểm
của
căn
bệnh
thường
xảy ra
này :
bệnh
cao
huyết
áp ?
G.S
Xavier
Girend
: Đó
là một
sự
hoat
động
kém
của
các
động
mạch,
do đó
có
thuật
ngữ “
cao
huyết
áp ”
(hypertension
artérielle).
Những
huyết
quản
này,
đã mất
đi
tính
mềm
dẻo,
nên có
nhiều
khó
khăn
hơn để
mở ra.
Hậu
quả
là,
tim
phải
hoạt
động
nhiều
hơn để
gia
tăng
áp lực
trong
các
động
mạch.
Cơ thể
thich
nghi
dần,
nhưng
với
cái
giá là
sự mỏi
mệt
quá
mức
của cơ
tim và
của
các
huyết
quản,
sẽ “
hao
mòn ”
đi
nhanh
hơn.
Và khi
các
thành
động
mạch
hao
mòn,
chúng
sẽ dày
lên.
Sau
vài
năm
không
điều
trị,
một
lúc
nào
đó,
các
động
mạch
bị bít
lại.
Đó là
lúc
rất
nguy
kịch
bởi vì
là
nguồn
gốc
của
một
cơn
cấp
tính :
nhồi
máu cơ
tim,
tai
biến
mạch
máu
não
hay
suy
thận..
Hỏi :
Có
những
yếu tố
làm dễ
không
?
G.S
Xavier
Girerd
:
Chúng
ta
biết
có 3
yếu tố
chính.
1. Có
một
thành
viên
trong
gia
đình
bị cao
huyết
áp
trước
50
tuổi.
2. Sự
lão
hóa
của
các
động
mạch :
70%
các
người
bị cáo
huyết
áp hơn
60
tuổi,
được
làm
gia
tăng
với
thuốc
lá,
thặng
dư
cholestérol
xấu và
đái
đường.
3.
Chứng
béo
phì
bụng
(obésité
abdominale)
Hỏi :
Làm
sao
một
stress
có thể
làm
huyết
áp lên
cao
trong
chốc
lát,
làm
sao có
được
một
chẩn
đoán
rất
chính
xác ?
G.S
Xavier
Girerd
: Ngày
nay
chúng
ta có
những
kỹ
thuật
rất có
hiệu
năng.
Như là
chúng
ta có
thể
phó
thác
cho
bệnh
nhân
một
chiếc
máy
nhỏ
gồm
một
băng
tay
(brassard),
được
nối
với
một
chiếc
hộp
(boitier)
được
đặt
trên
một
cái
bàn.
Huyết
áp
phải
được
đo và
ghi 3
ngày
liên
tiếp
và vào
những
lúc
chính
xác :
đo ba
lần
buổi
sáng
và ba
lần
buổi
chiều.
Chính
vào
lúc có
được
toàn
bộ các
con số
này,
chúng
ta mới
có thể
thật
sự xác
lập
một
chẩn
đoán
cao
huyết
áp
thường
trực
(hypertension
permanente).
Phải
biết
rằng
sau 60
tuổi,
ta
thường
có
những
đỉnh
cao
cao
huyết
áp do
stress,
mặc
dầu
không
có
bệnh
động
mạch.
Hỏi :
Ngày
nay,
điều
trị cổ
điển
của
cao
huyết
áp là
gì ?
G.S
Xavier
Girerd
: Cách
nay 50
năm,
những
thuốc
đầu
tiên
đã
được
chế
tạo
nhằm
mang
lại
cho
các
động
mạch
một sự
mềm
dẻo
nào
đó. Từ
đó,
trung
bình
cứ mỗi
10
năm,
người
ta
thấy
xuất
hiện
những
họ
thuốc
mới
bởi vì
những
thuốc
chống
cao áp
này
không
tác
dụng
nơi
tất cả
các
bệnh
nhân.
Vậy
cần
phải
có một
thang
khá
rộng
các
điều
trị.
Hiện
nay,
60%
những
bệnh
nhân
cao
huyết
áp
nhận
một
liệu
pháp
gồm
hai
thứ
thuốc
(bithérapie).
Hỏi :
Với
những
thuốc
được
sử
dụng
hiện
nay,
tỷ lệ
bệnh
nhân
mà ông
điều
trị có
hiệu
quả là
gì ?
G.S
Xavier
Girerd
: 50%
nhưng,
cách
nay 10
năm,
chỉ
35%
mới
hưởng
được
một sự
cải
thiện
thật
sự.
Hỏi :
Do đó,
ở Pháp
cần
một
loại
thuốc
mới.
Tác
dụng
của
loại
thuốc
này là
gì ?
G.S
Xavier
Girerd
: Đó
là một
loại
dược
lý
được
gọi là
“ chất
ức chế
trực
tiếp
rénine
”
(inhibiteur
direct
de la
rénine),
nhằm
vào
một
quá
trình
sinh
học
đặc
hiệu,
nguồn
gốc
của
huyết
áp (cơ
chế
quá
phức
tạp để
được
trình
bày ở
đây).
Chất
thuốc
mới
này,
aliskiren,
ức chế
tác
dụng
của
rénine,
một
chất
tham
gia
vào
một
chuỗi
các
biến
cố
sinh
học
làm
giảm
sự mềm
dẻo
của
các
động
mạch.
Thuốc
được
uống
một
lần
duy
nhất
mỗi
ngày,
nhưng
tác
dụng
của nó
kéo
dài
hơn
một
ngày.
Trong
vài
trường
hợp,
thuốc
này có
thể
được
thêm
vào
cho
một
điều
trị
không
đủ
hiệu
quả.
Hỏi :
Thời
gian
nhìn
lại
với
loại
thuốc
mới
này là
gì ?
G.S
Xavier
Girerd
:
Aliskiren
đã
được
nghiên
cứu
rất
tốt
trên
10.000
người
ở Hoa
Kỳ và
châu
Âu.
Những
kết
quả
rất
tốt
thu
được
về độ
dung
nạp và
tính
hiệu
quả đã
cho
phép
thương
mãi
hóa
thuốc
này ở
Hoa Kỳ
cách
nay 18
tháng.
Hôm
nay
hơn
200.000
người
Mỹ đã
sử
dụng
thuốc
này !
Và đối
với
một số
lớn
những
người
dùng
Aliskiren,
chất
ức chế
rénine
này đã
tác
dụng
hiệu
quả
hơn
những
thuốc
đã
được
thương
mãi
hóa.
Hỏi :
Khi
nào
thì
Aliskiren
sẽ
được
lưu
hành ở
Pháp ?
G.S
Xavier
Girerd
:
Chẳng
bao
lâu
nữa,
vào
tháng
9 năm
2009.
(
PARIS
MATCH
26/3-1/4/2009)
===
THỂ
THAO
CÓ LỢI
CHO
TUỔI
THỌ
Một
công
trình
nghiên
cứu
của
Thụy
Điển
đã
theo
dõi,
trong
hơn 35
năm,
2.505
người
đàn
ông 50
tuổi
vào
lúc
bắt
đầu
công
trình
thử
nghiệm,
giữa
năm
1970
và
1973.
Những
người
tham
gia đã
được
thăm
khám
lại
với
một
bilan
tổng
quát
và một
bảng
câu
hỏi
chi
tiết
vào
các
năm 60
, 70,
77 và
82
tuổi.
Những
kết
quả
cho
thấy
rằng
tỷ lệ
tử
vong
trung
bình
10%
thấp
hơn
nơi
những
người
có
hoạt
động
thể
thao
cao
nhất,
so với
những
người
có
hoạt
động
thể
thao
thấp
nhất.
(
PARIS
MATCH
26/3-1/4/2009)
===
CÁC
THUỐC
CHỐNG
CAO ÁP
CÓ THỂ
THAM
GIA
VÀO
CUỘC
ĐẤU
TRANH
CHỐNG
LẠI
BỆNH
ALZHEIMER
Các
chỉ
dấu
càng
ngày
càng
hội
tụ:
các
thuốc
chống
cao áp
cho
phép
giới
hạn số
bệnh
nhân
bị
bệnh
Alzheimer,
và
điều
đó,
dầu
cho
loại
thuốc
chống
cao áp
thuộc
loại
nào.
Hai
công
trình
nghiên
cứu
được
công
bố
trong
tạp
chí
Neurology
dầu
sao
cũng
ủng hộ
giả
thuyết
này,
mà các
cơ chế
vẫn
còn mù
mờ.
Từ
nhiều
năm
qua
các lý
lẽ hợp
lại để
ủng hộ
cho ý
tưởng
cho
rằng
các
thuốc
chống
cao áp
sẽ có
một
tác
dụng
kềm
hãm
lên sự
phát
triển
của
bệnh
Alzheimer.
Vào
tháng
10 năm
qua,
các
tác
giả
của
bệnh
viện
Broca
(Paris)
đã
quan
sát
thấy
một sự
ít suy
đồi
hơn
của
các
chức
năng
nhận
thức
(được
đánh
giá
bởi
các
điểm
số
MMSE)
nơi
những
bệnh
nhân
Alzheimer
đang
được
điều
trị
chống
cao
áp.
Các
antagonistes
calciques
có cả
một
tác
dụng
bảo
vệ,
nhưng
những
kết
quả
này
cần
phải
được
xác
định
bởi
những
công
trình
nghiên
cứu so
sánh
với
placebo.
Nhóm
nghiên
cứu
Nữu
Ước
của
Hoffman
quan
tâm
đến
vấn đề
này
bằng
con
đường
cơ thể
bệnh
lý, và
chính
xác
hơn
bằng
sự
quan
sát
sau
khi
chết
những
não bộ
người.
CƠ THỂ
BỆNH
LÝ PHÙ
HỢP
Công
trình
nghiên
cứu
được
thực
hiện
trên
291 bộ
não
của
những
người
bị cao
huyết
áp hay
không,
và
được
điều
trị
hay
không
bởi
các
thuốc
chống
cao
áp.
Trên
phương
diện
cơ thể
bệnh
lý,
những
não bộ
này
hoặc
bình
thường,
hoặc
mang
những
bất
thường
điển
hình
của
bệnh
Alzheimer,
không
có
những
biến
chứng
nào
khác.
Số các
plaques
neurales
và mật
độ của
các
neurofibrilles
đã
được
đánh
giá
trong
những
vùng
của
não
bộ.
Người
ta tạo
thành
3 nhóm
:
những
người
bị cao
huyết
áp
được
điều
trị,
những
người
bị cao
huyết
áp
không
được
điều
trị,
và
những
người
có
huyết
áp
bình
thường.
Kết
quả rõ
ràng :
Những
não bộ
của
những
người
bị cao
huyết
áp
được
điều
trị có
khoảng
1/3 ít
hơn
các
plaques
neurales
và
neurofibrilles,
so với
những
não bộ
thuộc
hai
nhóm
kia.
Điều
này
làm
sáng
tỏ một
tác
dụng
khả dĩ
có lợi
của
các
thuốc
chống
cao áp
chống
lại
các
thương
tổn cơ
thể
bệnh
lý
liên
kết
với
bệnh
Alzheimer.
HIỆU
QUẢ
TÙY
THUỘC
VÀO
THỜI
GIAN
ĐIỀU
TRỊ.
Nhóm
nghiên
cứu
Hoà
Lan
của
Haag
đã
theo
dõi
trong
khoảng
12 năm
hơn
6.000
bệnh
nhân
tuổi
trung
bình
68,4,
và tìm
kiếm
mối
liên
hệ
giữa
nguy
cơ sa
sút
trí
tuệ và
thời
gian
điều
trị
cao
huyết
áp.
Các
kết
quả
không
chối
cãi
được :
việc
dùng
thuốc
chống
cao áp
đúng
là
liên
kết
với
một sự
giảm
nguy
cơ bị
sa sút
trí
tuệ,
và
chính
xác
hơn,
giảm
8% đối
với
mỗi
năm
dùng
thuốc
nơi
những
người
75
tuổi
hoặc
dưới,
và
giảm
4% nơi
những
người
trên
75
tuổi.
Nếu
việc
giải
thích
hiện
tượng
này
vẫn
chưa
được
biết
đến và
có lẽ
không
nên
nghĩ
rằng
phải
điều
trị
bệnh
Alzheimer
bằng
các
thuốc
chống
cao
áp,
dầu
sao
những
dữ
kiện
này là
một lý
lẽ bổ
sung
để đảm
bảo
việc
tuân
thủ
điều
trị
các
thuốc
chống
cao
áp.
Đọc
thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr51.htm
(TSYH
51,
bài số
3)
(
GENERALISTE
5/3/2009)
===
TRONG
ỐNG
NGHIỆM,
VITAMINE
C CÓ
MỘT
TÁC
DỤNG
CHỐNG
UNG
THƯ
Có lẽ
đây là
hồi
cuối
của
một
cuộc
luận
chiến.
Trong
những
năm
1970,
nhà
hóa
học và
người
được
giải
Nobel
Linus
Pauling
đã gán
cho
acide
ascorbique
(hay
vitamine
C)
những
tính
chất
chống
ung
thư.
Những
ý
tưởng
này đã
gây
nhiều
tranh
cãi vì
thiếu
bằng
cớ.
Thế
mà,
một
nhóm
nghiên
cứu
của
Đại
học y
khoa
Marseille
cho
thấy
rằng
vitamine
C thật
là có
những
tính
chất
chống
ung
thư. “
Công
trình
nghiên
cứu
của
chúng
tôi
dựa
vào
một
khám
phá
được
thực
hiện
cách
nay 5
năm,
Michel
Fontès
đã
giải
thích
như
vậy.
Acide
ascorbique
ức chế
sự
biểu
hiện
của
gène
có
liên
quan
trong
bệnh
Charcot-Marie-Tooth,
một
bệnh
thần
kinh
hiếm.
”. Lần
này,
các
nhà
nghiên
cứu đã
cấy
những
tế bào
da
người
với
những
nồng
độ
mạnh
vitamine
C. Và
họ đã
quan
sát
thấy
rằng
nhiều
gène
liên
hệ
trong
sự
tăng
sinh
tế
bào,
và do
đó
trong
cơ chế
phát
sinh
ung
thư,
bị ức
chế.
Còn
hơn
thế
nữa :
các
chú
chuột
bị ung
thư
được
điều
trị
với
những
nồng
độ rất
mạnh
của
acide
ascorbique
hầu
như đã
sống
sót
tất
cả,
khối u
của
chúng
thoái
lui
dần và
không
có di
căn
nào
được
tạo
thành.
“ Bây
giờ
đây
phải
dự
kiến
nhanh
chóng
các
thử
nghiệm
trên
người
”, nhà
nghiên
cứu đã
kết
luận
như
vậy.
(SCIENCE
ET VIE
4/2009)
Đọc
thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr117.htm
(TSYH
117,
bài số
10).
===
CUỘC
CHIẾN
CHỐNG
VIRUS
CÚM
VƯỢT
QUA
MỘT
BƯỚC
QUYẾT
ĐỊNH
Một
vaccin
hữu
hiệu
mặc
dầu
những
biến
đổi
theo
mùa
của
virus
và một
điều
trị
hiệu
quả
chống
lại
tất cả
các
dạng
cúm ?
Hai
thách
thức
này
đang
được
theo
đuổi
bởi
hai
công
trình
nghiên
cứu
được
thực
hiện
song
hành
bởi
hai
nhóm
nghiên
cứu
châu
Âu và
Hoa
Kỳ.
Nhóm
nghiên
cứu
châu
Âu,
với
căn cứ
ở
Laboratoire
européen
de
biologie
moléculaire
và ở
CNRS
(Grenoble),
đã
nhận
diện
một “
chìa
khóa ”
phân
tử cho
phép
virus
buộc
những
tế bào
người
bị
nhiễm
trùng
phải
chế
tạo
các
protéine
siêu
vi
trùng.
Các
nhà
sinh
học đã
thành
công
xác
định
một
cách
chính
xác
thành
phần
acide
aminé
của
chiếc
“chìa
khóa”
nằm
trên
một
enzyme
chung
cho
tất cả
các
dạng
virus
cúm
này. “
Một
loại
thuốc,
có tác
dụng
vô
hiệu
hóa
vùng
enzyme
này,
sẽ là
một
phương
tiện
rất
hiệu
quả để
ngăn
chặn
nhiễm
trùng
”, Rob
Ruigrok,
đồng
tác
giả
của
công
trình
nghiên
cứu đã
giải
thích
như
vậy.
Nhóm
nghiên
cứu
khác,
ở
Havard
(Boston),
vừa mở
đường
cho
một
vaccin
“ vạn
ứng ”
khi
khám
phá
kháng
thể
người
đầu
tiên
ngăn
cản sự
đi vào
trong
tế bào
của
các
dạng
virus
cúm
khác
nhau.
Bằng
cách
nào ?
Bằng
cách
gắn
vào
hémagglutinine,
một
trong
các
protéine
cấu
tạo
lớp vỏ
của
virus.Thế
mà,
nơi
kháng
thể
đến
gắn
vào
lại ít
chịu
các
biến
dị
(mutations).
Như
thế,
kháng
thể
này có
thể là
nguồn
gốc
của
vaccin
đầu
tiên
hiệu
quả
chống
lại
một số
lớn
virus
của
bệnh
cúm. “
Nhưng
việc
chế
tạo
một
vaccin
như
thế sẽ
cần
nhiều
năm
tháng,
Jianhua
Sui,
thuộc
Harvard
Medical
chool,
tác
giảcủa
công
trình
nghiên
cứu,
đã
phát
biểu
như
vậy.
Và mặc
dầu
kháng
thể
này
hiện
nay
nhận
biết
các
virus
của
bệnh
cúm
gia
cầm,
tuy
vậy nó
không
có khả
năng
nhận
biết
virus
liên
hệ
trong
các
bệnh
cúm
xảy ra
theo
mùa
(grippes
saisonnières).
“ Tìm
kiếm
một
kháng
thể
như
thế là
mục
tiêu
của
công
trình
sắp
đến
của
chúng
tôi ”,
Jianhua
Sui đã
kết
luận
như
vậy.
(SCIENCE
ET VIE
4/2009)
Đọc
thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr115.htm
(TSYH
115,
bài số
1)
===
NƯỚC
TIỂU
CHO
PHÉP
ĐÁNH
GIÁ
UNG
THƯ
TIỀN
LIỆT
TUYỂN
Sarcosine
càng
hiện
diện
trong
nước
tiểu
thì
ung
thư
tiền
liệt
tuyến
càng
hung
dữ.
Các
thầy
thuốc
của
đại
học
Michigan
đã
khám
phá ra
rằng
acide
aminé
này
hiện
diện
với
lượng
lớn
nơi
79%
các
bệnh
nhân
bị ung
thư di
căn,
và 42%
các
người
bệnh
được
chẩn
đoán ở
một
giai
đoạn
sớm.
Như
vậy
sarcosine
sẽ là
một
chỉ
dấu để
theo
dõi
tiến
triển
bệnh
tốt
hơn
nhiều
so với
đo
nồng
độ
trong
máu
(PSA).
(SCIENCE
ET VIE
4/2009)
Đọc
thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr117.htm
(TSYH
117,
bài số
9)
===
UNG
THƯ
TUYẾN
TIỀN
LIỆT
SỢ
LASER
16
bệnh
nhân
trên
thế
giới,
trong
đó 5
bệnh
nhân
của
vùng
Angers
(Pháp),
trong
những
tháng
vừa
qua,
đã
hưởng
được
một kỹ
thuật
có thể
cách
mạng
hóa
điều
trị
ung
thư
khu
trú
của
tuyến
tiền
liệt :
photothérapie
dynamique,
đã
được
sử
dụng
nhất
là để
chống
lại
các
ung
thư
da.
Được
phát
động
bởi
University
College
Hospital
de
Londres,
thí
nghiệm
này
được
theo
đuổi
trong
3
trung
tâm
khác ở
Toronto
(Canada),
Lille
và
Angers.
Các
kết
quả sẽ
được
biết
vào
tháng
9.
Trên
thực
tiễn,
đó là
làm
hoại
tử
khối u
ung
thư
nhờ
cắm
vào
trong
tuyến
tiền
liệt
các
sợi
quang
học
laser
(fibres
optiques
laser),
được
đưa
vào
dưới
gây mê
tổng
quát.
“ Sự
chiếu
sáng
laser
được
liên
kết
với sự
cho
bằng
đường
tĩnh
mạch
một
chất
gây
nhạy
cảm
với
ánh
sáng,
dẫn
xuất
của
chlorophylle
”, B.S
Abdel
Rahmene
Azzouri,
thầy
thuốc
chuyên
khoa
tiết
niệu
của
CHU
d’Angers
đã nói
rõ như
vậy.
Trong
vài
ngày,
tác
dụng
phối
hợp
của
cặp
laser-thuốc
gây
nhạy
cảm
ánh
sáng
này
gây
nên sự
phá
hủy
của mô
ung
thư
tiền
liệt
tuyến.
Điểm
độc
đáo :
ngay
trước
khi
tiêm,
ánh
sáng
của
phòng
mổ
được
giảm
bớt
rồi
các
sợi
quang
học
được
khởi
động
trong
20
phút,
sau đó
bệnh
nhân
vẫn
trong
tranh
tối
trang
sáng
vài
giờ. “
Lợi
ích
chính
yếu so
với
các kỹ
thuật
cổ
điển
như
ngoại
khoa,
quang
tuyến
liệu
pháp
và
curiethérapie,
dường
như là
sự thu
giảm
các
tác
dụng
phụ
như
các
rối
loạn
đường
tiểu
và
sinh
dục ”,
thầy
thuốc
chuyên
khoa
tiết
niệu
của
thành
phố
Angers
đã xác
định
như
thế.
Hiện
ông
đang
bị
tràn
ngập
bởi
các
yêu
cầu
của
bệnh
nhân
trong
khi
phương
thức
mới
này
đang
còn ở
giai
đoạn
đánh
giá.
Không
đau
đớn
lúc
thức
dậy,
cuộc
can
thiệp
diễn
ra
ngắn
ngủi
(30
phút)
và các
bệnh
nhân
có thể
về nhà
48 giờ
sau,
so với
8 ngày
sau
một
phẫu
thuật
ngoại
khoa.
Hẹn
tái
ngộ
vào
mùa
thu
đến để
phân
tích
các
kết
quả.
(SCIENCE
ET
AVENIR
4/2009)
===
ĂN
CÁ CẢI
THIỆN
THƯƠNG
SỐ
THÔNG
MINH
CỦA
CÁC
THIẾU
NIÊN
Ăn cá,
đó là
điều
tốt,
dân
gian
lưu
truyền
như
vậy.
Cá
giàu
các
chất
mỡ
không
bảo
hòa
hơn
thịt
và cá
chứa
các
oméga
3 “
sophistiqué
”, như
DHA
(acide
docosahexaénoique),
mà ta
tìm
thấy
trong
cá mỡ
(cá
ngừ,
cá hồi
hoang
dã,
sardine,
cá
trích).
Nhiều
công
trình
nghiên
cứu đã
cho
thấy
rằng
ăn cá
trong
lúc
thai
nghén
làm dễ
sự
phát
triển
trí
thông
minh
của
thai
nhi
hoặc
làm
chậm
sự suy
đồi tế
bào
thần
kinh
do
tuổi
tác.
Nhưng
một
chế độ
ăn cá
“ mạnh
” phải
chăng
cũng
có thể
có một
tác
dụng
có lợi
đối
với
người
trưởng
thành
hay
các
thiếu
niên ?
Đó là
điều
được
gợi ý
bởi
một
công
trình
nghiên
cứu
của
bệnh
viện
đại
học
Sahlgrenska
de
Goteborg
(Thụy
Điển),
được
công
bố vào
tháng
ba bởi
Acta
Paediatrica.
Các
nhà
nghiên
cứu đã
phân
tích
các
trị số
của
thương
số
thông
minh
(QI),
những
khả
năng
diễn
đạt và
định
hướng
không
gian
của
3.972
thiếu
niên
(15
tuổi)
người
Thụy
Điển,
vào
năm
2.000,
rồi 3
năm
sau
vào
lúc
trưng
binh
nhập
ngũ.
Những
thiếu
niên
15
tuổi,
ăn cá
ít
nhất
một
lần
mỗi
tuần,
trung
bình
có một
số
điểm
7% cao
hơn
lúc
làm
trắc
nghiệm
thương
số
thông
minh 3
năm
sau,
trong
khi
những
trẻ ăn
cá hơn
một
lần
mỗi
tuần
có một
điểm
số 12%
cao
hơn
mức
trung
bình.
“ Có
một
mối
tương
quan
rõ
ràng
giữa
sự
tiêu
thụ
đều
đặn cá
vào
lúc 15
tuổi
và
những
khả
năng
trí
tuệ
tốt
hơn
vào
năm 18
tuổi
”,
giáo
sư
Kjell
Toren,
đồng
tác
giả
công
trình
điều
tra đã
giải
thích
như
vậy.
Về mặt
các
khả
năng
diễn
đạt,
các
thiếu
niên
18
tuổi
ăn cá
một
lần
mỗi
tuần
vào
năm 15
tuổi
có các
kết
quả 4%
tốt
hơn,
và 9%
tốt
hơn
khi
chúng
ăn cá
hơn
một
lần
mỗi
tuần.Về
khả
năng
nhận
thức
không
gian,
các
con số
lần
lượt
là 7%
và
11%.
Công
trình
nghiên
cứu
cho
thấy
rằng
hiệu
quả
này
được
quan
sát ,
dầu
cho
các
biến
số ảnh
hưởng
lên
các số
điểm
này
như
thế
nào đi
nữa,
như
trình
độ
giáo
dục
của bố
mẹ, sự
sung
túc
hay...
thể
trọng
của
chúng.
(LE
SOIR
11/3/2009)
Bác sĩ
Nguyễn
Văn
Thịnh
=======
<<Bấm trở về mục lục Khoa học kỹ thuật và Đời sống>> |
|