|
BỆNH ĐÁI
ĐƯỜNG VÀ RĂNG MỌC SỚM
Hiện tượng răng mọc chậm nơi trẻ em
được biết rõ hơn là răng mọc sớm .
Theo những kết quả của một công cuộc
điều tra quy tụ 700 trẻ từ 6 đến 18
tuổi, hiện tượng răng mọc sớm thường
xảy ra hơn nơi các bệnh nhân đái đường
trẻ tuổi, so với những trẻ không bị
đái đường. Chính giữa 10 và 14 tuổi,
tốc độ mọc răng dường như gia tốc
trong trường hợp đái đường. Những yếu
tố đồng thời tại chỗ (lợi răng) và
tổng quát (nội tiết và chuyển hóa)
giải thích hiện tượng này. Sự mọc răng
được thực hiện với những tốc độ thay
đổi tùy theo mỗi người.
( SCIENCES ET AVENIR 9/2008)
===
“VỊ VUA CỦA NỀN Y HỌC TRUNG HOA”
Trong thời kỳ tương đương với thời kỳ
trung cổ ở Tây Âu, nền y học Trung Hoa
đã trải qua một giai đoạn tương đối
trì trệ, tuy nhiên được đánh dấu bởi
vài thầy thuốc xuất sắc, đứng đầu là
Sun Simiao, “ vị vua của nền y học ”
Với các thầy thuốc như Zhang Zhongjing
và Hua Tuo, triều đại nhà Hán là một
thời kỳ rạng rỡ đối với sự phát triển
của nền y học Trung Hoa, được mở đầu
bởi Bian Que vài thế kỷ trước đó. Vào
cùng thời kỳ, dưới những chân trời
khác, kết quả của tình cờ hay do sự
giao cảm huyền bí, các thầy thuốc Hy
Lạp và La Mã đã đặt những mốc quan
trọng trên con đường của nền y học Tây
phương hiện đại. Sau khi Đế quốc La mã
sụp đổ, nghệ thuật điều trị ở Tây
phương trải qua một giai đoạn ít đổi
mới ; trong suốt thời kỳ tương ứng với
thời kỳ Trung Cổ của Tây Phương, nền y
học Trung Hoa cũng đã sống những thời
kỳ đã không ghi dấu ấn vào trí nhớ,
mặc dầu không phải là không có những
tiến bộ.
NGÀN TIỀN VÀNG
Ảnh hưởng của Phật giáo lên y học (kể
cả lên những thầy thuốc Lão giáo),
trong suốt thời kỳ này, là một dữ kiện
mà chúng ta không thể không biết đến.
Các tác phẩm Phật giáo Trung hoa và
Tây tạng trình bày chi tiết những
phương pháp trị liệu bằng thuốc và thể
dục, đã đặc biệt ảnh hưởng nhiều lên
Sun Simiao (581-682), chắc chắn là một
trong những thầy thuốc Lão giáo lớn
nhất của thời kỳ này, về mặt góp phần
cho nền y học Trung Hoa và về những
điều trị mang lại cho những bệnh nhân.
Chúng ta biết hai tác phẩm do ông
viết, Qian Jin Yao Fang ( “ Những đơn
thuốc đáng giá ngàn vàng ” ) và “ Qian
Jin Yi Fang ” (“ Những đơn thuốc phụ
đáng giá ngàn vàng ”). Cả hai tác phẩm
này, như tên sách chỉ rõ, chứa chủ yếu
những phương thuốc nhằm điều trị các
bệnh lý khác nhau. Trong những tác
phẩm của mình, Sun Simiao phân biệt
những bệnh tổng quát và những bệnh đặc
hiệu cho trẻ em và phụ nữ.
LỜI THỀ HIPPOCRATE TRUNG HOA
Bản văn có lẽ đáng chú ý nhất của “ Vị
vua của nền y học ” là một bản thảo
trong đó ông ta nêu lên sự lương thiện
tuyệt đối của người thầy thuốc lớn,
một bản văn mà đôi khi người ta gọi là
“ lời thề của Hippocrate Trung Hoa ”.
“ Một thầy thuốc lớn không được bận
tâm đến cương vị xã hội, sự giàu sang
và tuổi tác. Người thầy thuốc này cũng
không được lo âu muốn biết một người
là đẹp hay xấu, bạn hay thù, người Hoa
hay người nước ngoài, có học hay vô
học. Người thầy thuốc phải điều trị
tất cả các bệnh nhân cùng một cách như
nhau, và luôn luôn hành động như thể
các bệnh nhân là bà con ruột thịt của
mình,” đoạn văn quan trọng nhất đã xác
định như thế.
(LE GENERALISTE 7/8/2008)
====
CÀ PHÊ VÀ SỨC
KHỎE TIM MẠCH
Có rất nhiều thành kiến về cà phê lên
sức khỏe tim mạch. Phải chăng những
thành kiến này có căn cứ ? Để làm sáng
tỏ vấn đề, Giáo sư Christian Brohet,
thầy thuốc chuyên khoa tim thuộc các
Bệnh viện đại học Saint-Luc của UCL sẽ
trình bày những kinh nghiệm cá nhân về
vấn đề này.
Hỏi : Giáo sư Brohet, trong kinh
nghiệm lâm sàng của ông, cà phê có làm
biến đổi chức năng tim và mạch máu hay
không ?
Giáo sư Brohet : Tôi đã không bao giờ
chứng thực một điều như vậy trong công
tác của tôi.Trong quá khứ, người ta sợ
rằng một sự tiêu thụ quan trọng cà phê
dẫn đến loạn nhip tim hay làm dễ một
loạn năng tâm thất trái hay làm gia
trọng một suy tim. Ngày nay sự việc rõ
ràng : không phải là như vậy. Cà phê
không phải là một yếu tố nguy cơ như
nghiện thuốc lá hay uống rượu. Nó cũng
không làm gia trọng những yếu tố nguy
cơ tim mạch được biết đến khác. Một
công trình nghiên cứu về suy tim đã
chứng tỏ rằng tiêm tĩnh mạch caféine
(4mg/kg) cải thiện sự chịu đựng của
các bệnh nhân đối với gắng sức. Một
công trình nghiên cứu khác đã gợi ý sự
trở nặng của suy tim trong trường hợp
tiêu thụ cà phê quá nhiều, nhưng
nghiên cứu này hoàn toàn riêng lẻ và
chúng ta đã không bao giờ tìm thấy
điều xác nhận trong những công trình
khác. Trong tài liệu y học cũng không
có những dữ kiện cho phép cho rằng có
một tác dụng âm tính lên chức năng
mạch máu. Nếu là một tác dụng lên các
động mạch ngoại biên, thì đó đúng hơn
là tác dụng giãn mạch, điều này có thể
là một điều tốt nơi bệnh nhân bị xơ mỡ
động mạch.
Hỏi : Phải hiểu như thế nào là tiêu
thụ quá nhiều cà phê ?
Giáo sư Brohet : Điều này tùy theo mỗi
cá nhân bởi vì nhiều yếu tố có thể ảnh
hưởng lên chuyển hóa của các thành
phần của cà phê. Chỉ số khối lượng cơ
thể (BMI : body mass index) có thể là
một trong những yếu tố này. Những đặc
điểm chuyển hóa của mỗi cá thể (ví dụ
chuyển hóa chậm hoặc nhanh), chức năng
gan, sự nhạy cảm của mỗi cá nhân, v..v
cũng có tính chất quyết định.Người ta
thường khuyên không nên uống quá 4-5
tách cà phê mỗi ngày. Lại nữa, điều
này phụ thuộc vào cách mà cà phê được
pha chế. Đối với cà phê “ américain ”,
chúng ta có thể uống nhiều hơn nhưng
đối với “ expresso ”, tốt hơn là đừng
uống đến 5 tách mỗi ngày, mặc dầu sự
vượt quá này không hẳn đã là tai
họa.Tư tưởng chủ đạo là tránh vượt quá
một cách có hệ thống những liều lượng
caféine khoảng 400-500 mg/ngày.
Hỏi : Cần khuyên gì nơi người bình
thường và bệnh nhân bị bệnh tim có sự
tiêu thụ quan trọng cà phê ?
Giáo sư Brohet : Cái sợ của người dân
là cái sợ bị hồi hộp. Thật vậy, người
ta ghi nhận một sự tăng nhẹ nhịp xoang
trong trường hợp trên 5 tách mỗi ngày.
Nhưng, xin nhắc lại, không có nguy cơ
loạn nhịp, rung nhĩ, cũng không có
ngoại tâm thu nhĩ hay thất. Và những
loạn nhịp đã có trước không bị biến
đổi bởi cà phê.
Công chúng cũng sợ những vấn đề mất
ngủ. Đúng là cà phê tăng cường sự chăm
chú. Nhưng điều đó có lợi trong vài
trường hợp. Ngoài những trường hợp này
ra, cần quản lý lượng cà phê và lúc
tiêu thụ .
Hỏi : Nơi những người cao huyết áp và
đái đường thì sao ?
Giáo sư Brohet : Người ta cũng chứng
thực một sự tăng cao nhẹ và tức thời
của huyết áp trong trường hợp tiêu thụ
quan trọng cà phê. Nhưng về lâu về dài
thì đúng hơn là một sự giảm huyết áp
xảy ra. Trái lại, đúng hơn, chính sự
tiêu thụ rượu và nhất là muối mà chúng
ta sẽ khuyên người cao huyết áp nên
thận trọng.
Về bệnh đái đường, người ta đã ghi
nhận một sự liên kết nghịch giữa việc
tiêu thụ đều đặn cà phê và nguy cơ bị
bệnh đái đường. Vậy chính đó mà cà phê
sẽ có một tác dụng thuận lợi.
(LE MAGAZINE DES GLEMS 4/2008)
===
CÁC CƠN GIÔNG
VÀ NHỮNG NGƯỜI BỊ HEN PHẾ QUẢN
Chúng ta đã biết rằng mùa xuân và mùa
của các phấn hoa là có hại cho những
người bị hen phế quản. Nhưng mùa hè,
cũng không tốt gì hơn, nhất là lúc
trời lên cơn giông. Nếu bạn bị bệnh
hen phế quản, thế thì tốt hơn bạn nên
ở nhà. Một công trình nghiên cứu được
thực hiện trong 10 năm, trên 41 bệnh
viện của vùng Atlanta (Hoa Kỳ), chứng
tỏ rằng những trường hợp nhập viện vì
các cơn hen phế quản gia tăng 3% trong
những ngày sau một cơn giông. Lời giải
thích ? Theo các tác giả của công
trình nghiên cứu được công bố trong
tạp chí Thorax, sự dữ dội của các cơn
mưa và của gió sẽ gây vỡ các hạt phấn
hoa. Những hạt này sẽ rải ra trong
không khí những chất gây dị ứng cao
bởi vì những hạt bị vỡ có kích thước
nhỏ hơn và do đó có thể đi vào sâu
trong phổi. Ngoài ra các dị ứng nguyên
(allergène) sẽ được phân tán rộng rãi
bởi các cơn gió mạnh, thường nổi lên
trong những giờ đầu sau cơn giông.
Hiện tượng này đã được quan sát ở
Birmingham, Londres, Melbourne,
Naples, nhưng ở Pháp thì không ( vì
chưa có một công trình nghiên cứu nào
đã được thực hiện)
( SCIENCES ET AVENIR 9/2008)
====
CÁC NHÂN VẬT NỔI TIẾNG VÀ BỆNH
ADDISON
Văn sĩ người Anh Jane Austen (1775-
1817) , tác giả của các tác phẩm nổi
tiếng “ Raison et Sentiments ” và “
Orgueil et Préjugés ”, đã là đối tượng
của nhiều phim ci-nê, có lẽ đã bị bệnh
Addison ; bệnh này có lẽ đã đưa đến
cái chết của bà vào năm 41 tuổi. Căn
bệnh này chưa được nhận biết vào thời
kỳ đó, chẩn đoán chỉ được thực hiện về
sau từ bối cảnh lâm sàng do nhà văn mô
tả, đặc biệt là về màu da. Nhân vật
nổi tiếng nhất đã bị bệnh Addison vẫn
là tổng thống Hoa Kỳ John Fitzgerald
Kennedy (1917-1963). Căn bệnh Addison
của Kennedy dường như đã được chẩn
đoán vào lúc ông lưu trú ở Luân Đôn
năm 1947. Mặc dầu bề ngoài có vẻ mạnh
khỏe, một phần nhờ sắc da rám nắng (vì
bệnh Addison mà phải phơi nắng !)
nhưng thật ra JFK có một sức khỏe yếu
ớt hơn. Ông đã bị nhiều cơn nhiễm
trùng, đường hô hấp và đường tiết niệu
, cần sử dụng nhiều loại kháng sinh
khác nhau. Ông bị đau lưng và phải
chịu nhiều phẫu thuật ở cột sống không
mang lại thành công cho lắm.
Cột sống
của ông ở trong tình trạng xấu, ít
nhất một phần, là do chứng loãng
xương, sau khi điều trị thay thế bởi
các corticoides. Ông cũng được chích
đều đặn procaine để trị các cơn đau
lưng, để có thể đảm bảo những công
việc mà chức vụ tổng thống của ông đòi
hỏi. Từ lúc tuổi ấu thơ, ông đã bị
nhiều cơn ỉa chảy ( viêm đại tràng) và
ông đã dùng élixir parégorique để điều
trị. Các thầy thuốc đã điều trị ông
bằng các hormone tuyến giáp, các chất
làm giãn cơ, các stéroides
(testostérone), các barbituriques. Để
điều chỉnh một vài tác dụng của cái
coctail giết người này, ông đã sử dụng
amphétamines.Trong quân đội, mà JFK là
tổng tư lệnh với tư cách tổng thống
Hoa Kỳ, mọi sĩ quan, dầu chỉ sử dụng
một phần của một chế độ thuốc men như
thế, đều bị cách chức ngay tức khắc.
BS Kelman, người đã có thể tiếp cận
với hồ sơ bệnh án của JFK, ước tính
rằng trong nhiệm kỳ của ông, Kennedy
đã uống mỗi ngày từ 10 đến 12 loại
thuốc, tuy nhiên vị thầy thuốc này xác
nhận rằng điều này dường như đã không
ảnh hưởng ông trong lúc thi hành nhiệm
vụ.
Người thầy thuốc này nói đến cái tính
chất anh hùng của tổng thống, khi xét
đến cái phương cách mà Kennedy đã đảm
bảo những bổn phận do chức vụ ông đòi
hỏi, và điều này mặc dầu tất cả những
nỗi “ khốn cùng ” mà ông đã phải chịu
đựng.
( LE GENERALISTE 4/9/2008)
===
KHÔNG CÓ
VITAMINE D, TỶ LỆ TỬ VONG LEO THANG
Những nhà nghiên cứu của đại học y
khoa Johns Hopkins đã phân tích một
nhóm mẫu 13.000 người đàn ông và phụ
nữ có sức khoẻ tốt. Trong số 1.800
người tham dự và chết vào ngày
31/12/2000, có gần 700 người là do hậu
quả của bệnh tim mạch, còn 400 người
thì do bị thiếu vitamine D, hoặc một
nguy cơ tử vong 26% cao hơn.
Số trường hợp tử vong do một nhồi máu
cơ tim không đủ cao để có thể thiết
lập một cách khoa học một mối liên hệ
nhân quả, các tác giả đã giải thích
như vậy trong công trình được công bố
trong Archives of Internel Medicine số
11/8. Những công trình nghiên cứu này
chỉ rõ một mối liên hệ giữa các nồng
độ vitamine D thấp trong máu và sự gia
tăng ung thư vú cũng như chứng trầm
cảm nơi các người già. Một nghiên cứu
khác đã xác lập mối liên hệ khả dĩ với
một sự gia tăng 80% nguy cơ bệnh động
mạch. Một nghiên cứu của Áo thực hiện
trên 3.258 bệnh nhân 62 tuổi đã được
công bố cuối tháng 6 trong Jama và
tiết lộ rằng những người có nồng độ
vitamine D thấp nhất có nguy cơ tử
vong hai lần cao hơn những người với
nồng độ cao nhất.
Theo các tác giả, ít nhất một nửa
những người trưởng thành trên 50 tuổi
trên thế giới có một nồng độ vitamine
D thấp trong máu và vấn đề này cũng
ảnh hưởng một bộ phận quan trọng của
những người trẻ tuổi hơn. Sự giảm các
hoạt động bên ngoài, sự ô nhiễm và sự
lão hóa là những lý do khả dĩ giải
thích sự thiếu hụt này. Nguồn chủ yếu
của vitamine là một sự tiếp xúc với
ánh sáng mặt trời 10-15 phút mỗi ngày.
Những nguồn thực phẩm là các loại cá
béo (cá hồi, cá ngừ, hareng...)
Viện y học Hoa Kỳ khuyến nghị 200 đơn
vị vitamine D mỗi ngày cho các người
trẻ và những người lớn cho đến tuổi
50.Trên lứa tuổi này, Viện khuyên
400-600 đơn vị mỗi ngày.Nhưng những
khuyến nghị này đang là đối tượng của
những tranh cãi trong thế giới khoa
học.
( LE SOIR 13/8/2008)
===
VITAMINE D VÀ
GÃY XƯƠNG HÁNG
Các phụ nữ mà nồng độ vitamine D trong
máu cao có ít nguy cơ bị gãy xương
háng hơn. Điều chứng nhận này ủng hộ ý
nghĩ cho rằng dùng bổ sung vitamine D
là một cách đơn giản và ít tốn kém để
ngăn ngừa những gãy xương háng,
J.Cauley (Hoa Kỳ) đã đánh giá như vậy.
Mối liên hệ giữa sự thiếu hụt vitamine
D và nguy cơ gãy xương háng có vẻ càng
ngày càng rõ rệt. Vitamine D có thể
bảo vệ chống lại các gãy xương bằng
nhiều cách khác nhau : không những bởi
vì vitamine D làm mạnh xương, mà còn
bởi vì cải thiện sự cân bằng và sức
mạnh của cơ, điều này có thể giúp ngăn
ngừa té ngã. Các nhà nghiên cứu đã
khảo sát mối liên hệ giữa các nồng độ
vitamine D trong máu và nguy cơ gãy
xương bằng cách so sánh 400 phụ nữ bị
gãy xương háng với 400 phụ nữ đã không
bao giờ bị vấn đề này. Các phụ nữ này
đã tham gia vào Women’s Health
Initiative Observational Study, trong
thời kỳ mãn kinh và không dùng
oestrogène, cũng như những thuốc ảnh
hưởng lên sự cấu tạo xương. Nồng độ
trung bình của vitamine D thấp hơn
nhiều trong nhóm đã bị gãy xương.
( LE JOURNAL DU MEDECIN 2/9/2008)
===
STRESS QUAN TRỌNG TRONG TỬ CUNG,
YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA BỆNH TÂM THẦN PHÂN
LIỆT
Một sự căng thẳng quan trọng có thể
làm rối loạn sự phát triển của não bộ
của thai nhi và khiến cho thai nhi sau
này chịu nguy cơ mắc phải bệnh loạn
tâm thần này.
Các phụ nữ chịu một stress đặc biệt dữ
dội trong những tháng đầu của thai
nghén sẽ có nhiều nguy cơ hơn sinh ra
những đứa bé về sau sẽ trở nên tâm
thần phân liệt, theo một điều tra được
công bố mới đây trong BioMed Central
Psychiatry. “ Loại stress nơi đây
thuộc loại căng thẳng mà chúng ta chịu
đựng lúc có một tai họa thiên nhiên,
một tấn công khủng bố, một cơn bão hay
một tình trạng tang chế đột ngột ”,
tác giả chính của công trình nghiên
cứu, BS Dolores Malaspina của Khoa Tâm
Thần thuộc Đại Học Nữu Ước đã xác nhận
như vậy. Ông nói thêm : “ Một tình
trạng stress suốt trong đời sống trong
tử cung có thể ảnh hưởng lên sự phát
triển thần kinh của thai nhi, như các
công trình thí nghiệm trên động vật đã
chứng tỏ điều đó.
Nhiều giả thuyết đã được đưa ra về
nguồn gốc của chứng bệnh loạn tâm thần
bi thảm này, xảy ra vào tuổi thiếu
niên hay vào lúc khởi đầu của đời sống
trưởng thành và có nguy cơ làm rối
loạn nghiêm trọng cuộc sống của những
thanh niên bị bệnh và của gia đình họ.
Được đặc trưng bởi các ảo giác, mê
sảng, những lo âu, một sự rối loạn lời
nói và tư tưởng, căn bệnh này liên kết
với sự mất đời sống tình cảm và xúc
cảm.
Rất nhiều yếu tố đã được quy kết để
giải thích sự xuất hiện của những rối
loạn này, ảnh hưởng đến 1% dân chúng.
Đặc biệt sự di chuyển của những nơ ron
liên hệ trong chức năng của các vùng
não bộ liên tưởng (régions cérébrales
associatives) : tính chất dễ bị tổn
thương về mặt di truyền, các biến
chứng tiền và chu sinh (nhiễm trùng
bởi virus cúm trong thời kỳ thai
nghén,v...v) và những yếu tố tâm lý xã
hội.
Trong công trình nghiên cứu này,
Dolores Malaspina khảo sát những quan
sát về dân Israel trong thời kỳ chiến
tranh chớp nhoáng 6 ngày, tháng 6 năm
1967. Nhóm nghiên cứu đã xem xét các
dữ kiện y khoa của 89.000 người sinh
ra ở Jerusalem giữa năm 1964 và 1976.
CON GÁI DỄ BỊ THƯƠNG TỔN HƠN
Trong thời kỳ này, 637 trường hợp tâm
thần phân liệt đã được liệt kê, theo
sổ ghi chép nhà nước về bệnh tâm thần
của Israel. “ Vào tháng sáu năm 1967,
những đứa trẻ được sinh ra từ các phụ
nữ khi đó ở vào tháng thứ hai của thai
kỳ, đã phát triển một số lượng bệnh lý
tâm thần phân liệt lớn hơn ”. Các nhà
nghiên cứu chỉ rõ “ một cửa sổ dễ bị
thương tổn tương đối hẹp vào tháng thứ
hai của thai kỳ ”.
Đặc tính khác cần được nhấn mạnh, một
sự khác nhau rõ rệt giữa trai và gái
của tác động stress của người mẹ.
Trong chiến tranh 1967, nguy cơ phát
triển một bệnh loạn tâm thần như thế
là 4,3 đối với các thai nhi nữ (khi đó
ở vào tháng thứ hai của đời sống trong
tử cung), so với 1,2 đối với các thai
nhi nam tính.
Những kết quả này thêm vào những quan
sát khác đã nhấn mạnh về vai trò quan
trọng của một stress tiền sinh. Van Os
và Selten năm 1998 đã chứng tỏ rằng sự
xâm lăng và sự sụp đỗ phủ phàng của
nước Hoà Lan vào lúc Đức tấn công năm
1940 đã tạo những điều kiện cho một
stress cấp tính và ồ ạt lên toàn bộ
dân chúng. Với hậu quả là 20 sau, một
sự gia tăng những trường hợp tâm thần
phân liệt nơi những người mà mẹ đã bị
một sốc như thế trong lúc mang thai.
( LE FIGARO 1/9/2008)
( LE JOURNAL DU MEDECIN 2/9/2008)
===
DẦU CÁ CÓ LỢI
CHO TIM
Để điều trị các bệnh nhân bị suy tim,
một bệnh lý xảy ra khi tim phì đại
không thể đảm bảo một cách hiệu quả
vai trò bơm của mình, một bổ sung dầu
cá giàu oméga-3 có thể có hiệu quả như
một loại thuốc chống lại sự thặng dư
cholestérol, theo một công trình
nghiên cứu được công bố trong tạp chí
Lancet.
Một nhóm các nhà nghiên cứu Ý trước
hết đã cho một viên oméga-3, dẫn xuất
của dầu cá, nơi 3.500 bệnh nhân mỗi
ngày. Đối với các thầy thuốc, lợi ích
cũng giống với những bệnh nhân ăn
nhiều cá mỡ hơn, như cá hồi (saumon).
Một nhóm thứ hai bao gồm những bệnh
nhân đã nhận một placebo. Tất cả các
bệnh nhân đã được theo dõi 4 năm.
Trong nhóm dùng dầu cá, 1.981 bệnh
nhân bị chết vì suy tim hay đã được
đưa vào phòng cấp cứu vì vấn đề này.
Trong nhóm placebo, 2.053 bệnh nhân
chết vì suy tim, như vậy có một sự cải
thiện của nguy cơ là 8% đối với những
người tiêu thụ dầu cá.
Những axit béo oméga-3 phát xuất từ cá
như cá hồi (saumon) hay cá ngừ (thon)
đã chứng tỏ bằng cớ về những lợi ích
của chúng lên tim và não bộ, mặc dầu
các nhà khoa học không biết được một
cách chính xác tại sao. Một giả thuyết
là các màng tế bào, vì cấu tạo bởi mỡ,
nên các dầu cá, do mang lại oméga-3 mà
chúng chứa, có thể đổi mới các màng tế
bào và làm cho chúng chắc chắn hơn.
Trong một nghiên cứu song song, cùng
nhóm các thầy thuốc người Ý dường như
đã chứng tỏ rằng dầu cá làm giảm tốt
hơn Crestor, một loại thuốc làm giảm
nồng độ cholestérol.
( LE SOIR 2/9/2008)
( LE FIGARO 3/9/2008)
====
NÔN MỬA Ở ĐÀN BÀ CÓ THAI CÓ TÁC
DỤNG BẢO VỆ EM BÉ
Đối với 2/3 các phụ nữ, chứng nôn mửa
trong thời kỳ thai nghén thể hiện một
thích nghi đối với chế độ ăn uống rất
thay đổi, nhằm bảo vệ em bé chống lại
độc tính của các thức ăn như thịt và
vài loài thực vật. Đó là kết luận của
hai nhà nghiên cứu Hoa Kỳ sau khi phân
tích 2.000 trường hợp thai nghén trên
thế giới.
Trong số 7 xã hội có truyền thống tiêu
thụ các thực vật “ nhạt ” (ngũ cốc) và
không có thịt, rất ít phụ nữ có thai
bị nôn mửa trong thời kỳ thai nghén,
trái với các phụ nữ của các xã hội
phương Tây, tiêu thụ nhiều thịt và
thực vật có mùi vị rõ rệt. Sự hiện
diện của tất cả các men, cần thiết để
khử độc mọi hợp chất khả dĩ tấn công
phôi thai, vì không thể có trên phương
diện sinh lý, nên nôn mửa là một cách
bảo vệ có hiệu quả vào lúc khởi đầu
thai nghén, là lúc mà các cơ quan thai
nhi đang trên đà phát triển, trong khi
hệ miễn dịch của người phụ nữ bị suy
yếu.
( SCIENCE ET VIE 9/2008)
Bác sĩ Nguyễn
Văn
Thịnh |
|