Thoi-Nay - Giai Tri va Doi Song

Trang chính
Khoa học kỹ thuật và Đời sống

Mục lục

Vi tính
(hiện tại):

KHKT&DS:

Khoa học kỹ thuật và Đời sống: Phụ trách TN

Chức năng: 
1. Thông tin KHKT & Đời sống
(thiết thực, bổ túc và hướng dẫn)
2. Gạch nối giữa các thế hệ và sợi dây liên lạc của đội ngũ chuyên gia KHKT/VN (giới thiệu các tổ chức, công ty, sản phẩm, công trình nghiên cứu...)
 
BS Nguyễn Văn Thịnh:  
(last updated: 10/2007)  
   

1/ BỆNH ĐỘNG MẠCH VÀNH VÀ UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG : MỘT MỐI LIÊN HỆ CHẶT CHẼ :

Tỷ lệ mắc phải ung thư đại tràng hai lần nhiều hơn nơi các bệnh nhân bị bệnh động mạch vành. Sự liên kết này càng rõ nét hơn nơi những người có hợp chứng chuyển hóa (syndrome métabolique) và nơi những người nghiện thuốc lá.

« Dây liên hệ giữa bệnh động mạch vành và ung thư đại tràng có lẽ là một tình trạng viêm mãn tính.Thật vậy sự viêm nhiễm này đóng một vài trò trung tâm trong sự phát sinh bệnh xơ vữa động mạch ( athérosclérose) cũng như trong sự phát sinh bệnh ung thư đại tràng ». Annie On On Chan thuộc đại học Hồng Kông đã viết như vậy trong báo Jama.

Annie On On đã tuyển mộ 400 bệnh nhân đến để chụp động mạch vành (angiographie des coronaires) vừa đồng thời hỏi xem những người này có bị bệnh ung thư đại trực tràng hay không. Các bệnh nhân đã được chia thành hai nhóm : nhóm những người được chụp động mạch vành cho thấy một trong các động mạch vành quan trọng bị co khít lại ít nhất 50% (206 bệnh nhân) và nhóm những người khác (208 bệnh nhân). Sau đó những bệnh nhân này được so sánh với một nhóm kiểm chứng gồm 207 người.

Trong số những bệnh nhân bị bệnh động mạch vành, 34 % dường như mắc bệnh ung thư đại trực tràng và 18% ung thư ở giai đoạn tiến triển.Trong nhóm không bị bệnh động mạch vành, những tỷ lệ này là 18,8% và 8,7% trong khi đó trong nhóm kiểm chứng những tỷ lệ này là 20,8% và 5,8%.

Từ những con số này, những tỷ lệ mắc bệnh ung thư đại tràng là 4,4% nơi những người bị bệnh động mạch vành, 0,5% nơi những người không bị bệnh này và 1,4% nơi những người chứng. Ở những bệnh nhân bị bệnh tim có một hợp chứng chuyển hóa và/hoặc nghiện thuốc, tỷ lệ mắc bệnh ung thư đại tràng lại càng cao hơn.( LE JOURNAL DU MEDECIN 9/10/2007)



2/ NHỮNG HIỆU LỰC CỦA TỎI TRONG UNG THƯ ĐẠI TRÀNG

Một duyệt xét có hệ thống tài liệu y học có khuynh hướng chứng tỏ mối liên hệ nghịch giữa việc tiêu thụ tỏi và ung thư đại trực tràng.

Những yếu tố môi trường đóng một vai trò quan trọng trong sự tiến triển của ung thư đại trực tràng và cách ăn uống được xác định như là một trong yếu tố chủ yếu để phòng ngừa ung thư này. Một nhóm nghiên cứu người Úc đã thực hiện một duyệt xét có hệ thống các tài liệu từ mười năm qua để đánh giá hiệu quả của tỏi trên loại ung thư này. Các nhà nghiên cứu báo cáo trên Journal of Nutrition rằng một thử nghiệm có kiểm tra đã chứng tỏ rằng ở những bệnh nhân bị ung thư đại trực tràng dùng những trích chất của tỏi hóa già (ail vieilli) có sự thu giảm 29% (đáng kể về mặt thống kê) đồng thời về kích thước và số lượng u tuyến (adénome) của đại tràng. 5 trong số 8 công trình nghiên cứu gợi ý một tác dụng bảo vệ của việc tiêu thụ nhiều tỏi sống hoặc nấu chín và 2 trong 8 công trình nghiên cứu gợi ý một tác dụng bảo vệ phần dưới của đại tràng (colon distal). Một phân tích méta 7 trong các nghiên cứu này xác nhận mối liên kết nghịch này với nguy cơ mắc phải ung thưgiảm 30% . 11 công trình nghiên cứu trên động vật đã chứng tỏ một hiệu quả chống ung thư đáng kể của tỏi và (hoặc) các hợp chất hoạt tính.Vậy có những bằng cớ khoa học đồng nhất phát xuất từ những thử nghiệm nghiên cứu trên động vật, ghi nhận những hiệu quả bảo vệ của tỏi trên ung thư đại trực tràng. ( LE JOURNAL DU MEDECIN 9/10/2007)



3/ RƯỢU LÀM DỄ UNG THƯ VÚ
Một công trình nghiên cứu vừa được trình bày mới đây ở Barcelone đã chứng tỏ rằng, so sánh với những phụ nữ uống dưới một ly đồ uống có chất rượu (boisson alcoolisée) mỗi ngày, thì các bà uống một đến hai ly mỗi ngày có nguy cơ bị ung thư vú gia tăng 10%. Nếu uống trên 3 ly mỗi ngày thì nguy cơ gia tăng 30%, bất kể đó là loại rượu nào. 

Dù loại ruợu uống thuộc loại nào đi nữa (rượu vang, bia hay rượu mùi ), chính lượng tuyệt đối rượu được tiêu thụ xác định nguy cơ bị ung thư vú. Uống 3 lần hoặc hơn đồ uống có chất rượu mỗi ngày tương ứng với một nguy cơ gây nên do tiêu thụ một gói thuốc lá mỗi ngày.

Những nghiên cứu dịch tễ học đã phát hiện vai trò của rượu trong sự phát sinh ung thư vú.Tuy nhiên mãi đến ngày nay, chúng ta chỉ có ít dữ kiện về tác dụng của bản chất của đồ uống được tiêu thụ.
Công trình nghiên cứu đã chứng tỏ rằng bản chất của đồ uống có chất rượu không làm thay đổi nguy cơ phát triển ung thư vú.Trái lại các phụ nữ uống một hoặc hai ly rượu mỗi ngày sẽ làm gia tăng nguy cơ bị ung thư vú lên 10% so sánh với các phụ nữ uống dưới một ly mỗi ngày. Nguy cơ sẽ gia tăng 30% nơi những phụ nữ uống 3 ly rượu mỗi ngày.Việc gia tăng nguy cơ bị ung thư vú này có thể được so sánh với sự gia tăng nguy cơ gây nên bởi tiêu thụ một gói thuốc lá mỗi ngày hoặc hơn.Từ đó các tác giả kết luận rằng đó là một lý do nữa để khuyến khích các phụ nữ giảm hoặc ngừng tiêu thụ các đồ uống có chất ruợu.( LE JOURNAL DU MEDECIN 9/10/2007)



4/ TỶ LỆ SỐNG SÓT CỦA BỆNH UNG THƯ TĂNG CAO Ở CHÂU ÂU

Theo công trình nghiên cứu Eurocare-4, được tiến hành trong 23 nước châu Âu, tỷ lệ sống sót (taux de survie) trung bình sau 5 năm bị bệnh ung thư được cải thiện.Trong khi tỷ lệ này vẫn thấp đối với các ung thư tụy tạng và gan (10%) hay phổi (dưới 13%), thì từ nay tỷ lệ sống sót đạt được 54% đối với ung thư đại trực tràng (cancer colorectal), 76% đối với ung thư tiền liệt tuyến (cancer de la prostate) và 79% đối với ung thư vú.Tỷ lệ này vượt quá 90% đối với ung thư tinh hoàn (cancer des testicules). Na Uy,Thụy Điển và Phần Lan có những tỷ lệ sống sót cao nhất ( 57% so với tỷ lệ trung bình 52% của châu Âu). Anh, Đan Mạch và các nước Đông Âu có tỷ lệ thấp nhất.( LA RECHERCHE 10/20007)



5/ GIROLAMO FRACASTORO

Girolamo Fracastoro, người đã đặt tên bệnh giang mai là syphilis mà chúng ta biết ngày nay, sinh năm 1478 ở Vérone ( Ý) trong một gia đình gồm các thầy thuốc nổi tiếng. Ông học và tốt nghiệp y khoa ở đại học Padoue ; tại đây ông được giảng dạy bởi nhà cơ thể học nổi tiếng Pietro Pomponazzi..

Fracastoro là một tấm gương về những vĩ nhân có học thức vạn năng uyên bác, sản phẩm của thời Phục Hưng (Renaissance). Không những là người thầy thuốc được công nhận, ông còn là một nhà thơ có tài năng và là một nhạc sĩ điêu luyện. Ông cũng quan tâm không những địa lý học mà còn cả toán học hoặc thiên văn học và ngoài ra ông kết bạn và chia sẻ những tư tưởng cách mạng với Nicolas Copernic.Trên bình diện y học, ông nổi bậc bởi kiến thức về các bệnh lây nhiễm (maladies contagieuses). Chính Girolamo Fracastoro là người đầu tiên dùng thuật ngữ syphilis trong tác phẩm của ông nhan đề là Syphilis sive morbus gallicus (La Syphilis ou mal français). Trong bản văn này, người chăn cừu Syphilis, nhân vật có lẽ phỏng theo Sypilus, một trong những nhân vật của tác phẩm Métamorphoses của Ovide, đã bị mắc phải chứng bệnh này vì đã lăng mạ thần Apollon. Năm 1546, ông công bố De contagione et contagiosis morbis. Đây là tác phẩm được các thầy thuốc đương thời dùng làm sách để tham khảo về các bệnh lây nhiễm trong nhiều thế kỷ.Trong tác phẩm này ông đã mô tả một cách hết sức chính xác khoa học những trận dịch bệnh lớn vào thời đại của ông : bệnh sốt chấy rận (typhus), dịch hạch và giang mai. Ông là người đầu tiên phân biệt được 3 phương thức truyền bệnh : lây nhiễm trực tiếp do tiếp xúc, lây nhiễm gián tiếp qua trung gian các tác nhân như quần áo và lây nhiễm từ xa. ( SEMPER 10/2007)


6/ TÀI-CHI CHỐNG TÉ NGÃ

Tài Chi làm giảm đáng kể nguy cơ té ngã nơi người già. Đó là kết luận của một công trình nghiên cứu được tiến hành trên hơn 700 người già với tuổi trung bình 70. Sau 4 tháng luyện tập tài chi một giờ mỗi tuần, nguy cơ bị té ngã 30% đến 40% thấp hơn so với những người chứng ở cùng lứa tuổi ( SCIENCES ET AVENIR 10/2007)


7/ KHỎE MẠNH MẬP MẠP

Một phụ nữ người Sibérie 43 tuổi đã sinh ra đời một bé gái nặng 7,750 kg. Nadia, tên của đứa con thứ 12, được sinh bằng mổ dạ con ( césarienne) trong một nhà hộ sinh ở vùng Altai. « Tôi đã ăn tất cả. Vì chúng tôi không có đủ tiền để mua những đồ ăn đặc biệt, nên tôi đành phải ăn khoai lang, mì dẹt ( nouilles) và cà chua ». Tatiana Barabanova, bà mẹ của Nadia đã tuyên bố như vậy.Theo Guinness về các kỷ lục, một bé trai nặng 10,2kg đã được sinh ra ở Italie năm 1955 và một bé trai khác nặng 10,8 kg đã chào đời ở Hoa Kỳ năm 1879 nhưng đã không sống lâu hơn 11 giờ sau đó. ( GENERALISTE 4/10/2007)



B.S NGUYỄN VĂN THỊNH 

 

 
    Thoi Nay - Giai Tri va Doi Song

Mục lục

Nano
(hiện tại-tương lai):

Vũ trụ:

KHKT&DS:

   
 

Copyright © 2011 | TN InfoWay