|
CÓ THAI SAU
40 TUỔI : COI CHỪNG CÁC NGUY CƠ !
Sau khi mới đây một phụ nữ Pháp 50
tuổi sinh ba, BS Joelle
Balaisch-Allart, trưởng khoa Phụ Sản
của Centre Hospitalier des
Quatre-Villes, Sèves, cảnh cáo chống
lại những ước muốn có con sau 40 tuổi
Hỏi : Vì lý do gì mà càng ngày càng có
nhiều phụ nữ đợi đến 40 tuổi mới có
thai ?
B.S Joelle Belaisch-Allart : Lý do
thông thường nhất là ngày nay nhiều
phụ nữ dấn thân hết mình vào trong
việc học vấn rồi sau đó vào trong nghề
nghiệp. Có con sẽ khiến họ phải nghỉ
việc, điều này sẽ không gây mấy thiện
cảm đối với giới chủ. Lý do thứ hai mà
người ta nhận thấy càng ngày càng
nhiều, xảy ra trong những gia đình
được tạo lập lại và người vợ ước muốn
có một đứa con để thể hiện tình yêu
mới. Sau cùng, rất nhiều phụ nữ nói là
không biết rằng khả năng sinh đẻ sẽ
sụt giảm với tuổi tác và có ít phụ nữ,
mặc dầu nhận thức được sự giới hạn của
chiếc đồng hồ sinh học của họ, thú
nhận rằng, nếu họ phải đợi chờ lâu như
thế mới quyết định có thai, đó là bởi
vì các lang quân của họ chưa cảm thấy
sẵn sàng.
Hỏi : Đối với bà mẹ, những nguy cơ khi
có thai sau 40 tuổi là những nguy cơ
nào ?
BS J.B.-A : Mặc dầu một phụ nữ 40 tuổi
hình dáng bên ngoài còn trẻ trung,
nhưng các noãn bào (ovocytes) của họ
thường đã già nên không có thể sinh
sản được. Ngày nay, những bất thường
nhiễm sắc thể được tìm kiếm, bệnh đái
đường được phát hiện một cách có hệ
thống, cao huyết áp được theo dõi, các
mối hiểm nguy bị sinh non được điều
trị. Nhưng vẫn còn tồn tại những nguy
cơ : sẩy thai (khoảng 30%), mổ lấy
thai (gần 40% đối với đứa bé đầu lòng
và từ 20 đến 30% đối những trẻ khác).
Và mặc dầu nguy cơ tử vong của sản phụ
lúc sinh (chủ yếu sau khi bị băng
huyết) đã giảm nhiều, nhưng vẫn còn
gia tăng đáng kể khi có thai lúc lớn
tuổi. Thí dụ, năm 2001-2002, nơi những
phụ nữ 40-45 tuổi, người ta còn ghi
nhận 33 trường hợp tử vong đối với
100.000 sinh đẻ, và sau 45 tuổi, con
số này lên đến 215, so với 6,3 đối với
100.000 sinh đẻ ở lứa tuổi từ 30 đến
34 tuổi.
Hỏi : Những nguy cơ cho đứa trẻ là
những nguy cơ nào ?
BS J.B.-A : Nguy cơ đầu tiên là nguy
cơ bất thường nhiễm sắc thể, được ước
tính 2,2% khi người mẹ có thai lúc 40
tuổi và 4% lúc 42 tuổi. Đối với những
bà mẹ có thai lúc 40 đến 45 tuổi, mặc
dầu có một sự gia tăng tỷ lệ tử vong
trong tử cung và chu sinh, nhưng tiên
lượng đứa bé nhìn toàn bộ là tốt. Tuy
nhiên, phần lớn các công trình nghiên
cứu báo cáo một tần số cao hơn bị sinh
non và sinh những đứa bé có trọng
lượng thấp. Khi có thai trên 45 tuổi,
những nguy cơ gia tăng đối với bà mẹ
và trẻ em.
Hỏi : Trong những giới hạn nào, người
ta đề nghị một sự hỗ trợ trong sinh đẻ
(une assistance à la procréation) ?
BS J.B.-A : Sự thụ thai nhân tạo (FIV
: fécondation in vitro) chỉ được đảm
trách bởi An Ninh Xã hội (Sécurité
sociale) cho đến ngày đầu của lần sinh
nhật thứ 43 của người phụ nữ. Hầu hết
các thầy thuốc đều đồng ý. Có hai kỹ
thuật : FIV cổ điển với sự gặp gỡ
trong ống nghiệm của noãn bào và tinh
trùng, và FIV với micro-injection tinh
trùng trong noãn bào. FIV cổ điển dành
cho những trường hợp vô sinh do vòi
trứng (infertilités tubaires), vô sinh
không rõ nguyên nhân hay những vô sinh
liên quan đến phái nam. Đối với những
trường hợp nghiêm trọng nhất, người ta
sử dụng kỹ thuật micro-injection. Vô
sinh do tuổi tác là hậu quả của sự lão
hóa của noãn bào và sự thụ thai nhân
tạo không thể bù trừ được. Trong
trường hợp này, chỉ có những noãn bào
được hiến (don d’ovocytes) từ một
người đàn bà khác (trẻ hơn) mới có thể
thực hiện được sự thụ thai.
Hỏi : Sau 43 tuổi, ở Pháp, một phụ nữ
có thể nhận những noãn bào được hiến
như thế không ?
BS J.B-A : Ở lứa tuổi này, động tác
này không được đảm nhận bởi An ninh xã
hội. Ngoài ra, vì không có khá đủ các
noãn bào để cho, nên những noãn bào
được hiến này chỉ dành cho những phụ
nữ trẻ hơn. Theo cá nhân tôi, tôi
không khuyến khích (trừ những trường
hợp đặc biệt) các phụ nữ trên 43 tuổi,
nhận những noãn bào được hiến ở ngoại
quốc, vì lẽ có những nguy cơ vật lý và
tâm lý. Giữa 40 và 45 tuổi, mặc dầu
một phụ nữ, trong phần lớn các trường
hợp, có thể hy vọng có một thai nghén
bình thường, nhưng nguy cơ lớn nhất
vẫn là nguy cơ không bao giờ có con
được nữa. ( PARIS MATCH
6/11-12/11/2008)
====
ALZHEIMER :
VACCIN LÀM THẤT VỌNG
Tiêm một vaccin chữa bệnh chống bệnh
Alzheimer đã không mang lại một cải
thiện nào tình trạng nhận thức của các
bệnh nhân.
Từ hai thập niên nay, các nhóm nghiên
cứu về bệnh Alzheimer chỉ có một giấc
mơ : chế tạo một vaccin chữa trị
(vaccin curatif) chống lại bệnh lý
này. Dự án này đặc biệt dựa vào một
giả thuyết, liên kết sự chết của các
nơ ron đặc trưng của bệnh Alzheimer,
với sự tích tụ của một phân tử,
peptide amyloide-bêta. Bằng cách thúc
đẩy cơ thể chế tạo các kháng thể chống
lại peptide amyloide-bêta bằng một
vaccin, những người theo lý thuyết này
hy vọng gìn giữ những tế bào thần kinh
và cải thiện tình trạng nhận thức của
các bệnh nhân. Một công trình nghiên
cứu của Anh chứng tỏ rằng không phải
là như vậy. Hiệu quả của một vaccin
thuộc loại này đã được theo dõi trên
80 bệnh nhân. Mặc dầu chúng đúng là đã
sản xuất ra những kháng thể chống lại
peptide amyloide-bêta, nhưng không có
một sự cải thiện nào về tình trạng
nhận thức của bệnh nhân đã được quan
sát.
Ra đời năm 1991, giả thuyết là nguồn
gốc của phương pháp này, phát xuất từ
sự nhận diện những biến dị di truyền
dẫn đến sự sản xuất các peptide
amyloide-bêta nơi các bệnh nhân bị
bệnh Alzheimer. Sự kết tụ của các
peptide amyloide-bêta đưa đến sự tạo
thành các mảng (plaques) trong não bộ.
Đến lượt các mảng này gây nên sự tích
tụ trong các nơ ron, một protéine được
gọi là “ tau ”. Chất này chịu trách
nhiệm thương tổn thứ hai của bệnh
Alzheimer : sự biến đổi cấu trúc của
các nơ ron. Nhưng lý thuyết này bị
tranh cãi. Đối với vài người, sự biến
đổi của các nơ ron xuất hiện trước,
chứ không phải sau sự tạo thành các
mảng. Do đó làm mất các peptide
amyloide-bêta, nguồn gốc của các mảng
này, sẽ ít hiệu quả để cải thiện tình
trạng nhận thức của các bệnh nhân. Và
thật vậy, trong thử nghiệm vaccin này,
mặc dầu những nồng độ peptide đã giảm
nơi các bệnh nhân Alzheimer, nhưng
không có sự cải thiện về tình trạng
nhận thức. Thế thì, có phải chối bỏ
giả thuyết này vì kết quả xấu hay
không ? “ Không, Bruno Dubois, chuyên
gia thần kinh ở CHU của La
Pitié-Salpêtrière, Paris, đã trả lời
như vậy. Các bệnh nhân được thử
nghiệm, về số lượng không khá đủ nhiều
để chứng tỏ rằng đó là một hướng đi
không đúng. Và các bệnh nhân đã bị
bệnh nặng vào lúc bắt đầu công trình
nghiên cứu.”. Do đó khó đánh giá những
tiến bộ về tình trạng nhận thức. Ngoài
ra, “ Vì sự tạo thành các mảng đi
trước các triệu chứng nhiều năm, Luc
Buée, chuyên gia về những bệnh thoái
hóa thần kinh thuộc trung tâm J-P.
Aubert ở Lille đã nhấn mạnh như thế.
Do đó, có lẽ vaccin sẽ hiệu quả hơn
nếu được cho sớm hơn ”
Đó là một hướng nghiên cứu mà các
vaccin chống bệnh Alzheimer thuộc thế
hệ thứ hai đang được thử nghiệm lâm
sàng. Những vaccin này được chế tạo từ
những peptide amyloide-bêta được cắt
cụt (chứ không phải là những peptide
hoàn toàn như ở đây) hay được chế tạo
bởi những kháng thể được làm tinh
khiết. Phương thức này giới hạn sự đáp
ứng miễn dịch và do đó hẳn cho phép
giải quyết vấn đề an toàn được đặt ra
bởi vaccin của công trình nghiên cứu
Anh, theo Luc Buée.Thật vậy, trong lúc
thử nghiệm giai đoạn 2 (tính hiệu
quả), vào năm 2001, những bệnh nhân
được tiêm chủng đã phát triển những
phản ứng viêm não nghiêm trọng, buộc
người lãnh đạo phải dừng lại sớm cuộc
thử nghiệm này. Cuộc thử nghiệm đã
được dừng lại và sự theo dõi tình
trạng nhận thức của vài bệnh nhân vẫn
được duy trì, nhưng không tiêm thêm
vaccin mới. (LA RECHERCHE 10/2008)
====
VACCIN CHỐNG
UNG THƯ VÚ CHO NHỮNG KẾT QUẢ RẤT TỐT
TRÊN CHUỘT
Một vaccin thí nghiệm được trắc nghiệm
trên chuột bị ung thư vú đã cho những
kết quả “ làm xúc động ”, theo B.S
Wei-Zen, giáo sư miễn dịch học và vi
trùng học của đại học Wayne State, Hoa
Kỳ. Ông đã công bố tháng vừa qua những
kết quả của ông trong tạp chí Cancer
Research. B.S Xei-Zen Wei đã tiêm
chủng những chú chuột này chống lại
chính các tế bào khối u của chúng.
Những tế bào này, trái với những tế
bào lành mạnh, có trên bề mặt của
chúng những lượng lớn protéine được
gọi là HER2 (dấu hiệu của một tăng
sinh tế bào cao một cách bất bình
thường). Loại ung thư được gọi là HER2
dương tính này chiếm 20 đến 30% những
ung thư vú của phụ nữ. Không có chú
chuột được tiêm chủng nào đã tiếp tục
phát triển khối u.
Vậy, vaccin này cho phép cơ thể chống
lại những tế bào ung thư mà không
chống lại những tế bào lành mạnh.
Những công trình nghiên cứu khác phải
được thực hiện trước khi biết là một
vaccin thuộc loại này có thể áp dụng
lên phụ nữ hay không .( LE FIGARO
23/10/2008)
====
DỊCH TỄ HỌC
MÔI TRƯỜNG CỦA CÁC UNG THƯ
Phải chăng có một quan hệ nhân quả môi
trường ngự trị trong tiến triển của tỷ
lệ mắc bệnh ung thư ?
Ung thư tiền liệt tuyến (cancer de la
prostate) là ung thư thường xảy ra
nhất nơi đàn ông và là ung thư mà tỷ
lệ mắc bệnh đã gia tăng nhất giữa năm
2000 và 2005 (+8,5%). Những ung thư
này chịu trách nhiệm khoảng 70% của sự
gia tăng toàn bộ các ung thư nơi người
đàn ông trong 25 năm qua. Mặc dầu sự
tiến triển của tỷ lệ này được giải
thích một phần lớn bởi sự tiến triển
của chiến dịch điều tra phát hiện,
nhưng các thuốc trừ sâu (pesticides),
cadmium, arsenic, các PCB và các tác
nhân nhiễm trùng cũng được nghi ngờ.
Ung thư vú thường xảy ra nhất nơi phụ
nữ với một gia tăng tỷ lệ mắc bệnh
2,4% mỗi năm giữa năm 1980 và 2005.
Mặc dầu sự gia tăng tỷ lệ này một phần
là do việc mở rộng các chiến dịch điều
tra phát hiện, nhưng sự tiếp xúc với
các tia X và gamma cũng như công việc
làm với sự rối loạn nhịp ngày đêm,
cũng được quy trách nhiệm. Trong những
yếu tố được bàn cãi, chúng ta có thể
kể chứng nhiễm độc thuốc lá thụ động
(tabagisme passif), các thuốc trừ sâu,
các dioxine, PCB và vài chất dung môi
khả dĩ làm dễ sự gia tăng nguy cơ phát
khởi bệnh.
Với một sự gia tăng 4% mỗi năm của tỷ
lệ ung thư phổi giữa năm 2000 và 2005,
ta không thể không biết đến những tác
dụng kiêm nhiệm của các chất gây nhiễm
không khí khác nhau mà chúng ta đang
tiếp xúc. Những phần tử mịn
(particules fines) phát xuất từ giao
thông xe cộ là nguy hiểm nhất bởi vì
chúng có một ảnh hưởng lên toàn bộ dân
chúng của các thành phố. Trong hàng
các yếu tố được bàn cãi, chúng ta còn
kể các sợi khoáng (fibres minérales)
nhân tạo, một vài loại thuốc trừ sâu
và những sản phẩm hóa học được sử dụng
trong các nghề nghiệp về thịt. Về
những yếu tố gây ung thư đã được biết
đến, chúng ta hãy nhắc lại những yếu
tố chính : amiante, các tia X và
gamma, radon, hydrocarbure aromatique
polycyclique, thuốc lá thụ động, các
khói diesel.
¾ các ung thư tuyến giáp xảy ra nơi
phụ nữ và tỷ lệ mắc bệnh đã gia tăng
mạnh (+6%) từ năm 1980. May mắn thay,
sự gia tăng này đã đặc biệt liên quan
đến những dạng bệnh có tiên lượng bệnh
tốt nhờ một sự phát hiện sớm hơn. Tuy
nhiên, các tia X hay sự tiếp xúc với
iode phóng xạ vẫn là một nguyên nhân
được xác nhận. Các thuốc trừ sâu,
benzène, formaldéhyde và các tác nhân
nhiễm trùng (VHC, SV40, HTLV1) cũng có
thể có liên hệ trong dạng ung thư này.
Sự xuất hiện các lymphome ác tính
không phải Hodgkin rất chắc chắn có
khả năng liên kết, trong vài trường
hợp, với sự tiếp xúc các bức xạ ion
hóa và với một vài tác nhân nhiễm
trùng ( virus HTLV-1, EBV, HHV8,VIH,
Helicobacter pylori, Borrelia
burgdorferi), nhưng những tác nhân hoá
học (benzène, oxyde d’éthylène,
butadiène) và môi trường cũng có thể
liên quan trong sự phát sinh loại ung
thư này.
Tỷ lệ mésothéliome đã gia tăng nhưng
ít rõ rệt hơn những ung thư khác nhờ
chiến dịch chống lại sự tiếp xúc với
amiante. Người ta nghi ngờ các sợi
khoáng nhân tạo, các bức xạ ion hóa và
các tác nhân nhiễm trùng (SV40).
Tỷ lệ mắc phải ung thư tinh hoàn gia
tăng (+2,5%) trong hầu hết các nước
trên thế giới và một cách còn rõ rệt
hơn ở châu Âu. Những thuốc trừ sâu
dường như là nguyên nhân.
Sự gia tăng đều đặn tỷ lệ các khối u
não (+1%) được liên kết, trong một
phần các trường hợp, với sự tiếp xúc
với những bức xạ ion hóa trong thời
thơ ấu hay trong tử cung. Ở đây người
ta bàn cải về vai trò của thuốc lá thụ
động ảnh hưởng lên đứa bé, các thuốc
trừ sâu, các sóng vô tuyến, của vài
yếu tố hóa học (Pb, hợp chất
N-nitrosés) và của những tác nhân
nhiễm khuẩn (SV40 nơi trẻ em) ( LE
JOURNAL DU MEDECIN 10/10/2008)
====
TÍNH HUNG
HĂNG ĐƯỢC GIẢI THÍCH BẰNG CHIỀU DÀI
CỦA CÁC NGÓN TAY ?
Một công trình nghiên cứu đã xác lập
một mối liên hệ giữa tỷ số giữa chiều
dài của các ngón tay (nhất là chiều
dài giữa ngón trỏ và ngón đeo nhẫn)
với khuynh hướng có một thái độ hung
hăng và khuynh hướng đạt được những
năng lực thể thao.
Một cách tổng quát, những người đàn
ông có một ngón trỏ ngắn hơn ngón đeo
nhẫn, trong khi hai ngón tay này có
cùng chiều dài nơi các phụ nữ. Một
công trình nghiên đã đặt mối tương
quan giữa mô hình ngón tay “ nam giới
” với một khuynh hướng gia tăng có một
thái độ hung hăng và đạt được những
năng lực thể thao, trong khi mô hình “
nữ giới ” thì có khuyng hướng cải
thiện các năng lực ngôn từ.
Peter Hurd (giáo sư tâm lý học thuộc
đại học Alberta ở Edmonton, Canada) đã
thực hiện một công trình nghiên cứu
trên chuột, cũng đã cho phép ông ta
khám ra một mối liên hệ giữa kích
thước của các ngón tay với thái độ
hành vi, mặc dầu điều chứng thực này
được áp dụng trong một chiều hướng
khác nơi người.
Trong một phỏng vấn với hãng Reuters,
nhà nghiên cứu Canada công nhận rằng
những tác dụng của mô hình “ nam giới
” lên hành vi con người là thấp, vì
vậy khó có thể rút ra những kết luận.
Tuy nhiên, tác giả nhận thấy rằng loại
nghiên cứu này là đáng lưu ý, bởi vì
ông gợi ý rằng những nét đặc biệt về
tính tình của mỗi cá nhân (thí dụ, tố
bẩm về thể thao) đã được xác lập ở một
giai đoạn sớm, vào các giai đoạn phát
triển của thai nhi. Dẫu sao, những
quan sat này hổ trợ cho giả thuyết cho
rằng có một mối liên hệ giữa não bộ,
hành vi, những nét tính tình và hình
dáng của bàn tay.( LE JOURNAL DU
MEDECIN 10/10/2008)
====
BỆNH XƠ CỨNG
RẢI RÁC : Ở PHÁP, CỨ 1000 NGƯỜI THÌ CÓ
MỘT NGƯỜI BỊ BỆNH.
Bệnh xơ cứng rải rác (sclérose en
plaques), hiện đang gây bệnh cho
khoảng 80.000 người ở Pháp, là một
trong những bệnh thần kinh mãn tính
thường xảy ra nhất, với tỷ lệ một
người bị bệnh trên 1000 người. Được
đặc trưng bởi sự phá hủy của các bao
myéline bao quanh các sợi thần kinh
trong hệ thần kinh trung ương, bệnh
được thể hiện bởi những rối loạn có
mức độ trầm trọng thay đổi tùy theo
các bệnh nhân, được giới hạn đối với
một số bệnh nhân, nhưng gây tật nguyền
trầm trọng nơi những bệnh nhân khác.
Nói chung bệnh khởi đầu nơi người
trưởng thành trẻ tuổi, nhưng chỉ có sự
tiến triển theo năm tháng mới cho phép
phân biệt những người chỉ bị những thể
nhẹ với những người khác.
Từ lâu người ta biết, một cách không
chối cãi được, rằng bệnh xơ cứng rải
rác có thành phần di truyền, bởi vì
những nghiên cứu trên các người sinh
đôi thật sự cho thấy rằng khi một
trong những người sinh đôi bị bệnh,
thì người sinh đôi kia cũng bị bệnh
trong 30% các trường hợp. Khi một
người bị bệnh, thì anh hoặc chị em có
2% nguy cơ cũng bị bệnh (so với 0,1%
đối với dân chúng nói chung). Mặc dầu
các gène là nguyên nhân, nhưng rõ ràng
là chúng được tác động bởi những yếu
tố môi trường. Bệnh xơ cứng rải rác là
một bệnh tự miễn dịch. Hệ miễn dịch
của bệnh nhân, do sai lầm, tấn công
myéline (lớp vỏ bao quanh các sợi thần
kinh) và phá hủy nó dần dần. Hậu quả
là hệ miễn dịch phóng thích vài chất
và hoạt hóa các loại tế bào khác nhau,
gây nên một phản ứng viêm. Những sợi
thần kinh đã đánh mất lớp vỏ bảo vệ,
bị thoái hóa, khiến sự dẫn truyền các
tín hiệu thần kinh bị ngăn cản. Điều
này giải thích tính thay đổi của các
triệu chứng vào lúc khởi đầu của bệnh
: thật vậy, các biểu hiện của chúng
(đau đớn, rối loạn thị giác, bại liệt)
tùy thuộc vào các vùng của não bộ hay
tủy sống bị thương tổn.( LE FIGARO
24/10/2008)
===
THUỐC CHỦNG
CHỐNG CÚM
Sự tiến triển của virus cúm của mùa
đông năm rồi đã đưa đến việc hiệu
chính một vaccin có tác dụng bảo vệ
tối đa. Giáo sư virus học Bruno Lina
(CHU Lyon) giải thích tác dụng của
vaccin dùng cho năm nay.
Hỏi : Ông có thể nhắc lại cách tác
dụng của một vaccin chống cúm ?
G.S Bruno Lina : Nguyên tắc của sự
chủng ngừa là đưa vào trong cơ thể một
mồi giả ( un leurre), một virus bị
giết chết, do đó vô hại, nhằm làm phát
khởi một đáp ứng phòng vệ miễn dịch,
tạo ra những kháng thể đặc hiệu, những
người lính bảo vệ (soldats défenseurs)
thật sự, nhằm ngăn cản sự phát triển
của nhiễm trùng. Sự tiêm chủng chống
cúm, để được hiệu quả, cần phải được
nhắc lại hàng năm.
Hỏi : Tại sao phải hiệu chính một
vaccin mới mỗi năm ?
G.S B.L : Bởi vì các virus tiến triển
thường trực : chúng “ biến dị ”. Mỗi
mùa đông, có 3 phân nhóm virus khác
nhau tấn công vào cơ thể con người : A
H1N1, AH3N2 và B. Những virus này biến
đổi một cách thường trực, làm cho hệ
thống phòng vệ của chúng ta không có
hiệu quả, điều này cho phép chúng gây
nhiễm trở lại những người đã bị mắc
phải cúm. Để cập nhật hóa đáp ứng miễn
dịch, thành phần của virus được tối ưu
hóa mỗi năm tùy theo tiến triển của 3
tác nhân gây nhiễm này.
Hỏi : Làm sao tiên đoán một cách chính
xác tiến triển của những tác nhân này
?
G.S B.L : Những virus này được theo
dõi nhiều nhất trên thế giới, với 130
phòng thí nghiệm và các trung tâm quốc
gia chuẩn, làm việc dưới sự chỉ đạo
của OMS. Hàng chục ngàn virus đã được
khảo sát thường trực để nhận diện tất
cả những biến dị. Hai lần mỗi năm, OMS
họp tất cả những người hữu trách của
những trung tâm này để điểm tình hình
và chọn lọc những thành phần tốt nhất
để chế tạo những vaccin mới.
Hỏi : Ở Pháp, khoảng bao nhiêu người
bị mắc phải bệnh cúm mỗi năm ?
G.S B.L : Mùa đông năm qua, 2 triệu
người đã phát bệnh và người ta ước
tính có khoảng 2.000 trường hợp tử
vong do virus cúm. Hầu hết xảy ra nơi
những người yếu ớt : những người già
bị bệnh tim hay hô hấp mãn tính. Tuy
nhiên, người ta cũng ghi nhận những
trường hợp tử vong nơi những người
trưởng thành trẻ tuổi và các trẻ em.
Hỏi : Một số người tránh không tiêm
chủng vì sợ những phản ứng phụ. Những
phản ứng này là gì ?
G.S B.L : Chống chỉ định duy nhất của
tiêm chủng chống cúm là một dị ứng với
các protéine của trứng (1 trên 1 triệu
người). Ngược lại, như mọi thuốc chủng
, vaccin chống cúm có thể gây nên
những phản ứng tại chỗ (đỏ và đau đớn
nơi chỗ chích) hay một cảm giác bồn
chồn kèm theo mệt mỏi và sốt. Nhưng
những triệu chứng này biến mất sau 24
giờ. Và khi chúng xuất hiện, thường
thường là bởi vì hệ miễn dịch cần được
kích thích.
Hỏi : Tại sao mùa đông này, vaccin mới
cần có một tác dụng đặc biệt có hiệu
quả ?
G.S B.L : Bởi vì năm nay, ba thành
phần của vaccin chống cúm đã bị biến
đổi. Tiến triển của những phân nhóm
virus năm qua đã quan trọng đến độ để
thích ứng với sự biến dị đáng kể của
chúng, người ta đã phải hiệu chính
những thành phần vaccin mới rất nhắm
trọng điểm : A Brisbane/59/07 H1N1, A
Brisbane/10/07 H3N2 và B Florida/4/06.
Mỗi năm, vào tháng sáu, người ta xác
định khả năng gây miễn dịch của vaccin
nơi nhiều trăm người tình nguyện. Vào
tháng chín 2008, các dữ kiện của OMS
đã kết luận rằng không có sự tiến hoá
của 3 phân nhóm virus từ tháng ba. Do
đó vaccin mới được thích ứng một cách
hoàn hảo đối với mùa đông năm nay.
Hỏi : Thời điểm tốt nhất để tiêm chủng
là thời điểm nào ?
G.S B.L : Tháng 10 hay đầu tháng 11,
là thời kỳ dịch cúm chưa bắt đầu, bởi
vì tác dụng bảo vệ chỉ hiệu quả bắt
đầu từ 15 đến 3 tuần sau khi được
chủng ngừa. ( PARIS MATCH
30/10-5/11/2008)
====
LÀM THẾ NÀO
LISTERIA ĐI XUYÊN QUA HÀNG RÀO NHAU
THAI
Một nhóm nghiên cứu của Pháp, mô tả
lần đầu tiên, cơ chế giải thích làm
sao một vi khuẩn gây bệnh đi từ mẹ
sang thai nhi.
Bởi vì những khả năng phòng vệ miễn
dịch bị suy giảm, nên các phụ nữ có
thai có nguy cơ mắc phải listériose 20
lần lớn hơn. Căn bệnh này được phát
sinh bởi listeria, vi khuẩn thường gặp
trong môi trường và đôi khi hiện diện
trong thức ăn (phó mát, đồ thịt lợn).
Một khi hiện diện trong ống tiêu hóa,
vi sinh vật này đi vào trong máu và
nhắm đích là nhau thai, ở đây vi khuẩn
listeria có thể đi xuyên qua và gây
nhiễm trùng thai. Mỗi năm ở Pháp có
khoảng 50 trường hợp listériose trẻ sơ
sinh, có thể đưa đến sinh non, thậm
chí thai chết trong tử cung. Một nhóm
nghiên cứu của Viện Pasteur vừa làm
sáng tỏ cơ chế nhờ đó listeria đi
xuyên qua hàng rào nhau thai.
Một trong những chức vụ của nhau thai,
và không phải là ít, là bảo vệ thai
nhi. Nó chống lại sự đi qua thai nhi
của những tế bào mẹ và nhiều vi khuẩn
. Những hàng rào nhau thai này không
phải là hoàn hảo. Khi một phụ nữ có
thai bị nhiễm bởi listeria, “ vi khuẩn
này ưu tiên nhắm vào nhau thai, là nơi
nó sẽ tăng sinh ”, Marc Lecuit, thuộc
Inserm và Viện Pasteur Paris đã nhận
xét như thế. Làm sao giải thích một sự
lôi cuốn như thế ? “ Chúng tôi đã
chứng minh rằng listeria nhận biết một
cách đặc hiệu cơ quan này.” Khám phá
này được thực hiện nhờ sự sử dụng hai
mô hình động vật mới : một chú chuột
có trên bề mặt của nhau thai những
protéine đặc trưng của con người và
gerbille, một động vật gậm nhấm bản
chất nhạy cảm với listeria.
Vi khuẩn listeria có trên bề mặt của
nó những phân tử được đặt tên là InIA
và InIB. Theo nhóm nghiên cứu Pasteur,
InIA liên kết với một protéine,
E-cadhérine, hiện diện ở hai nơi trong
cơ thể : các tế bào ruột và những tế
bào nhau thai. Sự liên kết này cho
phép listeria bám vào hai hàng rào này
(ruột và nhau thai) rồi đi vào bên
trong, với sự giúp đỡ của InIB. Điều
mỉa mai là E-cadhérine được vi khuẩn
nhắm vào lại góp phần vào trong chức
năng hàng rào bảo vệ của hai cơ quan
này, bởi vì E-cadhérine thực hiện sự
nối mật thiết giữa các tế bào lại với
nhau. ( LA RECHERCHE 11/2008)
====
HEN PHẾ QUẢN,VIÊM MŨI VÀ
PARACETAMOL
Một tin tốt lành và một tin xấu trên
mặt trận hen phế quản. Tin tốt lành,
đó là hướng được đề nghị bởi nhóm dịch
tễ học các bệnh đường hô hấp của
Inserm. Theo công trình nghiên cứu
này, được công bố trong tạp chí
Lancet, thì viêm mũi phải được xem như
là một yếu tố tiên đoán của bệnh phổi.
Thật vậy việc theo dõi 6000 người
trong 14 nước đã cho thấy rằng những
người bị viêm mũi dị ứng có nguy cơ
phát triển hen phế quản 3,5 lần nhiều
hơn. Nếu mối liên hệ này được xác
nhận, thì việc điều trị một cách có
hiệu quả chứng viêm mũi dị ứng, có thể
cho phép tác động vào giai đoạn sớm
của hen phế quản và làm chậm lại sự
xuất hiện của bệnh này.
Tin xấu từ những công trình khác xuất
hiện trong cùng tạp chí, xác nhận mối
liên hệ giữa việc uống thuốc
paracétamol trong năm đầu tiên của đời
sống và sự gia tăng 46% nguy cơ phát
triển một hen phế quản và những dị ứng
ở tuổi trưởng thành.
Chúng ta hãy nhắc lại rằng OMS khuyến
nghị chỉ dùng paracétamol nơi các nhũ
nhi có nhiệt độ trên 38,5 độ.(
SCIENCES ET AVENIR 11/2008)
===
CHỨNG BÉO
PHÌ: ACOMPLIA BỊ RÚT RA KHỎI THỊ
TRƯỜNG THUỐC TRONG LIÊN HIỆP CHÂU ÂU
Các nhà hữu trách dược phẩm châu Âu đã
đình chỉ việc cho phép thương mãi hóa
thuốc chống béo phì Acomplia cửa hãng
Sanofi-Aventis, “ tức thời được rút ra
khỏi các hiệu thuốc của 18 nước của
Liên Hiệp Châu Âu đang cho phép lưu
hành nó ”, hãng bào chế đã loan báo
như vậy hôm thứ năm. Cơ quan an toàn y
tế các dược phẩm của Pháp đã kết luận
về nguy cơ gây nên những rối loạn trầm
cảm liên kết với sử dụng thuốc sau một
năm thương mãi hóa dược phẩm này.
Phòng bào chế của Pháp không loại trừ
khả năng đình chỉ trên thế giới loại
thuốc này.“ Sanofi-Aventis tiếp xúc
tức thời với những giới hữu trách y tế
của các nước không thuộc Liên Hiệp
Châu Âu, mà trong đó thuốc đang được
lưu hành, nhằm thiết đặt những biện
pháp tương đương bằng sự khuyến nghị ”
( LE SOIR 24/10/2008)
Bác sĩ Nguyễn
Văn
Thịnh |
|