|
BỆNH
THIẾU CHÚ Ý ( DEFICIT D’ATTENTION) Ở
TRẺ EM : NGUYÊN NHÂN DO THIẾU SẮT ?
Bệnh thiếu chú ý ( déficit d’attention),
rối loạn có liên quan đến 5% - 10% các
trẻ em ở tuổi học đường, là do sự loạn
chức năng của vài chất dẫn truyền thần
kinh ( dopamine, noradrénaline…). BS
Eric Konofal và nhóm nghiên cứu của
ông thuộc bệnh viện Robert-Debré đã tự
hỏi về lợi ích điều trị của một liều
lượng bổ sung sulfate de fer nơi các
trẻ em này. Họ đã chứng tỏ rằng 84%
các trẻ bị rối loạn này có nồng độ
ferritine dưới mức bình thường. Trong
một nghiên cứu nhỏ, các nhà nghiên cứu
đã chứng tỏ rằng sắt có thể cải thiện
một cách đáng kể tình trạng lâm sàng
của những trẻ được điều trị, trái với
những trẻ chỉ đã nhận một placebo.(
PARIS MATCH, 3/1-9/1/2008)
===
MỘT
CUỘC SỐNG LÀNH MẠNH LÀM GIA TĂNG TUỔI
THỌ 14 NĂM
Không hút thuốc, uống ít rượu, ăn trái
cây và rau xanh và tập thể dục đều đặn..4
quy tắc đơn giản để kéo dài tuổi thọ.
Nhiều công trình điều tra đã chứng tỏ
rằng nghiện thuốc lá cũng như uống
rượu quá độ làm rút ngắn cuộc đời.
Người ta cho rằng ăn trái cây và rau
xanh đều đặn và tập thể dục là điều
tốt. Nhưng chưa có ai đã tính toán
những điều lợi ích từ một lối sống có
những tập tính như thế.
Từ nay đó là điều đã được thực hiện,
bởi vì một nhóm các nhà nghiên cứu của
đại học Cambridge (Vương Quốc Anh),
cùng với Medical Research Council đã
chú ý đến vấn đề này và đã tiến hành
trong 14 năm một điều tra cho phép xác
nhận rằng lối sống được xem là lý
tưởng này (ít nhất là về mặt y tế) sẽ
làm gia tăng tuổi thọ 14 năm, so với
những người có tất cả những yếu tố
nguy cơ cộng lại. Công trình của các
nhà nghiên cứu được công bố tuần này
trong tạp chí Public Library of
Science Medicine.
Để đạt được kết quả này, các nhà
nghiên cứu của Cambridge vào năm 1993
đã bắt đầu theo dõi 20.244 người, đàn
ông và phụ nữ, tuổi từ 45 đến 79 tuổi,
sau khi đã tra cứu về lối sống của họ.
Mỗi người tham gia được nhận một điểm
số (score) một điểm đối với mỗi tập
tính có lợi về mặt sức khỏe ( không
hút thuốc = 1 điểm, uống rượu ít (1/2
ly mỗi ngày) = 1 điểm, cũng như ăn 5
trái cây và rau xanh mỗi ngày (1 điểm)
và tập thể dục nửa giờ mỗi ngày (1
điểm).Vào năm 2006, các nhà điều tra
đã có thể ghi nhận được 1987 tử vong
trong số 20.000 người tình nguyện này
và đã đặt mối tương quan giữa thời
gian sống của mỗi người với lối sống
của họ.
TỶ LỆ TỬ VONG DO TIM BỊ ẢNH HƯỞNG BỞI
LỐI SỐNG
Các kết luận đã được dự kiến, tuy
nhiên chúng mang lại nhiều lời giải
thích rõ ràng về những hậu quả về mặt
y tế của một lối sống lành mạnh. Đối
với những người không có điểm nào,
nghĩa là có đủ tất cả 4 tập tính có
hại (hút thuốc, uống rượu nhiều, không
ăn trái cây và rau xanh, không tập thể
dục), nguy cơ tử vong được nhân lên
4,4 lần, so với những người có điểm số
4. Nguy cơ tử vong lần lượt được nhân
lên 2,52 , 1,95 và 1,39 đối với những
người tôn trọng một (1điểm), hai (2
điểm) hoặc ba (3 điểm) tập tính có lợi
về mặt sức khỏe.
Với tất cả các dữ kiện này, các nhà
nghiên cứu cũng đã tính toán rằng một
người 60 tuổi có tất cả các tập tính
có nguy cơ (comportements à risques) (nghĩa
là không có một điểm số nào) có cùng
nguy cơ tử vong như một người 74 tuổi
có điểm số 4 (nghĩa là không có một
yếu cố nguy cơ nào được nêu trên đây).
Nhìn toàn bộ, trong nhóm người được
theo dõi bởi các nhà nghiên cứu này,
các khả năng sống sót là 95% đối với
những người có một cuộc sống hoàn toàn
“ lành mạnh ”, so với 75% đối với
những người có nhiều tập tính có nguy
cơ. “ Có một sự giảm dần rõ rệt nguy
cơ tử vong với sự gia tăng của những
tập tính dương tính. Những người tôn
trọng 4 tập tính có lợi, có nguy cơ tử
vong ¼ ít hơn so với những người không
tôn trọng một tập tính nào cả, điều
này tương đương với một dị biệt 14 năm
hy vọng được sống thêm, các tác giả
kết luận như thế.Tỷ lệ tử vong do tim
(mortalité cardiaque) có vẻ bị ảnh
hưởng nhất bởi lối sống ”.
“ Đây là lần đầu tiên người ta phân
tích hiệu quả kiêm nhiệm của các yếu
tố nguy cơ lên tỷ lệ tử vong, giáo sư
Kay-Tee Khaw, tác giả công trình
nghiên cứu trên site Internet của BBC
đã giải thích như thế. Chúng ta cũng
đã chứng tỏ rằng nguồn gốc xã hội hay
thể trọng chỉ ảnh hưởng rất ít lên
nguy cơ tử vong. Một bộ phận lớn của
dân chúng có thể rút được nhiều lợi
ích về mặt y tế bằng cách thay đổi có
mức độ lối sống ” .
Như vậy mặc dầu không sử dụng một viên
thuốc nào, chúng ta vẫn có thể kéo dài
tuổi thọ.Vấn đề là xem có thể thuyết
phục các đồng hương của chúng ta để họ
thay đổi lối sống để được sống lâu hơn
và nếu họ muốn sống già hơn thì họ
phải tự nhịn bớt một vài lạc thú của
trần gian.( LE FIGARO 9/1/2008)
===
MỐI QUAN HỆ GIỮA CHỨNG NGHIỆN THUỐC LÁ
VÀ TỰ TỬ ?
Có một mối quan hệ đáng lo ngại giữa
chứng nghiện thuốc lá và nguy cơ tự tử,
các nhà nghiên cứu người Đức trong một
công trình nghiên cứu được công bố
trong một tạp chí chuyên môn « Journal
of Affective Disorders » đã gợi ý như
vậy.
Những lời cảnh cáo mà ai cũng đã biết
rõ trên những bao thuốc lá , như « Hút
thuốc làm chết người » hay « Hút thuốc
gây ung thư », rồi một ngày nào đó lại
thêm một thông điệp « Hút thuốc gia
tăng nguy cơ tự tử ».
« Các chiến dịch chống nghiện thuốc lá
cũng phải nhấn mạnh đến nguy cơ cao có
những ý tưởng tự tử (pensées
suicidaires) nơi những người hút thuốc
ngẫu nhiên hay đều đặn », nhóm các nhà
nghiên cứu được dưới sự chỉ đạo của
Thomas Bronisch đã xác nhận như vậy.
Các công trình của họ được căn cứ trên
các dữ kiện của một nghiên cứu tâm lý
học được phát động vào năm 1995 nơi
3.021 thanh niên Munich tuổi từ 14 đến
24 tuổi, được theo dõi trong 3 năm
rưỡi. Khoảng ¼ trong số những thanh
niên này đã không bao giờ hút thuốc lá.
Số còn lại là người người hút thuốc
ngẫu nhiên (40%), những người hút
thuốc đều đặn (17%), những người hút
thuốc đều đặn “ không nghiện ” (17%)
và những người nghiện hút thuốc (19%).
Trong số những người không hút thuốc
(non-fumeurs), khoảng 15% đã báo cáo
là đã có những ý tưởng tự tử (được
định nghĩa như là có kế hoạch tự sát
hoặc mong muốn được chết trong hai
tuần hoặc hơn). Con số này đạt đến
khoảng 20% nơi những người hút thuốc
ngẫu nhiên (fumeurs occasionnels) và
những người hút thuốc không nghiện (fumeurs
non dépendants) và 30% nơi những người
nghiện hút thuốc (fumeurs dépendants).
Mối liên hệ càng rõ nét hơn khi người
ta xét đến những toan tính tự tử (69).
Chỉ 0,6% những người không hút thuốc
đã báo cáo là đã toan tính kết liễu
cuộc đời, so với tỷ lệ 1,6% nơi những
người hút thuốc nhưng không nghiện và
6,4% nơi những người nghiện hút thuốc.
Những công trình nghiên cứu trước đây
đã gợi ý một mối liên kết giữa tự tử
và nghiện thuốc lá, nhưng không trả
lời được câu hỏi là nghiện thuốc lá là
nguyên nhân hay chỉ là triệu chứng.
Các nhà nghiên cứu người Đức đã công
nhận rằng các công trình của họ có
nhiều hạn chế.Trước hết, trong thời
gian công trình nghiên cứu đã không có
trường hợp tự tử nào đã được ghi nhận,
và vì vậy công trình này dựa trên
những ý tưởng tự tử và những toan tính
tự tử. Ngoài ra, vài người trong số
những người tham gia còn là những
thiếu niên trẻ tuổi, vào cuối công
trình, đã chưa qua hết thời kỳ được
xem là có nguy cơ tự tử nơi giới trẻ.
( METRO 11/1/2008)
===
ÁNH NẮNG MẶT TRỜI CÓ LỢI LÀ CHỮA LÀNH
MỘT SỐ BỆNH UNG THƯ NỘI TẠNG
Lợi ích về mặt sức khỏe của việc phơi
nắng có chừng mực của những người bị
thiếu vitamine D là cao hơn nguy cơ bị
ung thư da gây nên bởi sự phơi nắng
này. Những người sống trên những vĩ độ
của quả địa cầu có nhiều ánh nắng hơn
và do đó có nồng độ vitamine D trong
máu của họ cao hơn, sẽ có nguy cơ chết
vì một ung thư nội tạng thấp hơn nhiều,
so với những người sống về phía Bắc,
theo một nghiên cứu được công bố trong
“ Annales de l’Académie nationale
américaine des sciences ”. Tỷ lệ mắc
phải ung thư đại tràng, ung thư vú và
ung thư tuyến tiền liệt gia tăng khi
đi từ bắc xuống nam, nhưng tỷ lệ sống
sót (taux de survie) ở phương Nam sẽ
cao hơn ở phương Bắc.( METRO
11/1/2008)
===
NÃO BỘ CÓ HIỆU NĂNG LÂU DÀI HƠN CHÚNG
TA TƯỞNG
Não bộ con người vẫn hiệu năng lâu dài
hơn là điều mà các lý thuyết hiện nay
đánh giá, theo một công trình nghiên
cứu mới đây được công bố trên “ Sunday
Times ”. Các khả năng sẽ không bị suy
yếu vào lúc 30 tuổi những vẫn ổn định
và ngay cả được gia tăng trong một vài
trường hợp. Nghiên cứu mới, được chỉ
đạo bởi nhà tâm lý học Mars Larsen của
đại học Đan Mạch Aalborg, căn cứ trên
những trắc nghiệm thương số thông minh
( tests de QI) được thực hiện hai lần
trên những quân nhân Mỹ, một lần đầu
trong thời kỳ thanh niên, và lần thứ
hai vào 20 năm sau đó. Một nghiên cứu
sâu các kết quả cho phép nghĩ rằng ý
tưởng về một đỉnh cao trí thông minh (pic
d’intelligence) xảy ra từ 19 đến 26
tuổi, là sai lầm.Trái lại, trí thông
minh vẫn ổn định trong suốt cả cuộc
đời.
Những khả năng tính toán không bị suy
giảm, trong khi đó vài khả năng về
ngôn từ (capacité verbale) có khuynh
hướng được cải thiện với tuổi tác.
Điều chứng nhận này tương phản với
những công trình nghiên cứu căn cứ
trên những scanner của não bộ, trong
đó sự biến mất của các neurone được
phát hiện bắt đầu từ khoảng 30 tuổi.(
METRO 11/1/2008)
===
TẤM GƯƠNG ĐƯỢC DÙNG ĐỂ CHỐNG LẠI CƠN
ĐAU MA (DOULEUR FANTOME )
Một vài người bị cắt cụt một chân có
cảm giác đau đớn trong vùng cơ thể bị
cắt cụt. Nhờ những buổi “ bước theo
gương ” (marche au miroir), theo nhịp
độ 15 phút mỗi ngày, 5 ngày mỗi tuần,
những cơn đau đớn thường dữ dội của
chi ma (membre fantome) này có thể
được giảm bớt trong một tháng, theo
những kết quả thu được nơi khoảng 20
lính Mỹ trở về từ Irak. Mục đích của
kỹ thuật là yêu cầu người thương binh
xê dịch bằng chân còn nguyên vẹn, đồng
thời nhìn ánh phản chiếu của chi đó
trên gương. Sự giảm đau đớn là do sự
hoạt hóa các vùng não thị giác (zones
cérébrales visuelles) bởi hình ảnh của
chi nguyên vẹn được phản chiếu trong
gương. ( SCIENCES ET AVENIR 1/2008)
===
CÁC SÓNG TỪ CHỐNG LẠI BỆNH TRẦM CẢM
Mặc dầu các tranh cãi, các xung động
từ (impulsions magnétiques) tỏ ra có
hiệu quả và không nguy hiểm trong điều
trị bệnh trầm cảm thể nặng, mà 20 đến
40% các trường hợp không đáp ứng với
các thuốc chống trầm cảm hoặc với tâm
lý trị liệu pháp.Trái với sốc điện (électrochoc)
chuyển đi một dòng điện cường độ mạnh
trong toàn não bộ, sự kích thích bằng
sóng từ xuyên sọ (stimulation
magnétique transcranienne : STM) đặt
một từ trường trên một vùng đặc
biệt.Trong số 325 bệnh nhân của công
trình nghiên cứu được lãnh đạo bởi
John 0’Reardon (Pensylvanie), 155 bệnh
nhân được điều trị bởi STM trong 6
tuần, trong khi những bệnh nhân khác
nhận một điều trị giả.Tỷ lệ thuyên
giảm hai lần cao hơn nơi những bệnh
nhân được điều trị bởi STM so với nhóm
nhận điều trị giả.( SCIENCE ET VIE
1/2008)
BS
Nguyễn
Văn
Thịnh |
|