Thoi-Nay - Giai Tri va Doi Song

Trang chính
Khoa học kỹ thuật và Đời sống

Mục lục

Vi tính
(hiện tại):

KHKT&DS:

Khoa học kỹ thuật và Đời sống: Phụ trách TN

Chức năng: 
1. Thông tin KHKT & Đời sống
(thiết thực, bổ túc và hướng dẫn)
2. Gạch nối giữa các thế hệ và sợi dây liên lạc của đội ngũ chuyên gia KHKT/VN (giới thiệu các tổ chức, công ty, sản phẩm, công trình nghiên cứu...)
 
BS Nguyễn Văn Thịnh:  
(last updated: 1/2008 - Khoa Học)  
   

BỆNH THIẾU CHÚ Ý ( DEFICIT D’ATTENTION) Ở TRẺ EM : NGUYÊN NHÂN DO THIẾU SẮT ?

Bệnh thiếu chú ý ( déficit d’attention), rối loạn có liên quan đến 5% - 10% các trẻ em ở tuổi học đường, là do sự loạn chức năng của vài chất dẫn truyền thần kinh ( dopamine, noradrénaline…). BS Eric Konofal và nhóm nghiên cứu của ông thuộc bệnh viện Robert-Debré đã tự hỏi về lợi ích điều trị của một liều lượng bổ sung sulfate de fer nơi các trẻ em này. Họ đã chứng tỏ rằng 84% các trẻ bị rối loạn này có nồng độ ferritine dưới mức bình thường. Trong một nghiên cứu nhỏ, các nhà nghiên cứu đã chứng tỏ rằng sắt có thể cải thiện một cách đáng kể tình trạng lâm sàng của những trẻ được điều trị, trái với những trẻ chỉ đã nhận một placebo.( PARIS MATCH, 3/1-9/1/2008)
 

===

MỘT CUỘC SỐNG LÀNH MẠNH LÀM GIA TĂNG TUỔI THỌ 14 NĂM

Không hút thuốc, uống ít rượu, ăn trái cây và rau xanh và tập thể dục đều đặn..4 quy tắc đơn giản để kéo dài tuổi thọ.

Nhiều công trình điều tra đã chứng tỏ rằng nghiện thuốc lá cũng như uống rượu quá độ làm rút ngắn cuộc đời. Người ta cho rằng ăn trái cây và rau xanh đều đặn và tập thể dục là điều tốt. Nhưng chưa có ai đã tính toán những điều lợi ích từ một lối sống có những tập tính như thế.
Từ nay đó là điều đã được thực hiện, bởi vì một nhóm các nhà nghiên cứu của đại học Cambridge (Vương Quốc Anh), cùng với Medical Research Council đã chú ý đến vấn đề này và đã tiến hành trong 14 năm một điều tra cho phép xác nhận rằng lối sống được xem là lý tưởng này (ít nhất là về mặt y tế) sẽ làm gia tăng tuổi thọ 14 năm, so với những người có tất cả những yếu tố nguy cơ cộng lại. Công trình của các nhà nghiên cứu được công bố tuần này trong tạp chí Public Library of Science Medicine.

Để đạt được kết quả này, các nhà nghiên cứu của Cambridge vào năm 1993 đã bắt đầu theo dõi 20.244 người, đàn ông và phụ nữ, tuổi từ 45 đến 79 tuổi, sau khi đã tra cứu về lối sống của họ. Mỗi người tham gia được nhận một điểm số (score) một điểm đối với mỗi tập tính có lợi về mặt sức khỏe ( không hút thuốc = 1 điểm, uống rượu ít (1/2 ly mỗi ngày) = 1 điểm, cũng như ăn 5 trái cây và rau xanh mỗi ngày (1 điểm) và tập thể dục nửa giờ mỗi ngày (1 điểm).Vào năm 2006, các nhà điều tra đã có thể ghi nhận được 1987 tử vong trong số 20.000 người tình nguyện này và đã đặt mối tương quan giữa thời gian sống của mỗi người với lối sống của họ.


TỶ LỆ TỬ VONG DO TIM BỊ ẢNH HƯỞNG BỞI LỐI SỐNG

Các kết luận đã được dự kiến, tuy nhiên chúng mang lại nhiều lời giải thích rõ ràng về những hậu quả về mặt y tế của một lối sống lành mạnh. Đối với những người không có điểm nào, nghĩa là có đủ tất cả 4 tập tính có hại (hút thuốc, uống rượu nhiều, không ăn trái cây và rau xanh, không tập thể dục), nguy cơ tử vong được nhân lên 4,4 lần, so với những người có điểm số 4. Nguy cơ tử vong lần lượt được nhân lên 2,52 , 1,95 và 1,39 đối với những người tôn trọng một (1điểm), hai (2 điểm) hoặc ba (3 điểm) tập tính có lợi về mặt sức khỏe.
Với tất cả các dữ kiện này, các nhà nghiên cứu cũng đã tính toán rằng một người 60 tuổi có tất cả các tập tính có nguy cơ (comportements à risques) (nghĩa là không có một điểm số nào) có cùng nguy cơ tử vong như một người 74 tuổi có điểm số 4 (nghĩa là không có một yếu cố nguy cơ nào được nêu trên đây). Nhìn toàn bộ, trong nhóm người được theo dõi bởi các nhà nghiên cứu này, các khả năng sống sót là 95% đối với những người có một cuộc sống hoàn toàn “ lành mạnh ”, so với 75% đối với những người có nhiều tập tính có nguy cơ. “ Có một sự giảm dần rõ rệt nguy cơ tử vong với sự gia tăng của những tập tính dương tính. Những người tôn trọng 4 tập tính có lợi, có nguy cơ tử vong ¼ ít hơn so với những người không tôn trọng một tập tính nào cả, điều này tương đương với một dị biệt 14 năm hy vọng được sống thêm, các tác giả kết luận như thế.Tỷ lệ tử vong do tim (mortalité cardiaque) có vẻ bị ảnh hưởng nhất bởi lối sống ”.

“ Đây là lần đầu tiên người ta phân tích hiệu quả kiêm nhiệm của các yếu tố nguy cơ lên tỷ lệ tử vong, giáo sư Kay-Tee Khaw, tác giả công trình nghiên cứu trên site Internet của BBC đã giải thích như thế. Chúng ta cũng đã chứng tỏ rằng nguồn gốc xã hội hay thể trọng chỉ ảnh hưởng rất ít lên nguy cơ tử vong. Một bộ phận lớn của dân chúng có thể rút được nhiều lợi ích về mặt y tế bằng cách thay đổi có mức độ lối sống ” .

Như vậy mặc dầu không sử dụng một viên thuốc nào, chúng ta vẫn có thể kéo dài tuổi thọ.Vấn đề là xem có thể thuyết phục các đồng hương của chúng ta để họ thay đổi lối sống để được sống lâu hơn và nếu họ muốn sống già hơn thì họ phải tự nhịn bớt một vài lạc thú của trần gian.( LE FIGARO 9/1/2008)


===
MỐI QUAN HỆ GIỮA CHỨNG NGHIỆN THUỐC LÁ VÀ TỰ TỬ ?

Có một mối quan hệ đáng lo ngại giữa chứng nghiện thuốc lá và nguy cơ tự tử, các nhà nghiên cứu người Đức trong một công trình nghiên cứu được công bố trong một tạp chí chuyên môn « Journal of Affective Disorders » đã gợi ý như vậy.

Những lời cảnh cáo mà ai cũng đã biết rõ trên những bao thuốc lá , như « Hút thuốc làm chết người » hay « Hút thuốc gây ung thư », rồi một ngày nào đó lại thêm một thông điệp « Hút thuốc gia tăng nguy cơ tự tử ».

« Các chiến dịch chống nghiện thuốc lá cũng phải nhấn mạnh đến nguy cơ cao có những ý tưởng tự tử (pensées suicidaires) nơi những người hút thuốc ngẫu nhiên hay đều đặn », nhóm các nhà nghiên cứu được dưới sự chỉ đạo của Thomas Bronisch đã xác nhận như vậy. Các công trình của họ được căn cứ trên các dữ kiện của một nghiên cứu tâm lý học được phát động vào năm 1995 nơi 3.021 thanh niên Munich tuổi từ 14 đến 24 tuổi, được theo dõi trong 3 năm rưỡi. Khoảng ¼ trong số những thanh niên này đã không bao giờ hút thuốc lá. Số còn lại là người người hút thuốc ngẫu nhiên (40%), những người hút thuốc đều đặn (17%), những người hút thuốc đều đặn “ không nghiện ” (17%) và những người nghiện hút thuốc (19%).

Trong số những người không hút thuốc (non-fumeurs), khoảng 15% đã báo cáo là đã có những ý tưởng tự tử (được định nghĩa như là có kế hoạch tự sát hoặc mong muốn được chết trong hai tuần hoặc hơn). Con số này đạt đến khoảng 20% nơi những người hút thuốc ngẫu nhiên (fumeurs occasionnels) và những người hút thuốc không nghiện (fumeurs non dépendants) và 30% nơi những người nghiện hút thuốc (fumeurs dépendants).
Mối liên hệ càng rõ nét hơn khi người ta xét đến những toan tính tự tử (69). Chỉ 0,6% những người không hút thuốc đã báo cáo là đã toan tính kết liễu cuộc đời, so với tỷ lệ 1,6% nơi những người hút thuốc nhưng không nghiện và 6,4% nơi những người nghiện hút thuốc.

Những công trình nghiên cứu trước đây đã gợi ý một mối liên kết giữa tự tử và nghiện thuốc lá, nhưng không trả lời được câu hỏi là nghiện thuốc lá là nguyên nhân hay chỉ là triệu chứng.

Các nhà nghiên cứu người Đức đã công nhận rằng các công trình của họ có nhiều hạn chế.Trước hết, trong thời gian công trình nghiên cứu đã không có trường hợp tự tử nào đã được ghi nhận, và vì vậy công trình này dựa trên những ý tưởng tự tử và những toan tính tự tử. Ngoài ra, vài người trong số những người tham gia còn là những thiếu niên trẻ tuổi, vào cuối công trình, đã chưa qua hết thời kỳ được xem là có nguy cơ tự tử nơi giới trẻ. ( METRO 11/1/2008)


===
ÁNH NẮNG MẶT TRỜI CÓ LỢI LÀ CHỮA LÀNH MỘT SỐ BỆNH UNG THƯ NỘI TẠNG

Lợi ích về mặt sức khỏe của việc phơi nắng có chừng mực của những người bị thiếu vitamine D là cao hơn nguy cơ bị ung thư da gây nên bởi sự phơi nắng này. Những người sống trên những vĩ độ của quả địa cầu có nhiều ánh nắng hơn và do đó có nồng độ vitamine D trong máu của họ cao hơn, sẽ có nguy cơ chết vì một ung thư nội tạng thấp hơn nhiều, so với những người sống về phía Bắc, theo một nghiên cứu được công bố trong “ Annales de l’Académie nationale américaine des sciences ”. Tỷ lệ mắc phải ung thư đại tràng, ung thư vú và ung thư tuyến tiền liệt gia tăng khi đi từ bắc xuống nam, nhưng tỷ lệ sống sót (taux de survie) ở phương Nam sẽ cao hơn ở phương Bắc.( METRO 11/1/2008)


===
NÃO BỘ CÓ HIỆU NĂNG LÂU DÀI HƠN CHÚNG TA TƯỞNG

Não bộ con người vẫn hiệu năng lâu dài hơn là điều mà các lý thuyết hiện nay đánh giá, theo một công trình nghiên cứu mới đây được công bố trên “ Sunday Times ”. Các khả năng sẽ không bị suy yếu vào lúc 30 tuổi những vẫn ổn định và ngay cả được gia tăng trong một vài trường hợp. Nghiên cứu mới, được chỉ đạo bởi nhà tâm lý học Mars Larsen của đại học Đan Mạch Aalborg, căn cứ trên những trắc nghiệm thương số thông minh ( tests de QI) được thực hiện hai lần trên những quân nhân Mỹ, một lần đầu trong thời kỳ thanh niên, và lần thứ hai vào 20 năm sau đó. Một nghiên cứu sâu các kết quả cho phép nghĩ rằng ý tưởng về một đỉnh cao trí thông minh (pic d’intelligence) xảy ra từ 19 đến 26 tuổi, là sai lầm.Trái lại, trí thông minh vẫn ổn định trong suốt cả cuộc đời.
Những khả năng tính toán không bị suy giảm, trong khi đó vài khả năng về ngôn từ (capacité verbale) có khuynh hướng được cải thiện với tuổi tác. Điều chứng nhận này tương phản với những công trình nghiên cứu căn cứ trên những scanner của não bộ, trong đó sự biến mất của các neurone được phát hiện bắt đầu từ khoảng 30 tuổi.( METRO 11/1/2008)


===
TẤM GƯƠNG ĐƯỢC DÙNG ĐỂ CHỐNG LẠI CƠN ĐAU MA (DOULEUR FANTOME )

Một vài người bị cắt cụt một chân có cảm giác đau đớn trong vùng cơ thể bị cắt cụt. Nhờ những buổi “ bước theo gương ” (marche au miroir), theo nhịp độ 15 phút mỗi ngày, 5 ngày mỗi tuần, những cơn đau đớn thường dữ dội của chi ma (membre fantome) này có thể được giảm bớt trong một tháng, theo những kết quả thu được nơi khoảng 20 lính Mỹ trở về từ Irak. Mục đích của kỹ thuật là yêu cầu người thương binh xê dịch bằng chân còn nguyên vẹn, đồng thời nhìn ánh phản chiếu của chi đó trên gương. Sự giảm đau đớn là do sự hoạt hóa các vùng não thị giác (zones cérébrales visuelles) bởi hình ảnh của chi nguyên vẹn được phản chiếu trong gương. ( SCIENCES ET AVENIR 1/2008)


===
CÁC SÓNG TỪ CHỐNG LẠI BỆNH TRẦM CẢM

Mặc dầu các tranh cãi, các xung động từ (impulsions magnétiques) tỏ ra có hiệu quả và không nguy hiểm trong điều trị bệnh trầm cảm thể nặng, mà 20 đến 40% các trường hợp không đáp ứng với các thuốc chống trầm cảm hoặc với tâm lý trị liệu pháp.Trái với sốc điện (électrochoc) chuyển đi một dòng điện cường độ mạnh trong toàn não bộ, sự kích thích bằng sóng từ xuyên sọ (stimulation magnétique transcranienne : STM) đặt một từ trường trên một vùng đặc biệt.Trong số 325 bệnh nhân của công trình nghiên cứu được lãnh đạo bởi John 0’Reardon (Pensylvanie), 155 bệnh nhân được điều trị bởi STM trong 6 tuần, trong khi những bệnh nhân khác nhận một điều trị giả.Tỷ lệ thuyên giảm hai lần cao hơn nơi những bệnh nhân được điều trị bởi STM so với nhóm nhận điều trị giả.( SCIENCE ET VIE 1/2008)

 

BS Nguyễn Văn Thịnh

 
    Thoi Nay - Giai Tri va Doi Song

Mục lục

Nano
(hiện tại-tương lai):

Vũ trụ:

KHKT&DS:

   
 

Copyright © 2011 | TN InfoWay