|
BỆNH ĐÁI
ĐƯỜNG VÀ BỆNH TRẦM CẢM
Những người bị bệnh đái đường loại 2
đang được điều trị, có một nguy cơ gia
tăng bị chứng trầm cảm (dépression).
Trái lại, những bệnh nhân trầm cảm có
một khuynh hướng cao phát triển bệnh
đái đường loại 2. Đó là kết luận được
rút ra từ một công trình nghiên cứu,
được thực hiện bởi Sherita Hill Golden
(Johns Hopkins University School of
Medicine in Baltimore) và nhóm nghiên
cứu. Các tác giả đã phân tích các dữ
kiện của 6.814 người được theo dõi từ
năm 2000 đến 2005. Trong nhóm 4.847
người tham gia không bị chứng trầm cảm
lúc bắt đầu công trình nghiên cứu, các
trường hợp trầm cảm mới nơi những bệnh
nhân không bị bệnh đái đường cũng
nhiều như nơi những người bị bệnh đái
đường loại 2 không được điều trị. Trái
lại, tỷ lệ mắc phải trầm cảm hai lần
quan trọng hơn trong nhóm được điều
trị.
Theo các tác giả, có lẽ sự căng thẳng
tâm lý liên kết với điều trị bệnh đái
đường giải thích hiện tượng này. Mặt
khác các nhà nghiên cứu cũng đã chứng
thực rằng nơi những người bị trầm cảm
vào lúc đầu của công trình nghiên cứu,
nguy cơ xuất hiện một chứng trầm cảm
trong lúc theo dõi là 30% cao hơn tỷ
lệ mắc phải nơi những người không bị
trầm cảm.
Nguồn : LE JOURNAL DU MEDECIN
(27/6/2008)
===
“DOCTEURE”
IRMA LeVASSEUR (1878-1964), NGƯỜI PHỤ
NỮ ĐÃ LÀM THAY ĐỔI LỊCH SỬ Y KHOA Ở
QUEBEC
Le docteur ( hay la “docteure” như
người ta thường nói về những thầy
thuốc nữ ở Québec) Irma LeVasseur là
người thầy thuốc nữ đầu tiên đã giành
được quyền hành nghề ở Québec. Người
phụ nữ này đã mở các cánh cửa của các
đại học y khoa và của các bệnh viện
cho các phụ nữ ở Québec và đã có một
con đường sự nghiệp đặc biệt, nhưng
trong lúc sinh thời bà đã không bao
giờ được sự công nhận mà đáng lý ra bà
có quyền được hưởng.
NGƯỜI CON GÁI CỦA MỘT TRONG NHỮNG NHÂN
VẬT NÊN THƠ CỦA QUEBEC.
Irma sinh ngày 18 tháng giêng năm 1878
ở Québec. Mẹ của cô, Fedora Venner,
một nữ ca sĩ người Pháp, từ giã chồng
con để làm lại cuộc đời khi Irma mới
10 tuổi. Cha cô, Louis Nazaire
LeVasseur không chỉ là nhà báo, chủ
bút tờ báo L’événement, văn sĩ và nhà
viết sử, mà ông còn là một nhạc sĩ vẹn
toàn.
Ông đã học âm nhạc từ lúc 5 tuổi,
không những có tất cả các tài năng của
nhạc sĩ đàn ống (organiste),
violoniste, contrebassiste, mà còn là
nhà soạn nhạc đã tham gia vào sự hình
thành bài quốc ca Canada. Ông là một
trong những hội viên sáng lập của
Septuor Haydn năm 1871, và chơi trong
Hội nhạc giao hưởng Québec (nhạc
trưởng nhạc giao hưởng tương lai của
Québec). Ngoài ra ông cũng đã là lãnh
sự ở Québec, của Nicaragua, Guatemala
và của Chili. Nhưng Nazaire LeVasseur
đã bắt đầu theo học y khoa ở Đại Học
Laval, và ông đã bỏ học sau đó vì
những lý do tài chánh...
MỘT VĂN BẰNG Ở MỸ KHÓ ĐƯỢC CHẤP NHẬN Ở
CANADA.
Irma trước hết học ở Couvent de Jésus-Marie
de Sillery và sau đó tiếp tục theo học
ở trường sư phạm Laval. Cô quyết định
trở thành thầy thuốc, có lẽ để thực
hiện ước mơ mà cha cô đã phải từ bỏ,
cũng có lẽ bởi vì cô đã thấy 3 trong
số các anh em của cô chết lúc còn nhỏ…
có lẽ vì tất cả những lý do này hợp
lại.
Nhưng Canada khi đó cấm phụ nữ vào học
ở đại học.
Do đó, Irma đã đi Hoa Kỳ, và theo học
ở trường y, thuộc Đại Học Saint Paul ở
Minnesota. Tốt nghiệp năm 1900, cô
muốn trở lại Québec với ý định hành
nghề nhưng gặp phải một trở ngại mới.
Văn bằng mà cô có được ở Hoa Kỳ không
đủ : để hành nghề y khoa trên đất
Québec, cần phải có giấy phép của
Collège des médecins et chirurgiens...
Cô đưa đơn lên Quốc Hội để xin xét lại
điều khoản cấm các phụ nữ hành nghề y
khoa.
Trong lúc chờ đợi, BS LeVasseur hành
nghề y khoa ở Nữu Ước cho đến năm
1903, năm mà sau cùng cô trở lại quê
quán.Thật vậy Quốc Hội đã thông qua
một dự luật riêng, dành một ngoại lệ
cho cô khỏi bị điều khoản cấm phụ nữ
hành nghề y. Nhưng trước hết Irma phải
trải qua một kỳ thi của Collège des
médecins et chirurgiens. Đậu được kỳ
thi này, sau cùng cô có thể hành nghề
và trở thành người thầy thuốc nữ đầu
tiên ở Québec.
MỘT NGHỊ LỰC KHÔNG GIỚI HẠN PHỤC VỤ
CÁC TRẺ EM BỊ BỆNH.
BS LeVasseur rụng rời trước tỷ lệ tử
vong cao nơi các trẻ em dưới 5 tuổi ở
Québec vào đầu thế kỷ 20. Montréal với
271 tử vong trên 1000 trẻ sinh ra đời,
trở thành thành phố đứng thứ hai trên
thế giới, sau Calcutta, với tỷ lệ tử
vong cao nhất nơi các em bé. Quyết
định chống lại tai ương này, BS
LeVasseur lại di cư một lần nữa : lần
này qua châu Âu, ở Paris và ở Đức, nơi
bà theo học chuyên khoa nhi và ngoại.
Bà trở lại Canada năm 1907 và thành
lập trước hết ủy ban cứu trợ các bà mẹ
nghèo khó và các trẻ em bị suy dinh
dưỡng. Irma có một giấc mơ : thành lập
một bệnh viện điều trị nhi đồng miễn
phí cho những người nghèo khó nhất.
Săn sóc các trẻ nhỏ và nhất là từ
những gia đình nghèo, đó là một tư
tưởng cách mạng vào một thời kỳ mà
việc chết chóc của các trẻ em là
chuyện thường tình, đến độ người ta ít
bỏ công để săn sóc các trẻ em nhỏ tuổi,
nhất là trong giới nghèo khổ. Cái tâm
tính phổ biến vào thời đó là đừng quá
thương xót khi một nhũ nhi bị chết và
có một đứa con khác... Irma muốn rằng
mọi chuyện phải thay đổi. Bà đã gõ
nhiều cánh cửa và cuối cùng đã gặp bà
Justine DeGaspé-Beaubien và bà này
chấp nhận hổ trợ việc xây dựng bệnh
viện đầu tiên dành cho trẻ em của
Montréal. Người ta có thể nói rằng vào
lúc Irma gặp Justine, thì đã có bệnh
viện rồi : thật vậy BS LeVasseur cho
trú ngụ tại nhà bà một em bé bị bệnh.
Em bé này sẽ là bệnh nhân đầu tiên của
“ Refuge des enfants malades ”.
Bệnh viện nhi đồng tạm bợ này được tổ
chức với nhiều sự ứng tác và hào phóng.
Sau cùng BS LeVasseur có thể áp dụng
các khả năng chuyên khoa nhi của mình.
“ Refuge des enfants malades ” dời chỗ
và từ nay trở thành Hôpital Sainte
Justine nổi tiếng. Nhưng vì những lý
do không được rõ, Irma đã bị gạt ra
khỏi hội đồng quản trị vài tháng sau
khi bệnh viện thành lập và từ chức. Bà
Justine Beaubien tiếp tục theo đuổi
công trình.
MỘT NỮ ANH HÙNG CỦA ĐẠI CHIẾN.
Năm 1915, thế giới lâm chiến. Ở Serbie,
một trận dịch sốt chấy rận (typhus)
giết chết dân chúng còn hơn là bom đạn.
BS Irma LeVasseur trong số 5 thầy
thuốc Canada đáp lời kêu gọi cứu trợ
Serbie : bà đã tận tụy ở đó trong hai
năm. Năm 1918 người ta thấy lại bà ở
Nữu Ước, tại đây bà làm việc cho Hội
chữ thập đỏ.
Trở lại Québec năm 1920, bà ghi danh
vào Trường Mỹ Thuật vừa mới mở cửa,
bởi vì Irma cũng say mê hội họa. Nhưng
năm 1922, với tiền riêng của mình, bà
mua một dinh cơ, nằm cách nghị viện
không xa, và vào năm 1933 mở một bệnh
xá, với một thầy thuốc chuyên khoa
chỉnh hình và chuyên khoa nhi, Hôpital
de L’Enfant-Jésus tương lai, hiện nay
là Centre Hospitalier, một bộ phận của
Đại Học Laval. Nhưng một lần nữa bà
lại bị nhanh chóng hất ra khỏi hội
đồng quản trị mà sự quản lý được giao
cho các nữ tu.
Năm 1930 một dự án khác của Irma được
thực hiện : một cơ quan cho các trẻ em
bị tật nguyền, sẽ trở thành école
Cardianal-Villeneuve.
Vào đầu đệ nhị thế chiến, bà buộc các
nữ tân binh quân đội phải trải qua một
khám nghiệm y khoa.
CUỐI ĐỜI TRONG CẢNH BẦN CÙNG VÀ CÔ LẬP.
Khi bà thôi làm việc ít lâu sau đó, bà
hoàn toàn rơi vào tình trạng nghèo khổ,
sống ẩn dật trong một ngôi nhà bé nhỏ,
sinh sống bằng đồ hộp do các người bà
con mang lại. Năm 1957, một thầy thuốc
ký đơn xin bắt nhốt Irma trong một
trại tâm thần và bà phải sống 6 tháng
ở đó trước khi toà án cho bà thắng
kiện.
Irma LeVasseur chết vào năm 1964 lúc
87 tuổi trong một dưỡng đường cho các
người già, hoàn toàn không được ai
biết đến. Phải đợi năm 2004, sau cùng
tên bà được ghi dưới tên của cha mình,
trên một tấm bia của phần mộ gia đình,
nơi bà đã được chôn cất. Và các vinh
dự xứng đáng với sự nghiệp đời bà chỉ
được ban cho bà sau khi mất.
Nguồn : LA SEMAINE MEDICALE
(26/6/2008)
===
CÁC NGHI VẤN
MỚI VỀ TÍNH ĐỘC HẠI CỦA CÁC ĐIỆN THOẠI
CẦM TAY
Công trình nghiên cứu của Bỉ cho thấy
một sự gia tăng tỷ lệ tử vong nơi
chuột tiếp xúc với các làn sóng được
sử dụng trong công nghệ học di động
(technologies mobiles).
Người ta đã không ngừng tự hỏi về các
nguy cơ của sự sử dụng điện thoại cầm
tay (téléphone portable) lên sức khỏe
của con người. Mặc dầu chiếc máy bé
nhỏ này đã trở nên một công cụ liên
lạc cần thiết cho hàng trăm triệu
người trên thế giới, nhưng dù sao đi
nữa, sự phát minh của nó còn quá sớm
để có thể đo lường được hết tầm tác
hại về mặt y tế. Do khoảng thời gian
nhìn lại còn ít, nên tất cả vẫn còn
trong tình trạng lưỡng lự. Trong khi
chờ đợi những kết luận của những công
trình nghiên cứu lớn (những công trình
được phát động bởi OMS, mà các kết quả
sẽ được biết vào năm 2015), nhiều công
trình nghiên cứu đột xuất và các thí
nghiệm trên động vật đã và đang được
tiến hành.
Chính như thế mà hôm qua, nhật báo Le
Soir của Bỉ đã tường thuật những kết
quả của một luận án nói về tầm tác
dụng về mặt y tế trên chuột “ của
những làn sóng được sử dụng trong công
nghệ học di động (GSM, antennes
relais,Wi-Fi, radars...) ”. Dirk Adang
đã bảo vệ luận án tiến sĩ khoa học áp
dụng của mình, hôm thứ hai ở UCL (Université
catholique de Louvain). Một luận án
được báo chí nhắc đến là việc hoàn
toàn đặc biệt, nhưng chủ đề đang còn
nóng bỏng. Ở Pháp, cách nay 10 ngày,
khoảng 20 chuyên gia về ung thư đã đưa
ra 10 lời khuyến nghị cho việc sử dụng
hợp lý các điện thoại cầm tay. Một lời
kêu gọi sự thận trọng mà Viện hàn lâm
y học đã chỉ trích vài ngày sau đó,
cho rằng lời kêu gọi này đã khơi sâu
thêm những mối lo âu một cách không có
lý do.
“Chúng tôi đã chứng thực một tỷ lệ tử
vong lớn hơn trong những nhóm người
tiếp xúc với các làn sóng, so với nhóm
kiểm chứng, cũng như một sự gia tăng
các bạch cầu trong một vài nhóm người
được tiếp xúc ”, Dirk Adang, sẽ công
bố những công trình nghiên cứu của
mình trong một ngày gần đây trong một
tạp chí quốc tế, đã tóm tắt như vậy.
“ GIA TĂNG SỐ BẠCH CẦU ”
“ Đó là công trình nghiên cứu được
tiến hành trên một số lượng lớn chuột
như vậy ”, nhà nghiên cứu trẻ đã xác
nhận như thế. Mỗi ngày, trong suốt 2
giờ và trong 18 tháng, Dirk Adang đã
cho tiếp xúc một cách đồng thời, 3
nhóm với 31 con chuột trong mỗi nhóm,
với các làn sóng điện từ có các tần số
khác nhau. Đối với một trong 3 nhóm,
mức tiếp xúc dưới một nửa những tiêu
chuẩn của OMS. Ngoài ra có một nhóm
chứng gồm những con chuột không được
cho tiếp xúc, đã cho phép so sánh tình
trạng sức khỏe của các động vật.
18 tháng tiếp xúc với sóng điện từ nơi
chuột, điều đó tương ứng 63 năm nơi
con người. Một khoảng thời gian sử
dụng mà chưa có con người nào đã từng
trải qua. Một loạt các xét nghiệm máu
đã được thực hiện để đo lường những
tác dụng của việc tiếp xúc này trong
thời gian. Số các tế bào đơn nhân (monocytes)
đã bắt đầu gia tăng bắt đầu từ tháng
thứ ba. “ Như thể là cơ thể phản ứng
lại với một cuộc tấn công ”, người
trình luận án trẻ tuổi đã kết luận như
vậy. Kết luận khác liên quan với tỷ lệ
tử vong của chuột : tỷ lệ này gia tăng
gấp đôi trong nhóm có chuột được tiếp
xúc với các làn sóng của các điện
thoại cầm tay và của các mạng Wi-Fi.
Tuy nhiên luận án đã không đưa ra lời
giải thích về sự gia tăng tỷ lệ tử
vong này.
Công trình nghiên cứu cũng đã phát
hiện những rối loạn hành vi. Một kết
quả làm ngạc nhiên Gérard Lasfargues,
trưởng phòng “ santé au travail ” của
Cơ quan an ninh y tế, môi trường và
lao động của Pháp.Thật vậy, nhiều thí
nghiệm trên chuột đã được tiến hành
nhằm xác định những mức giới hạn của
sự tiếp xúc các làn sóng, dầu đó là ở
Pháp hay ở nơi nào khác trên thế
giới.Thế mà những rối loạn hành vi chỉ
luôn luôn xuất hiện với những liều
lượng cao.
“ Phải chờ đợi sự công bố trong một
tạp chí để đo lường tầm quan trọng của
công trình này ”, Gérard Lasfargues đã
nhấn mạnh như thế, từ chối mọi lời
bình phẩm, khi không biết liều lượng
và trường tiếp xúc .“ Dẫu sao đi nữa,
không phải chỉ một công trình nghiên
cứu sẽ làm biến đổi những chuẩn mực đã
có hiện nay. Chúng ta vẫn trong tình
trạng không chắc chắn. Nhiều lời
khuyến nghị sử dụng đã có ”. Chỉ cần
tuân theo những lời khuyến nghị này,
thế thôi.
Nguồn : LE FIGARO (25/6/2008)
====
TUỔI CỦA
NGƯỜI CHA ẢNH HƯỞNG LÊN SỰ THÀNH CÔNG
CỦA THỤ TINH NHÂN TẠO
Paris. Tuổi của người cha đóng một vai
trò lên sự thành công của thụ thai,
theo một công trình nghiên cứu được
thực hiện bởi một trung tâm sinh đẻ
nhân tạo (centre de reproduction
assistée) của Pháp, trên các cặp vợ
chồng khó có con. Công trình nghiên
cứu này cho thấy tỷ lệ thai nghén bị
giảm khi người cha trên 40 tuổi. Nếu
tác dụng của tuổi của người mẹ lên khả
năng thụ thai một đứa bé đã được xác
lập rõ ràng, thì đây là lần đầu tiên
một tác dụng về phía người cha, cũng
quan trọng như phía người mẹ, đã được
chứng tỏ, theo Stéphanie Belloc của
Trung tâm Eylau. Hơn 12.000 cặp vợ
chồng đã thăm khám Trung tâm Eylau từ
năm 2002 đến năm 2006, được đưa vào
trong công trình nghiên cứu, với
21.239 trường hợp thụ tinh trong tử
cung (insémination intra-utérine) đã
được thực hiện. Kỹ thuật này nhằm đặt
tinh dịch của người đàn ông vào trong
xoang tử cung của người phụ nữ, qua
trung gian một catheter, để làm dễ sự
gặp gỡ giữa noãn và tinh trùng.
Nguồn : METRO (11/7/2008)
===
CHOLESTEROL “
TỐT ” CÓ LỢI CHO TRÍ NHỚ
Những nồng độ cholesterol “ tốt ” quá
thấp được liên kết với một sự thiếu
hụt hay sa sút nhận thức vào tuổi 60,
theo một công trình được công bố bởi
các nhà nghiên cứu, chủ trương một đời
sống lành mạnh hơn.
Một nồng độ bất bình thường
cholestérol có thể là một yếu tố nguy
cơ của bệnh Alzheimer không ? Nếu câu
trả lời chưa được rõ ràng, một công
trình nghiên cứu của Pháp, được công
bố ngày 30 tháng 6, trong tạp chí
chuyên khoa
Arteriosclerosis,Thrombosis and
Vascular Biology, vừa cho thấy rằng
một nồng độ cao cholestérol “ tốt ” (
còn được gọi là HDL-cholestérol ), sẽ
là một đồng minh cần thiết của chất
lượng trí nhớ nơi những người trên 60
tuổi.
Nhiều công trình nghiên cứu đã đề xuất
một mối liên kết giữa sự kiện có một
nguy cơ tim mạch và sự biến đổi của
các chức năng nhận thức (fonctions
cognitives) (ở mức trí nhớ) với tuổi
tác, như thế tạo nên một nguy cơ bị
bệnh Alzheimer. Cũng cùng cách như vậy,
theo những công trình nghiên cứu khác,
bệnh đái đường và chứng béo phì sẽ làm
dễ sự xuất hiện của một chứng sa sút
trí tuệ như thế. Tuy nhiên, khó xác
lập một mối liên hệ đặc biệt giữa các
bất thường của nồng độ các chất mỡ
trong máu và nguy cơ bị chứng sa sút
trí tuệ bởi vì “ profil lipidique ”
của các bệnh nhân thường bị biến đổi
bởi nhiều yếu tố, trong đó có chính
căn bệnh.
Ước muốn làm sáng tỏ vấn đề, nhóm
nghiên cứu của Archana Singh-Manoux đã
quyết định theo dõi từ năm 1999 và
2004 một nhóm 3.700 các viên chức
người Anh ở lứa tuổi 60, tất cả đều có
khả năng về trí tuệ. Mục đích là đánh
giá một cách song hành tiến triển của
profil lipidique (cholestérol toàn thể,
HDL và LDL, triglycérides) và hoạt
động của trí nhớ. Để thực hiện điều
này, những phân tích máu đã được thực
hiện hai lần cách nhau 5 năm. Những
trắc nghiệm về trí nhớ cũng được thực
hiện : những người tình nguyện phải
nêu lên tối đa các chữ trong số 20 chữ
được trình bày vài giây phút trước đó.
Người không có khả năng nêu lên hơn 4
chữ được cho là thiếu hụt chức năng
nhận thức (déficit cognitif). Quên
thêm hơn hai chữ giữa hai câu thể hiện
một suy đồi nhận thức thật sự (déclin
cognitif).
CÓ MỘT HOẠT ĐỘNG VẬT LÝ ĐỀU ĐẶN
Sau cùng, những kết quả là không chối
cãi được. Đối với những người có một
nồng độ cholestérol “ tốt ” thấp (dưới
0,4 g/L), nguy cơ thiếu hụt trí lực (déficit
intellectuel) gia tăng 27%, so với
những người có một nồng độ trên
0,6g/L. 5 năm sau, sự liên kết này lại
càng rõ hơn. Các viên chức với một
nồng độ cholestérol “ tốt ” ít cao vẫn
còn có nhiều nguy cơ bị thiếu hụt năng
lực trí lực hơn. Cũng giống hệt những
người mà nồng độ đã giảm trong 5 năm.
Những người này có một nguy cơ gia
tăng bị suy thoái trí tuệ so với những
người bảo tồn những nồng độ cao HDL (trên
0,6g/L).
Như thế nhóm nghiên cứu của Archana
Singh-Manoux, nữ giám đốc nghiên cứu
của Inserm (đơn vị 687) đã phát hiện
sự hiện hữu của một sự thiếu hụt, thậm
chí một sự suy sụp nhận thức nơi những
người 60 tuổi khi nồng độ cholestérol
“ tốt ”, HDL (lipoprotéine de haute
densité), là quá thấp trong máu, với
trị số dưới 0,4 g/L (bình thường, đối
với đàn ông 0,4 đến 0,65g/L và đối với
đàn bà, từ 0,5 đến 0,8g/L). “ Công
trình nhiên cứu này phát hiện mối liên
hệ rõ rệt giữa những nồng độ thấp của
cholestérol “ tốt ” và sự xuất hiện
một sự sa sút nhận thức, kể cả có tính
đến những yếu tố khác khả dĩ dẫn đến
một sự sa sút trí tuệ (démence) (các
biến cố tim mạch, tiêu thụ rượu) ”,
Archana Singh-Manoux đã bình luận như
vậy.
Sự suy thoái nhận thức (déclin
cognitif) là giai đoạn đầu tiên hướng
về chứng sa sút trí tuệ (démence), mặc
dầu không phải tất cả những người có
các rối loạn về trí nhớ đều rơi vào
bệnh Alzheimer. Công trình này tán
đồng những lời khuyến nghị về các chế
độ ăn uống đơn giản nhằm làm dễ những
nồng độ cao hơn cholestérol “ tốt ”.
Ăn ít thịt mỡ và thịt lợn, ăn nhiều cá
hơn, thay thế các chất béo bảo hòa
nguồn gốc động vật (bơ, lòng đỏ trứng
gà, phó mát) bằng những chất mỡ không
bảo hòa, có nguồn gốc thực vật như vài
loại dầu. Loại bỏ các acide béo trans
được tìm thấy trong các sản phẩm kỹ
nghệ (món ăn được làm sẵn, fastfood,
bánh quy...). Và có một hoạt động vật
lý đều đặn. Để duy trì một trí nhớ có
chất lượng tốt.
Nguồn : LE FIGARO (2/7/2008)
===
ALZHEIMER :
CHẲNG BAO LÂU NỮA BỆNH SẼ ĐƯỢC CHẨN
ĐOÁN SỚM HƠN
Bệnh Alzheimer là con ngựa chiến của
nhiều nghiên cứu, một sự kiên trì giờ
đây bắt đầu thu được kết quả. Tuần này,
một mặt, người ta loan báo sự khám phá
một gène làm gia tăng nguy cơ của bệnh.
Và mặt khác, hiệu chính một phương
pháp chẩn đoán hiệu năng hơn.
Các nhà khoa học của Viện nghiên cứu y
khoa Feinstein đã nghiên cứu gène
CALHM1 nơi hơn 2.000 bệnh nhân. Họ đã
chứng thực rằng vài dạng của loại gène
này dường như làm biến hóa khả năng
của một tế bào não thu nhận calcium và
làm gia tăng 45% nguy cơ phát triển
bệnh.
Kỹ thuật này đã chứng tỏ hiệu quả
trong hai bệnh viện của Pháp và như
thế sẽ phải cho phép một chẩn đoán
bệnh sớm hơn và một thái độ xử trí tốt
hơn các bệnh nhân.
Nguồn : LE SOIR (27/6/2008)
===
CAFEINE LÀM
DỊU BỚT BỆNH XƠ CỨNG RẢI RÁC
Các nồng độ cao cà phê bảo vệ chuột
chống lại bệnh thần kinh thường xảy ra
nhất của các người trưởng thành trẻ
tuổi.
Là chất có hoạt tính dược lý được tiêu
thụ nhiều nhất, caféine hiện diện
trong nhiều thức ăn như cà phê, trà,
soda hay chocolat. Các công trình
nghiên cứu về tác dụng của caféine lên
sức khỏe không ngừng gia tăng, phát
hiện lần lượt những tính chất có lợi
và có hại của caféine. Công trình
nghiên cứu mới nhất gợi ý rằng caféine
với liều lượng cao, bảo vệ chống lại
bệnh xơ cứng rải rác (sclérose en
plaques). Được công bố on line trong
Annales de l’académie américaine des
sciences, công trình nghiên cứu này đã
được thực hiện trên loài chuột.
Các nhà nghiên cứu của Oklahoma
Medical Research Foundation, cộng tác
với Đại Học Cornell ( Nữu Ước) và Đại
Học Turku ( Phần Lan), đã khám phá ra
rằng 6 đến 8 tách cà phê mỗi ngày bảo
vệ các động vật gặm nhấm này chống lại
bệnh viêm não tủy tự miễn dịch thực
nghiệm (encéphalomyélite auto-immune
expérimentale). Đây là bệnh xơ cứng
rải rác trên động vật dùng làm thí
nghiệm.
Nhờ đâu caféine có được tính chất này
? Caféine ngăn cản adénosine phát khởi
một loạt các phản ứng dẫn đến bệnh
viêm não tủy tự miễn dịch thực nghiệm.
Adénosine là một trong 4 phần tử cấu
tạo ADN. Rất thông thường nơi cơ thể
con người, adénosine đặc biệt đóng một
vài trò chủ yếu trong quá trình sinh
hóa của giấc ngủ, của sự thức tỉnh và
sự chuyển năng lượng.
Trong công trình nghiên cứu này,
caféine có tác dụng phong bế sự liên
kết giữa adénosine và một trong các
thụ thể (récepteur) của nó. Kết quả :
vài tế bào lympho T (các bạch cầu đóng
một vài trò chủ chốt trong đáp ứng
miễn dịch) không thể đến được hệ thần
kinh trung ương và do đó làm phát khởi
những phản ứng dẫn đến một bệnh tương
đương với xơ cứng rải rác ở loài chuột.
“ ĐÁNG NGẠC NHIÊN VÀ ĐẦY PHẤN KHỞI ”
“ Đó là một khám phá gây hứng khởi và
hoàn toàn đáng ngạc nhiên ”, Linda
Thompson, thầy thuốc chuyên khoa ung
thư, một trong các tác giả của công
trình này đã đánh giá như vậy. Nhưng
mặc dầu các kết quả này tỏ ra đầy hứa
hẹn, tuy vậy một con chuột không phải
là một con người ! Những nghiên cứu
quan trọng còn cần phải được thực hiện
để xem caféine có cùng tác dụng lên cơ
thể con người hay không. Phải bắt đầu
bằng một nghiên cứu nhìn về quá khứ :
vạch lại các thói quen của những người
tiêu thụ cà phê và tác dụng của
caféine trên các triệu chứng của những
người bị bệnh xơ cứng rải rác. “ Nếu
một công trình nghiên cứu như thế phát
hiện một tương quan giữa việc tiêu thụ
caféine và một sự giảm các triệu chứng
của bệnh lý này, thì điều đó sẽ cổ vũ
hơn nữa những nghiên cứu trên con
người ”, Linda Thompson đã kết luận
như vậy.
Bệnh xơ cứng rải rác (sclérose en
plaques) là một bệnh tự miễn dịch tấn
công vào hệ thần kinh trung ương. Bệnh
này gây nên sự biến mất chất myéline
bao quanh các sợi thần kinh của não bộ
và tủy sống. Do đó các sợi thần kinh
này không còn có khả năng dẫn truyền
luồn thần kinh điều khiển chức năng
cảm giác hay vận động nữa. Bệnh xơ
cứng rải rác là một bệnh thần kinh
thường xảy ra nhất nơi những người
trưởng thành trẻ tuổi. Thường phát
bệnh giữa năm 20 và 40 tuổi, bệnh xơ
cứng rải rác gây bệnh ở phụ nữ 2 lần
nhiều hơn so với đàn ông. Ổ Bỉ, người
ta ước tính 10.000 đến 12.000 người bị
bệnh này.
Nguồn : LE SOIR (2/7/2008)
===
VIỆC UỐNG
THUỐC ĐỀU ĐẶN NƠI NHỮNG NGƯỜI BỊ BỆNH
ĐỘNG KINH
Việc tuân thủ kém trong việc uống
thuốc chống động kinh phải chăng liên
kết với một sự gia tăng tỷ lệ tử vong
và làm gia tăng nguy cơ những biến cố
lâm sàng nghiêm trọng ( thăm khám
phòng cấp cứu, nhập viện, tai nạn lưu
thông, gãy xương và bị thương tích ở
đầu) ? Một nhóm nghiên cứu người Anh,
E. Faught và các cộng sự viên, đã thực
hiện một công trình nghiên cứu ở
Florida, Iowa và New Jersey, từ tháng
giêng năm 1997 đến tháng 6 năm 2006.
Các bệnh nhân 18 tuổi hoặc hơn đã được
tuyển chọn, được chẩn đoán bởi một
thầy thuốc thần kinh và sử dụng 2
thuốc chống động kinh hoặc hơn. Các
bệnh nhân dùng 80% (hoặc hơn) liều
lượng được cho, được xem là tuân thủ
điều trị (compliant).
Các kết quả cho thấy rằng ¼ các bệnh
nhân đã được xếp loại là không tuân
thủ điều trị (non compliant). Việc kém
tuân thủ trong điều trị được liên kết
với một sự gia tăng nguy cơ tử vong,
được nhân lê gấp ba lần, so sánh với
những người tuân thủ tốt điều trị.
Những thời kỳ không tuân thủ cũng đặc
trưng bởi một tỷ lệ gia tăng một cách
đáng kể những lần đến phòng cấp cứu,
nhập viện, tai nạn lưu thông và gãy
xương, so với những thời kỳ tuân thủ
điều trị. Đối với các tác giả, những
dữ kiện này gợi ý rằng, nơi những bệnh
nhân bị động kinh, việc tuân thủ kém
trong việc uống thuốc chống động kinh
có thể có những hậu quả nghiêm trọng
và làm gia tăng nguy cơ bị những biến
cố lâm sàng nghiêm trọng.
Nguồn : LE JOURNAL DU MEDECIN
(27/6/2008)
====
MỘT GENE
CHỐNG LẠI CHỨNG SAY ĐỘ CAO ( MAL DE
L’ALTITUDE)
Nhiều cầu thủ bóng đá của Euro 2008 và
các vận động viên tham dự Jeux
Olympiques sắp đến, tập luyện ở độ cao.
Như vậy, các nhà thể thao có được một
sự tăng thêm oxy vào lúc thi đấu.
Phương pháp này không phải là mới và
không bị cấm đoán, nhưng không phải là
không nguy hiểm về lâu về dài. Ngoại
trừ đối với những người “ thích nghi
về phương diện di truyền ” với những
điều kiện trên đỉnh núi cao, một công
trình nghiên cứu được công bố trong “
PloS ONE ” đã chỉ rõ như vậy.
Những người đã có cơ hội đi lên những
độ cao trên 3000 m đã có thể cảm nhận
nhanh chóng một sự khó khăn lúc gắng
sức. Bước đi có vẻ mệt hơn, khó thở
xuất hiện nhanh, áp suất không khí làm
giảm khả năng chịu đựng lúc gắng sức.
Đối phó với các tham số mới này, cơ
thể con người không thể dửng dưng và
thích nghi để đáp ứng với tình trạng
này.
Sự thích nghi này được thể hiện bởi
một sự gia tăng sản xuất hồng cầu, các
tế bào đảm bảo sự vận chuyển oxy trong
toàn bộ các mô của cơ thể. Chính sự
tăng sinh các hồng cầu này là có hại :
máu có nhiều hồng cầu hơn trở nên dày
đặc. Ít lỏng hơn, máu lưu thông ít tốt
hơn, điều này có thể gây đau đầu, mất
ngủ, mệt mỏi và rối loạn trí nhớ.
Những biến chứng trầm trọng hơn như
phù cũng đã được ghi nhận. Đó là chứng
say cấp tính của miền núi (mal aigu
des montagnes). Tuy nhiên một vài sắc
dân ít bị nhạy cảm hơn với chứng bệnh
này.
Nhóm nghiên cứu của Otto Appenzeller,
nhà khoa học thần kinh của Cơ quan
nghiên cứu Nouveau-Mexique, đã nghiên
cứu tính mẫn cảm này nơi những người
Ethiopie, Pérou và Tây Tạng, lần lượt
sống ở những độ cao 3.600, 4.300 và
4.500 mét. Để thực hiện điều này, các
nhà khoa học đã nghiên cứu một nhóm
các gène được biết có can dự trong sự
thích nghi với một môi trường kém oxy.
Đối với mỗi nhóm, biểu hiện của các
gène này trong các bạch cầu đã được
quan sát nơi những người bị chứng say
cấp tính của miền núi và nơi những
người không cảm thấy các triệu chứng.
DÂN ETHIOPIE LÀ THÍCH NGHI TỐT HƠN.
Otto Appenzeller đã chứng nhận rằng
các người Ethiopie có số lượng các
gène này nhiều hơn hai nhóm dân Pérou
và Tây Tạng. Trong số các gène này,
ông đã nhận diện gène PDP2, rất liên
kết với chứng say cấp tính của miền
núi. Những người có PDP2 ít biểu hiện
là rất nhạy cảm với chứng say cấp tính
miền núi. Vậy gène này giúp thích nghi
với những nồng độ oxy thấp hơn. Gène
này giới hạn nhu cầu oxy và như thế
giới hạn sự sản xuất hồng cầu.
Vấn đề còn tồn tại : tại sao gène này
biểu hiện chủ yếu nơi các người
Ethiopie, là dân sống ở độ cao thấp
nhất ? Tất cả là một vấn đề thích nghi
tiến hóa. Những người Ethiopie định cư
ở miền núi trước người Tây Tạng và
Pérou.
Nguồn : LE SOIR (23/6/2008)
===
GẠO ĐỎ CÓ LỢI
CHO TIM
Công trình này được tiến hành trên
5.000 bệnh nhân tuổi từ 18 đến 70, ở
rải rác trong 60 bệnh viện của Cọng
Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Những bệnh
nhân này, đã bị một cơn đau tim vào
năm trước, nhận 2 viên 300 mg XZK hay
một placebo. Sau đó các bệnh nhân này
được theo dõi trong 5 năm. XZK, hay
Xuezhikang, là một men gạo đỏ, chứa
chủ yếu lovastatine và ergostérol.
Kết quả sau 5 năm : nguy cơ bị tái
phát cơn đau tim, đối với những bệnh
nhân đã dùng XZK đã giảm 45%. Sự tái
tạo mạch (revascularisation) được cải
thiện 1/3 sau phẫu thuật tạo hình mạch
(angioplastie) (mang lại cho các động
mạch vàng bị hẹp, một đường kính thỏa
mãn cho tuần hoàn máu) hay một phẫu
thuật by-pass. Việc sử dụng XZK dường
như cũng đã cải thiện số phận của 33%
các bệnh nhân trên quan điểm tỷ lệ tử
vong tim mạch hay tỷ lệ tử vong toàn
thể. Về tỷ lệ tử vong tim mạch, tỷ lệ
này giảm 66% so với những bệnh nhân sử
dụng placebo. “ Rất là phấn chấn, bởi
vì ở đây chúng ta nói về một sản phẩm
tự nhiên chỉ có những tác dụng phụ
hiếm hoi và không gây thay đổi huyết
áp, BS Capuzzi đã giải thích như vậy.
XZK được chế tạo từ một giống gốc nấm
bé xíu đặc biệt (Monascus purpureus
Went), được chuẩn hóa để chứa một tỷ
lệ monacoline nào đó. Không nên lẩn
lộn XZK với các chất bổ sung được bán
không cần toa trên một vài nơi trên
thế giới.
Nguồn : LE SOIR (10/6/2008)
Bác sĩ Nguyễn
Văn
Thịnh
|
|