|
DỰ ÁN TIM
NHÂN TẠO CỦA PHÁP
G.S Alain Carpentier, chuyên gia giải
phẫu tim mạch và ghép tim ở Bệnh viện
châu Âu Georges-Pompidou (Paris), đã
tuyên bố hôm qua rằng một trái tim
nhân tạo hoàn toàn (un coeur
artificiel total) sẽ được sản xuất để
ghép thử nghiệm trên người “ từ nay
đến hai năm rưởi nữa ”. Dự án tim nhân
tạo toàn bộ mà ông đã làm việc từ 15
năm nay với groupe européen de défense
et d’aéronautique EADS, sẽ được sản
xuất một cách công nghiệp.
Mặc dầu Alain Carpentier đã dấn thân
vào cuộc chạy đua này từ gần 20 năm
nay, nhưng sự đua tranh chung quanh
trái tim nhân tạo vẫn gay gắt. Ở Hoa
kỳ, hãng Abiomed dường như đã đi trước
nhiều, vì lẽ hãng đã được sự chuẩn y
của FDA năm 2006 để sản xuất Abiocor.
14 phẫu thuật ghép tim nhân tạo đã
được thực hiện với thời gian sống còn
5 tháng sau khi ghép. Và ở Nhật bản 5
nhóm cạnh tranh đang làm việc về chủ
đề này !
Năm 1982, một mô hình tim nhân tạo đầu
tiên, Jarvik 7, được ghép cho một nha
sĩ và ông này sau đó chỉ sống được 3
tháng. Lớn hơn nhiều một trái tim tự
nhiên, chiếc máy này được nối với một
máy nén ngoài cơ thể (compresseur
extracorporel) với trọng lượng hơn 40
kg. Những điều bất tiện khác đã giới
hạn sự sử dụng máy tim nhân tạo này
như năng lượng được tiêu thụ và những
nguy cơ đông máu trong máy.
Chính những điều bất lợi này mà G.S
Carpentier hôm nay dự kiến xóa bỏ. Thứ
nhất : trái tim nhân tạo của ông chỉ
cân nặng 900 g, nghĩa là 3 lần lớn hơn
trái tim tự nhiên, và mặc dầu cồng
kềnh nhưng hoàn toàn có thể chịu được
trong một lồng ngực. Thứ hai : máy
hoạt động một cách tự trị, nhờ những
bình điện và khả năng truyền năng
lượng bằng một phích điện được gắn …sau
tai. Thứ ba, và đó là điều chủ yếu,
trái tim nhân tạo của Carpentier được
cấu tạo bởi một phần quan trọng các
vật liệu được dung nạp tốt hơn, “ các
bộ phận giả sinh học ” (
bioprothétiques ), được chế tạo từ các
mô động vật đã được xử lý hoá học để
tránh sự thải bỏ miễn dịch (rejet
immunologique). Những vật liệu mà ông
đã hiệu chính cho các van tim nhân tạo
(prothèses de valves cardiaques) được
bán ngày nay trên thế giới… Dự án
Carpentier tái tạo lại cấu trúc của
tim người với hai tâm thất độc lập
nhau, lưu lượng của mỗi tâm thất được
điều khiển bởi các bộ phận bắt áp suất
(capteurs de pression). Một mạch điện
thích ứng với các nhu cầu của người
mang.“ Điều vẫn còn không rõ, đó là
phải biết những phần nào sẽ được chế
tạo bằng mô động vật. Nếu dự án này
thành công, chúng ta sẽ có thể dự kiến
sử dụng một trái tim nhân tạo hoàn
toàn với thời gian hơn vài tuần, trong
lúc chờ đợi một trái tim phù hợp về
mặt sinh học (biocompatible), do sự
thiếu miên viễn những người cho cơ
quan. Nhưng những nghiên cứu song hành
khác cũng đầy hứa hẹn, như nghiên cứu
hiệu chính một tấm thất trái nhân tạo
(ventricule gauche artificiel) duy
nhất. ”. Tâm thất nhân tạo này phải
gởi máu được oxy hóa cho toàn cơ thể,
phải sinh ra một áp suất 150 mm, trong
khi tâm thất phải có thể chỉ cần một
áp suất 10 lần thấp hơn. 90% những
người bệnh cần ghép tim có tâm thất
trái bị vấn đề ”, G.S Luc Jacquet,
trưởng khoa bệnh lý tim mạch của
Cliniques universitaires Saint-Luc (Bỉ)
đã nói như vậy.
Đối với 10 triệu người bị suy tim trên
thế giới, và đối với họ ghép tim là
giải pháp duy nhất, thì dự án tim nhân
tạo quả là một tin tốt lành. Với một
trọng lượng 900 gam (hoặc gấp đôi
trọng lượng của tim người), cái bơm
tim (pompe cardiaque) được chế tạo từ
các vật liệu sinh học và chứa đầy điện
tử này hẳn cho phép giải quyết vấn đề
khan hiếm của các trái tim được hiến.
Nhưng, theo G.S Carpentier, phải đợi
những thử nghiệm lâm sàng đầu tiên nơi
người, được dự kiến “ từ nay đến hai
năm rưởi nữa ” để đảm bảo rằng điều
đổi mới 100% Pháp này giữ đúng tất cả
các lời hứa.
THIẾT BỊ “ CHỐNG MÁU ĐÔNG ”
Nguyên mẫu được hiệu chính, cho đến
nay trong vòng hết sức bí mật, bởi
nhóm nghiên cứu của G.S Carpentier,
trong các trụ sở của EADS, ở Suresnes
(Haut-de-Seine), đã được trắc nghiệm
thành công nơi động vật (bê và cừu).
Nhất là, những người khởi xướng cố
gắng giải quyết vấn đề chủ yếu mà các
tim nhân tạo hiện hành đang gặp phải,
đó là “ sự tạo thành các cục máu đông
” lúc tiếp xúc với các vật liệu lạ. Để
đạt được điều đó, G.S Carpentier sử
dụng những “ vật liệu giả sinh học ”
(“ bioprosthétique ”) được dung nạp
tốt hơn, có được từ “ các mô động vật
được xử lý hóa học để tránh sự thải bỏ
miễn dịch ”, theo mô hình các “
bioprothèses valvulaire ” mà ông đã
hiệu chính cách nay 20 năm, từ các
mảnh sụn heo. Các van tim nhân tạo này,
đã khiến cho ông năm ngoái nhận được
giải quốc tế Albert Lasquer về nghiên
cứu y học, ngày nay đã được sử dụng
thành công trên toàn thế giới. Từ đó
nảy sinh ý nghĩ chế tạo một trái tim
hoàn toàn theo mô hình này. Để chống
lại sự tạo thành của các cục máu đông,
kiến trúc của các tâm thất được thiết
kế làm sao để ngăn cản sự tạo thành
các luồng chảy rối (turbulences) thuận
lợi cho sự đông máu. Sự đổi mới quan
trọng khác : G.S Carpentier đã thành
công tái tạo sinh lý của một trái tim
tự nhiên với cùng “ huyết động ” (hémodynamique),
nói một cách khác cùng những luồng máu
(flux sanguins). Rõ ràng là trái tim
nhân tạo của ông có khả năng điều hòa,
nhờ các bộ phận bắt áp lực (une
batterie de capteurs), những lưu lượng
và tần số tim tùy theo các nhu cầu của
bệnh nhân (tư thế năm hay đứng, nghỉ
ngơi hay gắng sức) và đây là một phát
minh đầu tiên. (LE FIGARO 28/10/2008)
( LE SOIR 3/11/2008)
====
MỘT VACCIN
CHỐNG UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT
Đối với những người đàn ông có một
nồng độ hormone PSA cao (chỉ dấu đầu
tiên của ung thư tuyến tiền liệt)
nhưng không có một dấu hiệu bệnh, ngày
nay, các thầy thuốc chỉ có thể đề nghị
một sự theo dõi thụ động tiến triển
của bệnh, hay một điều trị hung bạo,
mặc dầu có thể tỏ ra vô ích. Ở
Californie, các nhà nghiên cứu đã thí
nghiệm một vaccin trên một loại ung
thư tuyến tiền liệt nơi chuột. Nơi 18
động vật trong số 20 con của nhóm
không được điều trị, các nhà nghiên
cứu đã quan sát thấy sự phát triển của
bệnh. Bù lại, việc tiêm vaccin đã ngăn
cản sự phát triển của các khối u.
Nhiều trắc nghiệm và thử nghiệm lâm
sàng cần được tiến hành trước khi đi
đến một vaccin dùng cho người, nhưng
giai đoạn thử nghiệm đầu tiên này đã
đánh dấu một bước tiến quan trọng.(
READER’S DIGEST 11/20008)
===
NHỮNG CHÌA
KHOÁ ĐỂ TĂNG CƯỜNG HỆ PHÒNG THỦ MIỄN
DỊCH
G.S Luc Montagnier, vừa nhận được giải
Nobel về y học, và B.S Pierre Mantello,
nhà sinh học, giải thích làm sao để
tăng cường hệ phòng thủ miễn dịch của
chúng ta. Giáo sư Montagnier là tác
giả của “ Combats de la vie ”. B.S
Pierre Mantello là đồng tác giả của “
Vivre longtemps et en bonne santé ”.
Hỏi : Những thành phần và vai trò của
hệ phòng thủ miễn dịch (système de
défenses immunitaires) của chúng ta ?
G.S Luc Montagnier : Có hai loại phòng
thủ : miễn dịch bẩm sinh (immunité
inné) (di truyền) có được lúc chúng ta
sinh ra đời, và miễn dịch thụ đắc (immunité
acquise) có được từ những biến cố của
cuộc sống. Trong trường hợp miễn dịch
bẩm sinh, chính những tế bào-lính
(cellules-soldats), những lympho bào,
được gọi là “ những quân giết người tự
nhiên ” (tueurs naturels), và các đại
thực bào (macrophages), tấn công các
tác nhân xâm lấn như các vi trùng,
những tế bào ung thư. Trong trường hợp
miễn dịch thụ đắc, có sự xác định mục
tiêu của đáp ứng miễn dịch đối với một
kẻ thù nhất định. Lúc đó các tế bào
lympho B sẽ tiết các kháng thể và các
kháng thể này được cố định vào kẻ xâm
lược. Những tế bào lympho sát nhân
khác được sản xuất bởi tuyến ức
(thymus) (tuyến nhỏ nằm sau xương ức)
cũng sẽ được lên chương trình để phá
hủy các tế bào đã bị gây nhiễm bởi kẻ
xâm lấn.
Hỏi : Những yếu tố nào đã dẫn đến một
sự suy giảm của hệ phòng thủ miễn dịch
này ?
G.S Luc Montagnier : Có 3 loại chính :
1. một sự suy tàn được chương trình
hóa (un déclin programmé), do sự lão
hóa của tuyến ức. Tuyến này chi dạy
cho các bạch cầu và cũng cho phép
chúng ghi nhớ kẻ thù để nhận diện và
chống lại nó. Sự biến đổi của tuyến ức
do sự lão hóa gây nên sự giảm sút số
các chiến sĩ, do đó đội quân phòng vệ
bị suy yếu đi. Nhưng may mắn thay, để
bù lại sự thiếu hụt này, chúng ta còn
có những khả năng của hệ miễn dịch bẩm
sinh và các tế bào lympho đã ghi nhớ
các kháng thể này. 2. Yếu tố thứ hai :
một hoạt tính viêm kéo dài. 3. Stress
oxy hóa : các gốc tự do (radicaux
libres), những dẫn xuất hoạt tính của
oxy, bình thường được sinh ra khi năng
lượng được sản xuất bởi các bình điện
nhỏ (các thể hạt, mitochondries), và
khi các tác nhân gây nhiễm trùng bị
tiêu diệt bởi các bạch cầu. Stress oxy
hóa xuất hiện khi các gốc tự do quá
thặng dư và khi chúng oxy hóa hay “
làm rỉ ” các thành phần của tế bào :
protéines, ADN, các màng tế bào.
Hỏi : Có những phương tiện để biết
tình trạng của hệ phòng thủ của chúng
ta ?
B.S Pierre Mantello : Các xét nghiệm
máu được thực hiện trong những phòng
xét nghiệm cổ điển cho phép đánh giá
khả năng phòng thủ miễn dịch của chúng
ta (kháng thể, bạch cầu...). Việc đánh
giá khả năng phòng thủ chống oxy hóa (
défense antioxydante) của chúng ta thì
tế nhị hơn và được thực hiện trong
những phòng xét nghiệm chuyên môn.
Những xét nghiệm này cho phép phát
hiện một stress oxy hoá cần phải xác
định nguyên nhân : nhiễm trùng hay
viêm, nguyên nhân môi trường (lối sống)
hay sự suy yếu của hệ chống oxy hóa (système
antioxidant). Tất cả những định lượng
này là quan trọng để phòng ngừa.
Thường thường, stress oxy hóa xảy ra
âm thầm, không có triệu chứng đặc biệt,
tích tụ trong nhiều năm, làm dễ sự lão
hóa và sự xuất hiện các bệnh trầm
trọng.
Hỏi : Ta có thể làm gì để chống lại 3
yếu tố làm giảm miễn dịch này ?
G.S L.M : Mặc dầu chúng ta vẫn bất lực
trong việc chống lại sự suy tàn của
tuyến ức, trái lại chúng ta có thể
chống lại stress oxy hóa : nếu stress
oxy hóa được gây nên bởi sự nhiễm
trùng, thì phải nhận diện tác nhân gây
nhiễm và điều trị . Trong trường hợp
suy yếu các khả năng phòng thủ chống
oxy hóa (défenses antioxydantes), nếu
có một sự thiếu hụt rõ ràng vài loại
vitamine hay các vi yếu tố (microélément)
(sélénium, kẽm, đồng), thì khi đó cần
cho bổ sung để bù lai những thiếu hụt
này. Chúng ta cũng có thể kích thích
khả năng phòng thủ của chúng ta với
một chất bổ sung (complément) như
Immun’ Age.
B.S. P.M : Đó là một trích chất của
trái cây (của đu đủ được lên men), sản
phẩm được chế biến theo một kỹ thuật
rất chuyên biệt được gọi là “ FPP ”.
Hiệu quả của Immu’ Age đã được chứng
tỏ bởi hơn 40 công trình nghiên cứu.
Chất bổ sung này hoạt hóa vài enzyme
đặc hiệu của hệ chống oxy hóa của
chúng ta. Nó cũng kích thích hệ phòng
thủ miễn dịch của chúng ta bằng sự
hoạt hóa một enzyme khác, oxyde
nitrique synthétase. Theo tất cả các
nghiên cứu, sản phẩm này mang lại một
sự hỗ trợ không thể chối cãi được cho
sự bảo vệ cơ thể.
G.S L.M : Để kích thích khả năng phòng
thủ của chúng ta, chúng ta có thể lấy
một sản phẩm khác : glutathion được
tổng hợp dưới dạng hoạt tính (một chất
được cung cấp bởi cơ thể của chúng ta,
nhưng trở nên thiếu hụt lúc lớn tuổi).
Các tế bào của chúng ta sử dụng
glutathion để chống lại stress oxy hóa.
Chất glutathion này, hoạt tính bằng
đường miệng, chỉ được thương mại hóa ở
Bắc Mỹ.
Hỏi : Trong đời sống, để gìn giữ các
khả năng phòng thủ của chúng ta, ông
có những lời khuyên nào ?
B.S. P.M : Phải giới hạn những yếu tố
đưa đến sự tạo thành các gốc tự do (radicaux
libres) như một sự tiếp xúc quá quan
trọng với ánh sáng mặt trời (do tia tử
ngoại), thuốc lá, uống rượu quá độ và
... thể thao quá mức, có khả năng bắt
cơ thể sản xuất quá nhiều gốc tự do. (
PARIS MATCH 23/10-29/10/2008)
===
NHỮNG NGƯỜI
BỊ BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT CÓ MỘT BẤT
THƯỜNG NÃO BỘ
Nhờ chụp hình ảnh não bộ, Arnaud
Cachia và các đồng nghiệp của service
hospitalier Frédéric-Joliot, ở Orsay,
đã cho thấy rằng các thiếu niên bị
bệnh tâm thần phân liệt có diện tích
của rãnh bên (sillon collatéral) bị
giảm. Vùng này của não bộ có liên quan
trong chức năng trí nhớ, học tập, điều
hòa cảm xúc và sự nhận diện các khuôn
mặt. Chức năng này bị hỏng rất nhiều
nơi những người bị bệnh tâm thần phân
liệt. “ Công trình nghiên cứu của
chúng tôi gợi ý rằng bệnh tâm thần
phân liệt có liên quan với sự phát
triển của não bộ, vì lẽ vùng thái
dương (région temporale) này là một
vùng rất thành thục ở tuổi thiếu niên,
nơi người lành mạnh. Nhưng sự kiện quá
trình thành thục của não bộ có liên hệ
trong sự phát sinh bệnh tâm thần phân
liệt không có nghĩa là bệnh này chỉ
thuần là thực thể, điều đó chỉ làm
sáng tỏ cho chúng ta về những cơ chế
có liên quan trong sự xuất hiện của
bệnh này ”, Arnaud Cachia đã giải
thích như vậy.
===
CÁC THUỐC
KHÁNG VIÊM LÀM GIẢM CÁC TRIỆU CHỨNG
CỦA BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT
Nhà dịch tễ học Hoà Lan đã phân tích
những tác dụng của AINS và các
corticoides lên bệnh loạn tâm thần (psychose).
Và đặc biệt hơn, các hiệu quả của
aspirine kết hợp với các thuốc an thần
kinh (neuroleptiques).
Người ta biết từ lâu rằng bệnh tâm
thần phân liệt (schizophrénie) được
liên kết với một tình trạng viêm trong
não bộ, nhưng không biết sự viêm nhiễm
này có đóng một vai trò trong sự phát
sinh bệnh này hay không. Vì nếu quả
đúng như vậy thì bệnh này có thể tránh
được bằng một điều trị những vùng bị
viêm nhiễm. Người ta đã thực hiện một
công trình nghiên cứu để xem điều gì
xảy ra nếu cho các thuốc kháng viêm.
Các kết quả tạm thời cho thấy rằng
aspirine kết hợp với các thuốc an thần
kinh (neuroleptique) thông thường làm
giảm mức độ nghiêm trọng của những
triệu chứng loạn tâm thần (symptomes
psychotiques). Hiệu quả này được đặc
biệt nhận thấy nơi những bệnh nhân mà
thuốc men đã không đem lại sự thành
công được mong đợi.
Công trình nghiên cứu đã kết luận rằng
AINS và các corticostéroides có tác
dụng bảo vệ lên nguy cơ xảy ra một đợt
loạn tâm thần trong bệnh tâm thần phân
liệt.
NHỮNG YẾU TỐ NGUY CƠ.
Một công trình nghiên cứu khác đã cho
thấy rằng chỉ vào thời kỳ mãn kinh tỷ
lệ mắc bệnh tâm thần phân liệt nơi các
phụ nữ mới đạt tỷ lệ mắc phải của đàn
ông. Đối với nhiều nhà nghiên cứu, đó
là do vai trò bảo vệ của các
oestrogène và vài người kết luận rằng
phải khuyên một liệu pháp oestrogène
kết hợp với một thuốc an thần kinh (neuroleptique)
nơi những phụ nữ bước vào thời kỳ mãn
kinh, với lợi điểm là có thể giảm liều
lượng của thuốc an thần kinh. ( LE
JOURNAL DU MEDECIN 17/ 10/2008)
====
BỆNH ĐÁI
ĐƯỜNG : NGĂN NGỪA NHỮNG BIẾN CHỨNG CỦA
GAN
Hỏi : Tại sao những người bị bệnh đái
đường có nguy cơ ở gan hơn ?
G.S Thierry Poynard : Bệnh đái đường
là một vấn đề của sự điều hòa đường
trong cơ thể ; loạn chức năng gây nên
một sự rối loạn trong sự phân bố mỡ
bởi gan, có thể đưa đến một sự quá tải
mỡ (surcharge) trong gan (stéatose :
nhiễm mỡ). Bệnh đái đường, gây bệnh
cho 10% dân Pháp, chịu trách nhiệm
40.000 tử vong mỗi năm, một cách trực
tiếp hay gián tiếp qua một biến chứng.
Hỏi : Những biến chứng đáng sợ nhất ở
gan là những biến chứng nào ?
G.S Thierry Poynard : Sự tích tụ mỡ ở
gan có thể gây nên một sự viêm nhiễm
và sự viêm này sẽ tạo nên những thương
tổn, để lại những vết sẹo tiến triển (sự
xơ hóa, fibrose) mà hậu quả nghiêm
trọng nhất và đáng sợ nhất là xơ gan (cirrhose
hépatique). Chính xơ gan dẫn đến những
những hậu quả khác vô cùng nghiêm
trọng : xuất huyết tiêu hóa hay ung
thư gan.
Hỏi : Những triệu chứng nào cho phép
nghi ngờ một biến chứng ở gan ?
G.S Thierry Poynard : Khổ thay, tiến
triển dần dần hướng về một xơ hóa (fibrose)
hay xơ gan (cirrhosis) không gây triệu
chứng trong thời gian lâu. Những dấu
hiệu lâm sàng rõ rệt chỉ xuất hiện ở
một giai đoạn tiến triển. Chúng có thể
được thể hiện dưới dạng mửa ra máu,
vàng da, cổ trướng (ascite).
Hỏi : Trước khi Fibrotest, một xét
nghiệm đơn giản, được hiệu chính,
chúng ta đã có những phương tiện chẩn
đoán nào ?
G.S Th.P : Để phát hiện nơi những
người bị bệnh đái đường một biến chứng
có thể xảy ra, người ta đã thực hiện
một siêu âm gan hay một xét nghiệm máu
nhằm đánh giá nồng độ của một vài
enzyme (transaminases và gamma GT).
Nhưng những xét nghiệm này rất ít nhạy
cảm và cho những âm tính giả. Hơn 50%
các xơ gan đã không được phát hiện !
Hỏi : Fibrotest, xét nghiệm từ nay cho
phép phát hiện tốt hơn những hậu quả
của bệnh đái đường, là gi ?
G.S Th.P : Đó là một xét nghiệm phân
tích máu đơn giản, trong đó người ta
định lượng 5 chất (các chỉ dấu,
marqueurs) lưu thông trong máu và bị
biến đổi trong trường hợp xơ gan (cirrhose)
hay xơ hóa (fibrose) gan. Tùy theo sự
phân tích các chất chỉ dấu này (3
protéine : alpha2-macroglobuline,
apolipoprotéine A1 và haptoglobine,
một enzyme : gamma GT và một chất
nhuộm màu : bilirubine), ta có thể kết
luận không có thương tổn, có một
thương tổn ở mức độ trung bình hay một
tình trạng xơ hóa nặng (xơ gan,
cirrhose).
Hỏi : Độ tin cậy của xét nghiệm này ?
G.S Th.P : Một công trình nghiên cứu,
được thực hiện trong hai năm nơi 1.131
bệnh nhân đái đường không có một triệu
chứng nào nơi gan (trong khoa bệnh đái
đường của bệnh viện Pitié-Salpêtrière)
và được công bố trong tạp chí khoa học
nghiêm chỉnh “ Clinical
Gastroenterology and Hepatology” đã
cho thấy rằng những xét nghiệm này đã
nhận diện 63 bệnh nhân bị một xơ hóa
gan ở giai đoạn tiến triển (trong đó 5
trường hợp xơ gan và 4 trường hợp ung
thư gan). Tất cả những bệnh nhân này
không có một tiền sử nào về bệnh gan !
Người ta đã có thể điều trị phần lớn
những bệnh nhân này đúng lúc. Theo
công trình nghiên cứu này, Fibrotest
đáng tin cậy trong 95% các trường hợp,
một tỷ lệ rất cao.
Hỏi : Ở đâu có thể thực hiện xét
nghiệm này ?.
G.S Th.P : Xét nghiệm này có thể được
thực hiện trong tất cả những phòng xét
nghiệm sinh học và hầu hết các bệnh
viện.
Hỏi : Nói tóm lại, lợi ích của một
chẩn đoán sớm nơi những người bị bệnh
đái đường, nhờ Fibrotest, là gi ?
G.S Th.P : Ta có thể phát hiện những
người có nguy cơ bị xơ hóa trước giai
đoạn tiến triển. Như thế xét nghiệm
này tạo khả năng làm giảm tỷ lệ tử
vong do ung thư và xơ gan (bệnh chịu
trách nhiệm 5 đến 10% các tử vong nơi
các bệnh nhân đái đường ). Nếu xét
nghiệm không cho thấy xơ hóa (fibrose),
thì không có nguy cơ bị biến chứng gan.
( PARIS MATCH 2/10-8/10/2008)
====
ĂN CÁ TRƯỚC 9
THÁNG BẢO VỆ CHỐNG LẠI BỆNH ECZEMA
Sau khi đã theo dõi hơn 4.900 trẻ em
trong 1 năm, các nhà nghiên cứu Thụy
Điển đã cho thấy rằng “ Dầu cho cá
được ăn thuộc loại gì và số lượng bao
nhiêu các trẻ đã ăn cá trước tuổi 9
tháng có nguy cơ bị chàm (eczéma) giảm
được 25%. Nồng độ cao của acide béo
oméga 3 trong cá có thể là nguồn gốc
của lợi ích này ” . ( SCIENCE ET VIE
11/2008)
8/ NHỮNG VI KHUẨN RUỘT BÁO VỆ CHỒNG
LẠI BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG.
Các nhà sinh học Hoa Kỳ đã thành công
bảo vệ chống lại bệnh đái đường của
các chú chuột có tố bẩm bị bệnh này,
bằng cách biến đổi những vi khuẩn hiện
diện trong bộ máy tiêu hóa của chúng.
Hỏi : Ngoài việc giúp đỡ chúng ta tiêu
hóa, những vi khuẩn đường ruột có gì
đáng lưu ý ?
Gérard Eberl : Chúng có một tác động
lên sinh lý của chúng ta. 100 ngàn tỷ
vi khuẩn sống trong ông tiếu hóa của
chúng ta. Chúng thuộc 400 loài khác
nhau, thay đổi tùy theo mỗi cá nhân.
Thế mà bản chất của chúng không phải
là vô hại. Cách nay hai năm, Jeffrey
Gordon và nhóm nghiên cứu của ông
thuộc đại học Washington, Saint Louis,
đã cho thấy rằng những người bị béo
phì có vài loài vi khuẩn với số lượng
lớn hơn. Nhóm nghiên cứu này đã thành
công làm phát phì những chú chuột
không có khuẩn chí ruột (flore
intestinale), chỉ bằng cách truyền cho
chúng những vi khuẩn của ống tiếu hóa
của những chuột béo phì. Ngày nay, với
những nhà nghiên cứu khác của Hoa Kỳ,
nhóm nghiên cứu này cho thấy rằng, tùy
theo tính chất, khuẩn chí ruột có thể
bảo vệ chống lại bệnh đái đường.
Hỏi : Đó là loại bệnh đái đường nào ?
Gérard Eberl : là bệnh tự miễn dịch (maldie
autoimmune), trong đó các tế bào của
tụy tạng bị phá hủy bởi hệ miễn dịch.
Dạng đái đường này, được gọi là loại
1, được gây nên bởi những yếu tố di
truyền, nhưng cả yếu tố môi trường nữa.
Hỏi : Làm sao các nhà nghiên cứu đã
chứng tỏ vai trò bảo vệ của khuẩn chí
ruột (flore intestinale) ?
Gérard Eberl : Nhóm nghiên cứu đã sử
dụng những chú chuột biến dị (souris
mutantes) phát triển một bệnh đái
đường loại 1 ở tuổi trưởng thành.
Ngoài ra, hệ miễn dịch của chúng không
có khả năng nhận biết các vi khuẩn.
Không bị ngăn chặn bởi hệ miễn dịch,
vài loài vi khuẩn đã phát triển trong
ruột của những động vật gậm nhấm này
hơn là trong ruột của những động vật
bình thường. Thế mà, mặc dầu chúng có
tố bẩm đối với bệnh đái đường, những
chú chuột này đã không bị bệnh này. Để
kiểm tra xem điều đó có liên kết với
khuẩn chí ruột (flore intestinale) hay
không, nhóm nghiên cứu đã khảo sát một
nhóm chuột biến dị khác, được sinh ra
không có khuẩn chí ruột : những con
chuột này trở nên bị bệnh đái đường.
Sau cùng nhóm nghiên cứu đã lấy những
chú chuột con bình thường được nuôi
dưỡng bởi những chú chuột biến dị. Qua
vú nuôi, những chú chuột nhỏ đã nhận
được một khuẩn chí ruột được biến đổi
và chúng được bảo vệ chống lại bệnh
đái đường.
Hỏi : Làm sao giải thích ảnh hưởng của
các vi khuẩn ruột ?
Gérard Eberl : Các vi khuẩn ruột điều
hòa hệ miễn dịch. Hệ này có hai thành
phần : một thành phần viêm (inflammatoire)
tạo nên một khả năng phòng vệ mạnh
chống lại các vi khuẩn, và một thành
phần điều hòa (régulatrice) có tác
dụng ngăn cản một phản ứng miễn dịch
quá quan trọng. Các bệnh tự miễn dịch,
như bệnh đái đường, là do một sự bất
quân bình giữa hai thành phần này.
Khuẩn chí ruột của vài chú chuột làm
gia tăng thành phần điều hòa của hệ
miễn dịch. Do đó chúng ngăn cản hệ
miễn dịch tấn công vào những tế bào
tụy tạng.
Hỏi : Những loài vi khuẩn nào chịu
trách nhiệm khả năng bảo vệ này ?
Gérard Eberl : Người ta chưa biết, mặc
dầu các lactobacilles có nhiều hơn nơi
các con chuột được bảo vệ chống lại
bệnh đái đường. Loài vi khuẩn này được
sử dụng bởi các nhà công nghiệp như là
probiotique, vi sinh vật được cho là
có tác dụng kích thích những khả năng
phòng vệ miễn dịch khi người ta hội
nhập nó vào trong các sản phẩm sữa. Do
đó công trình nghiên cứu này sẽ tăng
cường các lý lẽ của họ. (LA RECHERCHE
11/2008)
===
CHỤP RĂNG CÓ
THỂ PHÁT HIỆN CHỨNG LOÃNG XƯƠNG
Chẳng bao lâu nữa người nha sĩ sẽ có
khả năng nhận biết một cách chắc chắn
những dấu hiệu của loãng xương (giảm
mật độ xương). Các nhà nghiên cứu của
đại học Manchester, trong khung cảnh
của dự án châu Âu Osteodent, đã phân
tích khoảng 600 phim chụp răng của các
phụ nữ ở tuổi mãn kinh (sự thiếu hụt
hormone xuất hiện ở lứa tuổi này tạo
nên một thể địa thuận lợi cho bệnh
loãng xương). Nơi những phụ nữ thật sự
bị loãng xương, hàm dưới thường cho
thấy một bề dày dưới 3 mm. Bước phải
theo là thiết đặt một logiciel đo tự
động có thể sử dụng ở phòng khám răng.
Khi đó, sự tìm kiếm chứng loãng xương
sẽ trở thành một thăm khám thường quy
của người nha sĩ, sẽ chuyển những
trường hợp được phát hiện cho thầy
thuốc khoa thấp khớp.( SCIENCE ET VIE
11/2008)
===
MỘT BƯỚC TIẾN
QUYẾT ĐỊNH CHỐNG BỆNH XƠ CỨNG RẢI RÁC
Campath, một thuốc điều trị rất xưa
chống bệnh bạch cầu mãn tính (leucémie
chronique), cho phép làm chậm lại sự
tiến triển của bệnh xơ cứng rải rác (sclérose
en plaques) và, nhất là, làm giảm mức
độ nghiêm trọng của bệnh này với thời
gian.
Một thứ thuốc, được phát triển cách
nay 30 năm ở Đaị Học Cambridge (Vương
Quốc Anh) để điều trị vài loại bệnh
bạch cầu mãn tính, vừa được trắc
nghiệm thành công trong một thử nghiệm
lâm sàng chống bệnh xơ cứng rải rác.
Các nhà nghiên cứu của đại học
Cambridge, lần đầu tiên trong lịch sử
đấu tranh chống lại căn bệnh thần kinh
nghiêm trọng này, đã chứng tỏ rằng
chất thuốc được nói đến, một kháng thể
đơn dòng tổng hợp người (anticorps
monoclonal humain de synthèse) (Alenmtuzumab,
tên thương mãi là Campath),
có khả năng làm chậm lại tiến triển
của các cơn bộc phát của bệnh xơ cứng
rải rác, nhưng nhất là làm giảm mức độ
nghiêm trọng của di chứng tàn phế được
tích luỹ với thời gian. Tuy nhiên,
công cuộc khám phá này phải được đặt
trong viễn cảnh tương lai, để không
làm nảy sinh nơi 80.000 người Pháp bị
mắc phải và 2,5 triệu người bị liên
quan trên thế giới, những hy vọng thái
quá.
Được mô tả năm 1868 bởi nhà sáng lập
khoa thần kinh học, Jean Martin
Charcot, bệnh xơ cứng rải rác, tiến
triển thành từng cơn, liên kết những
rối loạn vận động và cân bằng, những
bại liệt của các dây thần kinh sọ,
cũng như những đau đớn và những rối
loạn tâm thần. Hệ miễn dịch tấn công
vào chính myéline của bệnh nhân (myéline
là bao bảo vệ của các nơ ron), trong
não bộ, tủy sống và các dây thần kinh.
Ít tiến bộ đã được thực hiện trong ¼
thế kỷ qua để chống lại căn bệnh gây
tàn phế này : các thuốc dùng hiện nay
thuộc họ các interférons bêta.
KHI NÃO BỎ ĐƯỢC SỬA CHỮA.
Theo nhà nghiên cứu người Anh Alasdair
Cole, chuyên gia thần kinh ở
Cambridge, các interféron Avonex (Biogen),
Tysabri (Biogen, Elan) và Rebif
(Merck) chỉ có một tác dụng duy nhất
là làm cách quảng sự xuất hiện của các
cơn đột phát bệnh và chỉ làm thu giảm
“ rất khiêm tốn ” sự tích lũy của các
di chứng tàn phế.
Được điều khiển bởi B.S Cole, thử
nghiệm lâm sàng, lần đầu tiên so sánh
trong ba tháng, Campath với Rebif,
trên 334 bệnh nhân tuổi từ 20 đến 30,
đã được công bố bởi New England
Journal of Medicine. Và lần đầu tiên
cho những kết quá đáng phấn khởi đối
với các bệnh nhân : thật vậy, Campath
làm giảm 74% số các cơn bộc phát nơi
những người tình nguyện mà thuốc này
đã được cho, so với những bệnh nhân
được điều trị với Rebiff. Nhất là, ở
những bệnh nhân của nhóm Campath, sau
3 tháng thử nghiệm, nguy cơ bị một tàn
phế bổ sung giảm 71%. “ Đó là một giai
đoạn mới trong điều trị bệnh xơ cứng
rải rác ” , G.S Gilles Edan (CHU
Rennes) đã đánh giá như vậy. “ Đó là
một tuyến điều trị thứ hai có một tác
dụng mạnh hơn, một hiệu quả gấp đôi ”
.
“ Đó là lần đầu tiên, lúc điều trị sớm
những bệnh nhân trẻ, mà chúng tôi quan
sát thấy một sự giảm các di chứng tật
nguyền. Những hình ảnh não bộ được
chụp bởi IRM nơi những bệnh nhân dùng
thuốc thực nghiệm cho thấy một sự gia
tăng thể tích não, nghĩa là não bộ
đang được sửa chữa ” . Những thử
nghiệm lâm sàng sẽ được tiếp tục cho
đến năm 2010. (LE FIGARO 24/10/2008)
Bác sĩ Nguyễn
Văn
Thịnh |
|