|
CHỨNG SA SÚT TRÍ
TUỆ VÀ NHỮNG TÁC DỤNG TỐT CỦA THỂ THAO
Một công trình nghiên cứu của đại học
Bologne vừa xác nhận điều này. 750
người tình nguyện thuộc hai giống tính,
tuổi trên 65, và không có một rối loạn
trí nhớ nào vào lúc bắt đầu công trình
nghiên cứu, đã được theo dõi trong
vòng 4 năm. Sau thời gian theo dõi này,
54 người đã phát triển một bệnh
Alzheimer, và 27 người phát triển một
bệnh sa sút trí tuệ có nguyên nhân
mạch máu (démence vasculaire). Các kết
quả đã chứng tỏ rằng những người có
một hoạt động vật lý đều đặn, ngay ở
mức độ có chừng mực, có một nguy cơ bị
mắc phải sa sút trí tuệ giảm 24%.(
PARIS MATCH 17/1-23/1/2008)
===
SAU KHI CHỨNG
SA SÚT TRÍ TUỆ ĐƯỢC CHẨN ĐOÁN BỆNH
NHÂN SỐNG THÊM 4,5 NĂM NỮA
J.Xie và các cộng sự viên đã phân tích
các dữ kiện của những người tham gia
một công trình nghiên cứu ; suốt trong
thời gian nghiên cứu này, các nhà
nghiên cứu đã tìm kiếm, với những
khoảng thời gian cách nhau đều đặn, sự
hiện diện của những triệu chứng của
chứng sa sút trí tuệ. Họ cũng ghi nhận
những dữ kiện về tử vong. Trong số
13.004 người tham gia tuổi hơn 65, có
438 người đã phát triển một chứng sa
sút trí tuệ trong thời gian theo dõi.
Vào tháng 12/ 2005, 356
người trong số 438 người tham gia
(81%) đã phát triển chứng sa sút trí
tuệ trong thời gian công trình nghiên
cứu, đã chết. Thời gian sống sót trung
bình sau khi chứng sa sút trí tuệ xuất
hiện là 4,1 năm đối với các ông, và
4,6 năm đối với các bà. Có một di biệt
gần 7 năm giữa những bệnh nhân sa sút
trí tuệ trẻ nhất và già nhất. Sự dị
biệt này là 10,7 năm trong lứa tuổi
65-69 tuổi ; 5,4 năm trong lứa tuổi
70-79 tuổi ; 4,3 năm đối với lứa tuổi
80-89 tuổi ; và 3,8 năm ở những người
trên 90 tuổi. Những yếu tố tiên đoán
đáng kể nhất của một tử vong sớm trong
trường hợp sa sút trí tuệ là giống
tính, tuổi xuất hiện bệnh, và mức độ
tàn phế. Theo các tác giả, những đánh
giá này là có ích để xác định tiên
lượng và tương lai của bệnh nhân, dĩ
nhiên không những cần thiết cho bệnh
nhân mà còn cho những người điều trị
và quản lý. ( LE JOURNAL DU MEDECIN
18/1/2008)
===
CÁC NHÀ NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO MỘT TRÁI
TIM CHUỘT TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM
Lần đầu tiên, một trái tim chuột hoạt
động được, đã được chế tạo từ các tế
bào tim sơ sinh .
Các công trình được công bố hôm chủ
nhật trong tạp chí Nature Medicine bởi
nhóm nghiên cứu của Doris Taylor (Đại
Học Minnesota, Minneapolis, Hoa Kỳ) có
thể được dùng làm trọng tâm của cốt
chuyện của một sách khoa học viễn
tưởng. Thế mà tuy vậy, câu chuyện đúng
là có thật. Một trái tim chuột, có khả
năng đập và vận hành như một bơm tim,
đã được chế tạo trong một phòng thí
nghiệm từ tim của một động vật chết và
từ các tế bào tim sơ sinh của chuột.
Đó chỉ là một động vật gậm nhấm và
trái tim được chế tạo đã chưa được
ghép trên một động vật khác. Nhưng
những công trình này mở đầu một kỹ
nguyên hoàn toàn mới của nghiên cứu
trong lãnh vực ghép cơ quan. Ý tưởng
được nhắm đến là có lẽ vào một ngày
nào đó, chúng ta sẽ có thể không cần
đến những người cho cơ quan (donneurs
d’organe) và có thể dùng những cơ quan
mà chúng ta sẽ có khả năng chế tạo một
cách thích ứng cho mỗi cá nhân. Hiện
nay thì chúng ta vẫn còn xa để đạt
được mục tiêu đó.
Làm sao chế tạo một trái tim trong
phòng thí nghiệm ? Trước hết các nhà
nghiên cứu của Đại Học Minnesota đã
trích lấy trái tim của một con chuột
bị chết và sử dụng trái tim này như là
một cấu trúc cơ bản cho trái tim mà họ
mong muốn chế tạo nên. Sau đó họ loại
bỏ toàn bộ các tế bào tim của cơ quan
này, ( nhờ một phương thức được gọi là
“ décellularisation ” ), chỉ để lại
cái khuôn ngoài tế bào” (matrice
extracellulaire), nghĩa là cái khung
cơ bản sẽ cho cơ quan cuối cùng hình
dạng của một trái tim.
Sau đó các nhà nghiên
cứu tiêm vào cái khuôn này, những tế
bào xuất phát từ các trái tim của các
chú chuột sơ sinh. Toàn bộ sau đó đuợc
đặt vào trong một môi trường cấy thuận
lợi cho sự tăng trưởng của các tế bào
tim.
Chỉ cần 4 ngày để các tế bào được tiêm
vào tăng sinh và lan rộng lên cả cái
khuôn và các co thắt được quan sát
trong cơ tim đang nảy sinh. 8 ngày sau
khi được nuôi cấy, tim đã có thể vận
hành như một cái bơm, dĩ nhiên với lưu
lượng thấp, với một công suất đạt đến
2% của chức năng của một trái tim
trưởng thành.
“ Khi chúng tôi thấy những co bóp đầu
tiên, chúng tôi đã không nói nên lời,
Harald C.Ott, một trong những nhà
nghiên cứu của nhóm đã bình luận như
thế. “ Đó là một trong những giây phút
trọng đại của đời tôi. Giây phút đầu
tiên, đó là vào năm 1997 khi tôi thấy
các tế bào phát triển trong một trái
tim thỏ sau khi bị nhồi máu cơ tim.”
Những kết quả này “ rất là hứa hẹn ”,
theo các nhà nghiên cứu.
NHỮNG ÁP DỤNG CÒN XA VỜI VỢI.
Cùng nhóm nghiên cứu này cũng đã trắc
nghiệm thành công kỹ thuật nhằm loại
bỏ tất cả những tế bào của cơ tim trên
các trái tim heo. Nhóm nghiên cứu đã
thí nghiệm phương thức này trên các cơ
quan khác nhau như phổi, gan, thận và
các cơ.
Nhóm nghiên cứu này bây giờ muốn ghép
những trái tim sinh nhân tạo (coeurs
bioartificiels) lên các động vật sống
để thăm dò khả năng vận hành của chúng
in vivo. “ Ý tưởng sẽ là sẽ phát triển
các mạch máu hoặc các cơ quan có thể
ghép được và được chế tạo từ chính các
tế bào của một cá nhân », Doris
Taylor, một trong những đồng tác giả
của tài liệu xuất bản đã giải thích
như vậy. Một triễn vọng như thế sẽ có
thể một ngày nào đó mang lại một yếu
tố giải đáp cho vấn đề thiếu cơ quan.
Ở Pháp, 700 người đang thường trực chờ
đợi để được ghép một trái tim.
Tuy nhiên phải công nhận rằng triễn
vọng này vẫn còn rất xa. “ Công trình
này, đó là công cuộc thí nghiệm rất
tốt đẹp được thực hiện bởi một nhóm
những nhà nghiên cứu có chất lượng cao,
Giáo Sư Philippe Menasché ( bệnh viện
Georges-Pompidou, Paris) đã khẳng định
như thế. Nhưng chúng ta cần phải xác
định rõ ràng : những áp dụng lâm sàng
vẫn còn rất xa vời . Một trái tim, đó
không chỉ là cơ tim, mà còn là những
động mạch vành, những dây thần kinh,
những mạch bạch huyết, mô liên kết, đó
rất là phức tạp. Đây là một công trình
nghiên cứu tuyệt vời, nhưng từ đó dự
kiến làm một trái tim sinh nhân tạo (
un coeur bioartificiel), thì chỉ là
một ảo tưởng mà thôi .“ ( LE FIGARO
15/1/2008)
===
BỆNH GIANG
MAI ĐƯỢC MANG ĐẾN CHÂU ÂU BỞI
CHRISTOPHE COLOMB
Một công trình nghiên cứu về tiến
triển di truyền của vi khuẩn gây bệnh
giang mai đã công nhận là đúng giả
thuyết về một tác nhân nhiễm khuẩn
được mang từ Châu Mỹ về Châu Âu bởi
đoàn thám hiểm của Christophe Colomb.
Một nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ, Anh và
Canada đã công bố hôm thứ hai 14/1,
trên site của tạp chí on-line PloS
Neglected Tropical Diseases, một bài
báo có khuynh hướng xác nhận rằng bệnh
giang mai đã được mang vào châu Âu bởi
Christophe Colomb, như thế chấm dứt
một cuộc tranh cãi từ 500 năm nay về
nguồn gốc của bệnh này
Các nhà di truyền học đã tái tạo cây
phả hệ của những giống gốc vi khuẩn (souches
bactériennes) nguồn gốc của bệnh giang
mai.
Vào năm 1495, thành Naples thất thủ
rơi vào tay của vua nước Pháp, Charles
VIII, và của đạo quân chiếm đóng gồm
những lính đánh thuế. Đạo quân này,
được chỉ huy bởi Louis d’Orléans và
hiệp sĩ Bayard, lúc đó đang là nạn
nhân của một trận dịch kinh hoàng của
một loại bệnh dịch hạch (peste) mới.
Một căn bệnh được lây truyền bằng
đường sinh dục, được đặt tên là bệnh
thành Naples (maladie de Naples). Đó
là trận dịch giang mai đầu tiên ở châu
Âu. Dịch bệnh lan tràn nhanh chóng qua
trung gian của các lính đánh thuê trở
lại quê nhà.
Sự việc bệnh giang mai xuất hiện một
ít lâu sau khi Christophe Colomb và
binh sĩ trở về từ Tân Thế Giới (chỉ 3
năm sau khi khám phá châu Mỹ), khiến
người ta nghĩ rằng căn bệnh này xuất
phát từ châu Mỹ và được mang về châu
Âu từ Tân Thế Giới, bởi các thủy thủ
phục vụ vua Tây Bạn Nha, vì lẽ những
trường hợp bệnh giang mai đã được mô
tả trong số các thủy thủ này.
Giả thuyết này, trước đây gây nhiều
tranh cãi, ngày nay đã được xác nhận
nhờ di truyền học ( PloS Neglected
Tropical Diseases, 15/1/2008). Các nhà
nghiên cứu của Emory University
(Atlanta, Georgie) đã so sánh các
séquence của các bộ di truyền (génome)
của các thành viên khác nhau của họ
các tréponème, những vi khuẩn gây
nhiều bệnh, trong đó có bệnh giang mai.
Như thế, các nhà nghiên cứu đã có thể
tái tạo cây phả hệ xác lập nguồn gốc
châu Mỹ của bệnh giang mai ( “ grande
vérole ” ).
MŨI TÊN TẨM THUỐC ĐỘC CỦA CUPIDON.
Từ thời thượng cổ, các người
Amérindiens đã bị một căn bệnh tương
tự với bệnh giang mai. Và vài người
trong các thành viên của đoàn thám
hiểm của Colomb đã có những triệu
chứng đặc hiệu, điển hình của bệnh
nhiễm trùng này : các hạch sưng tấy
lên, sốt tăng cao và “ mũi tên tẩm
thuốc độc của Cupidon ” làm biến dạng
thân thể. Một giả thuyết khác, nảy
sinh vào thế kỷ XX, cho rằng người ta
đã lẫn lộn bệnh giang mai với các bệnh
khác, như bệnh hủi (lèpre).
Đối với các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ, sự
việc không có các dấu vết thương tổn
xương (đặc điểm của bệnh giang mai)
trên các bộ xương của những người châu
Âu và Bắc Phi trước cuối thế kỷ thứ
XV, là chứng cớ xác nhận nguồn gốc
châu Mỹ của căn bệnh này.
Trong cùng công trình nghiên cứu, các
nhà nghiên cứu đã tái tạo phả hệ của
các tréponèmes khác gây bệnh chủ yếu ở
trẻ em và được lan truyền bởi sự tiếp
xúc qua da hoặc bằng nước miếng. Đó là
các bệnh Pian, Bejel và Pinta( LE
FIGARO 15/1/2008)
===
NAM NAY, CÚM
HẲN PHẢI GÂY BỆNH CHO 4 TRIỆU NGƯỜI.
Những biện pháp đơn giản nhưng hiệu
quả là thiết yếu để tránh lây nhiễm
những người chung quanh.
Phát xuất từ phân tích tình hình trong
Nam bán cầu vào lúc mùa đông nam cực,
các chuyên gia của mạng lưới
Sentinelles-INSERM nghĩ rằng ở Pháp có
thể có 4 triệu người bị bệnh cúm. Mặt
khác, hiện còn quá sớm để nói là bệnh
cúm năm 2008 có sẽ nặng hơn bệnh cúm
của năm vừa qua hay không.
Sốt cao, mệt mỏi, nhức mỏi và đau đầu
là những triệu chứng đầu tiên của bệnh
nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính này,
kèm theo là ho khan và đau, viêm mũi
và rất mệt mỏi. Những dạng biến chứng
(bội nhiễm vi khuẩn, kể cả viêm phổi)
tạo nên tính nghiêm trọng của bệnh,
đặc biệt là nơi những người già và
những người yếu ớt, là những đối tượng
rất cần phải tiêm chủng phòng ngừa cúm.
Bệnh cúm gây nên 2000 trường hợp tử
vong mỗi năm, trong đó 90% nơi những
người trên 65 tuổi .
Tuần qua, theo mạng lưới Sentinelles,
lần đầu tiên số trường hợp mới đã vượt
quá ngưỡng dịch tễ học với 232 trường
hợp cho mỗi 100.000 dân ở Pháp chính
quốc, Nhưng còn “ phải đợi thêm một
tuần lễ thứ hai để xác nhận sự xuất
hiện dịch cúm ở Pháp chính quốc ”.
“ Những trường hợp riêng lẽ đầu tiên
đã xuất hiện vào đầu tháng 12 nhưng
đường cong theo dõi tiến triển của
những trường hợp đến phòng cấp cứu
hoặc nhập viện vì hội chứng cúm chỉ
bắt đầu đi lên cách nay khoảng 10 ngày
”, BS Weber, giám đốc của Viện quốc
gia cảnh tuần y tế ( Institut national
de veille sanitaire) đã xác nhận như
thế.
Nhà chuyên gia này đặc biệt nhấn mạnh
đến “ tinh thần công dân y tế ” (civisme
sanitaire), một tập hợp các biện pháp
đơn giản, nhưng vẫn còn rất ít được áp
dụng ở Pháp.
Trước hết, rửa tay
thường xuyên (đặc biệt là sau khi hỉ
mũi, ho và hách xì, trước khi sửa soạn
bữa ăn, trước khi ăn hoặc chăm sóc trẻ,
và kể cả sau khi sử dụng các phương
tiện vận chuyển công cộng, sau khi cầm
một cánh cửa thang máy ...). Người ta
cũng có thể sử dụng những dung dịch
cồn khử khuẩn.
CHÚ Ý NHỮNG TỜ GIẤY BẠC.
Bởi vì siêu vi trùng bệnh cúm, rất lây
nhiễm, được truyền bởi các nước bọt
được bắn ra, bởi ho, hách xì, bởi nước
miếng và các bàn tay. Sau đó siêu vi
trùng đọng lại trên các bề mặt hoặc
được treo lơ lửng trong không khí, và
cần rất ít virus để có thể làm ô nhiễm
một căn phòng ( điều này nói lên tầm
quan trọng của sự thông khí một lần
mỗi ngày). Cũng cần chú ý đến các tờ
giấy bạc.Theo các nhà nghiên cứu
Genève, virus có thể sống sót nhiều
ngày trên các tờ giấy bạc được sử dụng,
được bảo quản ở nhiệt độ và độ ẩm của
môi trường xung quanh...
Phải sử dụng các khăn tay với một lần
dùng duy nhất và che miệng khi ho, bởi
vì chúng ta sẽ gây nhiễm chừng nào
chúng ta còn tiếp tục ho. Một phản xạ
cần thiết khác là khi bị bệnh cúm, cần
phải mang một mặt nạ ngoại khoa “
chống phóng thải ” ( masque
chirurgical “antiprojections” ).
Sau cùng, những người làm những nghề
nghiệp phải tiếp xúc với các người già
nên được chủng ngừa chống cúm. Những
người tiếp xúc với những trẻ nhỏ cũng
vậy. “ Tiếc thay, chỉ có một nửa trong
số những người chuyên nghiệp này là
được chủng ngừa mà thôi. Đây đúng là
một vấn đề ” , BS Weber công nhận như
thế( LE FIGARO 17/1/2008)
====
SỰ ĐỀ KHÁNG
CỦA CÁC VI KHUẨN ĐỐI VỚI CÁC KHÁNG
SINH ĐÃ ĐẠT ĐẾN MỘT QUY MÔ HÀNH TINH
Một công trình nghiên cứu của Thụy
Điển xác lập rằng các con chim hiện
diện ở các vùng xa xôi khác nhau của
Bắc Cực mang một loại vi khuẩn đã trở
nên đề kháng đối với hầu hết tất các
các thuốc kháng sinh.
Phải chăng ngày nay những hiện tượng
đa đề kháng (multirésistance) của các
vi khuẩn đối với các kháng sinh có thể
được quan sát trên quy mô hành tinh ?
Đó là điều mà chúng ta có thể quan
ngại, theo một công trình của những
nhà nghiên cứu Thụy Điển được công bố
trong số báo vừa qua của Emerging
Infectious Diseases Journal, một tạp
chí của những Trung tâm kiểm tra và
ngăn ngừa bệnh tật của Hoa Kỳ. Được
lãnh đạo bởi BS Bjorn (đại học
Uppsala), các nhà khoa học này đã muốn
biết xem các vi khuẩn Escherichia coli
hiện diện nơi các con chim sống ở Bắc
Cực có đề kháng với các kháng sinh hay
không, như là điều này thường xảy ra
trong các nước công nghiệp.
Được tổ chức trong khung cảnh của
Année polaire internationale, công
trình điều tra của họ đã được tiến
hành trong ba vùng xa xôi : đông bắc
Sibérie, Alaska và bắc Groenland.
Những mẫu nghiệm sinh học đã được lấy
trong các chất phế thải hay ống tiêu
hóa của 97 con chim. Các giống gốc vi
khuẩn sau đó đã được trắc nghiệm đối
với 17 loại thuốc kháng sinh có tác
dụng lên toàn bộ khuẩn lạc thường được
sử dụng trong y khoa. Các nhà nghiên
cứu Thụy Điển giải thích là họ đã có
thể phát hiện những hiện tượng đề
kháng vi khuẩn đối với 14 trong số 17
kháng sinh.
Công trình nghiên cứu này tiếp theo
nhiều công trình khác nhau đã làm sáng
tỏ một hiện tượng tương tự nơi các
loài chim di trú hiện diện ở Bắc Mỹ và
Châu Âu.
Nhiều giả thuyết có thể được đưa ra để
giải thích sự xuất hiện của một sự đề
kháng kháng sinh nơi các loài chim
hoang dã trong những vùng mà ở đó con
người hầu như vắng bóng. Chúng ta có
thể tưởng tượng rằng hiện tượng này là
hậu quả của những biến dị ngẫu nhiên
trong bộ gène của vi khuẩn Escherichia
coli, hoặc là của sự chuyển gènes đề
kháng từ bộ gène của các vi khuẩn khác
thường hiện diện trong môi trường ( sự
truyền được gọi là “ ngang ” ).
Vùng eo biển Béring là một vùng có rất
nhiều loài chim đến kiếm ăn. Đó cũng
là một vùng đi qua của nhiều chim di
trú từ 6 lục địa.Từ đó chúng ta có thể
kết luận rằng hiện tượng đa đề kháng
của vi khuẩn đối với các kháng sinh
được quan sát ở các loài chim ở Bắc
Cực là đã có được dưới các vĩ độ khác,
trước khi được truyền cho các loài
chim tại chỗ.
“ Công trình nghiên cứu chứng tỏ rõ
ràng rằng có một sự phát tán thụ động
các vi khuẩn bởi các chim di trú, do
đó lý thuyết về sự đốt biến ngẫu nhiên
có thể được loại trừ, Patrice
Courvalin, giám đốc của đơn vị của các
tác nhân kháng khuẩn của Viện Pasteur,
đã đánh giá như vậy. Những đề kháng
quan sát được cũng là những đề kháng
thường được thấy nhất nơi các vi khuẩn
sinh bệnh đối với người. Ngày nay,
chúng ta có thể nói rằng sự toàn cầu
hóa của các trao đổi, kết hợp tính
chất đa dạng và hiệu quả của các đường
phát tán các giống gốc vi khuẩn đa đề
kháng, làm cho không một ai, dầu ở bất
cũ nơi đâu, dầu lối sống và môi trường
sống như thế nào, cũng không tránh
khỏi hiện tượng đề kháng này.”
Theo ông, tình hình này lại càng đáng
quan ngại khi chúng ta càng ngày càng
có những dữ kiện chỉ rõ rằng các vi
khuẩn bình thường hiện diện trong ống
tiêu hóa tạo nên một chỗ chứa các
gènes đề kháng đối với các vi khuẩn
gây nhiễm trùng nơi người.
“ Một khía cạnh quan trọng được làm
sáng tỏ bởi công trình nghiên cứu này
là nó xác nhận rằng sự đề kháng rất là
ổn định, bởi vì ở Bắc Cực không có áp
lực của sự chọn lọc kháng sinh,
Patrice Courvalin nói thêm như thế.
Trong lúc chọn lọc các giống gốc đề
kháng, đặc biệt do sự sử dụng không
hợp lý các kháng sinh, chúng ta tạo ra
những vấn đề đối với các thế hệ tương
lai. Ở đây, đó là một nguy cơ xã hội
thật sự với quy mô hành tinh. Một lần
nữa phải nói rằng những vấn đề y tế
công cộng phải được ưu tiên so với sự
toàn cầu hóa của các trao đổi.”( LE
FIGRO 17/1/2008)
===
VI KHUẨN ĐỀ
KHÁNG VÀ THỰC KHUẨN THỂ LIỆU PHÁP (PHAGOTHERAPIE)
Trong khi sự đề kháng của các vi khuẩn
đối với các kháng sinh gia tăng trên
thế giới, các chuyên gia lại bắt đầu
quan tâm đến “ thực khuẩn thể liệu
pháp ” ( “ phagothérapie” ), một vũ
khí chống vi khuẩn rất hiệu quả, mặc
dầu đã có từ cách nay một thế kỷ,
nhưng bị lãng quên trong các hồ sơ lưu
trữ của Lịch Sử. Thực khuẩn thể
(phage), là chữ viết tắt của
bactériophage, là một siêu vi trùng
giết vi khuẩn (un virus tueur de
bactéries).
Nói chính xác hơn, một
thực khuẩn thể nào đó là một động vật
ăn mồi (un prédateur) của một vi khuẩn
đặc biệt, và đối với cùng một vi khuẩn,
thường có nhiều thực khuẩn thể có khả
năng tiêu diệt vi khuẩn này. Siêu vi
trùng này, không tác động đến các tế
bào người, đã được khám phá năm 1915
bởi Frederic Twort, người Anh, nhưng
chính Félix d’Hérelle, người Pháp-Canada
và là môn đồ của Pasteur, đã mô tả
những đặc điểm chính.
Thực khuẩn liệu pháp (phagothérapie)
đã được sử dụng trong gần 20 năm,
nhưng với sự ra đời của các kháng sinh
vào khoảng những năm 40, phép trị liệu
này đã bị bỏ không sử dụng, trừ ở Nga,
vào thời kỳ Liên Xô, vẫn luôn luôn có
một viện chuyên trách trong việc sản
xuat các thực thể khuẩn. Gần đây, BS
Rakin, thuộc đại học Munich, đã được
phép dùng phép trị liệu xưa cổ này nơi
9 bệnh nhân bị gây bệnh ( bỏng, viêm
xương...) bởi tụ cầu vàng (staphylocoque
doré) đề kháng với tất cả các kháng
sinh đã được biết đến.
Kết quả : 9 trường hợp được chữa lành
! Để tưởng nhớ đến Félix d’Hérelle, BS
Rakin và khoảng 100 đồng nghiệp đến từ
khắp nơi trên toàn thế giới, hội họp ở
Viện Pasteur de Paris để khuyến khích
sử dụng thực khuẩn thể liệu pháp như
là điều trị cấp cứu chống lại các vi
khuẩn nhiều đề kháng (bactéries
multirésistantes)( PARIS
MATCH17/1-23/1/2008)
===
THIẾU
VITAMINE D : MỘT YẾU TỐ NGUY CƠ TIM
MẠCH MỚI ?
Đã từ lâu chúng ta biết rằng một sự
thiếu hụt vitamine D được liên kết với
bệnh loãng xương (ostéoporose), nhưng
những hệ lụy về sinh lý của sự thiếu
hụt này càng ngày càng được chứng minh.
Một công trình nghiên cứu được thực
hiện bởi Thomas Wang và các cộng sự
viên (Framingham Heart Study) vừa được
công bố trên site của tờ Circulation
ngày 7 tháng giêng vừa qua. Công trình
nghiên cứu cho thấy rằng một sự thiếu
hụt vitamine D cũng làm gia tăng nguy
cơ các bệnh tim.
Các tác giả đã tiến
hành một công trình nghiên cứu theo
dõi nơi 1.739 người tham dự của
Framingham Heart Study.Vào lúc bắt đầu
công trình nghiên cứu, các bệnh nhân
không bị một vấn đề về tim mạch nào cả.
Công trình nghiên cứu xác nhận rằng
những người tham gia có nồng độ
vitamine D thấp ( < 15 ng/ml) trong
suốt 5 năm theo sau lúc khởi đầu công
trình nghiên cứu, có nguy cơ bị một
biến cố tim mạch đầu tiên (nhồi máu cơ
tim, suy tim, tai biến mạch máu não),
hai lần quan trọng hơn so với những
người có nồng độ vitamine D cao hơn.
Mặc dầu đã điều chỉnh
những yếu tố nguy cơ tim mạch cổ điển
(tăng cholestérol máu, đái đường, cao
huyết áp), nguy cơ vẫn cao một cách
đáng kể trong nhóm những người tham
gia có nồng độ vitamine D thấp. Các
công trình lâm sàng và thí nghiệm bổ
sung sẽ cho phép biết việc điều chỉnh
sự thiếu hụt vitamine D này có thể góp
phần ngăn ngừa các bệnh tim mạch hay
không .( LE JOURNAL DU MEDECIN
18/1/2008)
====
SỰ KHỬ RUNG Ở
BỆNH VIỆN CÓ THỂ ĐƯỢC LÀM TỐT HƠN
Theo các chuyên gia, thời hạn giữa một
ngừng tuần hoàn ( arret circulatoire)
thứ phát một asystolie hoặc loạn nhịp,
và một khử rung (défibrillation) không
được vượt quá 2 phút ở bệnh viện.
P.Chan ( Hoa kỳ) và các cộng sự viên
đã nhận diện 6789 bệnh nhân, nạn nhân
của một ngừng tuần hoàn do rung thất (
fibrillation ventriculaire) hoặc tim
đập nhanh thất (tachycardie
ventriculaire) trong 369 bệnh viện
tham gia vào National Registry of
Cardiopulmonary Resuscitation. Họ đã
ghi nhận những đặc điểm được liên kết
với việc khử rung chậm, cũng như những
hậu quả lên sự sống sót của các bệnh
nhân.
Thời gian khử rung
trung bình là 1 phút và 30% các trường
hợp được khử rung chậm. Đó thường là
những bệnh nhân da đen, các bệnh nhân
được nhập viện bởi những bệnh lý không
phải do tim, trong một trung tâm điều
trị dưới 250 giường, trong một khoa
phòng không có monitoring, hoặc những
bệnh nhân có cơn loạn nhịp ngoài giờ
làm việc (17 giờ chiều đến 8 giờ sáng).
Một khử rung chậm làm giảm một cách
đáng kể tỷ lệ sống sót ( 22% so với
39,3% trong trường hợp khử rung trong
vòng 2 phút ) và điều này tỷ lệ với
khoảng thời hạn can thiệp. ( LE
JOURNAL DU MEDECIN 18/1/2008)
BS
Nguyễn
Văn
Thịnh |
|