|
1/
BỆNH BÉO PHÌ DỄ LÂY NHIỄM
Tổ chức y tế thế giới khi báo cáo sự
gia tăng số trường hợp béo phì đã
không ngần ngại dùng danh từ bệnh dịch.
Một danh từ có thể được sử dụng theo
nghĩa đen. Theo Nicolas Christakis và
các đồng nghiệp của trường y Havard,
bệnh béo phì đúng là có tính chất dễ
lây nhiễm : bệnh lan tràn từ người này
sang người khác tùy theo độ vững chắc
của các mối liên hệ xã hội liên kết họ
lại với nhau.
Nhóm nghiên cứu đã phân tích trong 32
năm tiến triển về thể trọng của 12.000
người trưởng thành thuộc cùng một mạng
mối quan hệ. Nhóm nghiên cứu kết luận
rằng nguy cơ để một người trở nên béo
phì gia tăng 57% nếu một trong những
người bạn của người này bị béo phì,
37% nếu đó là vợ của anh ta và 40% nếu
đó là anh hoặc em.
Chứng béo phì nơi người láng giềng sẽ
không gây nên hậu quả cũng như việc
gần gũi về mặt địa lý cũng không có
tính chất lây nhiễm. Bệnh béo phì của
người thân làm gia tăng độ dung nạp
tâm lý (tolérance psychologique) của
một người đối với căn bệnh này và điều
này làm cho anh ta dễ biến đổi chế độ
ăn uống và hoạt động vật lý của mình
hơn. ( LA RECHERCHE 9/2007)
2/
NHIỀU CAFE HƠN, ÍT NGUY CƠ HƠN
Ít nguy cơ gì ? Ung thư gan ! Đó là
kết luận gây xao xuyến đạt được bởi
một nhóm nghiên cứu của Viện nghiên
cứu dược liệu học Milan dưới sự lãnh
đạo của Francesca Bravi.Thế mà kết
luận này không phải là không có tầm
quan trọng bởi vì ung thư gan là một
trong những ung thư gây chết người
nhất sau ung thư phổi và dạ dày.Tổ
Chức Y Tế Thế Giới đã quy cho ung thư
này là nguyên nhân của 660.000 trường
hợp tử vong trên quy mô hành tinh.
Bravi và nhóm nghiên cứu đã thực hiện
một phân tích các tài liệu khoa học
liên quan đến mối quan hệ giữa việc
tiêu thụ café và nguy cơ carcinome
hépatocellulaire (dạng ung thư chiếm
tỷ lệ 90% trên toàn bộ các trường hợp
ung thư gan).
Các tác giả chỉ đưa vào trong công
trình phân tích những nghiên cứu đề
cập đến những dữ kiện về lượng liên hệ
đến việc tiêu thụ café và tỷ lệ mắc
bệnh carcinome hépatocellulaire.Theo
tiêu chuẩn này tổng cộng có một chục
công trình nghiên cứu với tổng số
khoảng 2.260 bệnh nhân. 6 nghiên cứu
được thực hiện ở Nam Âu và Nhật bản
(1.551 trường hợp) trong khi đó 4
nghiên cứu khác là những nghiên cứu
nhóm (études de cohorte) của Nhật bản.
NGUY CƠ ĐƯỢC THU GIẢM.
Các tác giả xác nhận rằng nhìn toàn bộ
thì những người uống café có nguy cơ
bị carcinome hépatocellulaire giảm 41%
so với những người không bao giờ uống
café. Sự giảm nguy cơ này cũng rõ rệt
nơi những người Nhật mặc dầu họ ít
thích café hơn so với dân vùng Nam Âu.
Ngoài ra sự giảm nguy cơ ít rõ rệt hơn
nơi những người uống café có chừng mực
(30%) so với những người tiêu thụ
nhiều (55%)
Các nhà nghiên đã quan sát thấy rằng
uống thêm một tách café mỗi ngày cho
phép làm giảm từ 23% đến 25% nguy cơ
mắc phải carcinome hépatocellulaire .
Bravi và nhóm nghiên cứu cũng đã gợi ý
rằng café làm giảm nguy cơ mắc phải
những bệnh lý khác của gan. Đến lượt
sự suy giảm này làm giảm tỷ lẽ
carcinome hépatocellulaire.
CÂU HỎI BỎ NGÕ.
Các tác giả cũng đã xác định rằng việc
xem xét các thành phần hóa học của
café đã phát hiện những tác dụng có
lợi lên gan của vài cấu tử này. Café
dường như liên kết với một mối nguy cơ
bị xơ gan ít hơn. Ngược lại, các
nghiên cứu trên động vật và in vitro
đã xác lập rằng những thành phần khác
của café cản trở quá trình khử độc các
chất gây ung thư và do đó có một tác
dụng không thuận lợi lên gan.
Như vậy việc khẳng định café tốt cho
gan hơi bị thu giảm. Ngoài ra mối liên
hệ giữa việc tiêu thụ café và sự thu
giảm nguy cơ mắc phải carcinome
hépatocellulaire không cho phép kết
luận rằng vế thứ hai là kết quả của vế
thứ nhất. Cũng có thể rằng những người
bị ung thư gan uống café ít hơn, dẫu
cho hai yếu tố này thường không liên
kết với nhau. Nếu mối liên hệ giữa
việc uống café và sự phát sinh ung thư
gan là không thể phủ nhận được thì vấn
đề còn lại là phải xác định đâu là
nguyên nhân và đâu là hậu quả.( LE
GENERALISTE 30/8/2007)
3/ THUỐC LÁ KHÔNG CÓ KHÓI CŨNG ĐƯỢC
NHẬN THẤY CÓ HẠI
Thuốc lá không sinh khói (smokeless
tobacco), loại thuốc lá mà người
nghiện đặt giữa má và lợi răng, là một
phương cách để thỏa mãn việc nghiện
ngập nicotine mà không làm phát sinh
khói thuốc khó chịu. Nhưng một công
trình nghiên cứu mới đã nhận thấy rằng
thuốc lá không sinh khói cũng có hiệu
quả như thuốc điếu trong việc cung cấp
nicotine và các chất gây ung thư (
carcinogens).
Các nhà nghiên cứu đã xét nghiệm nước
tiểu của 420 người hút thuốc và 182
người sử dụng thuốc lá không sinh khói,
để tìm cotinine, một chỉ dấu chứng tỏ
sự tiếp thu nicotine, và một nhóm các
chất gây ung thư có tác dụng mạnh và
liên quan mật thiết với nhau được gọi
là NNAL.
Các người tình nguyện được tuyển mộ
cho công trình nghiên cứu việc cai
thuốc lá và các đo lường được thực
hiện ngay trước khi bắt đầu công trình.
Những người sử dụng thuốc lá không
sinh khói trung bình có nồng độ NNAL
trong nước tiểu 74% cao hơn so với
những người hút thuốc điếu và nồng độ
cotinine thì 94% cao hơn.Trong nghiên
cứu động vật, NNAL được chứng tỏ có
khả năng sinh ung thư cao, gây nên các
khối u ở phổi, tụy tạng, niêm mạc mũi
và gan ở chuột.
“ Thông điệp chủ yếu của công trình
nghiên cứu này là thuốc lá không sinh
khói không thể được xem là an toàn bởi
vì lượng chất gây ung thư được gây ra
trong trường hợp này cũng bằng với
lượng phát sinh do khói thuốc trong
trường hợp hút thuốc điếu ”. Stephen
Hecht, tác giả lãnh đạo công trình
nghiên cứu được công bố trong số tháng
8 của tạp chí Cancer Epidemiology,
Biomarker and Prevention, và một giáo
sư của laboratory medecine thuộc Đại
Học Minnesota, đã phát biểu như vậy.
“Mặc dầu thuốc lá không sinh khói có
thể an toàn hơn thuốc điếu nhưng vẫn
không đủ an toàn ”
Chống lại ý kiến cho rằng thuốc lá
không sinh khói có thể là một thay thế
ít có hại hơn đối với những người
nghiện không thể từ bỏ thuốc lá, những
nhà nghiên cứu đã viết rằng thuốc lá
không sinh khói rất có nguy cơ và
khuyên đừng nên sử dụng.INTERNATIONAL
HERALD TRIBUNE 23/8/2007)
4/ 750.000
Ở Trung Quốc, mỗi năm có 750.000 người
chết sớm vì sự ô nhiễm của không khí
và nước. Con số này nằm trong báo cáo
sơ bộ của Ngân hàng thế giới về phí
tổn do ô nhiễm gây ra trên đất nước
này.
Con số này cũng như 1/3 của bản báo
cáo đã bị kiểm duyệt bởi chính phủ
Trung Quốc vì cho rằng điều này là quá
nhạy cảm và có thể dẫn đến một phong
trào xã hội. Việc thiếu tính trong
sáng đã diễn ra nhiều lần trong quá
khứ : năm 2003,Trung Quốc đã từ chối
chia xẻ các thông tin về trận dịch
SARS và trong những năm 1990 đã chối
là không phải bị đương đầu với vấn đề
SIDA. ( LA RECHERCHE 9/2007)
5/ 700.000
Mỗi năm ở nước Nga có 700.000 người
dân bị bớt đi trên tổng số dân của đất
nước này. Nguyên nhân là do tỷ lệ sinh
đẻ thấp nhưng cũng do tỷ lệ tử vong
cao vì rượu. Đối với những người đàn
ông, xác suất tử vong giữa 25 và 65
tuổi là 55% (so với 15% ở các nước Tây
Âu).Theo một nghiên cứu được tiến hành
bởi một nhóm nghiên cứu Anh-Nga, sự
tiêu thụ ruợu ( đặc biệt rượu từ nước
hoa Cologne, các dung môi hay alcool
dùng trong y khoa ) là nguyên nhân của
43% trường hợp chết non nơi các đàn
ông. (SCIENCES ET AVENIR 9/2007)
6/ CƯỜI NHIỀU HƠN, GÃI ÍT HƠN
Bà mẹ càng cười nhiều khi cho con bú
thì trẻ em càng mạnh khỏe hơn . Đó là
kết quả của một nghiên cứu Nhật Bản
được công bố trong Journal of
Psychosomatic Research. Hajime Kimata
và các đồng nghiệp của bệnh viện
Moriguchi-Keijinkai (Osaka) đã cho các
phụ nữ có con bị dị ứng với latex,
acariens và bị chàm, xem phim hài
Temps Moderne của Charlie Chaplin.
Sau khi chiếu phim xong, các nhà
nghiên cứu đã đo nồng độ mélatonine
trong sữa mẹ và đã so sánh nồng độ này
với nồng độ ở những phụ nữ chứng được
cho xem đoạn phim báo cáo về thời tiết.
Việc lựa chọn mélatonine được giải
thích là hormone chủ yếu này điều hòa
phần lớn việc tiết những hormone khác.
Kết quả : một nồng độ mélatonine cao
hơn nơi các bà mẹ cười ròn rã và các
phản ứng dị ứng có vẻ được giảm bớt
nơi các đứa con của các bà mẹ này. Năm
2005, nhóm nghiên cứu người Nhật đã
đưa ra một công trình nghiên cứu khác
chứng tỏ sự sản xuất một peptide chống
vi trùng trong mồ hôi của những bệnh
nhân sau khi đã được cho xem cùng phim
hài Temps Modernes của Charlie
Chaplin.( SCIENCES ET AVENIR 9/2007)
B.S NGUYỄN VĂN
THỊNH |