Thoi-Nay - Giai Tri va Doi Song

Trang chính
Khoa học kỹ thuật và Đời sống

Mục lục

Vi tính
(hiện tại):

KHKT&DS:

Khoa học kỹ thuật và Đời sống: Phụ trách TN

Chức năng: 
1. Thông tin KHKT & Đời sống
(thiết thực, bổ túc và hướng dẫn)
2. Gạch nối giữa các thế hệ và sợi dây liên lạc của đội ngũ chuyên gia KHKT/VN (giới thiệu các tổ chức, công ty, sản phẩm, công trình nghiên cứu...)
 
BS Nguyễn Văn Thịnh:  
(last updated: 09/2007)  
   

1/ BỆNH BÉO PHÌ DỄ LÂY NHIỄM

Tổ chức y tế thế giới khi báo cáo sự gia tăng số trường hợp béo phì đã không ngần ngại dùng danh từ bệnh dịch. Một danh từ có thể được sử dụng theo nghĩa đen. Theo Nicolas Christakis và các đồng nghiệp của trường y Havard, bệnh béo phì đúng là có tính chất dễ lây nhiễm : bệnh lan tràn từ người này sang người khác tùy theo độ vững chắc của các mối liên hệ xã hội liên kết họ lại với nhau.

Nhóm nghiên cứu đã phân tích trong 32 năm tiến triển về thể trọng của 12.000 người trưởng thành thuộc cùng một mạng mối quan hệ. Nhóm nghiên cứu kết luận rằng nguy cơ để một người trở nên béo phì gia tăng 57% nếu một trong những người bạn của người này bị béo phì, 37% nếu đó là vợ của anh ta và 40% nếu đó là anh hoặc em.

Chứng béo phì nơi người láng giềng sẽ không gây nên hậu quả cũng như việc gần gũi về mặt địa lý cũng không có tính chất lây nhiễm. Bệnh béo phì của người thân làm gia tăng độ dung nạp tâm lý (tolérance psychologique) của một người đối với căn bệnh này và điều này làm cho anh ta dễ biến đổi chế độ ăn uống và hoạt động vật lý của mình hơn. ( LA RECHERCHE 9/2007)

 

2/ NHIỀU CAFE HƠN, ÍT NGUY CƠ HƠN

Ít nguy cơ gì ? Ung thư gan ! Đó là kết luận gây xao xuyến đạt được bởi một nhóm nghiên cứu của Viện nghiên cứu dược liệu học Milan dưới sự lãnh đạo của Francesca Bravi.Thế mà kết luận này không phải là không có tầm quan trọng bởi vì ung thư gan là một trong những ung thư gây chết người nhất sau ung thư phổi và dạ dày.Tổ Chức Y Tế Thế Giới đã quy cho ung thư này là nguyên nhân của 660.000 trường hợp tử vong trên quy mô hành tinh.

Bravi và nhóm nghiên cứu đã thực hiện một phân tích các tài liệu khoa học liên quan đến mối quan hệ giữa việc tiêu thụ café và nguy cơ carcinome hépatocellulaire (dạng ung thư chiếm tỷ lệ 90% trên toàn bộ các trường hợp ung thư gan).

Các tác giả chỉ đưa vào trong công trình phân tích những nghiên cứu đề cập đến những dữ kiện về lượng liên hệ đến việc tiêu thụ café và tỷ lệ mắc bệnh carcinome hépatocellulaire.Theo tiêu chuẩn này tổng cộng có một chục công trình nghiên cứu với tổng số khoảng 2.260 bệnh nhân. 6 nghiên cứu được thực hiện ở Nam Âu và Nhật bản (1.551 trường hợp) trong khi đó 4 nghiên cứu khác là những nghiên cứu nhóm (études de cohorte) của Nhật bản.

NGUY CƠ ĐƯỢC THU GIẢM.
Các tác giả xác nhận rằng nhìn toàn bộ thì những người uống café có nguy cơ bị carcinome hépatocellulaire giảm 41% so với những người không bao giờ uống café. Sự giảm nguy cơ này cũng rõ rệt nơi những người Nhật mặc dầu họ ít thích café hơn so với dân vùng Nam Âu. Ngoài ra sự giảm nguy cơ ít rõ rệt hơn nơi những người uống café có chừng mực (30%) so với những người tiêu thụ nhiều (55%)

Các nhà nghiên đã quan sát thấy rằng uống thêm một tách café mỗi ngày cho phép làm giảm từ 23% đến 25% nguy cơ mắc phải carcinome hépatocellulaire . Bravi và nhóm nghiên cứu cũng đã gợi ý rằng café làm giảm nguy cơ mắc phải những bệnh lý khác của gan. Đến lượt sự suy giảm này làm giảm tỷ lẽ carcinome hépatocellulaire.


CÂU HỎI BỎ NGÕ.

Các tác giả cũng đã xác định rằng việc xem xét các thành phần hóa học của café đã phát hiện những tác dụng có lợi lên gan của vài cấu tử này. Café dường như liên kết với một mối nguy cơ bị xơ gan ít hơn. Ngược lại, các nghiên cứu trên động vật và in vitro đã xác lập rằng những thành phần khác của café cản trở quá trình khử độc các chất gây ung thư và do đó có một tác dụng không thuận lợi lên gan.

Như vậy việc khẳng định café tốt cho gan hơi bị thu giảm. Ngoài ra mối liên hệ giữa việc tiêu thụ café và sự thu giảm nguy cơ mắc phải carcinome hépatocellulaire không cho phép kết luận rằng vế thứ hai là kết quả của vế thứ nhất. Cũng có thể rằng những người bị ung thư gan uống café ít hơn, dẫu cho hai yếu tố này thường không liên kết với nhau. Nếu mối liên hệ giữa việc uống café và sự phát sinh ung thư gan là không thể phủ nhận được thì vấn đề còn lại là phải xác định đâu là nguyên nhân và đâu là hậu quả.( LE GENERALISTE 30/8/2007)


3/ THUỐC LÁ KHÔNG CÓ KHÓI CŨNG ĐƯỢC NHẬN THẤY CÓ HẠI

Thuốc lá không sinh khói (smokeless tobacco), loại thuốc lá mà người nghiện đặt giữa má và lợi răng, là một phương cách để thỏa mãn việc nghiện ngập nicotine mà không làm phát sinh khói thuốc khó chịu. Nhưng một công trình nghiên cứu mới đã nhận thấy rằng thuốc lá không sinh khói cũng có hiệu quả như thuốc điếu trong việc cung cấp nicotine và các chất gây ung thư ( carcinogens).

Các nhà nghiên cứu đã xét nghiệm nước tiểu của 420 người hút thuốc và 182 người sử dụng thuốc lá không sinh khói, để tìm cotinine, một chỉ dấu chứng tỏ sự tiếp thu nicotine, và một nhóm các chất gây ung thư có tác dụng mạnh và liên quan mật thiết với nhau được gọi là NNAL.

Các người tình nguyện được tuyển mộ cho công trình nghiên cứu việc cai thuốc lá và các đo lường được thực hiện ngay trước khi bắt đầu công trình.


Những người sử dụng thuốc lá không sinh khói trung bình có nồng độ NNAL trong nước tiểu 74% cao hơn so với những người hút thuốc điếu và nồng độ cotinine thì 94% cao hơn.Trong nghiên cứu động vật, NNAL được chứng tỏ có khả năng sinh ung thư cao, gây nên các khối u ở phổi, tụy tạng, niêm mạc mũi và gan ở chuột.

“ Thông điệp chủ yếu của công trình nghiên cứu này là thuốc lá không sinh khói không thể được xem là an toàn bởi vì lượng chất gây ung thư được gây ra trong trường hợp này cũng bằng với lượng phát sinh do khói thuốc trong trường hợp hút thuốc điếu ”. Stephen Hecht, tác giả lãnh đạo công trình nghiên cứu được công bố trong số tháng 8 của tạp chí Cancer Epidemiology, Biomarker and Prevention, và một giáo sư của laboratory medecine thuộc Đại Học Minnesota, đã phát biểu như vậy.

“Mặc dầu thuốc lá không sinh khói có thể an toàn hơn thuốc điếu nhưng vẫn không đủ an toàn ”

Chống lại ý kiến cho rằng thuốc lá không sinh khói có thể là một thay thế ít có hại hơn đối với những người nghiện không thể từ bỏ thuốc lá, những nhà nghiên cứu đã viết rằng thuốc lá không sinh khói rất có nguy cơ và khuyên đừng nên sử dụng.INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 23/8/2007)


4/ 750.000
Ở Trung Quốc, mỗi năm có 750.000 người chết sớm vì sự ô nhiễm của không khí và nước. Con số này nằm trong báo cáo sơ bộ của Ngân hàng thế giới về phí tổn do ô nhiễm gây ra trên đất nước này.

Con số này cũng như 1/3 của bản báo cáo đã bị kiểm duyệt bởi chính phủ Trung Quốc vì cho rằng điều này là quá nhạy cảm và có thể dẫn đến một phong trào xã hội. Việc thiếu tính trong sáng đã diễn ra nhiều lần trong quá khứ : năm 2003,Trung Quốc đã từ chối chia xẻ các thông tin về trận dịch SARS và trong những năm 1990 đã chối là không phải bị đương đầu với vấn đề SIDA. ( LA RECHERCHE 9/2007)



5/ 700.000
Mỗi năm ở nước Nga có 700.000 người dân bị bớt đi trên tổng số dân của đất nước này. Nguyên nhân là do tỷ lệ sinh đẻ thấp nhưng cũng do tỷ lệ tử vong cao vì rượu. Đối với những người đàn ông, xác suất tử vong giữa 25 và 65 tuổi là 55% (so với 15% ở các nước Tây Âu).Theo một nghiên cứu được tiến hành bởi một nhóm nghiên cứu Anh-Nga, sự tiêu thụ ruợu ( đặc biệt rượu từ nước hoa Cologne, các dung môi hay alcool dùng trong y khoa ) là nguyên nhân của 43% trường hợp chết non nơi các đàn ông. (SCIENCES ET AVENIR 9/2007)



6/ CƯỜI NHIỀU HƠN, GÃI ÍT HƠN

Bà mẹ càng cười nhiều khi cho con bú thì trẻ em càng mạnh khỏe hơn . Đó là kết quả của một nghiên cứu Nhật Bản được công bố trong Journal of Psychosomatic Research. Hajime Kimata và các đồng nghiệp của bệnh viện Moriguchi-Keijinkai (Osaka) đã cho các phụ nữ có con bị dị ứng với latex, acariens và bị chàm, xem phim hài Temps Moderne của Charlie Chaplin.

Sau khi chiếu phim xong, các nhà nghiên cứu đã đo nồng độ mélatonine trong sữa mẹ và đã so sánh nồng độ này với nồng độ ở những phụ nữ chứng được cho xem đoạn phim báo cáo về thời tiết. Việc lựa chọn mélatonine được giải thích là hormone chủ yếu này điều hòa phần lớn việc tiết những hormone khác.

Kết quả : một nồng độ mélatonine cao hơn nơi các bà mẹ cười ròn rã và các phản ứng dị ứng có vẻ được giảm bớt nơi các đứa con của các bà mẹ này. Năm 2005, nhóm nghiên cứu người Nhật đã đưa ra một công trình nghiên cứu khác chứng tỏ sự sản xuất một peptide chống vi trùng trong mồ hôi của những bệnh nhân sau khi đã được cho xem cùng phim hài Temps Modernes của Charlie Chaplin.( SCIENCES ET AVENIR 9/2007)


B.S NGUYỄN VĂN THỊNH

 
    Thoi Nay - Giai Tri va Doi Song

Mục lục

Nano
(hiện tại-tương lai):

Vũ trụ:

KHKT&DS:

   
 

Copyright © 2011 | TN InfoWay