Thoi Nay - Giai Tri va Doi Song

Trang chính
Kinh tế

Mục lục

Tài chánh đầu tư:

Doanh nhân/doanh nghiệp:

 

Bí quyết:

Quản lý:

Kinh tế:

TN: Kinh tế -> Nơi hội ngộ giữa Lý Trí, Kỹ Thuật và Lợi Nhuận

(last updated: 02/2008)

 
Cân đối nhu cầu và khả năng của các ngân hàng Mỹ


Thử hình dung nếu một ngày kia Citibank bị mất khả năng thanh toán các khoản nợ hay không có đủ tiền để dự trữ thì sẽ ra sao? Nhiều chuyên gia ngân hàng trên thế giới cho rằng đó sẽ là một thảm hoạ, bởi hoạt động ngân hàng là một hoạt động có tính dây chuyền đối với toàn bộ nền kinh tế.


Hiện tại Citibank cũng như nhiều ngân hàng khác của Mỹ nắm giữ tới gần 60% vốn của nền kinh tế. Và khi Citibank sụp đổ thì rất nhiều ngân hàng khác cũng sụp đổ theo và toàn bộ nền kinh tế Mỹ cũng sẽ suy thoái ngay lập tức. Tuy nhiên, đó là viễn cảnh rất khó xảy ra bởi các ngân hàng thương mại tại Mỹ luôn có những chiến lược hợp lý cân đối nhu cầu và khả năng trong hoạt động kinh doanh hàng ngày.

Nhu cầu vốn kinh doanh của các ngân hàng thương mại tại Mỹ có thể phân chia thành nhiều loại khác nhau như nhu cầu thường xuyên, nhu cầu đột xuất, nhu cầu chống khủng hoảng và nhu cầu dự trữ. Trong nhu cầu thường xuyên và nhu cầu đột xuất, có những nhu cầu về cho vay, về kinh doanh chứng khoán vàng bạc, ngoại tệ, đá quý,... Trong nhu cầu dự trữ có một bộ phận là tiền mặt tại quỹ và một bộ phận là tiền gửi ở Ngân hàng Trung ương, ở Mỹ là Cụ dữ trữ liên bang Mỹ.

1/ Cân đối nhu cầu thương xuyên.

Nhu cầu thường xuyên là những nhu cầu xuất hiện hàng ngày mà ngân hàng có thể biết trước được như số tiền bình quân phải trả cho các tài khoản tiền gửi, các đơn xin vay của khách hàng, vốn kinh doanh vàng bạc đá quý và chứng khoán, chi phí hoạt động ngân hàng; các khoản cho vay thu mua sản phẩm hàng hoá, dịch vụ. Các lâm sản, cây công nghiệp, thuỷ hải sản thì thời gian thu hoạch đều biết trước được nên cũng là loại nhu cầu thường xuyên.

Thông thường, tại Mỹ, nhu cầu thường xuyên hàng ngày được đáp ứng từ quỹ tiền mặt, các loại tài khoản tiền gửi, các khoản thu nợ của ngân hàng.

2/ Cân đối nhu cầu đột xuất và nhu cầu chống khủng hoảng.

Trong kinh doanh thường có những cơ hội bất ngờ, đột xuất, có thể thu được nhiều lãi như mua được một món ngoại tệ, vàng bạc với giá rẻ, mua được một loại chứng khoán nào đó đặc biệt có lợi, ký được một hợp đồng cho vay nóng với lãi suất cao,.. Khi thời cơ hiếm có đến, khách hàng thường đòi tiền ngay, lúc đó ngân hàng phải đáp ứng ngay. Nếu không có vốn hay trì hoãn cho vay là mất cơ hội kiếm lợi nhuận, khách hàng sẽ tìm đến ngân hàng khác. Điều quan trọng hơn là ngân hàng mất khách hàng, mất quan hệ lâu dài và mất thời cơ có lợi sau này.

Nếu đã có nhưng khả năng có lợi đột xuất thì cũng có nhưng khả năng tai hoạ đột xuất không thể tính trước được.

Ví dụ như Ngân hàng NewYork Bank (NYB) đã gặp phải là trong những người gủi tiền hay vay tiền, có một số vì lý do khách quan bị ốm, tai nạn trộm cướp, kinh doanh thua lỗ,... khi nợ đến hạn không có tiền trả. Trong thời gian này, nhiều khách hàng đến rút tiền gửi, dữ trữ ngân hàng không đủ để trả, không đòi được nợ đến hạn và nợ quá hạn. Trường hợp này nếu NYB không có dự phòng chống khủng hoảng từ trước, thì sẽ bị động, sẽ mất khả năng thanh toán bất ngờ, phản ứng dây chuyên của khác hàng sẽ làm cho ngân hàng đứng trước nguy cơ mất sạch vốn và chấm dứt sự nghiệp gần 50 năm của NYB.

Dự phòng nhu cầu đột xuất và nhu cầu chống khủng hoảng có những tính toán tương đối chính xác. Nếu để dự phòng quá nhiều thì không đủ vốn kinh doanh thường xuyên. Nếu để dự phòng quá ít thì nhẹ nhất là mất thời cơ kiếm lợi nhuận, nặng nhất là bị phá sản. Khi thấy khả năng thanh toán bị đe doạ, biện pháp chủ yếu để chống khủng hoảng là: Bán hết trái phiếu mà ngân hàng dự trữ, vay nóng các ngân hàng bạn; xin vay chiết khấu của ngân hàng trung ương. Chỉ có ngân hàng trung ương, người cho vay cuối cùng của nền kinh tế mới cứu được ngân hàng thương mại khỏi bị phá sản.

3/ Nhu cầu dự trữ.

Khi cân đối nhu cầu và khả năng, các ngân hàng Mỹ bao giờ cũng phải có một số vốn dự trữ nhất định, đó là số vốn dự trữ bắt buộc trong các tài khoản tiền gửi ở ngân hàng trung ương và trong quỹ tiền mặt.

Nhu cầu dự trữ vốn của các ngân hàng Mỹ là số vốn mà ngân hàng thương mại bắt buộc phải dự trữ theo pháp luật để bảo hiểm cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Số vốn này của mỗi ngân hàng Mỹ nhiều hay ít tuỳ thuộc vào số vốn tiền gửi mà ngân hàng huy động được và tỷ lệ dự trữ của nhà nước quy định.
Sau khi đã xác định được nhu cầu và khả năng giải quyết cân đối của từng nhu cầu, các ngân hàng Mỹ tính toán khả năng sử dụng vốn tiền gửi đến mức nào để kinh doanh hợp lý. Ví dụ:

Ngân hàng thương mại CSE bang California có vốn tiền gửi là 100 tỷ USD, dành cho vốn dự trữ là 20 tỷ USD sử dụng cho kinh doanh là 80 tỷ USD thì tỷ lệ sử dụng vốn là 80%; nếu dự trữ là 10 tỷ USD thì tỷ lệ sử dụng vốn là 90%. So sánh hai tỷ lệ này thấy mức 80% thì rất an toàn vốn nhưng ít lãi kinh doanh, mức 90% thì mức an toàn vừa phải nhưng kiếm thêm được lợi nhuận. Ngân hàng CSE quyết định tỷ lệ sử dụng vốn là 90% vì còn hy vọng vào trái phiếu ngân hàng dự trữ, sự giúp đỡ của Ngân hàng bạn và sự cứu vớt của Cục dự trữ liên bang Mỹ mỗi khi gặp rủi ro.

Bích Hường (Theo Bwportal/Business)

 
    Thoi Nay - Giai Tri va Doi Song

Mục lục

Con đường hùng thịnh - an nhiên :
   
 

Copyright © 2011 | TN InfoWay