̣Thời
kỳ An Dương Vương là giai đoạn lịch sử tiếp
nối của thời Hồng Bàng trong lịch sử Việt
Nam.
Nguồn gốc
Tới nay có các thuyết khác nhau
về An Dương Vương nói chung và
nguồn gốc của An Dương Vương nói
riêng.
Người Âu Việt phía bắc Lạc Việt
Cùng tồn tại ở vùng Bắc Bộ vào
thời kỳ Hồng Bàng, có các bộ tộc
Âu Việt sống xen kẽ với người
Lạc Việt và người Thái. Cuối
thời kỳ Hồng Bàng, các bộ tộc Âu
Việt lập ra nước Thục ở mạn đông
bắc của Văn Lang (thuộc khu vực
đông nam Quảng Tây ngày nay),
nhưng vẫn thường xuyên giao lưu
với Lạc Việt. Đến đời Thục Phán
(蜀泮), đã chiếm hết đất đai của
các Hùng Vương, thống nhất nó
với lãnh thổ Âu Việt thành nước
Âu Lạc (ghép tên Âu Việt và Lạc
Việt). Thục Phán tự xưng là vua
năm 257 TCN, hiệu là An Dương
Vương, đóng đô ở Phong Khê (nay
là vùng Cổ Loa, huyện Đông Anh -
Hà Nội).
Con cháu nước Thục ở Trung Hoa
Có thuyết cho rằng gia đình Thục
Phán là hậu duệ của các vua Khai
Minh nước Thục thời Chiến Quốc,
chạy về phía Nam để tránh bạo
loạn vào cuối thời Chiến Quốc và
khi nhà Tần nổi lên. Thục Phán
đã đến vùng lãnh thổ của người
Âu Việt (甌越) (nay là đông nam
Quảng Tây, tây nam Quảng Đông,
Trung Quốc và đông bắc Việt Nam)
gây dựng lực lượng quân sự tại
đây.
Tuy nhiên, thuyết này bị nhiều
nhà nghiên cứu nghi ngờ. Khoảng
cách từ Tứ Xuyên tới miền Bắc
Việt Nam là khoảng 3000 km*, và
khoảng thời gian từ khi nước
Thục bị Tần diệt (316 TCN) đến
khi An Dương Vương lên ngôi ở
Việt Nam (257 TCN) là gần 60
năm.
Ghi chú: thực ra khoảng cách từ
thung lũng Tứ Xuyên tới đông nam
Quảng Tây ngày nay chỉ khoảng
700km-1000km (xem bản đồ Trung
Quốc) chứ không phải 3000km. Với
khoảng cách này thì con cháu vua
Thục(Shu)-Tứ Xuyên chỉ cần đi
qua tỉnh Quý Châu là tới Quảng
Tây được, nên thuyết cho rằng
Thục Phán là con cháu của dòng
họ Thục-Tứ Xuyên cũng hợp lý
Sách "Ngược dòng lịch sử" của GS
Trần Quốc Vượng cho rằng sau khi
nước Thục bị Tần diệt, con nhỏ
vua Thục là Thục Chế được lập
lên ngôi, lưu vong về phía đông
nam. Tuy nhiên qua thế hệ Thục
Chế vẫn phải lẩn trốn trước sự
truy nã của Tần và không có cơ
hội khôi phục nước Thục cũ. Cuối
cùng tới con Thục Chế là Thục
Phán thì hình thành quốc gia nằm
ở phía bắc Lạc Việt của họ Hồng
Bàng...
Nghi vấn
Mỗi giả thuyết nên trên đều có
những chỗ đáng ngờ và chỗ đáng
ngờ chung là: Cho tới đầu công
nguyên thời Hai Bà Trưng, người
Việt vẫn chưa có họ. Do đó họ
Thục của An Dương Vương là một
vấn đề nghi vấn. Tựu chung, cả
hai thuyết đều có chỗ đúng và có
thể ghép lại thành một diễn biến
xâu chuỗi: Nước Thục (ở Tứ Xuyên
ngày nay) mất năm 316 TCN. Sau
vài lần chống Tần thất bại (xem
bài nước Thục), con cháu chạy
xuống phía đông nam và đóng ở
phía bắc nước Văn Lang, sống với
người Âu Việt. Sau một thời gian
đứng vững, thủ lĩnh Âu Việt tiêu
diệt thôn tính Lạc Việt. Trong
trường hợp này, không hẳn thủ
lĩnh Âu Việt đã là dòng dõi nước
Thục cũ mà có thể chỉ là con
cháu của tướng lĩnh, quan lại cũ
của Thục, xưng làm họ Thục để
thu phục nhân tâm vùng Âu Việt.
Bộ sử lâu đời nhất và gần thời
An Dương Vương nhất là Sử ký Tư
Mã Thiên chỉ nhắc tới nước Âu
Lạc mà không nhắc tới An Dương
Vương hay họ Thục.
Lịch sử và truyền thuyết
Lập quốc
Đại Việt Sử ký Toàn thư chép:
"Vua Hùng Vương có người con gái
nhan sắc tuyệt vời tên gọi là Mỵ
Nương. Vua nước Thục nghe tin,
sai sứ cầu hôn. Vua Hùng Vương
muốn gả nhưng Lạc Hầu can rằng:
Thục muốn lấy nước ta, chỉ mượn
tiếng cầu hôn đó thôi. Không lấy
được Mỵ Nương, Thục Vương căm
giận, dặn lại con cháu phải diệt
Văn Lang mà chiếm lấy nước. Đời
cháu Thục Vương là Thục Phán mấy
lần đem quân sang đánh nước Văn
Lang. Nhưng Vua Hùng Vương có
tướng sĩ giỏi, đã đánh bại quân
Thục. Vua Hùng Vương nói: Ta có
sức thần, nước Thục không sợ hay
sao? Bèn chỉ say sưa yến tiệc
không lo việc binh bị. Bởi thế,
khi quân Thục lại kéo sang đánh
nước Văn Lang, vua Hùng Vương
còn trong cơn say. Quân Thục đến
gần, Vua Hùng trở tay không kịp
phải bỏ chạy rồi nhảy xuống sông
tự tử. Tướng sĩ đầu hàng. Thế là
nước Văn Lang mất."[1]
Có trích trong Đại Việt sử ký
toàn thư "Giáp Thìn, năm thứ 1
[257 TCN], (Chu Noãn Vương năm
thứ 58). Vua đã thôn tính được
nước Văn Lang, đổi quốc hiệu là
Âu Lạc. Trước kia vua nhiều lần
đem quân đánh Hùng Vương, nhưng
Hùng Vương binh hùng tướng mạnh,
vua bị thua mãi. Hùng Vương bảo
vua rằng: "Ta có sức thần, nước
Thục không sợ ư ?" Rồi Hùng
Vương bỏ không sửa sang võ bị,
chỉ ham ăn uống vui chơi. Quân
Thục kéo sát đến nơi, hãy còn
say mềm chưa tỉnh, rồi thổ huyết
nhảy xuống giếng chết, quân lính
quay giáo đầu hàng Thục Vương."
Chống Tần
Cùng thời kỳ này, bên Trung Hoa,
Tần Thủy Hoàng sát nhập 6 nước
sau nhiều năm hỗn chiến thời
chiến quốc. Ông tiếp tục tham
vọng xâm chiếm Bách Việt, vùng
đất đai của các bộ tộc người
Việt ở phía nam Trung Quốc và
bắc Việt Nam ngày nay. Đạo quân
xâm lược nhà Tần do Đồ Thư chỉ
huy đã mon men vào lãnh thổ Âu
Lạc nhưng gặp phải cuộc kháng
chiến trường kì của Tướng Thục
Phán. Sau 10 năm giao chiến, Đồ
Thư bỏ mạng và quân Tần phải
chạy về nước.
Năm 218 trước công nguyên, Tần
Thuỷ Hoàng huy động 50 vạn quân
chia làm 5 đạo đi chinh phục
Bách Việt. Để tiến xuống miền
Nam, đi sâu vào đất Việt, đạo
quân thứ nhất phải đào con kênh
nối sông Lương (vùng An Hưng,
Trung Quốc ngày nay) để chở
lương thực. Nhờ vậy, Đồ Thư
thống lĩnh đã vào được đất Tây
Âu, giết tù trưởng, chiếm đất
rồi tiến vào Lạc Việt. Thục Phán
được các Lạc tướng suy tôn làm
lãnh tụ chung chỉ huy cuộc kháng
chiến này. Khi Đồ Thư đem quân
tiến sâu vào đất Lạc Việt, Thục
Phán lãnh đạo nhân dân chống
giặc . Quân Tần đi đến đâu, Nhân
dân Việt làm vườn không nhà
trống đến đó. Quân Tần dần lâm
vào tình trạng thiếu lương thực
trầm trọng. Khi quân Tần đã kiệt
sức,vì thiếu lương , thì Quân
dân Việt, do Thục Phán chỉ huy,
mới bắt đầu xuất trận. Đồ Thư đã
phải bỏ mạng trong trận này. Mất
chủ tướng, quân Tần hoang mang
mở đường tháo chạy về nước. Sau
gần 10 năm kháng chiến, nhân dân
Âu Việt – Lạc Việt giành được
độc lập. Thục Phán củng cố và
xây dựng lại đất nước[2].
Xây thành Cổ Loa
Sau chiến thắng trước quân Tần,
Thục Vương quyết định giao cho
tướng Cao Lỗ xây thành Cổ Loa
nhằm củng cố thêm khả năng phòng
thủ quân sự. Tục truyền rằng
Thục An Dương Vương xây thành
nhiều lần nhưng đều đổ. Sau có
thần Kim Quy hiện lên, bò quanh
bò lại nhiều vòng dưới chân
thành. Thục An Dương Vương bèn
cho xây theo dấu chân Rùa vàng.
Từ đó, thành xây không đổ nữa.
An Dương Vương cũng phát triển
thuỷ binh và cho chế tạo nhiều
vũ khí lợi hại, tạo lợi thế quân
sự vững chắc cho Cổ Loa.
Sơ đồ thành Cổ Loa
Thành Cổ Loa được xây bằng đất
do thời ấy ở Âu Lạc chưa có gạch
nung. Thành có 3 vòng. Chu vi
ngoài 8 km, vòng giữa 6,5 km,
vòng trong 1,6 km... Diện tích
trung tâm lên tới 2 km². Thành
được xây theo phương pháp đào
đất đến đâu, khoét hào đến đó,
thành đắp đến đâu, lũy xây đến
đó. Mặt ngoài lũy, dốc thẳng
đứng, mặt trong xoải để đánh vào
thì khó, trong đánh ra thì dễ.
Lũy cao trung bình từ 4-5 m, có
chỗ 8-12 m. Chân lũy rộng 20-30
m, mặt lũy rộng 6-12 m. Khối
lượng đất đào đắp ước tính 2,2
triệu mét khối. Khu vực Cổ Loa
được coi là một nền đất yếu nên
việc xây dựng thành Cổ Loa có
thể khó khăn và thành bị đổ
nhiều lần là dễ hiểu. Khi xẻ dọc
thành để nghiên cứu, các nhà
khảo cổ học phát hiện kỹ thuật
gia cố thành của Thục Phán: chân
thành được chẹn một lớp tảng đá.
Hòn nhỏ có đường kính 15 cm, hòn
lớn 60 cm. Xung quanh Cổ Loa,
một mạng lưới thủy văn dầy đặc
đã được tạo ra, thành một vùng
khép kín, thuận lợi cho việc xây
dựng căn cứ thủy binh hùng mạnh.
Thuở ấy, sông Thiếp – Ngũ Huyền
Khê - Hoàng Giang thông với sông
Cầu ở Thổ Hà, Quả Cảm (Hà Bắc)
thông với sông Hồng ở Vĩnh Thanh
(Đông Anh). Ngay sau khi xây
thành, Thục An Dương Vương đã
chiêu tập những thợ mộc giỏi, sử
dụng gỗ ở địa phương đóng thuyền
chiến. Nhân dân cũng được điều
tới khai phá rừng đa (Gia Lâm),
rừng Mơ (Mai Lâm), rừng dâu da
(Du Lâm)... thành ruộng. Những
hiệp thợ chuyên rèn vũ khí cũng
xuất hiện, chế tạo côn, kiếm,
dáo, mác và nỏ liên châu, mỗi
phát bắn nhiều mũi tên. Có nhiều
bằng chứng khảo cổ về sự tồn tại
của hàng chục vạn mũi tên đồng,
có thể dùng nỏ liên châu ở đây.
Xem thêm truyền thuyết Cổ
Loa.[3]
Mũi tên đồng được tìm thấy tại
thành Cổ Loa
Mắc kế thông gia
Ít lâu sau, Triệu Đà từ quận Nam
Hải (Quảng Đông bây giờ) sang
đánh Âu Lạc. Nhờ vào chuẩn bị
quân sự tốt, An Dương Vương đã
chống cự được hiệu quả. Triệu Đà
buộc phải dùng kế nội gián bằng
cuộc kết hôn giữa con trai mình,
Trọng Thủy, và con gái An Dương
Vương là Mỵ Châu. Sau khi nắm
được bí mật quân sự của An Dương
Vương thông qua con trai, Triệu
Đà đã thành công trong việc
chinh phục Âu Lạc, buộc An Dương
Vương bỏ chạy và tự tử, kết thúc
thời kỳ An Dương Vương. (Xem
thêm truyền thuyết Mỵ Châu Trọng
Thủy).
Về năm mất của triều đại An
Dương Vương, các tài liệu ghi
chép khác nhau. Đa phần sách sử
Việt Nam (Đại Việt Sử ký Toàn
thư, Khâm định Việt sử Thông
giám Cương mục, Việt sử Tiêu án)
đều chép là An Dương Vương mất
nước năm 208 TCN. Sách giáo khoa
của Việt Nam căn cứ vào Sử Ký
của Tư Mã Thiên ghi nước Âu Lạc
mất năm 179 TCN. Sở dĩ như vậy
vì Sử Ký chép là Triệu Đà diệt
nước Âu Lạc "Sau khi Lã Hậu
chết", mà Lã Hậu chết năm 180
TCN, do đó nước Âu Lạc mất
khoảng năm 179 TCN. Truyền
thuyết An Dương Vương, Nỏ Thần,
và con trai Triệu Đà là Trọng
Thuỷ ở rể nước Việt có nhiều chỗ
không hợp với Sử Ký của Tư Mã
Thiên, mặc dầu Sử Ký là nguồn tư
liệu sớm nhất mà các nhà viết sử
Việt Nam có được để tham khảo.
Trong sử ký Tư Mã Thiên nói đến
nước Âu Lạc có thể không chỉ Bắc
Việt Nam ngày nay, nhiều khả
năng thêm cả vùng Phúc Kiến,
Quảng Đông, Quảng Tây của người
Bách Việt mà người Hán chưa mở
rộng đến được. Triệu Đà xưng đế
ở phương Nam gồm có cả các vùng
này, vì vậy có thể giải thích
chênh lệch thời gian Triệu Đà
thắng An Dương Vương ở Bắc Việt
Nam với thời gian Triệu Đà chiếm
xong toàn bộ nước Âu Lạc theo Sử
Ký.[1]
Nếu việc Trọng Thủy chết theo vợ
là đúng, thì điều này mâu thuẫn
với thông tin về con của Thủy là
Triệu Hồ. Triệu Hồ là cháu Triệu
Đà, được nối ngôi ông nội khi
cha đã mất, sử ghi Hồ mất năm
124 TCN, thọ 52 tuổi. Như vậy Hồ
sinh năm 175 TCN. Nếu Thủy mất
ngay năm 179 TCN thì không thể
sinh ra Hồ. Do đó, theo truyền
thuyết, Triệu Đà không diệt Âu
Lạc ngay sau khi Lã Hậu chết như
chép trong Sử Ký của Tư Mã Thiên
(xem thêm bài Triệu Đà)
Tóm lại, câu chuyện về An Dương
Vương và nỏ thần mang đậm màu
sắc truyền thuyết, còn nhiều
điều chưa sáng tỏ, nhưng theo
nhà triết học Hegel thì "truyền
thuyết ví như dàn giáo làm chống
đỡ lịch sử, nếu gỡ bỏ truyền
thuyết thì lịch sử có nguy cơ bị
sụp đổ theo."
Sách Khâm định Việt sử Thông
giám Cương mục chép dẫn theo
sách Thái bình hoàn vũ ký, phần
Nam Việt chí của Nhạc Sử nhà
Tống:
An Dương Vương cai trị Giao
Châu, Úy Đà đem quân sang đánh.
An Dương Vương có Cao Thông (Cao
Lỗ) giúp đỡ, chế ra cái nỏ, bắn
một phát giết chết quân [Nam]
Việt hàng vạn người, bắn ba phát
giết đến ba vạn. Triệu Đà biết
rõ duyên cớ, liền lui về đóng ở
Vũ Ninh, rồi cho con là Trọng
Thủy sang làm tin, xin hòa hảo
với nhau. Về sau, An Dương Vương
đối xử với Cao Thông không được
hậu, Cao Thông bỏ đi. An Dương
Vương có người con gái là Mị
Châu, thấy Trọng Thủy đẹp trai,
liền phải lòng. Về sau, Trọng
Thủy dụ dỗ Mị Châu đòi xem nỏ
thần, Mị Châu đem cho xem. Trọng
Thủy nhân đấy bẻ hỏng cái lẫy
nỏ, rồi lập tức sai người ruổi
về báo tin cho Triệu Đà. Triệu
Đà lại đem quân sang đánh úp.
Khi quân Triệu kéo đến, An Dương
Vương đem nỏ ra bắn như trước,
nhưng nỏ hỏng rồi! Quân Thục
chạy tan tác. Triệu Đà phá được
Thục.
Ngày nay, mẫu truyện lịch sử này
đã được liệt vào một trong những
dạng chiến tranh gián điệp rất
sớm của lịch sử Việt Nam.
Đền thờ An Dương Vương gần Hà
Nội
Di tích của thành Cổ Loa vẫn còn
lưu lại cho đến nay, cách trung
tâm Hà Nội khoảng 20 km về phía
đông bắc. Đền thờ An Dương Vương
nằm ở trung tâm di tích này. Các
nghiên cứu khảo cổ học tại đây
vẫn tiếp tục làm sáng tỏ các
thời kỳ lịch sử mà thành đã trải
qua.
Chú thích
Đại Việt Sử ký Toàn thư, quyển
1, Kỷ nhà Thục
Viện sử học (1991), Lịch sử Việt
Nam, tập 1, NXB Đại học và giáo
dục chuyên nghiệp, tr 129
Viện sử học (1991), Lịch sử Việt
Nam, tập 1, NXB Đại học và giáo
dục chuyên nghiệp, tr 133-134
Tham khảo
Nhiều tác giả, Đại cương lịch sử
Việt Nam tập I (Từ thời nguyên
thuỷ đến năm 1858), Nhà xuất bản
Giáo dục, 2001
^ Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc
Việt Nam, Bách Bộc xuất bản.
Giấy phép xuất bản số
3650/BTT/PHNT ngày 2/8/1971. Bản
điện tử do talawas thực hiện
==Đọc thêm :
Truyền thuyết :
An Dương Vương
(Mây4phương)
Theo truyền thuyết sử cũ thì An
Dương Vương tên thật là Thục
Phán, là cháu nước Thục. Nước
Thục không phải là nước Thục ở
vùng Tứ Xuyên đời Chiến quốc
(Trung Quốc) mà là một bộ tộc đã
tới vùng Bắc Bộ từ lâu, sống xen
kẽ với người Lạc Việt và người
Thái. Tục gọi là người Âu Việt.
Chuyện xưa kể rằng: Vua Hùng
Vương có người con gái nhan sắc
tuyệt vời tên gọi là Mỵ Nương.
Vua nước Thục nghe tin, sai sứ
cầu hôn.
Vua Hùng Vương muốn gã nhưng Lạc
Hầu can rằng: Thục muốn lấy nước
ta, chỉ mượn tiếng cầu hôn đó
thôi. Không lấy được Mỵ Nương,
Thục Vương căm giận, di chúc cho
con cháu đời sau thế nào cũng
phải diệt nước Văn Lang của Vua
Hùng. Đến đời cháu là Thục Phán
mấy lần đem quân sang đánh nước
Văn Lang. Nhưng Vua Hùng Vương
có tướng sĩ giỏi, đã đánh bại
quân Thục. Vua Hùng Vương nói:
ta có sức thần, nước Thục không
sợ hay sao? Bèn chỉ say sưa yến
tiệc không lo việc binh bị. Bởi
thế, khi quân Thục lại kéo sang
đánh nước Văn Lang, vua Hùng
Vương còn trong cơn say. Quân
Thục đến gần, Vua Hùng trở tay
không kịp phải bỏ chạy rồi nhảy
xuống sông tự tử. Tướng sĩ đầu
hàng. Thế là nước Văn Lang mất.
Năm Giáp Thìn (257 trước công
nguyên), Thục Phán dẹp yên mọi
bề, Xưng là An Dương Vương, cải
quốc hiệu Âu Lạc (tên hai nước
Âu Việt và Lạc Việt ghép lại)
đóng đô ở Phong Châu ( Bạch Hạc,
Vĩnh Phú).
AN DƯƠNG VƯƠNG DẸP TẦN
Khi An Dương Vương làm vua nước
Âu Lạc thì Doanh Chính nước Tần
đã kết thúc mọi hỗn chiến đời
chiến quốc, thống nhất nước
Trung Hoa, lập nên một nhà nước
lớn mạnh. Để thõa tham vọng mở
mang lãnh thổ, Doanh Chính huy
động lực lượng to lớn phát động
cuộc chiến tranh xâm lược Bách
Việt.
Năm 218 trước công nguyên, Doanh
Chính huy động 50 vạn quân chia
làm 5 đạo đi chinh phục Bách
Việt. Để tiến xuống miền Nam, đi
sâu vào đất Việt, đạo quân thứ
nhứt củ quân Tần phải đào con
kênh nối sông Lương (vùng An
Hưng Trung Quốc ngày nay) để chở
lương thực. Nhờ vậy, đạo quân
chủ lực của quân Tần do viên
tướng lừng danh Đồ Thư thống
lĩnh vào đất Tây Âu, giết tù
trưởng, chiếm đất rồi tiến vào
Lạc Việt. Nhân dân Lạc Việt biết
không thể đương nổi quân Tần nên
bỏ vào rừng để bảo toàn lực
lượng. Thục Phán được các Lạc
tướng suy tôn làm lãnh tụ chung
chỉ huy cuộc kháng chiến này.
Bởi vậy khi Đồ Thư đem quân tiến
sâu vào đất Lạc Việt, chúng gặp
khó khăn chồng chất. Quân địch
tiến sâu đến đâu, người Việt làm
vườn không nhà trống và trốn
rừng đến đó. Chẳng mấy chốc quân
Tần lâm vào tình trạng thiếu
lương thực trầm trọng. Khi quân
Tần đã mệt mỏi, chán nản và khổ
sở vì thiếu lương, khí hậu độc
địa, thì người Việt, do Thục
Phán làm tướng, mới bắt đầu xuất
trận. Chính chủ tướng Đồ Thư
trong một trận giáp chiến đã bị
bắn hạ. Mất chủ tướng, quân địch
hoang mang mở đường máu tháo
chạy về nước. Như vậy, sau gần
10 năm lãnh đạo nhân dân Âu Việt
– Lạc Việt kháng chiến chống
quân Tần thắng lợi. Thục Phán đã
thực sự nắm trọn uy quyền tuyệt
đổi về quân sự lẫn chính trị,
khiến cho uy tín của Thục Vương
ngày càng được cũng cố và nâng
cao. Từ vị trí ấy, Thục Vương có
điều kiện thi thố tài năng, dựng
xây nước Âu Lạc vững mạnh.
AN DƯƠNG VƯƠNG XÂY THÀNH CỔ
LOA
Sau chiến thắng vĩ đại đánh
thắng 50 vạn quân Tần, Thục
Vương quyết định xây thành Cổ
Loa.
Tục truyền rằng Thục An Dương
Vương xây thành nhiều lần nhưng
đều đổ. Sau có thần Kim Quy hiện
lên, bò quanh bò lại nhiều vòng
dưới chân thành. Thục An Dương
Vương bèn cho xây theo dấu chân
Rùa vàng. Từ đó, thành xây không
đổ nữa. Sự thực truyền thuyết đó
như thế nào?
Thời ấy, tổ tiên ta chưa có gạch
nung. Bởi vậy thành Cổ Loa được
xây bằng đất ở chính địa phương.
Thành có 9 vòng. Chu vi ngòai
8km, vòng giữa 6,5km, vòng trong
1.6km... Diện tích trung tâm lên
tới 2km2 . Thành được xây theo
phương pháp đào đất đến đâu,
khoét hào đến đó, thành đắp đến
đâu, lũy xây đến đó. Mặt ngoài
lũy, dốc thẳng đứng, mặt trong
xoải để đánh vào thì khó, trong
đánh ra thì dễ. Lũy cao trung
bình từ 4-5m, có chỗ 8-12m. Chân
lũy rộng 20-30m, mặt lũy rộng
6-12m. Khối lượng đất đào đắp
ước tính 2,2 triệu mét khối. Xem
vậy công trình Cổ Loa thật đồ
sộ, trong khi khu vực Cổ Loa
được coi là một nền đất yếu.
Chính vì vậy, việc xây dựng
thành Cổ Loa cực kỳ khố khăn.
Thành bị đổ nhiều lần là dễ
hiểu. Nhưng điều đáng tự hào là
cuối cùng thành đứng vững. Thục
An Dương Vương đã biết dựa vào
những kinh nghiệm thực tế để gia
cố nền, móng khắc phục khó khăn.
Vết chân rùa thần chính là bí
mật tổ tiên khám phá, xử lý.
Ngày nay, khi xẻ dọc thành để
nghiên cứu, các nhà khảo cổ học
thấy rõ chân thành được chẹn một
lớp tảng đá. Hòn nhỏ có đường
kính15cm, hòn lớn 60cm. Cần bao
nhiêu đá để xử lý cho công
trình? Kỹ thuật xếp đá? Đây quả
là một kỳ công.
Thành Cổ Loa chẳng những là một
công trình đồ sộ, cổ nhất của
dân tộc mà còn là công trình
hoàn bị về mặt quân sự. Xung
quanh Cổ Loa, một mạng lưới thủy
văn dầy đặc, Tạo thành một vùng
khép kín, thuận lợi cho việc xây
dựng căn cứ thủy binh hùng mạnh.
Thuở ấy, sông Thiếp – Ngũ Huyền
Khê - Hòang Giang thông với sông
Cầu ở Thổ Hà, Quả Cảm (Hà Bắc)
thông với sông Hồng ở Vĩnh Thanh
(Đông Anh). Bởi vậy, ngay sau
khi xây thành, Thục An Dương
Vương đã chiêu tập những thợ mộc
giỏi, sử dụng gỗ ở địa phướng
đóng thuyền chiến. Với thuật đi
sông vượt bể vốn là sở trường
của người Lạc Việt, chẳng mấy
chốc, các đầm phá quanh thành Cổ
Loa biến thành quân cảng. Rồi
nhân dân được điều tới khai phá
rừng đa (Gia Lâm), rừng Mơ (Mai
Lâm), rừng dâu da (Du Lâm)
v.v... thành ruộng. Những hiệp
thợ chuyên rèn vũ khí cũng xuất
hiện. Bên côn, kiếm, dáo, mác đủ
loại, bàn tay sáng tạo của cha
ông ta đã chế tạo ra mỏ liên
châu, mỗi phát bắn hàng chục mũi
tên. Cũng tại Cổ Loa, kỹ thuật
đúc đồng cổ đã được vua Thục
khuyến khích. Hàng chục vạn mũi
tên đồng, những mũi tên lợi hại,
có độ chính xác cao, kỹ thuật
tinh vi, dùng nỏ liên châu đã
được bàn tay thợ tài hoa sản
xuất tại đây.
Với vị trí thuận lợi ấy, với
cách bố trí thành có 9 lớp xoáy
trôn ốc, 18 ụ gò cao nhô hẳn ra
chân lũy để có thể từ cao bắn
xuống, với vũ khí nỏ thần và
những mũi tên đồng lợi hại, sức
mạnh quân sựtổng hợpcủa Cổ Loa
thời ấy thật đáng sợ.
Thành Cổ Loa là sự đúc kết tuyệt
vời về trí tuệ của cha ông, là
công trình sáng tạo kỳ vĩ của
dân tộc.
AN DƯƠNG VƯƠNG BÃI CHỨC TƯỚNG
QUÂN CAO LỖ
Chuyện xưa kể rằng:
Một lần Thục An Dương Vương hỏi
tướng quân Cao Lỗ, người thiết
kế và chỉ huy công trình xây
thành Cổ Loa:
-
Mấy năm nay nhà Triệu với Âu Lạc
giao hảo thuận hòa. Nay con trai
họ là Trọng Thủy muốn cầu hôn
với Mỵ Châu, ông nghĩ thế nào?
Riêng ta muốn chấp thuận lời cầu
hôn cốt để hòa hiếu, tránh nạn
binh đao?
Cao Lỗ suy nghĩ hồi lâu rồi tâu:
-
Việc này hệ trọng lắm, xin Vương
thượng cho nghĩ ba ngày.
Về nhà, Cao Lỗ suy nghĩ băn
khoăn lắm. ý vua An Dương Vương
đã rõ, nếu không chấp thuận, có
thể bĩ bãi chức. Nếu đồng tình
thì vận nước có cơ nguy.
Mấy hôm sau, vào chầu vua, Cao
Lỗ tâu :
-
Xưa nay chưa thấy kẻ bại trận
lại xin cho con trai ở gửi rể.
Chẳng qua họ muốn biết cách bố
phòng của Loa Thành mà thôi.
Việc ngàn lần không nên.
Thục An Dương bỗng nổi giận :
-
Nhà Triệu đánh mãi Âu Lạc không
thắng, muốn mượn chuyện cầu hôn
để xí xóa hiềm khích, ta lẽ nào
không thuận? Ông già rồi, ta cho
ông về nghỉ.
Cao Lỗ không ngạc nhiên. Vốn
điềm đạm, ông chỉ nói :
-
Việc đúng sai còn có vầng nguyệt
soi sáng, thần không ân hận khi
nói điều phải.
Vì không nghe lời khuyên của Cao
Lỗ, An Dương Vương đã mắc mưu
giặc khiến cho vận nước tan
tành.
Lấy được nước Âu Lạc, nhà Triệu
xác nhập vào quận Nam Hải với Âu
Lạc thành nước Nam Việt.
Vốn là người quỷ quyệt, là rút
được nhiều kinh nghiệm trong
việc thống trị người Nam Việt,
cho nên Triệu Đà đã áp dụng
chính sách hiểm độc gọi là "Dĩ
di công di", tức là chính sách
dùng người Việt trị người Việt.
Triệu Đà vẫn giữ nguyên quyền vị
cho các lạc tướng, dùng họ đễ
cai trị nhân dân Âu Lạc. Triệu
Đà chỉ đặt một số ít quan lại và
một số quân đồn thú để kiềm chế
các lạc tướng và đốc thúc họ nộp
phú công, mục tiêu chủ yếu của
cuộc xâm lược lúc đó.