1. Dẫn nhập
Tựa đề của bài tiểu luận này
lấy từ loạt bài “Trăm Việt
trên vùng định mệnh”(TVTVĐM)
của học giả Phạm Việt Châu
(PVC). Loạt bài TVTVĐM
xuất hiện lần đầu trên tạp chí
Bách Khoa từ năm 1969
đến năm 1974.
[1] Viết trong
thời kỳ sôi động nhất của cuộc
chiến Việt Nam, tư tưởng của
học giả PVC là một viễn kiến
chính trị vượt không gian và
thời gian. Những biến chuyển
kinh tế, chính trị gần đây
trên trường quốc tế, nhất là
các tranh chấp tại biển Đông,
lại càng làm tăng giá trị cảnh
cáo của viễn kiến đó.
Các ý chính trong sách
TVTVĐM có thể tóm lược như
sau. Thứ nhất, các quốc gia
Đông Nam Á (ĐNÁ) có chung
nguồn gốc Bách Việt. Nói rõ
hơn, tổ tiên dân ĐNÁ ngày nay
là bộ tộc Bách Việt, đã nam
thiên xuống Việt Nam, Mã Lai,
Nam Dương, Phi Luật Tân, Căm
Bốt, Miến Điện, Thái Lan, Lào,
v.v..., theo nhiều đợt khác
nhau trong quá khứ. Thứ hai,
các hậu duệ của bộ tộc Bách
Việt đã đi tới đoạn đường chót
của cuộc hành trình lịch sử,
không còn nơi nào, chỗ nào để
mà thiên di xa hơn nữa, trong
khi áp lực truyền kiếp từ
phương Bắc vẫn tiếp tục đè
nặng xuống. Thứ ba, các quốc
gia ĐNÁ chỉ có thể xây dựng
được một thế đứng độc lập bằng
cách triệt tiêu các ý hướng
dựa vào các đế quốc mới. Các
nước ĐNÁ cần quần tụ trong
bình đẳng, hỗ tương, vừa giữ
được thế tự lập đơn vị, vừa
tạo ra sức mạnh tập thể.
[2]
Đọc kỹ hơn, TVTVĐM có
rất nhiều dữ kiện cập nhật (vào
thời điểm đó) và tài liệu quý
báu cho ngành Việt học, đặc
biệt là Việt cổ học. Với tinh
thần khoa học, khách quan, với
lối suy nghĩ tiến bộ và với
niềm tự hào dân tộc, học giả
PVC đã đánh giá đúng đắn những
thành quả văn minh Bách Việt
nói chung, và Lạc Việt nói
riêng. Ông viết:
“Cho nên, những người viết sử
hôm nay, nếu thành thật với
mình với người tất không thể
nào phủ nhận được công trình
xây dựng nền văn minh chói lọi
và cổ nhất Đông-Nam-Á của bộ
tộc Lạc-Việt.”
[3]
Mấy năm gần đây, ngành Việt cổ
học đã trở nên khá phát triển
trong cộng đồng người Việt tại
hải ngoại. Ngoài các tạp chí
chuyên đề như Tư Tưởng,
một số bài nghiên cứu khá
nghiêm túc đã bắt đầu xuất
hiện khá thường xuyên trên rất
nhiều tạp chí tiếng Việt nước
ngoài (thí dụ như Diễn Đàn,
Hợp Lưu, KhoaHoc&ĐoiSong,
talawas, Thế Kỷ 21,
Thời Đại Mới, v.v...).
Các công trình biên khảo gần
đây, tiêu biểu nhất là Tìm
về nguồn gốc văn minh Việt Nam,
[4] đều góp
phần, không ít thì nhiều,
trong việc phát huy ý kiến
trên.
Mùng 5 tháng 5 năm 2005 vừa
qua là ngày giỗ 30 năm của học
giả PVC. Đây là một dịp tốt để
chúng ta cùng nhìn lại, đánh
giá và triển khai tư tưởng
TVTVĐM. Với khả năng và
hiểu biết hạn hẹp của mình,
người viết xin giới hạn trong
đề tài Bách Việt và Hiệp hội
các quốc gia ĐNÁ (ASEAN), tức
là một góc cạnh lớn (nhưng
không phải là góc cạnh duy
nhất) của TVTVĐM. Vì
nội dung bài viết ra ngoài
phạm vi nghiên cứu chuyên môn
của mình, người viết sẽ không
tránh khỏi ít nhiều sai lạc và
thiếu sót. Vì thế, kính xin
bạn đọc bốn phương vui lòng
lượng thứ và bổ túc, để chúng
ta cùng nhau góp ý cho đề tài
quan trọng này.
Bố cục của các phần còn lại
trong bài như sau. Phần 2 phác
họa vài nét đại cương về lịch
sử bộ tộc Bách Việt. Phần 3
thảo luận nguồn gốc và văn
minh Bách Việt dựa trên các
khám phá khoa học hiện đại.
Phần này cho thấy Việt tộc đã
có những đóng góp rất đáng kể
vào văn minh nhân loại. Phần 4
bàn về sự tương quan giữa Việt
tộc và Hán tộc. Thái độ chủ
quan, mập mờ, che dấu sự thật
của người Hán đã góp phần
không nhỏ vào niềm tự ti dân
tộc của nhiều người Việt ngày
nay. Phần 5 phân tích ASEAN
như một ý chí và hình thức nối
kết của Bách Việt trong thế kỷ
20-21, đúng như ý nguyện của
học giả PVC lúc sinh thời.
2. Vài nét về lịch sử Bách
Việt
Bách Việt là tiếng của người
Hán dùng để chỉ tập hợp các
sắc dân chủng Việt (phần lớn
cư ngụ tại miền nam sông Dương
Tử) mà người Hoa Hán gặp gỡ và
tranh đấu khi họ bành trướng
từ Hoa Bắc xuống Hoa Nam. Lãnh
thổ của bộ tộc Bách Việt, theo
huyền sử, là nước Xích Quỷ
[5] dưới quyền
vua Kinh Dương, bắc giáp Hồ
Nam, nam giáp Chiêm Thành, tây
giáp Tứ Xuyên, đông giáp biển
Đông. Vào thời Xuân Thu Chiến
Quốc khoảng thế kỷ thứ ba
trước Tây Lịch (TTL), sử sách
ghi nhận các nước Hồ Việt (ở
Hồ Nam), U Việt (ở Triết Giang),
Mân Việt (ở Phúc Kiến), Đông
Việt (ở Giang Tây), Nam Việt
(ở Quảng Đông), Âu Việt (ở Quý
Châu & Quảng Tây), Điền Việt
(ở Vân Nam), Lạc Việt (bắc
Việt Nam), Chiêm Việt (đảo Hải
Nam), v.v...
[6] Các nước
này nằm kế tiếp nhau từ miền
nam sông Dương Tử, qua lưu vực
sông Hồng, xuống tận bình
nguyên sông Mã. Đó là chưa kể
những tổ hợp người Việt sống
rải rác miền tây nam Trung
Quốc chưa tổ chức thành quốc
gia, có khi còn gọi là dân
Bách Bộc.
[7] Nhưng cũng
có nhà nghiên cứu lại cho rằng
Bách Bộc hay Bộc Việt là tiếng
người Hoa Hán dùng để chỉ
chủng tộc Việt ở phía bắc sông
Dương Tử.
[8]
Sau khi nhà Tần thống nhất
được miền bắc Trung Quốc và
một số lãnh thổ miền nam sông
Dương Tử, các nước Việt nhỏ
dần dần bị suy sụp, chỉ có Mân
Việt, Đông Việt và Nam Việt
nhà Triệu (bao gồm Nam Việt,
Âu Việt, Lạc Việt ) là còn tự
trị.
[9] Sang đến
thế kỷ thứ nhất TTL, các nước
này cũng bị nhà Hán thôn tính
nốt, tuy rằng các tổ hợp Bách
Việt vẫn sống rải rác khắp
miền nam Trung Quốc. Trải qua
thăng trầm của hai ngàn năm
lịch sử, phần lớn lãnh thổ
Bách Việt đã bị sát nhập vào
bản đồ Trung Quốc và rất nhiều
văn minh Bách Việt dần dần bị
đồng hóa vào văn minh Trung
Quốc.
Đến đây, người viết xin nhấn
mạnh ba điểm. Thứ nhất, trong
TVTVĐM, học giả PVC có
vẻ hàm ý lãnh thổ sinh hoạt
của bộ tộc Bách Việt giới hạn
vào miền nam sông Dương Tử.
Thật ra, các công trình nghiên
cứu khảo cổ và nhân chủng học
gần đây cho thấy người Bách
Việt đã vượt sông Dương Tử rất
lâu trước khi văn minh Trung
Quốc bắt đầu thành hình.
[10] Gần hơn
nữa, trong thời Xuân Thu Chiến
Quốc, người Bách Việt sống rải
rác trong các vùng Hoa Bắc,
điển hình là nước Sở (ban đầu,
gồm Hồ Bắc ngày nay), nước Tề
(Sơn Đông), nước Tấn (Sơn
Tây-Hà Bắc), v.v...
[11]
Thứ hai, vì chỉ có nước Việt
Nam vẫn còn dùng chữ Việt
trong quốc hiệu, có người ngộ
nhận cho rằng người Bách Việt
đã bị đồng hóa vào văn minh
Trung Quốc, ngoại trừ người
Việt Nam. Thật ra, như học giả
PVC đã nhấn mạnh ngay từ đầu,
tất cả các quốc gia ĐNÁ như
Miến Điện, Thái Lan, Lào, Việt
Nam, Căm Bốt, Mã Lai, Nam
Dương, Phi Luật Tân, v.v...,
đều do hậu duệ của đại chủng
Bách Việt thành lập tại những
thời điểm khác nhau. Theo học
giả, Thái Lan có thể xem là
một nước có nguồn gốc gần gũi
với Việt Nam hơn cả.
[12] Người Thái
chính là bộ tộc Lý thuộc nhóm
Âu Việt ở Quảng Tây trong nước
Nam Việt nhà Triệu cũ. Sau khi
Nam Việt nhà Triệu bị nhà Hán
thôn tính, người Thái bỏ nước
di cư, lập ra nước Nam Chiếu (Đại
Lý). Đến thế kỷ 13, Đại Lý bị
quân Mông Cổ phá vỡ hoàn toàn.
Chính trong dịp này, người
Thái lại nam thiên và hội tụ
với các sắc dân Thái địa
phương, sáng lập ra các vương
quốc hùng mạnh, tiền thân của
nước Thái Lan và Lào ngày nay.
Điểm đáng chú ý là người Đại
Lý đã đóng góp xương máu vào
cuộc khởi nghĩa chống Hán của
Hai Bà Trưng, cũng như đã hai
lần chiếm lại thủ phủ Đại La (Hà
Nội) từ nhà Đường vào thế kỷ
thứ 9.
Thứ ba, học giả PVC cũng không
quên nhắc đến hai vương quốc
cổ, Chiêm Thành và Phù Nam.
[13] Theo học
giả, người Chàm đã trở về với
khối gia đình Lạc Việt,
[14] còn người
Phù Nam đã hòa vào tộc
Mon-Khmer. Tuy ngày nay Chiêm
Thành và Phù Nam không còn chỗ
đứng riêng trong tập thể ĐNÁ,
hai nước này đã đóng vai trò
rất quan trọng trong thời kỳ
đầu Tây lịch. Chiêm Thành và
Phù Nam từng là gạch nối giữa
tổ hợp đã suy sụp (Nam Việt
nhà Triệu) và các tổ hợp đang
hình thành ở lục địa cũng như
hải đảo, cho dòng giống Bách
Việt còn mãi mãi nối tiếp.
3. Nguồn gốc và văn minh
Bách Việt
Các học giả ngày nay vẫn chưa
hoàn toàn nhất trí về cội
nguồn bộ tộc Bách Việt, nhất
là vấn đề “nam thiên” hay “bắc
tiến”. Các giả thuyết nam
thiên phần lớn dựa trên cổ sử,
nhất là cổ sử Trung Quốc. Như
phần 4 sẽ trình bày, cổ sử
Trung Quốc về Bách Việt chỉ có
thể tin được phần nào. Các giả
thuyết sau này, dựa trên các
chứng cớ nghiên cứu đa ngành,
có xu hướng làm đảo lộn các
giả thuyết cũ, và do đó chưa
được tất cả các nhà khoa học
hoàn toàn chấp nhận. Các
nghiên cứu di truyền học gần
đây, tuy chưa minh xác hoàn
toàn nguồn gốc người Bách Việt,
nhưng đã làm sáng tỏ phần nào
liên hệ giữa người Bách Việt
và người Hoa Bắc.
Theo TVTVĐM, cuộc nam
thiên của người Bách Việt có
thể tạm chia làm bốn thời kỳ:
[15]
Đợt 1: vào giữa thiên niên kỷ
thứ ba đến cuối thiên niên kỷ
thứ hai TTL và bao gồm các sắc
dân cựu Malay, tân Malay và
Lạc Việt. Đợt nam thiên này
lập ra các nước Việt Nam, Mã
Lai, Nam Dương và Phi Luật Tân.
Đợt 2: vào đầu thiên niên kỷ
thứ nhất đến giữa thế kỷ thứ
ba TTL và bao gồm các nhóm Mon
và Khmer. Đợt nam thiên này
lập ra các vương quốc
Draravati và Chân Lạp, và cuối
cùng là Căm Bốt ngày nay.
Đợt 3: vào cuối thế kỷ thứ ba
đến cuối thế kỷ thứ bảy và bao
gồm bộ tộc Miến (trong đó có
dân Pyu). Đợt nam thiên này
cuối cùng lập ra Miến Điện.
Đợt 4: đợt di cư ào ạt của
người Thái vào thế kỷ thứ 13
và các đợt nhỏ kế sau, như đã
bàn bên trên. Các đợt nam
thiên này sau cùng lập thành
Thái Lan và Lào.
Gần đây, nhà nghiên cứu Nguyên
Nguyên chỉ đích danh nước Sở
là cái nôi nước Thái Lan và
Viêt Nam ngày nay.
[16] Theo ông,
chủng Âu (người Thái cổ) chính
là thành phần cư dân chủ lực
của nước Sở vào thời Xuân Thu
Chiến Quốc. Vì lý do thiên tai
mất mùa và chiến tranh loạn
lạc, cư dân nước Sở đã di tản
hàng khối xuống phương nam,
đến tận bình nguyên sông Hồng,
từ thế kỷ thứ tám đến thế kỷ
thứ ba TTL. Như vậy, truyền
thuyết Âu Cơ–Lạc Long Quân có
thể giải mã là sự cố gắng hợp
chủng không thành công của hai
chủng Âu và Lạc (người Việt cổ)
trước áp lực bành trướng của
người Hoa Bắc.
Ngẫm cho cùng, hai thuyết nói
trên chỉ là sự triển khai và
làm tinh tế các giả thuyết nam
thiên của các nhà sử học thời
Pháp thuộc như Aurousseau,
Chavannes, Madrolle, v.v...
[17] Thuyết nam
thiên của học giả PVC phù hợp
với huyền sử bốn ngàn năm văn
hiến của người Việt Nam, trong
khi thuyết nam thiên của tác
giả Nguyên Nguyên tương ứng
với quan điểm chủ đạo ngày
nay, cho rằng nhà nước Việt
Nam chỉ ra đời trong thiên
niên kỷ thứ nhất TTL.
[18] Nhưng cả
hai thuyết này đều giới hạn
trong vòng một hai thiên niên
kỷ TTL. Đây là một mốc thời
gian quá trễ so với quá trình
hình thành văn minh Bách Việt.
Câu hỏi cần đặt ra là người
Bách Việt nói chung và người
nước Sở nói riêng từ đâu mà ra?
Nếu dùng mốc thời gian xa xưa
hơn hai thiên niên kỷ TTL, các
nhà khoa học lại kiếm thấy rất
nhiều chứng cớ trái ngược với
thuyết nam thiên. Các công
trình nghiên cứu khảo cổ, nhân
chủng, hình thái, ngôn ngữ và
di truyền học từ thập niên
1960 đến nay có xu hướng cho
rằng người Bắc Á chuyển hóa từ
người Nam Á ra.
[19] Cụ thể hơn,
tổ tiên người Bách Việt đã đi
từ nam lên bắc và đóng góp rất
nhiều cho nhân chủng người Hoa
Hán ngày nay. Đi xa hơn hết là
giả thuyết của bác sĩ
Oppenheimer.
[20] Ông cho
rằng ĐNÁ là cái nôi của nền
văn minh nhân loại. Trận đại
hồng thủy cách đây khoảng 8000
năm làm chìm đắm thềm lục địa
Sunda, khiến các cư dân ĐNÁ
phải di tản đi các vùng đất
khác. Họ chính là những người
gây dựng lên nền văn minh đồ
đá mới tại Trung Quốc, Ấn Độ,
Lưỡng Hà Châu, Ai Cập, và phía
đông Địa Trung Hải.
Các học giả Việt Nam phản ứng
như thế nào trước các khám phá
nói trên? Trong phạm vi nhỏ
hẹp của bài tiểu luận này,
người viết xin tập trung vào
một vài giả thuyết tiêu biểu.
Chúng ta có thể bắt đầu bằng
Nguồn gốc Mã Lai của dân
tộc Việt Nam (NGMLDTVN),
một công trình khảo cứu công
phu của nhà ngữ học Tô Văn
Tuấn, tức là nhà văn Bình
Nguyên Lộc.
[21] Theo ông,
chủng Indonesian/Malay đã bắc
tiến trong hai lần di dân
chính trong quá khứ: đợt 1
cách đây khoảng 5000 năm và
đợt 2 cách đây chừng 2500 năm.
Người Việt Nam cổ (mà ông gọi
là Mã Lai đợt 1) đã từ miền
nam tiến lên làm chủ miền bắc
Trung Quốc, nhưng sau bị giống
dân phía bắc đẩy lùi trở xuống.
NGMLDTVN và TVTVĐM
có một điểm chung lớn, đó là
nguồn gốc Indonesian/Malay của
người Bách Việt.
Gần đây, tác giả Nguyễn Quang
Trọng nhấn mạnh trở lại yếu tố
nam thiên trong nguồn gốc bộ
tộc Bách Việt.
[22] Ông cho
rằng người hiện đại thiên di
từ châu Phi về phía ĐNÁ, tất
cả thuộc chủng Nam Cổ (Australoid)
(da đen, tóc quăn, mũi to).
Khi gặp biển Đông, một nhóm
tràn lên miền bắc Đông Á, đến
tận Mông Cổ. Họ thay đổi dần
nhân dạng vì lý do môi trường,
và lai giống với chủng Altaic
thiên di từ Tây Á cách đây
khoảng 15000 năm, trở thành
dân Bắc Mông (da trắng vàng,
tóc thẳng, mắt nhỏ). Dân Bắc
Mông ngày càng bành trướng về
phía Nam, hợp chủng với giống
Nam Cổ tại giữa Trung Quốc
ngày nay và tạo thành dân Nam
Mông (da ngăm đen, tóc dợn
sóng). Chủng Nam Mông này
chính là tổ tiên của dân Bách
Việt, và cả những người tại
các hải đảo Thái Bình Dương.
Ngược với giả thuyết tân nam
thiên là giả thuyết tân bắc
tiến của tác giả Cung Đình
Thanh.
[23] Thuyết này
nhấn mạnh vào hiện tượng biển
tiến để giải thích phương
hướng thiên di của người Bách
Việt. Theo ông, người hiện đại
di cư từ châu Phi đến Ðông Nam
Á, tiếp cận biển Đông, một
phần đi thẳng ra các hải đảo
Thái Bình Dương và châu Úc,
phần còn lại trụ tại ĐNÁ. Phần
ở lại ĐNÁ, có thể là lưu vực
sông Hồng, vì hội đủ điều kiện
nên đột biến di truyền, đổi từ
giống hắc chủng (da ngăm đen,
tóc dợn sóng) ra giống hoàng
chủng (da vàng, tóc thẳng).
Đây là tổ tiên dân Bách Việt,
chủ nhân của nền văn minh Hòa
Bình.
[24] Những
người này đã dần dần tiến lên
miền bắc, tức là Trung Quốc
ngày nay, theo hai ngã (đông
và tây) khi nước biển dâng lên
lần cuối từ khoảng 18000 đến
7000 năm trước đây. Giả thuyết
tân bắc tiến tương đối phù hợp
với các nghiên cứu đa ngành
gần đây, tuy rằng đâu là trung
tâm văn hóa người Bách Việt cổ
và phương cách đột biến từ hắc
chủng ra hoàng chủng vẫn chỉ
là những phỏng đoán.
Tóm lại, dựa trên các kết quả
nghiên cứu của các nhà khoa
học quốc tế, chúng ta có thể
kết luận rằng người Bách Việt:
- là hậu duệ của người hiện
đại đầu tiên trong vùng Đông Á
(với di chỉ xương hóa thạch
kiếm thấy tại Quảng Tây, ước
lượng 60000–70000 tuổi).
[25]
- sử dụng tiếng nói Austric,
một trong bảy ngành tiếng nói
cũ nhất của thế giới. Đây là
loại tiếng nói đã thành hình
và được sử dụng trong quá
trình định cư đầu tiên của
người hiện đại, trước khi văn
minh nông nghiệp ra đời.
[26]
- tràn lên miền bắc, hợp chủng
với người hiện đại đến từ ngã
Bắc và Trung Á và tạo thành
người Bắc Á (tiêu biểu là Hán
tộc).
- khai sinh kỹ thuật cấy lúa
gạo ruộng nước (di chỉ tìm
thấy tại Hemudu, nam Trung
Quốc, Ban Kao, bắc Thái Lan,
Sakai, bán đảo Mã Lai), mở đầu
cho nếp sống định canh định cư
và văn minh Hòa Bình vào
khoảng 10000 đến 15000 năm
trước đây.
[27]
- phát minh kỹ thuật đồ đồng (tìm
thấy tại Ban Chiang, Non Nok
Tha, bắc Thái Lan và Phùng
Nguyên), tương ứng với sự
thành hình của các nhóm Bách
Việt cách đây trên dưới 4000,
5000 năm.
[28]
Theo các nhà khảo cổ và sử học,
một số đặc trưng của văn minh
Bách Việt gồm có:
[29]
-
trồng lúa nước;
-
dùng trai, sò và các động
vật lưỡng tính làm thực phẩm;
-
cắt tóc ngắn và xăm mình;
-
mặc quần ngắn, váy ngắn và
đội khăn;
-
cất nhà sàn;
-
văn hóa biển và sông nước (đóng
tàu dài, đua thuyền, giỏi
dùng thuyền bè và hải chiến);
-
đúc trống đồng;
-
sản xuất đồ gốm và sứ theo
dạng hình học;
-
làm đồ sơn mài;
-
thờ cúng ông bà;
-
tín ngưỡng vật tổ, đặc biệt
đối với chim, rắn;
-
hội mùa xuân và thu cho trai
gái vui chơi để tự do lựa vợ
kén chồng;
-
mai táng theo thế bó gối.
4. Việt tộc và Hán tộc
Trong bài này, Việt tộc có
nghĩa là hậu duệ của người
Bách Việt. Như vậy, Việt tộc
ngày nay bao gồm một số lớn
người Hoa Nam và gần như toàn
thể dân ĐNÁ. Trong khi đó, Hán
tộc là một danh từ không có
nghĩa rõ ràng. Tổ tiên người
Hán là dân du mục, với văn hóa
chăn nuôi, hỏa canh. Họ di cư
đến miền tây bắc Trung Quốc từ
phía Trung Á. Lúc ban đầu, họ
sống trên những cánh đồng cỏ
Cam Túc, Thiểm Tây, v.v..., và
lập ra nền văn minh Hoa Hạ dẫn
đến các triều đại Thương và
Châu. Đến thời nhà Tần và Hán,
người Hán dần dần thôn tính
các nước người Việt chung
quanh, mở đầu cho nền văn minh
đa sắc tộc Trung Quốc.
[30] Trong thời
kỳ phong kiến, người Hán
thường dùng các danh từ có ý
miệt thị như Đông Di và Nam
Man để chỉ người Bách Việt.
[31] Nhưng đột
nhiên đến đầu thế kỷ 20, khi
Tôn Dật Tiên khai sinh ý niệm
Trung Hoa Dân Quốc với năm
chủng tộc Hán, Mãn, Mông, Tạng,
Hồi, thì Việt tộc chính thức
biến mất trong bản đồ sắc tộc
Trung Quốc.
Ý nghĩa của chủ thuyết Trung
Quốc ngũ chủng là gì? Vì Việt
tộc tại Trung Quốc không thể
nào tuyệt chủng, cách suy diễn
hợp lý duy nhất là người Hán
và Việt đã hợp nhất thành một
chủng tộc, do đó người Hoa gốc
Việt tại Hoa Nam ngày nay được
hoàn toàn xem như người Hán.
Lối suy luận này cũng hàm ý
lịch sử là giống người Bách
Việt man di mọi rợ ghi trong
cổ sử đã được người Hán khai
hóa, và đến đầu thế kỷ 20, quá
trình Hán hóa coi như hoàn
toàn. Tóm lại, thuyết ngũ
chủng chẳng qua chỉ là một
cách tiếp tục che dấu khéo léo
những đóng góp to lớn của
người Bách Việt vào huyết
thống và văn hóa Trung Quốc.
Những đóng góp đó là gì? Như
trình bày ở phần trên, người
Bách Việt đã mang văn minh
trồng trọt, làm đồ gốm và
thuyền bè lên miền bắc, do đó
góp phần rất đáng kể cho sự
bành trướng dân số, lãnh thổ
và văn minh của Hán tộc. Về
kim loại, rất có thể người
Bách Việt đã truyền kỹ thuật
đúc sắt cho người Hán. Theo
các nhà nghiên cứu trong ngành
luyện kim và khảo cổ, kỹ thuật
luyện sắt tại Trung Quốc bắt
nguồn từ hai ngã độc lập nhau:
-
từ nước Ngô (Bách Việt) vào
đầu thế kỷ thứ năm hay cuối
thế kỷ thứ sáu TTL; và
-
từ dân du mục Scythian (miền
nam nước Nga) qua ngã Tây Bá
Lợi Á vào khoảng thế kỷ thứ
tám TTL.
Các nhà kim loại học đề xuất
rằng sự phát triển dụng cụ và
võ khí bằng sắt tại Trung Quốc
bắt nguồn từ miền nam là chính
yếu.
[32] Từ nước
Ngô, đồ sắt truyền qua nước Sở
trong vòng một thế kỷ và các
nước chư hầu nhà Châu một thế
kỷ sau đó. Lí do tại sao kỹ
thuật sắt của người du mục
miền tây bắc không nhanh chóng
truyền xuống đồng bằng Trung
thổ vẫn còn là một nghi vấn
của lịch sử.
Về tiếng nói, có nhiều bằng cớ
cho thấy, cùng với sự tiếp thu
nền văn minh nông nghiệp lúa
nước của người Bách Việt,
người Hán đã thu nhập tiếng
Việt vào trong vốn từ vựng của
mình. Ngày nay, chúng ta vẫn
có thể tìm thấy trong Hán ngữ
những từ gốc Việt như Nữ Oa,
Thần Nông, Ðế Nghiêu, Ðế Thuấn,
v.v... Ngay cả trong Kinh Thi,
một bộ sách quan trọng vào bậc
nhất đối với người Hán, cũng
có khá nhiều thí dụ ảnh hưởng
cách nói của người Việt.
[33] Theo một
số tác giả, trước thời Hoàng
Đế, người Bách Việt đã sử dụng
chữ Hỏa tự và chữ Khoa đẩu.
Khi phát minh ra chữ vuông,
người Hán đã dùng chữ vuông ký
tự những chữ Việt đó, rồi
đương nhiên coi là tiếng Hán,
chữ Hán.
[34] Về văn
chương, người Hán đã tiếp thu
Sở Từ, một lối thơ gieo vần
của dân Sở, mà người Hán cho
là loại thi ca cổ đại hay nhất.
[35] Về tư
tưởng thì không những Đạo Lão
có nguồn gốc Bách Việt, mà một
vài nhà nghiên cứu, thí dụ như
triết gia Kim Định, còn đòi
lại Kinh Thi, Kinh Dịch, Kinh
Thư, v.v..., cho người Việt.
Nói tóm lại, Trung Quốc có thể
xem là một thí dụ của Hiệp
Chủng Quốc lâu đời nhất. Là
một nền văn minh đa văn hóa,
Trung Quốc có khả năng tiếp
thu và phát triển các kỹ thuật
đến từ mọi hướng. Người Hán
rất tài tình trong việc thu
lượm, vay mượn, cưỡng chiếm,
chế biến và tổng hợp các thành
tựu văn hóa và kỹ thuật của
các sắc dân chung quanh, đặc
biệt là dân Bách Việt. Vì là
kẻ thống trị, người Hán có
động cơ coi thường, che dấu,
xóa bỏ văn minh của các giống
dân bị trị với mục đích đề cao
vai trò khai hóa của mình.
Dùng chữ viết thống nhất như
là một võ khí vô địch, người
Hán đã rất thành công trong
việc thi hành các chính sách
này. Trong suốt một ngàn năm
Bắc thuộc, người Hoa Hán đã cố
tình tìm cách tiêu hủy văn
minh Lạc Việt, nghiêm trọng
nhất là trong thời kỳ nhà Hán
và nhà Minh.
Vì thế, chúng ta không ngạc
nhiên khi thấy cổ sử Trung
Quốc viết về người Bách Việt
với giọng điệu miệt thị và đầy
rẫy những sai lạc. Những sai
lầm này một phần do lối suy
nghĩ tự tôn Hoa Hán bá chủ,
một phần do thiếu hiểu biết
tìm tòi, và một phần lớn là cố
tình bóp méo sự thật. Tác phẩm
xuyên tạc người Bách Việt nhất
có lẽ là Hậu Hán thư (HHT)
của Phạm Việp. Dựa trên HHT,
sử gia Trần Trọng Kim viết
rằng người Việt học nghề trồng
lúa từ Thái thú Nhâm Diên thời
Đông Hán (đầu thế kỷ thứ nhất),
trong khi thật ra người Việt
đã sản xuất và tiêu thụ gạo
nhiều ngàn năm trước.
[36] HHT
cũng cho rằng nguời Bách Việt
chưa biết mặc quần áo, trong
khi một khai quật khảo cổ tại
Bắc Giang cho thấy cách đây
3400 năm, người Việt đã biết
dệt vải làm áo.
[37]
Cho đến tương đối gần đây,
người Hán vẫn tự mãn, vẫn cho
mình là trung tâm văn hóa loài
người. Khi tìm ra xương người
đứng thẳng (homo erectus) hóa
thạch tại Châu Khải Điếm, Bắc
Kinh, trong thập niên 1920,
các nhà nhân chủng học Trung
Quốc vội vàng lập thuyết cho
rằng người Hán là thủy tổ các
sắc dân vùng ĐNÁ. Niềm tin chủ
quan sai lầm đó vẫn còn tồn
tại trong một số nhà khoa học
Trung Quốc cho đến đầu thập
niên 1990.
[38] Năm 1986,
các nhà khảo cổ tìm thấy di
tích đồ đồng kỹ thuật cao
Sanxingdui của nền văn minh
Shu (Thục) tại Tứ Xuyên. Trung
Quốc đã gán cho đồ đồng này
niên đại 1200 năm TTL mà nhiều
nhà khảo cổ Tây Phương cho
rằng trẻ hơn tuổi thật rất
nhiều. Lý do là vì người Trung
Quốc rất hãnh diện về đồ đồng
nhà Thương, mà đồ đồng nhà
Thương mới chỉ có độ 1300 năm
TTL.
[39] Mặt khác,
một số học giả Trung Quốc lại
tranh chấp chủ quyền trống
đồng với các học giả Việt Nam,
mặc dù ai cũng công nhận trống
đồng là sản phẩm văn hóa và kỹ
thuật độc đáo của người Bách
Việt.
[40]
Sau một ngàn năm Bắc thuộc,
hấp thụ không biết bao nhiêu
tư tưởng, văn hóa và kỹ thuật
dán nhãn hiệu Hoa Hán (mặc dù
một phần rất lớn có nguồn gốc
Bách Việt), người Việt khó
tránh khỏi ít nhiều mặc cảm tự
ti dân tộc đối với người Hán.
Mặc cảm tự ti đó dẫn đến tinh
thần vọng ngoại, cái gì của
Tàu cũng lâu đời, cũng thật,
cũng tốt, còn cái gì của ta
cũng bắt chước, cũng giả, cũng
xấu. Trong giới học giả Việt
Nam, điều đó nhiều khi lại còn
thê thảm hơn. Niềm tin giáo
điều vào các cổ sử, kinh điển
của người Hán, cùng sự thiếu
hiểu biết về văn minh Bách
Việt đã góp phần không nhỏ vào
thái độ tự ti vọng ngoại của
một số nhà trí thức khoa bảng
gốc Việt. Người viết đã từng
nghe một nhà văn hóa hải ngoại
tuyên bố rằng: “cái gì hay của
mình, đều là chớp của Tàu cả”.
Rất may là các công trình
nghiên cứu khách quan, nghiêm
túc của các nhà khoa học quốc
tế thời nay đã giúp soi sáng
phần nào các đóng góp to lớn
của bộ tộc Bách Việt. Ngày
trước, các bậc học giả Việt
Nam tiền bối có thể viết sai
vì thiếu dữ kiện, không có
điều kiện nghiên cứu hay ỷ lại
vào các tài liệu chủ quan,
thiếu chính xác của Trung Quốc.
Nhưng với các phát kiến ngày
nay, các lỗi lầm đó không thể
tha thứ được. Đã đến lúc chúng
ta phải mạnh dạn sửa đổi các
sách vở cũ cho phù hợp với
bước tiến của khoa học, và
phải biết đến và tuyên dương
các thành quả của các bậc tiền
nhân Bách Việt.
Chúng ta cần làm chuyện đó vì
nhiều lý do. Thứ nhất, tìm
hiểu về nguồn gốc mình để biết
người biết ta, để giữ vững bản
sắc mình trong cơn lốc toàn
cầu hóa và cách mạng kỹ thuật
thông tin, và để góp phần vào
kho tàng văn minh nhân loại.
Thứ nhì, có hiểu biết những
thành tựu huy hoàng của tổ
tiên, người Việt Nam mới nhận
thức sự kém cỏi của dân mình,
nước mình trong nhiều thế kỷ
qua. May ra nhờ đó sẽ nảy sinh
ra tinh thần đoàn kết Đại Việt,
xóa bỏ mọi tỵ hiềm để cùng
nhau xây dựng một nước Việt
Nam tân tiến, giàu có và công
bằng trong tinh thần Cổ Việt.
Thứ ba, tìm hiểu về nguốn gốc
mình để thấy sự gần gũi, gắn
bó của các sắc dân láng giềng
ĐNÁ, một hình thức Bách Việt
nới rộng. Cụ thể hơn nữa là sự
hoàn toàn từ bỏ thành kiến
khinh rẻ các anh em Bách Việt
ít nguời như người Mường, Mán,
Chàm, Thượng, v.v...
5. ASEAN và Trung Quốc
Trong TVTVĐM, học giả
PVC đã nhấn mạnh đến ý chí và
nỗ lực kết khối của các quốc
gia ĐNÁ. Ý chí liên kết đó bắt
đầu bằng ý thức Maphilindo, do
các nhà cách mạng người Phi
Luật Tân như José Rizal và
Apolinario Mabini chủ xướng
vào cuối thế kỷ 19, khi gần
như tất cả khu vực ĐNÁ còn đắm
chìm trong vòng đô hộ phương
Tây. Ý thức này nhắm tới việc
thành hình một tổ hợp dân
Malay gồm có Nam Dương, Mã Lai
và Phi Luật Tân. Vào cuối thập
niên 1930, Manuel Quézon, tổng
thống nước Phi tự trị dưới
quyền bảo hộ của Mỹ, đã đề cập
đến một liên bang, bao gồm
không những khu vực hải đảo mà
còn tất cả các quốc gia ĐNÁ
lục địa. Có thể nói đây là đề
xuất kết khối đầu tiên của các
quốc gia có nguồn gốc Bách
Việt.
Trong khu vực ĐNÁ lục địa,
tiếng gọi liên kết được cất
lên trước hết tại Thái Lan năm
1939 và sau đó tại Việt Nam
năm 1943.
[41] Tuy hình
thức liên kết Malphilindo giới
hạn và Malphilindo nới rộng đã
không thành, một phần lớn vì
ảnh hưởng của các cường lực
bên ngoài, ý thức Malphilindo
đã, đang và sẽ làm bó đuốc lý
tưởng soi đường cho nỗ lực kết
hợp của hậu duệ người Bách
Việt. Trong phần cuối chương
17 của TVTVĐM, học giả
PVC có nhắc tới ASEAN, được
thành lập qua tuyên ngôn Băng
Cốc năm 1967.
[42] Vào lúc
đầu, các quốc gia thành viên
ASEAN vẫn còn giữ khuynh hướng
vọng ngoại. Vì thế, học giả
PVC đã kết thúc TVTVĐM
với niềm hy vọng xen lẫn sự
hoài nghi về tương lai liên
kết của các nước ĐNÁ.
May thay, niềm hy vọng của học
giả PVC đã tiến gần đến hiện
thực. Sau khi chiến tranh Việt
Nam chấm dứt, vương quốc
Brunei (1984), Việt Nam
(1995), Lào (1997), Miến Điện
(1997) và Căm Bốt (1999) dần
dần chính thức tham gia ASEAN.
Như vậy, một thế kỷ sau khi
chủ nghĩa Malphilindo ra đời,
các quốc gia ĐNÁ đã thành công
trong việt thành lập một hình
thức kết khối ổn định trong
tinh thần tương quan bình đẳng.
Tất cả các quốc gia thành viên
của ASEAN đều có nguồn gốc
Bách Việt. Ngay cả Singapore,
tuy dân chúng chính thức nói
tiếng phổ thông, nhưng phần
lớn dân cư người Hoa đều có
nguồn gốc Bách Việt như Quảng
Đông, Phúc Kiến, Triều Châu,
v.v...
Như TVTVĐM đã trình bày,
dân chúng các nước ĐNÁ, dù
muốn dù không, đã đi đến vùng
định mệnh, không thể còn đi
đâu nữa cả. Cách giải quyết
duy nhất là tìm một phương
cách hữu hiệu để giúp nhau
cùng phát triển và đề kháng áp
lực bắc phương truyền kiếp.
Ngày nay, với khoảng 500 triệu
dân, 4,5 triệu kilo mét vuông
và tổng sản lượng gộp chung
$737 tỷ Mỹ kim,
[43] ASEAN là
một tổ chức ổn định và tương
đối có thực lực để giao tiếp
và đối kháng, nếu cần, với
Trung Quốc. Ngay từ đầu, Trung
Quốc đã xem ASEAN như một địch
thủ đáng kể. Bắc Kinh đã mở
hẳn một chiến dịch phỉ báng
ASEAN và nhất là Nam Dương.
[44] Nhưng, như
học giả PVC đã phân tích, bất
kỳ sự kết khối nào của ĐNÁ
cũng chỉ có hại hơn là có lợi
cho Hoa lục, cho nên sự chống
đối của Bắc Kinh cũng là
chuyện dễ hiểu.
Con rồng Trung Quốc, qua hơn
một thế kỷ ngủ quên, đang tỉnh
giấc và vươn lên với tốc độ
rất nhanh. Các diễn tiến chính
trị, kinh tế, ngoại giao, quân
sự, biên giới, v.v..., gần đây
cho thấy áp lực phương bắc là
một vấn đề nghiêm trọng cho
toàn cõi ĐNÁ trong nhiều thế
hệ sắp tới. Tuy đây chỉ là sự
tái diễn của lịch sử, nhưng
các áp lực tương lai sẽ phức
tạp và tế nhị hơn các cuộc xâm
lăng thuần túy quân sự ngày
trước. Một vài khía cạnh của
vấn đề này sẽ được triển khai
dưới đây.
Trước hết, chúng ta cần xác
nhận là các nhà lãnh đạo Trung
Quốc trong thâm tâm vẫn giữ
chủ trương bành trướng lãnh
thổ lãnh hải, đặc biệt đối với
Việt Nam mà họ cho là một phần
của Trung Quốc, tạm mất vào
tay người Pháp trong khi Trung
Quốc bị suy yếu. Về thực tế,
ngoài việc dùng võ lực lấn
chiếm một số đất đai dọc theo
biên giới miền bắc của nước ta,
Trung Quốc còn chiếm đóng toàn
bộ quần đảo Hoàng Sa và một
phần quần đảo Trường Sa. Gần
đây, chính quyền Trung Quốc
còn ép chính quyền Việt Nam ký
kết một hiệp định biên giới
rất bất lợi cho Việt Nam, nhất
là về phương diện lãnh hải.
Đối với biển Đông, Trung Quốc
đã chính thức tự xác nhận chủ
quyền của họ xuống tận quần
đảo Nam Dương từ năm 1992.
[45] Nhưng chủ
nghĩa bành trướng của Trung
Quốc không chỉ giới hạn vào
biển Đông. Việc Trung Quốc tìm
cách liên kết với các quốc gia
Tây Hồi (Pakistan), Tích Lan
và Miến Điện trong vài năm qua
làm nhiều nhà quan sát e ngại
rằng Trung Quốc đang tìm cách
khống chế vùng Ấn Độ Dương.
[46] Như vậy ý
đồ của Trung Quốc trong đoản
kỳ là thách thức vai trò lãnh
đạo thế giới của siêu cường
Hoa Kỳ, mà bước đầu là tạo ảnh
hưởng toàn diện trong khu vực
ĐNÁ, nhất là tại biển Đông.
Bằng cớ đơn giản nhất là, theo
tính toán của Mỹ, Trung Quốc
đã bỏ 9% tổng sản lượng vào
chi phí quân sự trong năm
1993.
[47] Nếu quả
thật như thế, Việt Nam lại một
lần nữa đóng vai trò lá chắn
cho toàn vùng ĐNÁ đối kháng sự
bành trướng của Trung Quốc.
Chính sách tiêu biểu nhất của
một đế quốc bất cứ thời nào là
chia để trị. Tuy có chung
nguồn gốc Bách Việt, các quốc
gia thành viên ASEAN khác biệt
khá nhiều về văn hóa, tôn giáo
và mức độ phát triển, do đó dễ
bị chính sách chia để trị của
Trung Quốc ảnh hưởng. Lấy thí
dụ, trong vấn đề tranh chấp
biển Đông, Trung Quốc đã đồng
ý giải quyết vấn đề trong tinh
thần công pháp quốc tế chứ
không còn khăng khăng đòi nói
chuyện riêng với từng nước
tranh chấp như trước. Tuy
nhiên, trong thực tế, Trung
Quốc vẫn dùng mối lợi khai
thác kinh tế để nhử từng quốc
gia ASEAN như Việt Nam hay Phi
Luật Tân ký kết các hiệp ước
song phương với họ.
Chính sách thứ hai của các tân
đế quốc là mập mờ bất nhất. Có
khi Trung Quốc dùng chiêu bài
hợp tác kinh tế để gây ảnh
hưởng với ASEAN (mặc dù thật
ra nền kinh tế Trung Quốc có
tính cách cạnh tranh hơn là bổ
sung cho nền kinh tế của khối
ASEAN). Một thí dụ mới nhất là
tuyên ngôn Bắc Kinh về hợp tác
phát triển tin học giữa Trung
Quốc và ASEAN ký ngày
12/5/2005.
[48] Nhưng có
khi Trung Quốc lại đưa ra
những quyết định đơn phương
rất nguy hại cho các quốc gia
ĐNÁ lục địa, chẳng hạn như
chương trình xây đập trên
thượng nguồn sông Cửu Long.
Tuy bị các nhà môi trường học
quốc tế chỉ trích rất nhiều,
Trung Quốc đã từ chối thương
thuyết với các quốc gia chịu
ảnh hưởng xấu như Miến Điện,
Thái Lan, Lào, Căm Bốt và Việt
Nam. Khi cần thiết, Trung Quốc
cũng rất sẵn sàng dùng các
biện pháp quân sự để đàn áp
các quốc gia ĐNÁ, như lịch sử
gần đây chứng minh.
Để hợp tác hay đối phó hữu
hiệu với Trung Quốc, các quốc
gia thành viên khối ASEAN phải
thật sự đoàn kết nội bộ trên
căn bản “tình anh em Bách Việt
ruột thịt”, tức là phải tránh
đối thoại và ký kết các hiệp
ước song phương với Trung Quốc
càng nhiều càng tốt. Đài Loan,
với nguồn gốc Mân Việt,
[49] có thể là
một thành viên tương lai của
khối ASEAN nới rộng. Về mặt
đối ngoại, ASEAN phải khéo léo
dùng các thế lực của Hoa Kỳ,
Nhật Bản, Nga và Ấn Độ để dung
hòa ảnh hưởng Trung Quốc. Hoa
Kỳ, Nhật Bản và Nga là những
thế lực cũ và có nhiều quyền
lợi trực tiếp hay gián tiếp
trong khu vực ĐNÁ. Ấn Độ với
dân số cao và mức độ tăng
trưởng kinh tế hiện nay sẽ là
một thế lực mới, có khả năng
ngăn chặn sự bành trướng của
Trung Quốc tại Ấn Độ Dương.
Phần lớn những điểm này đều đã
hàm chứa trong viễn kiến
TVTVĐM của học giả PVC hơn
30 năm trước.
© 2005 talawas
[1]Học
giả Phạm Việt Châu tên thật là
Phạm Đức Lợi, một sĩ quan cấp
tá trong Bộ Tổng Tham Mưu Quân
Lực Việt Nam Cộng Hòa. Gần đây,
các con của học giả đã sưu tầm
các bài này và in thành sách (xem
Phạm Việt Châu, Trăm Việt
trên vùng định mệnh, North
Falls House, Minneapolis,
1997).
[2]Xem cước chú
1, Phần Dẫn Nhập (trang 18) và
Chương 18 (trang 290).
[3]Xem cước chú
1, trang 39.
[4]Cung Đình
Thanh, Tìm về nguồn gốc văn
minh Việt Nam dưới ánh sáng
mới của khoa học, Nhà xuất
bản Tư Tưởng, Sydney, 2003.
[5]Xích Quỷ là
một từ do người Hán đặt ra và
có nghĩa là giống rợ da mầu đỏ.
Xem Nguyên Nguyên, “Thử đọc
lại truyền thuyết Hùng Vương
(3): Nước Xích Quỷ”,
http://www.aihuucongchanh.com/ahccahcc.html
[6]Các danh từ
Hồ Việt, U Việt, Mân Việt,
Đông Việt, Nam Việt, Âu Việt,
Lạc Việt lấy ra từ cước chú 1,
trang 25. Danh từ Điền Việt
lấy từ cước chú 5. Từ Chiêm
Việt do người viết đặt ra dựa
trên các dẫn chứng lịch sử về
sự liên hệ giữa người Chàm và
người đảo Hải Nam (xem Bình
Nguyên Lộc, Nguồn gốc Mã
Lai của dân tộc Việt Nam,
Lá Bối, Sài Gòn, 1971, NXB
Xuân Thu tái bản tại Hoa Kỳ).
[7]Cao Thế
Dung, “Mấy nét về cuội nguồn
văn minh văn hóa Việt Nam”,
Tư Tưởng số 4 năm 1999,
trang 7-12.
[8]Nguyên
Nguyên, “Thử đọc lại truyền
thuyết Hùng Vương (2): Nước Sở
cái nôi của dân Việt”,
http://www.aihuucongchanh.com/ahccahcc.html
[9]Xem cước chú
1, trang 26.
[10]Xem cước
chú 4, trang 218(9.
[11]Xem Nguyên
Nguyên, “Truyền thuyết Âu Cơ
và dư âm Bách Việt trong tiếng
Việt(1): Ảnh hưởng chủng Thái”
http://www.aihuucongchanh.com/ahccahcc.html
Tác giả Nguyên Nguyên lấy tài
liệu từ Di Cosmo,N.,
Ancient China and its Enemies
– The Rise of Nomadic Power in
East Asian History,
Cambridge University Press,
2004.
[12]Xem cước
chú 1, trang 32–3.
[13]Xem cước
chú 1, trang 42.
[14]Theo nhà
văn Bình Nguyên Lộc thì người
Chàm và người đảo Hải Nam ngày
xưa có liên hệ chặt chẽ, xem
cước chú 6.
[15]Xem cước
chú 1, trang 27–33.
[16]Xem cước
chú 8.
[17]Xem Taylor,
K., The Birth of Vietnam,
University of California
Press, 1983.
[18]Xem Lịch
sử Việt Nam, tập 1, NXB
Đại Học và Trung Học Chuyên
Nghiệp, Hà Nội, 1985, trang
164. Trong cước chú 5, tác giả
Nguyên Nguyên cũng hàm ý cho
rằng văn hiến và lập quốc đi
đôi với nhau. Ông đề nghị
chúng ta “rút lại còn đúng
3000 năm văn hiến” và “chịu
mất 1000 năm văn hiến, một thứ
văn hiến ‘ảo’, trống không”.
Theo người viết, đây là một đề
nghị cực đoan vì văn hiến và
lập quốc là hai vấn đề khác
biệt nhau.
[19]Tiêu biểu
nhất là các tác giả Needham,
Solheim II, Gorman, Jettmar,
Higham, Turner, Hanihara,
Nichols, Ballinger, Chu,
Oppenheimer, v.v... Các công
trình này đã được tóm lược
trong cước chú 4 và Trần Nam
Bình, “Vài nhận xét về nguồn
gốc người Việt”, Tư Tưởng
số 22, trang 18-22.
[20]Oppenheimer,
S., Eden in the East: The
Drowned Continent of Southeast
Asia, Phoenix, London,
1999.
[21]Xem cước
chú 14.
[22]Xem Nguyễn
Quang Trọng, “Về nguồn gốc dân
tộc Việt Nam và Địa đàng
phương Đông của Oppenheimer”,
Hợp Lưu số 64, tháng tư
2002, trang 24(52.
[23]Giả thuyết
này xuất hiện lần đầu trên Tập
san Tư Tưởng trong
những năm 1999 và 2000. Loạt
bài này sau đó được in thành
sách (xem cước chú 4).
[24]Hiểu theo
nghĩa chuyên môn khảo cổ, văn
hóa Hòa Bình bao gồm một vùng
đất rộng lớn trong ĐNÁ.
[25]Xem Brown,
P., “The first modern East
Asians?: Another look at Upper
Cave 101, Liujang and
Minatogawa” 1 trong Omoto, K.
(chủ biên),
Interdisciplinary Perspectives
on the Origins of the Japanese,
International Research Center
for Japanese Studies, Kyoto,
1999, trang 105(30.
[26]Xem
Renfrew, C, “Language families
as evidence of human
dispersals” trong Brenner, S.
và K. Hanihara (chủ biên),
The Origin and Past of Modern
Humans as Viewed from DNA,
World Scientific, Singapore,
1995, trang 285(306.
[27]Xem cước
chú 22. Theo tác giả Cung Đình
Thanh thì những chứng cớ trồng
lúa đầu tiên tại Bắc Việt hoặc
chưa tìm thấy, hoặc đã đắm
chìm dưới nước trong lần biển
tiến cuối cùng.
[28]Xem cước
chú 4 và “History of Thailand
& Southeast Asia”,
http://www.guidetothailand.com/thailand-history/beginning.htm
[29]Xem cước
chú 4, trang 182(3.
[30]Theo một số
học giả, huyền thoại Hoàng Đế
đánh ‘giặc’ Xuy Vưu mô tả trận
chiến quy mô đầu tiên giữa Hán
tộc và Việt tộc.
[31]Ngay cả nhà
Nguyên Mông Cổ cũng xếp người
Hoa Nam (Nam Nhân) vào hạng
chót của đẳng cấp xã hội, dưới
cả đĩ điếm và ăn mày (xem
Nguyễn Duy Chính, “Chiến lược
mặt biển của Trung Quốc và vấn
đề biển Đông”,
http://www.vietkiem.com,
trang 6, 2002).
[32]Wagner, D.B.,
“The earliest use of iron in
China”, trong Young, S.M. và
nhiều tác giả (chủ biên),
Metals in Antiquity,
Archaeopress, Oxford, 1999,
trang 1(9.
[33]Hà
Văn Thùy, “Việt mượn
Hán hay Hán mượn Việt?”,
talawas, 9/4/2005.
[34]Xem cước
chú 31.
[35]Xem cước
chú 4, trang 417.
[36]Trần Trọng
Kim, Việt Nam sử lược,
Quyển 1, Trung Tâm Học Liệu,
Sài Gòn, 1971, trang 38.
[37]Xem cước
chú 4, trang 510.
[38]Thay vì
thuyết Một nguồn, một số nhà
khoa học Trung Quốc ủng hộ
thuyết Liên tục Đa địa phương
trong việc giải thích sự xuất
hiện người hiện đại tại châu Á.
Tuy nhiên, các công trình
nghiên cứu di truyền học đã
bác bỏ thuyết Liên tục Đa địa
phương.
[39]Nguyễn
Quang Trọng, “Về văn minh cổ
và nguồn gốc dân tộc Việt Nam
– Trả lời nhóm Tư Tưởng”,
Hợp Lưu số 66, tháng 8/9,
2002, trang 46(59.
[40]Các học giả
Trung Quốc cho rằng trống đồng
bắt nguồn từ Vân Nam hay Quảng
Tây, trong khi các học giả
Việt Nam chủ trương trống đồng
phát xuất từ Bắc Việt. Xem
cước chú 4, chương 7.
[41]Xem cước
chú 1, trang .269.
[42]Ban đầu gồm
có Nam Dương, Phi Luật Tân, Mã
Lai, Thái Lan và Singapore.
[43]Xem
Association of South East Asia
Nations,
http://www.aseansec.org/64.htm
[44]Xem cước
chú 1, trang 286.
[45]Xem Vũ
Quang Việt, “Khu vực Thái Bình
Dương đầy biến động trong thế
kỷ 21: Cạnh tranh, hợp tác hay
đối đầu?”,
http://www.hoithao.viet-studies.org/1998_VQViet.pdf,
trang 16, 1998.
[46]Xem cước
chú 31, trang 45.
[47]Xem cước
chú 45, trang 16.
[48]Xem ASEAN
and China Establish ICT
Cooperative Partnership for
Common Development,
http://www.aseansec.org/home.htm
[49]Xem Nguyễn
Đức Hiệp, “Đài Loan và cuội
nguồn Bách Việt”, Tư Tưởng
số 22 năm 2003, trang 24–5.