|
Ba
làng
người
"Trung
Hoa
gốc
Việt
tộc"
đang
sinh
sống
phát
triển
trong
nội
địa
nước
Tầu
hiện
nay
không
phải
là
một
điều
bí
mật
hay
rất
ít
người
biết
nữa
như
trước
đây.
Trái
lại,
nó
được
chính
thức
kể
như
một
trong
số
hơn
50
sắc
dân
thiểu
số
tại
Trung
Hoa,
chiếm
cứ
khoảng
6.6%
toàn
thể
của
dân
số
của
quốc
gia
này
là
1.3
tỉ
nhân
khẩu.
Riêng
về
Việt
tộc
-
còn
gọi
chính
thức
là
Kinh
tộc
(the
Jings)
-
có
con
số
nhân
khẩu
khiêm
tốn
gồm
khoảng
hơn
15,000
người,
tụ
cư
sinh
sống
trong
ba
hòn
đảo
nhỏ
là
Vạn
Vĩ
(Wanwei),
Ô
Ðầu
(Wutou)
và
Sơn
Tâm
(Shanxin)
trong
vùng
tỉnh
Quảng
Tây.
Hình
ảnh
cô
gái
Việt
hay
Kinh
tộc
xinh
đẹp
với
cái
nón
lá
hình
chóp
đã
được
tài
liệu
hay
bích
chương
du
lịch
của
Trung
Hoa
trưng
lớn
lên
như
mời
mọc
du
khách
quốc
tế.
Tôi
tự
hỏi
tại
sao
người
Việt
mình
ngày
nay
sẵn
sàng
đi
du
lịch
Trung
Quốc
một
cách
dễ
dàng
lại
không
tạo
dịp
đi
thăm
ba
làng
Việt
tộc
nói
trên.
Trước
hết
là
tỏ
một
mối
tình
thâm
trầm
man
mác
đối
với
những
người
vốn
là
đồng
bào
đồng
tộc
với
chúng
ta
nhưng
vì
hoàn
cảnh
lịch
sử
xa
xưa
lại
không
còn
ở
chung
một
địa
bàn
địa
lý
với
chúng
ta;
sau
là
chúng
ta
có
dịp
sưu
tầm
lại
những
di
sản
quí
báu
về
tinh
thần
mà
những
người
Việt
tộc
này
vẫn
còn
lưu
giữ
sau
gần
500
năm
xa
lìa
quê
hương
gốc
như
30
điệu
hát
đúm
vào
ngày
hội
Tết
đầu
xuân
và
những
tài
liệu
viết
bằng
chữ
Nôm
của
họ.
Mục
tiêu
vấn
đề
du
lịch
thăm
ba
làng
Việt
tộc
ở
Trung
Quốc
là
như
thế
nhưng
muốn
thực
hiện
chúng
ta
cần
phải
thu
thập
những
yếu
tố
dữ
kiện
nào
trên
thực
tế.
Sau
đây
là
những
điều
cụ
thể
mà
tôi
đã
tra
cứu
cẩn
thận
nên
trình
bày
ra
để
chia
xẻ
cho
những
ai
đồng
chí
hướng
thích
sự
ngao
du
thích
thú
sưu
tầm:
Tài
liệu
về
lịch
sử
và
sự
phát
triển,
sinh
hoạt
của
những
người
Kinh
hay
Việt
tộc
(mà
tôi
tạm
dùng
chữ
Kinh
Việt
viết
tắt
là
KV
trong
bài
này)
được
mô
tả
rất
đầy
đủ
trong
những
sách
của
Trung
Hoa
như
Dân
Tộc
Tri
Thức
Thủ
Sách
(Dân
tộc
Xuất
bản
xã
năm
1982)
viết
bằng
Hoa
ngữ
-
China's
Minority
Nationalities
(Foreign
Language
Press
năm
1989)
bằng
Anh
ngữ.
Qua
hai
tài
liệu
trên,
chúng
ta
được
đọc
về
Kinh
Việt
tộc
như
sau:
Nguồn
gốc
Kinh
Việt
tộc
Kinh
tộc
-
ngày
xưa
xưng
là
Việt
tộc
-
là
một
trong
những
dân
thiểu
số
của
Trung
Hoo.
Kinh
Việt
tộc
chủ
yếu
nằm
rải
ra
ở
các
địa
khu
của
những
dân
tộc
tự
trị
ở
vùng
duyên
hải
thuộc
khu
Phòng
Thành
của
tỉnh
Quảng
Tây.
Theo
thống
kê
1982,
Kinh
Việt
tộc
có
11,995
nhân
khẩu.
Hồi
trước
Kinh
Việt
tộc
là
một
bộ
phận
của
nòi
Lạc
Việt
thời
xa
xưa,
nhưng
vào
đầu
thế
kỷ
thứ
16,
họ
đã
từ
vùng
Ðồ
Sơn
của
Việt
Nam
hiện
giờ
lục
tục
di
cư
đến
địa
điểm
bây
giờ,
tụ
cư
trên
ba
hòn
đảo
nhỏ
gọi
là
ba
làng
là
Vạn
vĩ,
Vu
đầu
và
Sơn
Tâm
thuộc
huyện
Giang
Bình
nên
người
ta
quen
gọi
là
"Kinh
tộc
tam
đảo."
Tiếng
nói
và
Văn
tự
của
người
Kinh
Việt
thế
nào?
"Dân
Kinh
Việt
tộc
tam
đảo
vốn
nói
tiếng
Kinh
hay
Việt
và
có
một
văn
tự
gốc
gọi
là
"chữ
Nôm,
nhưng
từ
lâu
họ
cũng
nói
tiếng
địa
phương
Quảng
Châu
và
xử
dụng
Hán
tự."
Tiếng
nói
Kinh
Việt
"Nguồn
gốc
Kinh
ngữ
(hay
Việt
ngữ)
theo
Dân
tộc
Từ
điển
của
Thượng
hải
(1987)
có
thể
thuộc
vào
hai
giả
thuyết
trên
ngữ
hệ:
thứ
nhất
là
thuộc
Hán
Tạng
ngữ
hệ,
thứ
hai
là
thuộc
Nam
Á
ngữ
hệ.
Theo
sự
phân
tách
của
sách
này,
Kinh
(hay
Việt)
ngữ
rất
gần
tiếng
các
dân
tộc
Choang
(Tráng)
và
Ðồng
được
phân
bố
tại
các
huyện
tự
trị
lân
cận.
Kinh
Việt
ngữ
có
28
thanh
mẫu,
106
vận
âm.
Nguyên
âm
KV
chia
thành
nguyên
âm
dài
và
nguyên
âm
ngắn.
Phụ
âm
vận
ở
cuối
từ
có
6
vận
là:
(-k),
(-m),(-n),(-ng),
(-p),
(-t),
ví
dụ
như
cac(k),
nam,
man,
mang,
map,
mat.
Thanh
điệu
có
năm
bực
là:
trung
bình,
đê
giáng,
khúc
triết,
cao
thăng,
đê
bình,
tức
là
năm
dấu
giọng.
Về
ngữ
pháp,
dân
KV
không
nói
ngược
như
dân
Hán
như
họ
gọi
Ông
Thôn
để
chỉ
chức
trưởng
thôn
xã,
Ông
Kiểm
để
chỉ
chức
kiểm
soát
an
ninh
trật
tự.
Chữ
Nôm
Kinh
Việt
"Viết
về
chữ
Nôm
của
ba
làng
KV
này,
tài
liệu
Anh
ngữ
ChinaỖs
Minority
Nationalities
(CMN)
nói
thật
rõ
như
sau:
"Người
Kinh
có
một
thứ
văn
tự
ghi
chép
riêng
của
họ
gọi
là
chữ
Nôm
(chữ
Hoa
ghi
là
Tự
Nam,
chữ
Anh
phiên
âm
là
Zinan).
Ðược
cấu
tạo
dựa
trên
căn
bản
của
Hán
tự
vào
cuối
thế
kỷ
13,
chữ
Nôm
nay
được
lưu
truyền
trong
những
sách
thi
ca
cũ
và
những
bộ
kinh
tôn
giáo."
Chúng
ta
chưa
thấy
tự
dạng
và
cấu
trúc
của
nó
ra
sao,
nhưng
chắc
chắn
nó
phải
là
chữ
Nôm
của
Việt
Nam
vào
cuối
đời
Hậu
Lê
chắc
chắn
nó
phải
cổ
và
chính
thống
hơn
chữ
Nôm
của
ta
từ
nhà
Nguyễn
về
saụ
Nếu
ta
sưu
tầm
được
chữ
Nôm
Kinh
Việt
này,
chúng
ta
có
thể
hiểu
nhiều
tiếng
Việt
thời
cổ
hơn.
Diễn
biến
quá
trình
định
cư
của
dân
Kinh
Việt
"Tổ
tiên
người
Kinh
di
cư
từ
Việt
Nam
sang
Trung
Quốc
vào
khoảng
đầu
thế
kỷ
16.
Thuở
ban
đầu
thì
họ
định
cư
trên
ba
hòn
đảo
không
người
ở
vì
các
vùng
lân
cận
đã
có
người
Hán
và
người
Choang
(Trang
tộc)
chiếm
cứ
sinh
sống
rồị
Tuy
sống
chen
vai
thích
cánh
với
người
Hán
và
người
Choang,
người
Kinh
đã
tạo
dựng
nên
một
khu
lãnh
giới
riêng
cho
mình
nhưng
qua
nhiều
thế
kỷ,
họ
đã
hàn
chặt
nhiều
mối
liên
lạc
mật
thiết
với
dân
tộc
láng
giềng.
Theo
tài
liệu
bằng
chữ
Nôm
mà
người
Kinh
còn
lưu
giữ
trong
một
ngôi
đình
của
họ,
tổ
tiên
của
Việt
tộc
tam
đảo
đã
từ
bãi
Ðồ
Sơn
(tỉnh
Hải
Phòng
Việt
Nam)
đến
vùng
đất
này
vào
năm
Hồng
Thuận.
Theo
Việt
Nam
Sử
Lược
của
Trần
Trọng
Kim,
Hồng
Thuận
vào
cuối
đời
Hậu
Lê
tức
là
đời
vua
Lê
Tương
Dực
(1510
-
1516),
như
vậy
dân
Kinh
hay
Việt
tộc
đã
sinh
sống
lập
nghiệp
trên
đất
Trung
Hoa
gần
như
tròm
trèm
500
năm.
Hiện
nay,
chúng
ta
chưa
rõ
tại
sao
dân
Kinh
Việt
lại
di
cư
qua
Trung
hoa?
Vì
vùng
đất
của
họ
nằm
gần
như
sát
biên
thùy
Việt
Hoa
tức
là
huyện
Móng
Cáy
tỉnh
Quảng
Ninh
của
Việt
Nam
ngó
qua
Ðông
Hưng
của
Trung
Hoa,
nên
chúng
ta
có
thể
phóng
đoán
rằng
ngày
xưa
giữa
Trung
Hoa
và
Việt
Nam
không
có
con
đường
phân
định
rõ
ràng
về
biên
giới
có
tọa
độ
rõ
ràng.
Do
đó,
đám
người
Kinh
Việt
cứ
thấy
vùng
nào
không
có
ai
ở
thì
tới
cắm
dùi
lập
nghiệp
sinh
sống,
chẳng
chính
quyền
nào
kiểm
soát.
Lằn
biên
giới
Hoa
Việt
mới
chính
thức
vạch
ra
sau
Hiệp
ước
Fournier-Lý
Hồng
Chương,
chạy
dọc
theo
kinh
tuyến
108
độ
3
phút
13
giây,
vùng
nào
về
phía
tây
của
kinh
tuyến
thuộc
về
Việt
nam
(thời
ấy
do
Pháp
đô
hộ),
còn
vùng
nào
ở
phía
đông
kinh
tuyến
thì
thuộc
về
lãnh
thổ
Trung
Hoa.
Do
đó,
vùng
đất
mà
dân
Kinh
Việt
chiếm
cứ
định
cư
trong
bao
nhiêu
thế
kỷ
bỗng
nằm
lọt
vào
lãnh
thổ
Trung
Quốc.
Rồi
trải
bao
nhiêu
thời
gian,
dân
Kinh
Việt
cứ
yên
thắm
sống
trong
vùng
mà
nhà
nước
Trung
Hoa
gọi
là
"Tự
trị
khu"
chung
với
những
sắc
dân
thiểu
số
như
Choang,
Dao
trong
tỉnh
Quảng
Tây.
Cho
đến
cuối
1952
-
sau
năm
1949
khi
chính
quyền
Trung
Cộng
chiếm
toàn
lục
địa
Trung
Hoa
thì
mới
bắt
đầu
thành
lập
ba
thôn
làng
là
Vạn
Vĩ,
Vu
Ðầu
và
Sơn
Tâm
để
rồi
1958
thì
ba
làng
Kinh
Việt
này
hợp
cùng
các
làng
khác
của
dân
Choang
và
Dao
để
làm
thành
huyện
tự
trị
Ðông
Hưng.
Vào
cuối
năm
1979
thì
các
huyện
tự
trị
này
họp
thành
trấn
Phòng
Thành
tự
trị
cho
đến
nay.
Phong
tục
tập
quán
của
dân
Kinh
Việt
"Ta
thử
xem
500
năm
qua
xa
xứ
người
Kinh
Việt
còn
giữ
dấu
tích
gì
của
quê
hương
mẹ
không?
Họ
mặc
áo
quần
ra
sao?
"Y
phục
của
người
Kinh
rất
đơn
giản
và
thực
tế.
Phụ
nữ
ăn
mặc
theo
cổ
truyền
với
những
chiếc
áo
ngắn,
không
cổ,
chẽn
bó
vào
thân
mình,
cài
nút
phía
trước,
trên
đầu
đội
quấn
một
cái
khăn
rằn,
dưới
mặc
những
tấm
quần
rộng
nhuộm
đen
hay
nâu.
Khi
ra
ngoài,
phụ
nữ
thường
mặc
thêm
áo
dài
tay
chật
nhuộm
màu
sắc
nhạt
hơn.
Họ
đeo
bông
tai.
Tóc
phụ
nữ
phần
lớn
rẽ
ngôi
ở
giữa
và
tóc
xỏa
hai
bên,
phía
sau
lại
dùng
vải
đen
hay
khăn
đen
buộc
lại.
Dân
quê
còn
đi
chân
đất.
Còn
đàn
ông
thì
thường
mặc
áo
cộc
để
làm
việc,
cổ
quấn
khăn,
nhưng
khi
có
hội
hè
thì
họ
mặc
những
áo
dài
chùng
tới
gối,
hai
vạt
trước
sau
đối
nhau
và
có
giải
quấn
ở
eo
lưng.
Bây
giờ
người
Kinh
ăn
mặc
giống
như
người
Hán
láng
giềng,
mặc
dù
còn
một
số
ít
bà
cụ
già
còn
giữ
lối
ăn
mặc
theo
cổ
tục
và
một
thiểu
số
phụ
nữ
trẻ
còn
búi
tó
và
nhuộm
răng
đen
vì
vẫn
còn
tục
ăn
trầu,
còn
đàn
ông
thì
đương
nhiên
ăn
mặc
thực
tế
theo
hiện
đại
như
những
dân
lân
cận
khác.
Một
điểm
về
mầu
sắc
là
phụ
nữ
Kinh
Việt
khoái
mầu
vàng
và
mầu
nâu
non,
vì
hàng
năm
vào
ngày
quốc
khánh
của
Trung
Quốc
thì
có
đội
nữ
dân
quân
Giang
Bình
"chít
khăn
vàng,
mặc
áo
nâu
non,
quần
đen,
vai
đeo
súng,
lưng
thắt
băng
đạn
đi
diễu
binh
trước
khán
đài"
(Làng
Việt
biên
thùy
-
báo
Sài
Gòn
Giải
Phóng
ngày
20
tháng
Tám
năm
1995).
Họ
ăn
uống
thế
nào?
"Về
ẩm
thực,
dân
Kinh
Việt
ăn
cơm
là
chính,
ngoài
ra
còn
ăn
khoai
sắn,
khoai
sọ,
thích
ăn
cá
tôm
cua.
Ngày
Tết,
họ
thích
ăn
xôi
chè
(hỉ
hoan
cật
nhu
mễ
phạn
hòa
nhu
mễ
đường
chúc).
Họ
làm
nước
mắm
cá
để
chấm
và
nêm
thức
ăn.
Một
điểm
lý
thú
là
dân
Kinh
Việt
thích
ăn
hai
món
sau,
ăn
hoài
không
ngán:
Ðó
là
"bánh
đa"
bằng
bột
gạo
có
rắc
mè
nướng
trên
than
hồng
mà
sách
Tầu
gọi
là
Phong
xuy
hỉ
-
bánh
phồng
do
gió
thổi!
-
và
"bún
riêu,
bún
ốc"
mà
sách
Hán
tự
ghi
là
Hỉ
ty
tức
là
sợi
bún
nấu
với
canh
cua
và
ốc.
Phong
tục,
tín
ngưỡng
và
văn
hóa
Kinh
Việt
ra
sao?
"Nhà
cửa
của
dân
Kinh
Việt
thì
thấp,
làm
bằng
gỗ
hay
tre
đan
thành
phên.
Phong
tục
hôn
nhân
thì
một
vợ,
một
chồng,
thuở
trước
thì
thường
do
cha
mẹ
hai
bên
xếp
đặt
bao
biện.
Trai
gái
cùng
họ
và
anh
em
cô
cậu
cấm
lấy
nhau.
Về
tang
ma
thì
chôn
dưới
đất.
Trừ
một
thiểu
số
theo
đạo
Thiên
chúa,
phần
lớn
dân
Kinh
Việt
theo
Phật
giáo,
cúng
vái
đủ
thứ
thần
thánh
và
sùng
bái
tổ
tiên.
Sinh
hoạt
văn
hóa
và
văn
nghệ
Kinh
tộc
ra
sao?
Dân
tộc
Kinh
rất
ưa
thích
lối
hát
đối
đáp
giao
tình
(antiphonal
songs)
nghe
du
dương
và
trữ
tình,
kiểu
như
hát
Quan
họ
hay
hát
đúm
quen
thuộc
ngoài
Bắc
ta
bây
giờ.
(Tài
liệu
Anh
ngữ
CMN
của
Trung
hoa
về
Kinh
tộc
đã
dùng
chữ
rất
đúng
để
dịch
chữ
hát
đối
hay
hát
đúm
vì
"Antiphon"
là
lối
hát
chia
thành
nhiều
phần
đối
đáp
và
xen
kẽ
luân
phiên
-
Antiphon
is
a
hymn,
psalm
etc...
chanted
or
sung
in
responsive
and
alternating
parts
-
Webster's
New
World
Dictionary).
Lối
hát
đúm
hát
đối
này
thường
được
dân
Kinh
long
trọng
diễn
vào
ngày
Tết
của
họ
mà
họ
gọi
là
"Hát
Tết."
Hát
đúm,
hát
đối
là
do
những
cô
gái
gọi
là
"Hát
muội"
(Muội
là
em
gái).
Tài
liệu
Hoa
ngữ
DTTT
về
Kinh
tộc
trang
91
đã
đặc
biệt
khen
rằng:
"Người
Kinh
trên
phương
diện
sinh
hoạt
phấn
đấu
trường
kỳ
đã
sáng
tạo
một
nền
văn
hóa
rực
rỡ
muôn
màu,
nội
dung
của
nền
văn
học
truyền
khẩu
thật
phong
phú,
ca
khúc
và
khúc
điệu
đạt
đến
30
loại.
Ðàn
bầu
là
một
nhạc
khí
chỉ
riêng
Kinh
tộc
có
mà
thôi.
Phê
bình
về
âm
nhạc
và
dân
ca
của
Kinh
tộc,
sách
Hoa
ngữ
nói
rằng:
"Lời
ca
thuần
phác,
khúc
điệu
bình
dị
ít
biến
hóa."
"Về
phương
diện
nghệ
thuật,
tài
liệu
Anh
ngữ
CMN
nói
thêm
thật
rõ
về
Kinh
tộc
như
sau:
"Nhạc
cụ
cổ
truyền
của
người
Kinh
gồm
có
đàn
nhị
(two-stringed
fiddle),
sáo
trúc,
trống,
cồng
và
cây
độc
huyền
cầm
(single-stringed
fiddle)
là
cây
đàn
đặc
thù
của
họ.
Những
truyện
dân
gian
và
cổ
tích
của
họ
rất
nhiều.
Những
điệu
múa
ưa
chuộng
củ
a
người
Kinh
là
múa
đèn,
múa
gậy
sặc
sỡ
nhiều
màu,
múa
rồng
và
múa
y
phục
thêu
thùa.
Theo
sách
Dân
Tự
Trị
Thủ
Sách
của
Trung
hoa,
câu
chuyện
cổ
tích
mà
dân
Kinh
hay
kể
là
Truyện
chàng
Thạch
sanh
(mà
cái
tên
Lý
Thông
phản
phúc
trong
truyện
được
gọi
và
cải
lại
là
Nguyễn
Thông).
Ðàn
kêu
tích
tịch
tình
tang,
Ai
đem
công
chúa
trên
hang
mà
về!
Cái
đàn
"tích
tịch
tình
tang"
gẩy
bằng
que
tre
chính
là
cây
đàn
bầu
nói
trên.
Kinh
tế
của
ba
làng
Kinh
Việt
Dân
Kinh
Việt
sống
trong
một
vùng
bán
nhiệt
đới,
có
mưa
nhiều
và
lắm
tài
nguyên
khoáng
sa.
Vịnh
Bắc
Bộ
ở
phía
nam
là
một
nơi
lý
tưởng
cho
ngư
nghiệp.
Trong
700
loại
cá
đánh
ở
đây
thì
hơn
200
loại
có
giá
trị
kinh
tế
cao
và
thu
hoạch
nhiều.
Ngọc
trai,
cá
ngựa
và
sea
otters
sinh
sản
lắm
ở
đây
và
thường
quí
về
phương
diện
dược
liệu.
Nước
biển
của
vịnh
Bắc
Bộ
tốt
cho
sự
làm
muối.
Mùa
màng
chính
ở
đây
là
gạo,
khoai
lang,
đậu
phọng,
khoai
sọ,
và
kê.
Những
loại
trái
cây
bán
nhiệt
đới
như
đu
đủ,
chuối,
nhãn
thì
rất
nhiều.
Những
khoáng
sản
dưới
đất
gồm
sắt,
monazite,
titanium,
magnetite
và
silica.
Những
giải
rộng
của
rừng
tràm
mọc
trên
vùng
nước
lợ
là
một
nguồn
lợi
phong
phú
về
chất
tannin
dùng
làm
nguyên
liệu
tất
yếu
cho
kỹ
nghệ
thuộc
da.
Dân
Kinh
Việt
sinh
nhai
chính
bằng
ngư
nghiệp,
còn
nông
nghiệp
là
thứ
yếu,
ví
dụ
ở
làng
Sơn
Tâm
thì
70%
lợi
tức
của
làng
do
ngư
nghiệp,
27%
do
nông
nghiệp
còn
lại
3%
do
các
hoạt
động
khác.
Trước
đây,
ngư
nghiệp
không
phát
đạt
vì
trang
bị
của
ngư
dân
còn
nghèo,
phươngpháp
còn
vụng
về
chậm
tiến
và
nhất
là
không
thể
đánh
cá
ở
biển
sâu.
Nông
nghiệp
cũng
kém,
mỗi
mẫu
tây
chỉ
thâu
hoạch
750
kg
thóc,
chỉ
đủ
dự
trữ
ăn
trong
ba,
bốn
tháng.
Do
đó,
dân
Kinh
Việt
phải
sống
chật
vật,
đổi
cá
lấy
gạo
và
các
thứ
nhật
dụng
hoặc
làm
thêm
thủ
công
nghệ
như
đan
đát
tre
hay
nghề
mộc.
Hiện
nay,
tình
trạng
thay
đổi
nhiều
trên
ba
làng
dân
Kinh
Việt.
Dự
án
ý
nghĩa
nhất
để
chuyên
trị
những
cù
lao
đất
bồi
nghèo
nàn
là
xây
đắp
11
con
đê
để
lấn
đất
ra
biển
và
nối
các
hòn
cù
lao
với
đất
liền.
Một
diện
tích
khoảng
400
mẫu
đất
được
tạo
dựng
tương
đương
với
bốn
lần
diện
tích
đất
canh
tác
cụ
China's
Minority
Nationalities
đã
khoe.
Về
ngư
nghiệp,
những
ghe
thuyền
gắn
động
cơ
và
nhiều
dụng
cụ
đánh
cá
mới
trang
bị
làm
tăng
gia
sự
có
thể
đánh
cá
ở
biển
sâu.
Ngành
nuôi
ngọc
trai
đã
thành
một
kỹ
nghệ
phát
triển
từ
năm
1958
khi
những
trại
nuôi
trai
sản
xuất
ngọc
được
thiết
lập
vào
những
vũng
biển
nước
sâu
lý
tưởng
cho
loài
trai
tăng
trưởng.
Cũng
từ
năm
1958,
cây
cối
được
trồng
trên
một
diện
tích
433
mẫu
đã
tạo
thành
một
bờ
đai
hàng
rào
chắn
gió
và
cát
di
chuyển.
Qua
nhiều
năm,
trái
cây
như
chuối,
đu
đủ,
dừa,
nhãn
di
thực
từ
vùng
khác
đã
mọc
sum
xuê
trên
các
vùng
hải
đảo.
Làm
sao
thực
hiện
một
chuyến
du
lịch
vào
vùng
Kinh
Việt
Tam
đảo?
Trước
đây,
Trung
Quốc
đã
có
chánh
sách
đóng
kín
bức
màn
tre
nên
chuyện
du
lịch
Trung
Hoa
là
một
vấn
đề
khó
khăn
thiên
nan
vạn
nan
với
bao
thủ
tục
và
gần
như
mạo
hiểm
như
chúng
ta
có
thể
phối
kiểm
những
bài
viết
du
khảo
về
Trung
Quốc
của
nguyệt
san
tạp
chí
National
Geographic.
Nhưng
cho
đến
cuối
tháng
Giêng
năm
1986,
thì
244
đô
thị
của
Trung
Quốc
được
mở
ra
để
du
khách
ngoại
quốc
có
thể
thăm
với
thông
hành
có
chiếu
khán
và
giấy
phép
hợp
lệ.
Kể
từ
đó,
cơ
quan
Dịch
Vụ
Du
Lịch
Quốc
Tế
của
Trung
hoa
-
China
International
Travel
Service
-
cùng
nhiều
công
ty
khác
đã
phối
hợp
chặt
chẽ
với
công
ty
China
Focus
Inc.
hay
Ritz
Tours...
tổ
chức
thường
xuyên
nhiều
chuyến
tuần
du
Trung
Quốc
với
giá
cả
tương
đối
rẻ
bao
gồm
bao
nhiêu
thứ
nào
là
vé
phi
cơ,
vé
xe
lửa,
vé
xe
buýt,
vé
thăm
thắng
cảnh,
vé
coi
show
cùng
với
những
bữa
ăn.
Ðiều
này
chứng
tỏ
chính
quyền
Trung
Quốc
rất
hoan
nghênh
sự
thăm
viếng
của
du
khách
để
thâu
ngoại
tệ.
Riêng
về
du
lịch
vùng
Tam
Ðảo
ở
tỉnh
Quảng
Tây
thì
tôi
chưa
thấy
phổ
biến
rộng
rãi
mặc
dù
trên
nhiều
tài
liệu
và
bích
chương
du
lịch
của
Trung
Hoa
thường
in
hình
cô
gái
Kinh
Việt
đội
nón
lá
rất
tươi
với
dáng
vẻ
mời
mọc.
Tôi
nghĩ
họ
đang
cần
quảng
cáo
cho
nhiều
đô
thị
hay
thắng
cảnh
nổi
danh
trước
đã,
để
thu
vào
nhiều
lợi
từ
khách
quốc
tế
mà
họ
gọi
là
nguồn
lợi
big
spenders.
Tuy
nhiên,
theo
sự
dọ
hỏi
của
tôi
với
vài
hướng
dẫn
viên
du
lịch
địa
phương
ở
Trung
Hoa
thì
công
ty
của
họ
sẵn
lòng
phối
hợp
với
China
Focus
tổ
chức
những
chuyến
du
lịch
nhỏ
kiếm
ăn
kiểu
cò
con
phụ
thêm
(extension
trip)
vào
những
tours
chính
mà
chỉ
cần
trả
phụ
trội
một
phí
tổn
tương
ứng.
Ví
dụ
chúng
tôi
vừa
đi
một
chuyến
15
ngày
du
lịch
trả
khoảng
1,550
mỹ
kim
để
đi
một
vòng
qua
các
nơi
như
Bắc
Kinh,
Tây
An,
Quế
Lâm,
Nam
Kinh,
Hàng,
Tô
Châu,
Thượng
Hải,
nhưng
lại
muốn
đi
thăm
hai
ngày
ở
Hàng
Châu
(gần
Thượng
Hải)
nên
chỉ
trả
thêm
mỗi
người
350
mỹ
kim
thôi.
Tính
ra
mỗi
ngày
chỉ
trả
150
mỹ
kim.
Vùng
Kinh
Việt
Tam
Ðảo
thuộc
tỉnh
Quảng
Tây
nên
tôi
nghĩ
có
thể
dàn
xếp
với
công
ty
du
lịch
cho
chúng
ta
thăm
phụ
thêm
khi
cái
tour
chính
của
chúng
ta
đi
qua
gần
đấy
như
thăm
Quế
Lâm,
Quảng
Châu
hay
Hồng
Kông
miễn
là
chúng
ta
có
ít
nhất
là
10
người
cùng
đi.
Nếu
chúng
ta
cố
tình
muốn
thăm
ba
làng
Việt
tộc,
thì
vấn
đề
không
khó
mà
có
thể
tổ
chức
một
thuận
lợi
nếu
có
nhiều
người
cùng
thích
đi.
Lê
Văn
Lân
|