|
Bản lĩnh văn hóa Trương Hán Siêu
(Nguyễn Huệ Chi)
|
| |
| |
Không ở đâu trên
dải đất Việt Nam này có được một
thắng cảnh ưu mỹ như núi Non
Nước Ninh Bình [1] . Một hòn núi
không ghê gớm về tầm cao và tầm
đồ sộ, ngược lại có thể nói là
nhỏ bé nữa. Một hòn núi cũng
không có gì gọi là giàu sản vật,
cỏ cây và muông thú, mà nhiều
lắm chỉ là vài mươi gốc cổ thụ
giai dẳng bám sâu vào đá, và
thấp thoáng dưới tàng cây là
bóng dáng của một vài chú sóc,
vài loài chim.
Thế nhưng nơi đây
lại lưu giữ một thứ sản vật có
thể nói là vô giá, và lưu giữ
với số lượng vượt trội hơn bất
kỳ một hòn núi nào khác của nước
ta: ấy là những bài thơ bài văn
được khắc lên vách đá kể từ thế
kỷ XIII cho đến tận nửa đầu thế
kỷ XX (nếu khảo sát thêm trong
các thư tịch thì từ thế kỷ XI
cũng từng có văn bia khắc ở đây
nhưng thời gian đã làm cho mai
một).
Một tàng thư
thiên nhiên độc đáo tồn tại
trong suốt bảy thế kỷ! Nói một
cách hình tượng hơn thì lịch sử
đất nước vô tình hay hữu ý đã
dành cho hòn Non Nước cái vị thế
một “bộ hợp tuyển thơ văn” lộ
thiên xinh xắn, mà từng “trang
sách” cũng là từng vách núi cao
thấp khác nhau, “người in sách”
là vô số thợ đá vô danh nhiều
thời đại, chia nhau miệt mài
khắc chữ lên đá, và “người soạn
sách” là những vị vua hay chữ,
những danh sĩ cự phách nối tiếp
nhau trong vòng 700 năm. Về
phương diện này, núi Non Nước ít
nhiều có thể làm ta liên tưởng
đến núi Thái Sơn của Trung Quốc,
nơi khắc rất nhiều thơ văn của
văn nhân danh sĩ Trung Hoa, đã
được UNESCO xếp vào danh mục
những di sản đứng hàng thế giới
[2] .

Thơ văn khắc trên một góc núi
Non Nước - Ảnh Trần Kim Chi
Vấn đề gìn giữ,
tôn tạo và phát huy giá trị của
di tích văn hóa Non Nước sao cho
tương xứng với ý nghĩa lịch sử
của nó, là việc cần đánh động
các giới quan chức văn hóa và
chính quyền trung ương cũng như
địa phương để sớm có một sự quan
tâm đúng đắn, một kế hoạch tôn
tạo hòn núi, biến nó thành một
điểm sáng trong văn hóa du lịch
của tỉnh Ninh Bình. Nhưng điều
khó lòng bỏ qua không nói đến
khi gợi lên cái ưu thế có một
không hai của di tích văn hóa
này là một hình ảnh khác - một
nhân vật lịch sử như tấm phông
nổi bật đằng sau di chỉ ấy, một
con người mà tầm vóc làm cho di
chỉ như càng cổ kính thêm. Chính
con người đó đã khai sinh ra cái
tên Dục Thúy cho hòn Non Nước
nằm trên khúc quanh tiếp giáp
hai con sông chảy qua thành phố
Ninh Bình, hệt như một chú chim
cánh trả đang lao thẳng xuống
giữa dòng nước [3] . Cũng chính
con người đó đã “đặt bút” viết
lên “bộ hợp tuyển bằng đá” những
“trang viết” đầu tiên: Bài Dục
Thúy sơn Linh Tế tháp ký của ông
không những nhiều sĩ phu các thế
hệ đã đọc đến thuộc lòng, mà còn
được chiêm ngưỡng tận mắt nếu có
dịp ghé thăm Non Nước. Con người
đó là Trương Hán siêu (? -
1354), một trong những gương mặt
sáng láng của thời đại Lý - Trần.
*
Tiểu sử Trương Hán Siêu là một
vấn đề mà hẳn giới sử phải quan
tâm hơn giới văn, song điều kiện
tư liệu hiện nay lại không cho
phép có nhiều phát hiện mới. Trở
đi trở lại chúng ta vẫn có bằng
ấy tài liệu mà có lẽ từ rất lâu
rồi các học giả Việt Nam đều đã
quá quen thuộc. Đó là các sách
Đại Việt sử ký toàn thư, Lịch
triều hiến chương loại chí, Việt
âm thi tập, Toàn Việt thi lục,
Quần hiền phú tập, Hoàng Việt
thi văn tuyển, Đại Nam nhất
thống chí, và từ 30 năm trở lại
đây còn có bộ Thơ văn Lý - Trần.
Tựu trung, ta biết Trương Hán
Siêu tự Thăng Phủ, hiệu Độn Tẩu,
người làng Phúc Thành, huyện Yên
Ninh, lộ Trường Yên, nay là tỉnh
Ninh Bình.
Ông xuất thân là
một môn khách trong phủ đệ của
Trần Quốc Tuấn, giúp việc văn
thư cho Trần Quốc Tuấn nhiều năm,
về sau được Quốc Tuấn tiến cử
với Triều đình Trần và được tín
nhiệm, lần lượt giữ nhiều chức
trong triều, cũng lần lượt đi
trấn nhậm các vùng Lạng Giang,
Hóa Châu, hoặc có lúc được cử
làm một công việc mang chức năng
tôn giáo, như chức Giám tự chùa
Quỳnh Lâm - Giám đốc một ngôi
chùa vào hàng “quốc tự”/chùa
quốc gia hạng nhất. Lẽ tự nhiên,
một tiểu sử vắn tắt như thế
không khỏi vẫn để lại nhiều chỗ
trống, nhiều dấu hỏi gay cấn mà
không phải đến ngày nay mới được
đặt ra. Chẳng hạn, Trương Hán
Siêu sinh ngày tháng năm nào và
mất ngày tháng năm nào? Ông có
về ẩn cư ở Trường Yên hay không
và có thể ước đoán vào thời gian
nào trong cuộc đời ông? Ông có
đi sứ Trung Quốc thực hay không
hay bài Quá Tống đô chỉ là chép
lầm của người khác? Dòng dõi
Trương Hán Siêu hiện nay còn lại
ở đâu? Chi phái nào hiện đang
tiếp nối ở Lạng Giang (nơi ông
trấn nhậm lâu năm) và chi phái
nào hiện có mặt ở Đông Triều như
Đại Việt sử ký toàn thư đã chép?
[4] Vân vân và vân vân...
Mấy năm trước đây Nhóm khảo sát
thực địa do Trường trung học
Lương Văn Tụy Ninh Bình chủ trì
đã làm được một việc có ý nghĩa,
ấy là tổ chức khảo sát điền dã
ngay tại thôn Phúc Am, xã Ninh
Thành, nay thuộc thành phố Ninh
Bình là nguyên quán của ông, và
tìm ra bản thần tích ngôi đền
thờ Trương Hán Siêu tại xã này,
bị phá cách đây khoảng 50 năm,
may mắn thần tích còn lưu lại
trong dân chúng. Thần tích có đề
rõ: “Trần triều Thái bảo Thái
phó Trương Thăng Phủ gia phong
Trác vĩ thượng đẳng thần” [5] ,
đặc biệt có ghi một chi tiết
quan trọng là ngày “chính kỵ”
của Trương Hán Siêu vào 15 tháng
Chín [6] .
Như thế nào là
ngày “chính kỵ”? Hiểu theo nghĩa
chữ Hán thì đây là ngày giỗ
chính thức của ông, chứ không
phải là ước lệ “xuân thu nhị kỳ”
hay “nhất kỳ” do quy ước của
người lập đền. Nếu so với Đại
Việt sử ký toàn thư ta sẽ thấy
một sự không ăn khớp: Đại Việt
sử ký toàn thư ghi Trương Hán
Siêu mất tháng Mười một âm lịch
năm Giáp ngọ (1354), trong khi
ngày giỗ ở đền thờ ông diễn ra
trước một tháng rưỡi. Nếu tra
lại lý lịch ngôi đền ta lại càng
có chỗ hồ nghi. Theo Đại Nam
nhất thống chí, ngôi đền Trương
Hán Siêu mới được khởi xây từ
năm Minh Mệnh thứ 15 (1833) do
sáng kiến của Án sát Nguyễn Bá
Thản [7] .
Một ngôi đền chỉ
mới mọc lên cách ta 175 năm thì
thần phả của nó có đáng tin cậy
bằng một bộ sử ra đời đã trên
500 năm hay không? Mới so sánh
sơ qua, tưởng chừng dễ ngã ngũ
được ngay. Tuy thế, đào sâu hơn
vào vấn đề thì hình như vẫn có
một đôi điều cần bàn. Hãy thử
đặt một câu hỏi: ngôi đền được
xây do một vị Án sát đề xướng,
lại có thêm một danh Nho là Vũ
Phạm Khải [8] viết văn bia, vậy
vì sao hai con người có học này
lại không dựa vào Đại Việt sử ký
toàn thư để ấn định ngày mất cho
Trương Hán Siêu mà đưa ra một số
liệu không khớp với sử cũ? Phải
chăng khi dựng đền, Nguyễn Bá
Thản và Vũ Phạm Khải đã có chỗ
dựa là một cuốn phả nào có từ
trước, cuốn phả đó có ghi chép
cụ thể ngày mất của Trương Hán
Siêu?
Mặt khác, đứng về
mặt tâm linh mà xét, người ta
không thể dựng đền để thờ một
nhân vật được mọi người bái phục,
mong linh hồn vị đó hiển ứng để
phù trợ dân chúng trong vùng,
nhưng rồi lại bịa ra một ngày
giỗ không có thật để mời thần về
chứng giám lòng thành. Làm như
thế chắc chắn đền sẽ mất thiêng.
Theo các thầy giáo quê ở địa bàn
Phúc Am thì trước khi có đền
Trương Hán Siêu, vốn đã có miếu
thờ ông từ rất lâu đời. Đã có
miếu thì thần phả chắc chắn phải
có. Vì thế có phần đáng tin là
ngày 15 tháng Chín âm lịch mà
bản thần phả Nguyễn Bá Thản ghi
được đúng là ngày mất đích thực
của ông truyền lại từ lâu. Vậy
số liệu này có thể và nên cân
nhắc để bổ sung cho chính sử,
bởi ngay cả trong chính sử nhiều
việc vẫn chép sai và luôn luôn
cần hiệu chỉnh, như học giả Lê
Quý Đôn xưa kia đã từng làm mà
các đời sau đều phải thừa nhận.
Cũng trong vấn đề tiểu sử của
Trương Hán Siêu, còn có một gợi
ý khác, nảy ra từ chuyến điền dã
của đoàn cán bộ Ban văn học Cổ
cận đại Viện Văn học tại núi Non
Nước vào tháng X năm 1990. Trước
kia chúng tôi vẫn đinh ninh nhà
Nho tích cực nhập thế Trương Hán
Siêu cho đến tận khi mất vẫn
không có thời gian về ẩn ở quê
nhà mặc dù trong lòng có lúc ông
rất muốn về. Ý kiến đó ám ảnh
đến nỗi đọc thơ văn Trương Hán
Siêu Nhóm biên soạn thơ văn Lý -
Trần đã sơ ý bỏ qua không để ý
đến một thông điệp quan trọng,
mãi đến khi tận mắt nhìn tấm bia
Dục Thúy sơn Linh Tế tháp ký ở
sườn núi Non Nước mới kịp nhận
thấy.
 
Bài Dục Thúy sơn Linh Tế tháp ký
khắc trên sườn núi Non Nước.
Dòng chữ to khắc rất xa bên trái
(mờ) là lệnh chỉ cấm xâm phạm
cây cối hoa quả thuộc vườn đất
chùa Non Nước (Thủy Sơn tự) của
Thái Thượng hoàng Trần Minh Tông
đề năm Thiệu Phong Kỷ sửu
(1349). Xem ảnh trích riêng ở
bên phải - Ảnh Trần Kim Chi
Thì ra trong bài văn đặc sắc này,
Trương Hán Siêu có viết một câu
nói lên khá rõ, rằng trước khi
làm quan mình từng có thời gian
ở ẩn. Câu đó như sau: “Dư hậu
khách tứ phương, nhậm hoạn vu
triều, bị vị đài sảnh, thiên
nhai cựu ẩn thời phục mộng trung
du nhĩ” [9] . Tạm dịch như sau:
“Về sau ta làm khách bốn phương,
giữ việc quan tại triều, lạm dự
chức nơi đài sảnh thì chốn ẩn
dật xưa ở bên trời chỉ còn đôi
lúc dạo chơi trong giấc mộng mà
thôi”. “Chốn ẩn dật xưa ở bên
trời” chẳng phải là một sự xác
định tương đối cụ thể cả thời
gian và địa điểm ở ẩn là gì.
Trương Hán Siêu
không thể gọi “chốn ẩn dật xưa”
cái nơi đã sinh ra mình và mình
chỉ sống lúc còn niên thiếu, bởi
người vị thành niên sao có thể
gọi là ẩn sĩ được. Đây là tín
hiệu cho phép dự đoán sau khi
trưởng thành, làm môn khách cho
Trần Quốc Tuấn, nhà danh sĩ lại
đã có thời gian lui về quê nhà.
Nhưng đó là thời điểm nào? Nếu
xem xét Đại Việt sử ký toàn thư
ta sẽ thấy hai sự kiện có phần
mâu thuẫn: khi nói về đức nghiệp
của Trần Quốc Tuấn, sử chép “ông
hay vì nước tiến cử người hiền,
như Dã Tượng và Yết Kiêu là gia
thần có dự công dẹp Ô Mã Nhi và
Toa Đô; Phạm Ngũ Lão, Trần Thì
Kiến,
Trương Hán Siêu,
Phạm Lãm, Trịnh Dư, Ngô Sĩ
Thường, Nguyễn Thế Trực là môn
khách, đều do văn chương chính
sự nổi tiếng với đời” [10] . Vậy
mà khi chép về hành trạng của
Trương Hán Siêu cũng bộ sử ấy
lại cho biết: ông bắt đầu được
bổ dụng vào năm 1308 dưới triều
Trần Anh Tông [11] . Chắc hẳn
không phải đến năm 1308 Trần
Quốc Tuấn mới tiến cử Trương Hán
Siêu với Triều đình, vì Hưng Đạo
vương đã mất từ năm 1300, tám
năm về trước. Song nếu Trương
Hán Siêu được vào triều khoảng
thời gian trước năm 1300 thì
chắc sử không thể bỏ qua, chẳng
hạn trường hợp Trần Thì Kiến đã
được bổ chức An phủ sứ Thiên
Trường từ trước 1297 và đến 1297
thì chuyển sang làm quan Kiểm
pháp kiêm An phủ sứ Kinh sư; hay
Phạm Ngũ Lão, một năm trước khi
Trần Quốc Tuấn mất cũng đã được
bổ dụng chức Thân vệ tướng quân
kiêm quản quân Thiên thuộc phủ
Long Hưng...
Chúng tôi ngờ
rằng chính vào khoảng thời gian
vài năm trước 1300, nhà chiến
lược Trần Hưng Đạo đã dự cảm
được cái chết của mình nên bắt
đầu thu xếp cho những người dưới
trướng có đường tiến thủ. Tuy
thế, trong số những người được
ông gợi ý cất nhắc, nếu một võ
tướng như Phạm Ngũ Lão đã bộc lộ
tài ba trong chiến trận, một văn
thần như Trần Thì Kiến do kinh
lịch, đều được lục dụng ngay,
thì một người còn trẻ như Trương
Hán Siêu không đỗ đạt gì, chưa
chứng tỏ được năng lực với Triều
đình, lại phải chờ đợi để thử
thách thêm. Đó là khoảng thời
gian tám năm từ 1300 - 1308,
trong tám năm ấy, Trương Hán
Siêu đã về quê, vừa ẩn cư vừa
vừa dùi mài đọc sách, chuẩn bị
một học vấn vững chãi cho những
bước đi kế tiếp về sau. Tất
nhiên, nói về quá trình đào tạo
nên con người chính khách Trương
Hán Siêu thì chặng đường làm môn
khách cho Trần Quốc Tuấn vẫn có
vị trí rất quan trọng.
Một chân “thư nhi”
dưới tầm tay vị Quốc công tiết
chế, hẳn chắc việc học hành của
ông không phải tuân theo những
trình tự bài bản như ở nhà
trường. Cũng không có cái học vị
Tiến sĩ nào được dành cho con
người đó. Nhưng đây là một môi
trường mà sự rèn giũa, mài xát
kiến thức nhất thiết phải đặt ra
và đặt ra gay gắt, ở đấy sự thực
học được đề cao và cái học phù
phiếm bị loại bỏ - môi trường
học đi với hành trong mọi hoạt
động của đại bản doanh quân đội
nhà Trần chuẩn bị cho công cuộc
cứu nước vĩ đại. Chính là nhờ có
hai bước phối hợp hoàn hảo giữa
“học trong màn trướng” chặng
trước và “học sâu vào sách vở”
chặng sau mà điều không khó đoán
định đã xẩy tới: uy tín học vấn
của Trương Hán Siêu ngày một
được thừa nhận sau khi ông bước
chân vào Triều [12] .
Các vua Trần dần
dần kính nể không gọi thẳng tên
và nhất loạt tôn xưng ông bằng
thầy. Sau khi ông mất, vua Trần
Dụ Tông truy phong ông chức Thái
phó (chức quan dạy dỗ vua) và
vua Trần Nghệ Tông cho phụ thờ
ông ở Văn miếu. Thậm chí Đại
Việt sử ký toàn thư còn đánh giá
ông có kiến văn vững chắc hơn
Tham tri chính sự Phạm Ngộ vốn
là một người đồng sự với ông,
cũng khá nổi tiếng lúc đương
thời. Cũng qua cách ghi chép của
Đại Việt sử ký toàn thư ta có
thể ngờ, nếu chỉ thuần xét theo
tiêu chí chữ “lễ”, Trương Hán
Siêu chưa hẳn đáng gọi là mẫu
mực trong con mắt đám Nho sĩ
chính thống, như cái tính nói
năng không câu thúc, gặp việc là
tỏ thái độ ngay, nên có lần đã
bị trách phạt; lại nhiều khi ông
không biết giữ ý, khinh thường
người khác khiến bạn đồng liêu
chẳng mấy vừa lòng.
Một vị quan
giữ chức Tông chính đại khanh là
Lê Cư Nhân từng mỉa ông là một
“chân đá cầu nhà quê” (thôn cừu
cước) ý nói Trương liệu việc
nhiều khi hấp tấp [13] . Nặng
lời nhất là sử thần Ngô Sĩ Liên
dưới đời Lê Thánh Tông khi phẩm
bình về Trương đã công khai chê
trách, coi ông là hạng người
“kiêu lận” (kiêu ngạo và keo bẩn),
không đáng được dự thờ nơi dành
cho biểu tượng tôn nghiêm của
đức Khổng Phu Tử [14] . Ấy thế
mà ông vẫn được Triều đình Trần
đề cao, được thừa nhận là “nhân
cách cương trực” (vi nhân cốt
ngạnh) [15] và nằm trong số tên
tuổi được trưng dẫn coi như
“nhân tài đều khắp” (nhân tài
bân bân) [16] của thời đại Trần.
Chứng tỏ, vào thời đại đó, cá
tính của sĩ phu còn được tự do
buông thả, chưa bị bộ máy quan
liêu đem các chuẩn mực đạo lý
Nho giáo ra xét nét, bắt bẻ [17]
, và đúng như Lê Quý Đôn nói,
nhà Trần biết trọng đãi lớp trí
thức có thực học chứ không hề mê
muội ở hư danh. Chẳng phải chỉ
dựa vào oai quyền của một người
như Trần Quốc Tuấn Trương mới
tìm được chỗ đứng mà tự ông, với
công phu rèn giũa học vấn và thi
thố tài năng, ông đã định đoạt
được chiếc ghế chức vị cho chính
mình. Bài học dùng người của nhà
Trần - biết đặt quan hệ “nhất
thân nhì thế” ra ngoài mọi chọn
lựa - xứng đáng là tấm gương
trong cách dùng người của nhiều
thời đại.
*
Trương Hán Siêu trong vai trò
một chính khách của triều Trần
có rất nhiều tư cách nhưng trùm
lên mọi tư cách, ở ông là một
bản lĩnh văn hóa mà nhìn phương
diện nào cũng có những đóng góp
quan trọng.
Trước hết, dù có sơ suất này
khác trong ngôn hành, ông vẫn là
một nhà Nho và trong văn nghiệp
của nhà Nho Trương Hán Siêu,
phần lớn đều chứa đựng quan điểm
Nho giáo, nhất là quan điểm Nho
giáo được vận dụng như một lợi
khí để đấu tranh chống lại các
trường phái tư tưởng khác, song
song tồn tại trong cùng thời
điểm.
Ở góc độ này ông
là một Nho gia có chủ kiến, hăng
hái tham gia vào cuộc đấu tranh
nhằm phát huy mặt tích cực của
trường phái tư tưởng mà mình
xuất thân. Tuy vậy, cũng cần nói
thêm, nếu Trương Hán Siêu cứ
khăng khăng bảo vệ Nho giáo chỉ
vì cái danh của Nho giáo mà thôi
thì nho sĩ họ Trương chưa chắc
đã trở thành một nhà văn hóa,
bởi hàm lượng văn hóa bao giờ
cũng là một hằng số lịch sử mà
trong những điều kiện không
giống nhau các thành tố tùy
thuộc vào nó cũng phải biến đổi
linh hoạt sao cho phù hợp.
Nho giáo có những
giá trị văn hóa đáp ứng được yêu
cầu lịch sử của xã hội Đại Việt
thuở ấy bên cạnh những giá trị
không thích nghi với lịch sử và
Phật giáo thì cũng vậy. Việc
thanh lọc cái phi lịch sử để trở
thành cái lịch sử là việc đặt ra
cho cả Đạo, Phật, và Nho lúc bấy
giờ. Nhờ dự cảm sáng suốt của
một nhà tư tưởng lớn, trong khi
phê phán Phật giáo Trương Hán
Siêu đã không rơi vào thái độ
của hạng nhà Nho tiểu khí mà đi
đúng quy luật thanh lọc đã nêu.
Ông biết đứng
trên quan điểm lợi ích thực tiễn
của xã hội thịnh Trần để phê
phán giáo đồ, và tựu trung, cái
ông chống là cái phần tha hóa
của sinh hoạt Phật giáo trong
đời sống chùa chiền, những đối
tượng ông lên án là “những kẻ
giảo hoạt trong đám sư sãi”, “bỏ
mất cái bản ý khổ không của đạo
Phật mà chỉ chăm lo chiếm những
nơi đất tốt, cảnh đẹp, tự giát
vàng nạm ngọc cho chỗ ở của
chúng rực rỡ, tô điểm cho môn đồ
của chúng lộng lẫy như voi, rồng”
[18] (Khai Nghiêm tự bi ký).
Nghĩa là trước sau ông không hề
chống lại giáo lý uyên thâm của
nhà Phật. Có hiểu điều đó mới lý
giải được vì sao Trương Hán Siêu
“chống Phật” mà các bài văn bài
bác Phật giáo của ông như bia
Khai Nghiêm lại được nhà chùa
trân trọng, được khắc đá dựng
ngay trong chùa. Giới Thiền học
phải đâu đều là người dốt nát,
cứ nhắm mắt tin bừa vào kẻ chăm
chăm định “xóa sổ” họ? Cũng có
hiểu điều đó mới lý giải được vì
sao đến cuối đời, Trương Hán
Siêu đã tự nguyện rời bỏ quan
điểm “chống Phật” để tìm thấy sự
cân bằng trong tâm thức khi dung
hợp Nho với Phật:
Phù thế như kim biệt,
Nhàn danh ngộ tạc phi.
(Từ khi cách xa cõi đời trôi nổi,
Được tiếng nhàn mới biết trước
đây mình đã sai)
(Dục Thúy sơn)
Không những thế, chắc là Trương
Hán Siêu còn tìm vào Đạo giáo,
bởi vì ông đã trăn trở mãi trước
hành vi “quy khứ” của Đào Tiềm,
một nhà thơ đời Tấn, một nhà
Huyền học sống vào một thời đại
thịnh trị của Huyền học Trung
Quốc:
Trùng dương thời tiết kim triêu
thị,
Cố quốc hoàng hoa khai vị khai?
Khước ức cầm tôn tiền nhật nhã,
Kỷ hồi tao thủ phú “Quy lai”.
(Cúc hoa bách vịnh, III)
(Sớm nay vừa tiết trùng dương,
Chẳng hay quê cũ hoa vàng nở
chưa?
Rượu đàn trạnh nhớ thú xưa,
Vò đầu mấy bận ngâm thơ “Đi về”)
[19]
Một đặc trưng của văn hóa Việt
Nam là sự dung hợp (l’intégration)
- dung hợp của nhiều môn phái,
hệ tư tưởng, nguồn tín ngưỡng...
khác nhau. Dung hợp dưới hình
thức cộng sinh và thâm nhập lẫn
nhau một cách uyển chuyển dần dà
mà không có sự kịch liệt bài
xích, và điều đó làm nên sức
mạnh tinh thần của cộng đồng dân
tộc Việt. Nói Trương Hán Siêu là
một nhân cách văn hóa trước hết
là nói sự chấp nhận xu thế tự
nhiên này, chứ tuyệt không phải
ở cái nhìn biệt phái của một Nho
gia đòi độc quyền cho học thuyết
nhà Nho.
Là một văn thần cột trụ của
Triều đình, trong hoạt động
chính sự của Trương Hán Siêu,
ông đã sử dụng học vấn một cách
đắc lực ở mọi chức trách. Trong
tư cách Học sĩ Viện Hàn lâm, ông
là người thay mặt vua soạn thảo
văn chương chiếu cáo ban bố cho
toàn dân, và văn từ trao đổi
ngoại giao giữa Đại Việt và các
nước. Với tư cách là người chế
định bộ Hình thư, ông là người
đặt nền tảng cho một Triều đình
vận hành theo luật pháp. Với tư
cách là người biên soạn bộ Hoàng
triều đại điển cùng Nguyễn Trung
Ngạn, ông là người góp phần xây
dựng những nghi thức, điển chế
nhằm đưa các hình thức hoạt động
của Triều đình vào nề nếp quy củ,
phản ánh tư thế của một triều
đại văn minh... Đó đều là những
tư cách văn hóa sáng rỡ, góp
phần nâng cao phong khí, thể
diện của một vương triều và một
thời đại - thời đại Lý - Trần.
Ngay cả việc nhà vua thường cử
Trương Hán Siêu đi trấn nhậm ở
những vùng có nhiều rắc rối như
Lạng Giang, Hóa Châu mà Trương
Hán Siêu đều giải quyết ổn thỏa,
vỗ yên dân chúng, hay được cử
làm Giám đốc chùa Quỳnh Lâm, xử
lý những việc tế nhị trong quan
hệ giữa “đời” và “đạo” vốn là
việc rất hệ trọng của vương hầu
cũng như dân sự thời ấy, cũng
chứng tỏ bản lĩnh văn hóa và
kinh nghiệm sống nhiều mặt của
ông.
Nhưng nói đến nhân cách văn hóa
của mỗi danh nhân còn phải nói
đến một phương diện không thể
thiếu được: đó là sự ứng xử văn
hóa trong cuộc sống thường ngày,
riêng tư của chính họ. Ở Trương
Hán Siêu, hành vi ứng xử nổi bật
nhất, in đậm vào sử sách, là
thái độ gần gũi thiên nhiên,
cách ông nhìn ngắm thiên nhiên
tạo vật. Về điều này, nếu nói
Trương Hán Siêu gắn bó với cảnh
trí của đất nước thì không có gì
sai nhưng hình như vẫn chưa đủ.
Nhà thơ nhà văn
Việt Nam xưa nay rất ít người
thờ ơ trước vẻ đẹp của giang sơn
gấm vóc: “Nước biếc non xanh
thuyền gối bãi/Đêm thanh nguyệt
bạc khách lên lầu” (Nguyễn Trãi).
Trương Hán Siêu cũng thế thôi.
Nhưng với ông, trong tình yêu
thiên nhiên hình như còn có một
điều gì khác hơn, một khao khát
thường trực muốn chiếm lĩnh thế
giới tự nhiên, nhận biết cho hết
mọi tri thức lịch sử - xã hội ẩn
ngầm trong ngoại giới. Như chính
ông phô bày trong vai một người
khách ở bài Bạch Đằng giang phú,
hầu như cả một đời, ông đã coi
lẽ sống của mình là ngược xuôi
tìm đến mọi danh lam thắng cảnh:
Khách có kẻ,
Giương buồm giong gió khơi vơi;
Lướt bể chơi trăng mải miết.
Sớm gõ thuyền chừ Nguyên, Tương
[20] ,
Chiều lần thăm chừ Vũ Huyệt [21]
;
Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách
Việt,
Nơi có người qua đâu mà chẳng
biết.
Đầm Vân Mộng chứa vài trăm trong
dạ đã nhiều [22] ,
Mà tráng chí tứ phương vẫn còn
tha thiết... [23]
(Bạch Đằng giang phú)
Cũng có thể nghĩ đấy mới chỉ là
những lời tâm niệm của Trương
Hán Siêu bởi các địa danh nói
trên đều là điển cố trong văn
liệu, ông được đọc qua sách vở,
hay là thông qua sách vở mà tìm
đến chúng chứ chưa chắc đã một
lần ghé thăm. Song cũng vì vậy,
thiên nhiên như cái đích tìm
kiếm của ông dường như có mang
một hàm nghĩa thâm thúy: đây là
nơi tập kết mọi trải nghiệm văn
hóa của con người, và cũng là
chứng tích để con người nhìn xa
vào lịch sử. Vẫn trong bài phú
về sông Bạch Đằng, tiếp theo mấy
câu vừa dẫn, ông liền bày tỏ ý
nguyện bắt chước “thú tiêu dao”
của Tử Trường tức Tư Mã Thiên -
nhà viết sử nổi tiếng của Trung
Quốc, trước khi bắt tay cầm bút
đã đi khắp mọi nơi đầu sông cuối
bể nhằm nuôi dưỡng tình cảm và
thu nhận kiến thức. Trương Hán
Siêu cũng bắt mình làm như vậy:
Bèn giữa dòng chừ buông chèo,
Học Tử Trường chừ thú tiêu dao.
Qua cửa Đại Than, ngược bến Đông
Triều,
Đến sông Bạch Đằng, nổi trôi mặc
chèo.
Ta để ý nếu ở phần trên, các địa
danh thực ra đều là ảo - địa
danh trong điển tích, không phải
trong thực tế - thì đến đây mới
là địa danh thực. Nhà thơ đưa ra
một cái tên Bạch Đằng chưa hề có
trong các pho sách kinh điển
nhưng lại hiển hiện trước mắt
với tất cả sức thuyết phục của
những chiến công vang dội của nó.
Vẫn trong vai “khách”, ông làm
như chưa biết gì về cái nơi mình
đang đứng, trầm tư và thắc mắc
trước quang cảnh buồn thảm của
Bạch Đằng hiện hữu: “Buồn vì
cảnh thảm, đứng lặng giờ lâu”,
để rồi sau đó mới mượn lời “các
bô lão” nêu đích danh sức nặng
lịch sử của cái tên Bạch Đằng:
Bên sông các bô lão, hỏi ý ta sở
cầu.
Có kẻ gậy lê chống trước, có
người thuyền nhẹ bơi sau
Vái ta mà thưa rằng:
Đây là nơi chiến địa buổi Trùng
Hưng nhị thánh bắt Ô Mã,
Cũng là bãi đất xưa thuở trước
Ngô chúa phá Hoằng Thao.
Điều Trương Hán Siêu muốn tìm
kiếm ở thiên nhiên mà ông giấu
kín từ đầu bài phú đến đây đã
được xướng to lên: Bạch Đằng
hiện diện trước mắt không phải
chỉ chứa đựng vẻ đẹp trữ tình
man mác gợi bao nhiêu nỗi niềm
cho du khách, nó còn tiềm ẩn cả
vẻ đẹp hào hùng và dữ dội của
hai trận thắng oanh liệt trong
hai thời đại - một bức tranh
sóng đôi của lịch sử đất nước
chống xâm lăng. Bằng thủ pháp
dồn nén sự sống nhiều tầng nhiều
lớp vào một địa danh thực, đặt
nó như một đối trọng nặng cân
đối với những địa danh ảo dẫn ra
ở trước, Trương Hán Siêu muốn
cấp cho cái tên Bạch Đằng một
huyền thoại sống, xứng đáng xếp
liền với những cái tên Nguyên,
Tương, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách
Việt, Vân Mộng... đã quen thuộc
trong điển tích thi ca. Ông hoàn
toàn thành công trong việc điển
tích hóa địa danh Bạch Đằng.
Nhưng đứng về cảm
quan thiên nhiên, ông còn muốn
nói một điều hơn thế. Ông nhìn
ra trong thiên nhiên cái đẹp bề
ngoài và cái đẹp bên trong,
chúng bổ sung trọn vẹn cho nhau.
Nếu cái đẹp bề ngoài chỉ mới làm
cho người ta thưởng thức bằng
trực cảm, bắt người ta đặt những
chấm than, những câu hỏi buông
lửng trước vẻ hoang sơ của thiên
nhiên, thì cái đẹp bên trong là
sức sống cường tráng của thiên
nhiên nhìn xuyên thời gian, có
bàn tay khối óc con người in dấu.
Cái đẹp ấy không hiện ra dễ dàng
cho người ta thấy, thậm chí trải
qua vật đổi sao dời tưởng có thể
mất đi. Nhưng không, nó vẫn mãi
còn đấy. Nó là dòng ý thức được
sống dậy trong chủ thể tiếp nhận,
giúp cho thiên nhiên không còn
mang tính tự nó.
Cùng một mạch suy nghĩ, trong
bài Dục Thúy sơn Linh Tế tháp ký,
Trương Hán Siêu còn đưa tầm nhìn
vượt lên rất xa khỏi con mắt thế
tục, tìm thấy mối tương quan
giữa tạo tác của thiên nhiên và
điểm tô của con người như là một
sự bổ sung, tiếp nối, qua lại
giữa cái hữu hạn và cái vô hạn,
cái chốc lát và cái trường tồn:
“Nghĩ đến việc nhà sư lấn chân
mây, xếp từng hòn đá, từ một tấc
đến một thước, từ một thước đến
một nhận, một bước tiến thêm một
bước, một tầng cao thêm một tầng.
Tới lúc tháp cao sừng sững, thế
chạm trời xanh, tô thêm vẻ đẹp
của non sông, tranh công xây
dựng cùng tạo hóa, thì bọn sư
sãi tầm thường đâu có thể sánh
được” [24] . Ông tin tưởng rằng
mọi sự biến diệt cứ diễn ra
nhưng con người sẽ không bao giờ
chịu để cho hóa công đào thải
theo quy luật tang thương dâu bể:
“Than ôi! Mai sau mấy trăm năm
nữa, chốc lát cảnh tượng biến
đổi; nếu lại có kẻ buông lời
than thở như ta lẽ nào không có
vài người như sư Nhu xây dựng
lại? Việc ấy không đoán trước
được” [25] . Ông đã có tầm đứng
của một tư cách kép: một triết
nhân và một thi nhân, có tư duy
triết lý quyện lẫn với cảm xúc
trữ tình: “Còn như non xanh nước
biếc, bóng tháp in dòng, lúc
chiều tà buông chiếc thuyền con
lênh đênh dưới núi, nâng mái
bồng nhìn quanh ngạo nghễ, gõ
mạn thuyền ca khúc Thương Lang
[26] , thử sợi dây câu tìm phong
cách thanh cao của Tử Lăng [27]
, dạo chơi Ngũ Hồ hỏi ước cũ của
Đào Chu [28] ... thì cảnh này
tình này duy có ta với non sông
này biết nhau mà thôi” [29] .

Một mảng văn khắc dưới chân núi
Non Nước bị đập phá đã lâu - Ảnh
Trần Kim Chi
Thử nghĩ, trong 60 năm qua chúng
ta đã từng hăm hở đập phá đi
biết bao di tích quý giá của cha
ông để lại, chỉ vì chúng ta muốn
xác nhận rằng chỉ có chúng ta,
đang tiến hành cuộc cách mạng
“long trời lở đất” hôm nay, mới
là người đặt nền móng cho một
thời đại “bước ngoặt” mà loài
người chưa từng có. Thái độ phàm
tục của chúng ta rõ ràng phản
ánh một tầm nhìn thiển cận. Giá
thử cứ tỉnh táo lùi xa một chút,
tự nâng mình lên tâm thế một con
người sống với nhiều thời khắc
lịch sử, biết gắn cái chủ thể
với cái khách thể, gắn xưa với
nay và với cả viễn ảnh sau này,
gắn vô cùng với hữu hạn, ta sẽ
thấy ngay chính cái ta đang làm,
tưởng là to tát kỳ thực cũng chỉ
là rất tương đối, thậm chí đôi
khi còn phải trả giá đắt, bởi
bao nhiêu bất cập do vọng tưởng
muốn vĩnh cửu hóa cái khoảnh
khắc ngắn ngủi hiện tồn quy định.
Và ta sẽ biết quý trọng nhiều
hơn những gì vốn là sản phẩm của
tự nhiên, của tiền nhân, của
lịch sử để lại. Cách ứng xử văn
hóa của Trương Hán siêu chính là
ở tầm thước viễn kiến cao nhân
ấy.
*

Bia công đức bị chôn một nửa -
Ảnh Trần Kim Chi
Khi điểm lại thơ văn Trương Hán
Siêu, có người không khỏi mặc
cảm rằng đấy đều là những tác
phẩm sáng giá, tiếc thay không
còn lại được nhiều. Có lẽ, nói
về số lượng thì không nên cô lập
một mình Trương Hán Siêu mà xét,
mà nên đặt ông vào hệ thống tác
gia văn học Lý - Trần. Một
khoảng thời gian cách nay đã
trên 700 năm, lại từng diễn ra
không biết bao nhiêu biến cố
khốc liệt, một áng văn hay thơ
còn đến được với người đọc hiện
đại mà không sứt mẻ đã là sự
kiểm chứng và định giá khách
quan nhất. Một nhà văn chỉ còn
lại một bài thôi như Dương Không
Lộ, Đặng Dung... vẫn đủ tư cách
một nhà văn lớn. Thế thì Trương
Hán Siêu với 2 bài văn, 1 bài
phú, một chùm thơ 4 bài và một
bài thơ độc lập, trong đó 2 bài
văn vẫn còn khắc vững chãi trên
đá, quả không thể xem thường. Có
thể nói quyết được là với số
lượng đó và với sức mạnh nghệ
thuật của văn thơ ông, Trương
Hán Siêu đáng xếp vào những nhà
văn “chiếu trên”, với các thể
loại đa dạng, trong số các tác
gia Lý - Trần.
Đặc sắc chung của
thơ văn Trương Hán Siêu là gì?
Thiết nghĩ, muốn định vị một nhà
văn trước hết phải nhìn ra ở nhà
văn cái riêng mà người khác
không có. Người ta thường nói
văn học trước sau vẫn phải biểu
đạt được bản sắc cá nhân mới là
văn học đích thực, văn học chỉ
nói về cái chung, cái nghĩa vụ
của một người đối với Triều đình,
xã tắc, là văn học quan phương,
thực chất là phi văn học. Nhưng
mặt khác, thời đại Lý - Trần lại
cũng là một thời đại có yêu cầu
phục hưng dân tộc mạnh mẽ, mỗi
thành viên của cộng đồng lúc ấy
đều phải tự biểu hiện mình qua
hình ảnh chung tượng trưng cho
sức mạnh của cả cộng đồng. Đứng
giữa hai đòi hỏi trái ngược và
cùng cấp thiết như nhau, văn học
Lý - Trần phải ứng phó bằng cách
nào để vừa đáp ứng nhu cầu thời
đại vừa không đánh mất lý do tồn
tại nội tại của chính nó? Không
hẳn là tự giác nhưng trong vô
thức, văn học thời đại này đã
tìm thấy một phương thức biểu
đạt riêng, tạm gọi là phương
thức lưỡng phân, trong đó vừa có
phần cộng đồng, vừa có phần cá
thể, vừa mang khí thế xã tắc,
vừa là sự phản ánh của tâm trạng
cá nhân. Phương thức lưỡng phân
từng được các nhà thơ Lý - Trần
thực sự có tài năng, ví như
Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung
Ngạn, Trần quang Khải, Trần Tung,
Trần Nhân Tông, Huyền Quang...
xử lý ổn thỏa và ít nhiều sáng
tạo. Ở Trương Hán Siêu, cách
giải quyết “lưỡng phân” như trên
đã nói, là sự kết hợp khéo léo
trữ tình và triết lý. Con người
cá thể của nhà thơ đã không chịu
nhường con người cộng đồng mà
vẫn cứ nổi trội qua sắc thái trữ
tình đậm đặc trong tác phẩm.
Nhưng tầm nhìn của thời đại lại
cũng nâng cảm hứng thơ của ông
lên một sự khái quát triết học
về nhân sinh, vũ trụ, và thơ văn
ông vừa thu hút chúng ta ở âm
hưởng trữ tình sâu sắc, ở những
nỗi niềm cảm khái mà ông giãi
bày một cách kín đáo, như một
rung động lắng mãi trong hồn ta,
đồng thời cũng làm ta bừng tỉnh
bởi cách suy tưởng sắc sảo, bởi
các cặp phạm trù triết học uyển
chuyển nó phơi bày bản chất của
sự vật và lật đi lật lại nhận
thức của ta. Hai âm hưởng trữ
tình và triết lý nhiều khi quyện
chặt lấy nhau như trong bài Dục
Thúy sơn Linh Tế tháp ký, đặt
nhân vật trữ tình vào những thời
gian và không gian nghệ thuật
khó xác định, vừa cụ thể, tâm
trạng, vừa rất mực siêu hình,
vừa hạn hẹp như một nháy mắt,
vừa dài lâu như sự tồn tại của
đất trời. Đấy là chỗ tuyệt diệu
của ngòi bút Trương Hán Siêu,
cũng là mấu chốt của đặc trưng
thi pháp Trương Hán Siêu.
Hãy cùng nhau trở lại với tác
phẩm Bạch Đằng giang phú. Ở kiệt
tác này, có rất nhiều vấn đề để
mà ngẫm nghĩ. Đây là một bài phú
lưu thủy, người viết cốt biểu
đạt ý tưởng một cách phóng
khoáng, tuôn chảy, không quá chú
trọng gò gẫm bằng trắc đối xứng
và hiệp vần. Nhưng cấu trúc bài
phú cũng là cả một dụng công.
Bằng sự phân vai khéo léo giữa
“khách” và “bô lão” trong nghệ
thuật biểu hiện để tạo nên sự
đồng hiện về thời gian, bằng
cách chuyển đoạn thần tình trong
tâm trạng người trần thuật từ
bâng khuâng hoài cổ sang cảm xúc
bồng bột của người đang chứng
kiến sự việc tiếp diễn, bằng
nghệ thuật sắp xếp ngôn từ gây
âm hưởng đa dạng, vừa khoan thai
thoắt đã trở nên gấp gáp, rồi
lại trở lại khoan thai, và cả
bằng sự sinh động của nhịp điệu...
mấy trăm năm qua bài phú đã
chiếm lĩnh trọn vẹn tâm hồn
người đọc. Đặc biệt, không ít
những bậc tự xem là tri âm tri
kỷ có thiên hướng muốn đón nhận
toàn bộ hình tượng nghệ thuật
của bài phú như những đường nét
khắc họa chân thực quang cảnh
chiến trận Bạch Đằng. Mà kể cũng
không ngoa! Với khả năng phối
hợp hình ảnh, tiết tấu, âm thanh
của một cây bút kỳ tài, trong
bài phú có hẳn một đoạn khắc tạc
lên thật hoành tráng một tình
huống hết sức khẩn trương căng
thẳng, ở những diễn biến đang đi
vào phút chót của cuộc giao
tranh giữa các đội chiến thuyền
nhà Trần và thuyền chiến quân
Nguyên, dù đó chỉ là ước lệ:
Đương kỳ
Trục lô thiên lý/tinh kỳ ỷ nĩ
Tỳ hưu lục quân/binh nhận phong
khỉ
Thư hùng vị quyết/Nam Bắc đối
lũy
Nhật nguyệt hôn hề/ vô quang;
Thiên địa lẫm hề/ tương hủy.
(Đương khi ấy
Thuyền bè muôn đội/cờ quạt phấp
phới
Hùng hổ sáu quân/giáo gươm sáng
chói
Trận đánh được thua chửa phân/
Chiến lũy Bắc Nam chống đối.
Ánh nhật nguyệt chừ/phải mờ;
Bầu trời đất chừ/sắp hoại)
Ba cặp câu tám chữ với nhịp bốn
đối chọi chan chát, nhiều âm
trắc gõ vào nhau (ỷ nĩ, vị quyết,
đối lũy...), đọc lên nghe như
tiếng gươm đao loảng xoảng. Kế
đó là hai câu sáu chữ đều bị
ngắt khúc ở giữa bằng chữ “hề”
làm cho âm hưởng khựng lại, gieo
một cảm giác bàng hoàng thảng
thốt, như đang chờ đợi cái kết
cục sắp sửa xẩy ra: mặt trời mặt
trăng đều tối sầm (nhật nguyệt
hề vô quang) và cả đất trời có
cơ sụp đổ (thiên địa hề tương
hủy). Nếu như trong một câu thơ
cổ đặc sắc thường phải có một
chữ đóng vai trò “nhãn tự” thì
quả nhiên trong cả bài Bạch Đằng
giang phú, tổ hợp câu xứng đáng
nhất để gọi là “nhãn cú”, “nhãn
đoạn” hẳn là đoạn văn này. Dẫu
sao, với bút pháp không phải
hiện thực mà tượng trưng, ví thử
có tài năng đến đâu, việc miêu
tả quang cảnh trận đánh của
Trương Hán siêu gói trong một
đoạn như trên cũng vẫn là không
đủ [30] , và hơn thế nữa, cả bài
phú dài phải chăng đúc lại chỉ
có một đoạn sao?
Chính là từ những câu hỏi đó,
cần đặt bài phú trong đặc điểm
của hệ thống sáng tác của Trương
Hán Siêu để có thể thấy thêm đôi
điều đáng nói. Sử dụng cái chìa
khóa “lưỡng phân” mà khơi sâu
vào chữ nghĩa, Bạch Đằng giang
phú thực ra còn muốn mách với ta
một lời thông báo thứ hai, nó
bao quát được dung lượng triết
lý muốn gửi gắm của Trương Hán
Siêu và cũng mở rộng được quan
hệ với các đoạn văn khác trong
bài. Do phong cách trữ tình của
thể loại, ta thấy ở mảng điêu
khắc tài nghệ vừa dẫn không phải
chỉ có sự sống động ở bề nổi mà
còn chứa đựng cả một sự sôi sục
ở bề sâu. Đó là cảm hứng tinh
nhạy của nhà thơ về cái giây
phút mà cả xã tắc giang sơn đang
trong nguy cơ nghiêng đổ, một
khoảnh khắc “cùng tắc biến” của
lịch sử, là thế “động” đến tận
ngưỡng, quyết định sự sống còn
của dân tộc trong đường tơ kẽ
tóc (Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ/Bầu
trời đất chừ sắp hoại). Nó được
nhà thơ tập trung chiếu rọi, như
một vầng sáng có sức phát sáng
cực mạnh, soi tỏ hết mọi người
mọi vật, và làm hiện lên ngay
giữa “tâm bão” một hình ảnh trái
ngược và thách thức với nó: hình
ảnh lừng lững nhưng bất động của
vị Quốc công tiết chế, con người
tưởng chừng lẻ loi đơn độc mà kỳ
thực là người đang tỉnh táo làm
chủ tình thế, con nguời tưởng
chừng đang thư thái ngắm nhìn
trận giao tranh khốc liệt mà kỳ
thực đang quyết tâm xoay chuyển
cuộc cờ trong tay mình:
Kìa trận Bạch Đằng mà đại thắng,
Bởi Đại vương coi thế giặc nhàn.
Từ trong tận cùng tâm thức, ta
nhận ra, hai phạm trù “động” và
“tĩnh” vừa đối lập lại vừa thống
nhất là mấu chốt đã chi phối cảm
quan triết học của bài Phú Sông
Bạch Đằng, cũng như đã chi phối
cảm hứng trong nhiều áng thơ văn
của giai đoạn này, chẳng hạn
trong thơ Trần Thánh Tông:
Động như không cốc phong xao
hưởng,
Tĩnh nhược hàn đàm nguyệt lậu
minh.
(Độc Phật sự đại minh lục hữu
cảm)
Động tựa hang không gào gió táp,
Tĩnh như đầm lặng rọi trăng
thanh [31] .
Hoặc trong đoạn thơ sau đây cũng
nói về chiến dịch Bạch Đằng của
Phạm Sư Mạnh:
Ức tích Trùng Hưng đế,
Khắc chuyển khôn oát kiền.
Hải phố thiên mông đồng,
Hiệp môn vạn tinh chiên.
Phản chưởng điện ngao cực,
Vãn hà tẩy tinh chiên
(Hành dịch đăng gia sơn)
Tài xoay trời chuyển đất,
Nhớ vua Trùng Hưng xưa.
Mặt bể nghìn chiến hạm,
Cửa non vạn bóng cờ.
Trở tay non sông lặng,
Sông Ngân rửa tanh nhơ... [32]
Ngoài sự tương phản động-tĩnh
giữa chiến cuộc sục sôi và người
chủ trì chiến cuộc tĩnh tâm,
quyết đoán, cảm hứng động-tĩnh
trong bài phú của Trương Hán
Siêu còn phải được nhìn ở một
bình diện khác. Nếu để ý ta sẽ
thấy bức tranh đằng đằng sát khí
của trận Bạch Đằng còn là một
đối cực nữa của một bức tranh
thủy mặc lặng tĩnh mà tác giả vẽ
lên, như đã dẫn ở một phần trước:
Thiệp Đại Than khẩu / tố Đông
Triều đầu,
Để Bạch Đằng giang / thị phiếm
thị phù.
Tiếp kình ba ư vô tế;
Trám diêu vĩ chi tương mâu.
Thủy thiên nhất sắc / phong cảnh
tam thu
Chử địch ngạn lô / sắt sắt sâu
sâu
Chiết kích trầm giang / khô cốt
doanh khâu
Thảm nhiên bất lạc / trữ lập
ngưng mâu
(Qua cửa Đại Than / ngược bến
Đông Triều,
Đến sông Bạch Đằng / nổi trôi
mặc chèo.
Bát ngát sóng kình muôn dặm/
Xanh xanh đuôi trĩ một màu.
Nước trời một sắc / phong cảnh
ba thu
Sông chìm giáo gãy / gò đầy
xương khô
Buồn vì cảnh thảm / đứng lặng
giờ lâu
Đây lại là đối cực động-tĩnh
giữa hiện tại và quá khứ. Đối
cực này đã khiến người đọc như
rơi vào trạng thái mơ màng, bâng
khuâng, trong khi đuổi theo cái
cố gắng “đi tìm thời gian đã mất”
của tác giả. Ta chợt tự hỏi:
Không hiểu giữa hiện hữu thứ
nhất (thực tại tĩnh lặng trước
mắt mà cũng là một hụt hẫng
trong tâm trạng) và hiện hữu thứ
hai (thực tại sống động trong
tiềm thức mà cũng là một miên
viễn của tưởng tượng) thì hiện
hữu nào mới là có thật? Sự vấn
vương ở đây có chút gì đó làm
lòng ta nặng trĩu khi nghĩ đến
dòng chảy của thời gian và thói
vô tình dễ quên của người đời.
Nói cách khác, những âm hưởng
trữ tình đối lập ở trong tác
phẩm đã tạo nên một ngân vang
sâu thẳm và ngân vang này chính
là triết lý: sự sống là một tiếp
biến không ngừng không nghỉ, cái
đang diễn ra và cái đã đi vào
vĩnh cửu cứ đan quyện lấy nhau,
mà cái nhân tố có khả năng kết
nối làm nên sự đan quyện ấy,
khiến cho sợi dây chuyền vô hình
nghiệt ngã của thời gian có lúc
tưởng như bị đảo ngược: hiện tại
không hẳn đã trôi về quá khứ tất
cả, mà có phần nào đó còn trôi
theo chiều ngược lại, còn có
“dấu vết lưu lại” với hậu thế -
cái nhân tố ấy là con người,
được quyết định bởi con người:
- Trời đất đặt ra nơi hiểm trở,
Bậc anh tài tính cuộc tồn an
- Giặc tan muôn thuở thăng bình,
Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức
cao
Nhìn trở lại toàn bộ bài phú,
nghệ thuật phối trí thời gian và
không gian của Trương Hán Siêu
đã đạt đến chỗ thần tình. Nhà
thơ đưa không gian Bạch Đằng từ
một viễn cảnh trải rộng và hết
sức bao la đến với cận cảnh của
một trận thủy chiến dữ dội, và
cuối cùng dồn vào một tiêu điểm
là chỗ đứng nội tâm của nhà chỉ
huy quân sự quyết định sự thắng
bại của chiến cuộc, đồng thời
cũng chính là đang từ một không
gian hiện thực ông quay trở về
với không gian hồi cố, không
gian tâm tưởng, cùng theo đó,
thời gian nghệ thuật cũng đi lùi
từ hiện tại về quá vãng. Vậy mà
cảm hứng của người đọc lại không
bị đẩy lùi bởi dòng hoài niệm,
trái lại tiếp nhận nó như chính
cái đang diễn ra trước mắt mình.
Thủ pháp mờ chồng giữa hai thời
đoạn cách quãng trên quang cảnh
một con sông, thủ pháp hoán đổi
điểm nhìn linh hoạt của tác giả...
đã góp phần hóa giải tâm trạng
hoài cổ của bài phú, tạo nên một
tâm lý cân bằng và gây hứng thú
sâu sắc trong cảm xúc thẩm mỹ.
Tóm lại, bằng lượng thông tin đa
nghĩa, những ẩn ngữ phong phú
đọng lại phía sau ngôn từ, Bạch
Đằng giang phú đã gợi lên được
nhiều tiếng nói cùng một lúc
trong cảm nhận nhiều chiều của
người đọc. Sự dồn nén nghệ thuật
của bút pháp Trương Hán Siêu quả
đã đến một trình độ bậc thầy.
*
Trương Hán Siêu là một danh nhân
nổi tiếng của mảnh đất Trường
Yên - Ninh Bình, một chứng nhân
rõ rệt cho truyền thống văn hóa
lâu đời của vùng đất văn vật này.
Nhưng ông lại cũng là một nhân
vật có tầm thước cả nước, một
người con ưu tú của văn hóa
Thăng Long dưới triều đại Trần.
Ông xứng đáng được xếp vào hàng
danh nhân tôn vinh ở Văn miếu
Quốc tử giám như nhà Trần đã
từng “liệt hạng” xưa kia, mặc dù
ông không hề có mảnh bằng nào
thông qua thi cử. Điều đó cũng
nói lên rằng triều đại Trần có
sức năng động lớn vì nó biết
chuộng thực học, biết lựa chọn
tài năng theo những tiêu chí
thực tiễn. Bỏ qua mọi thứ phù
danh, với những người như Trương
Hán Siêu, nhà Trần đã biết cách
làm cho mình trở thành bất tử
[33] .
© 2008 talawas
[1]Núi Non Nước tên chữ Hán là
Dục Thúy sơn 浴 翠 山 (hình dáng
con chim trả đang tắm) do Trương
Hán Siêu đặt. Dưới thời Đinh Bộ
Lĩnh núi được đặt tên là Ngự
Trấn Phòng sơn 禦 鎮 防 山, thời Lê
Đại Hành lại được đặt tên là Hộ
Thành sơn 護 城 山. Núi cao trên
100m, đỉnh bằng phẳng, phía
trước nhô cao hơn phía sau, mặt
Đông bắc nước biển khoét chân
núi lõm vào, làm cho thế núi như
nhô ra soi mình trên mặt nước.
Dưới thời Trần đây là cửa biển
nhiều sóng dữ gọi là cửa Đại Ác,
về sau biển hiền hòa hơn nên đổi
lại là Đại An. Nay biển đã lùi
xa, núi nằm trên ngã ba sông Vân
Sàng và sông Đáy, thuộc thành
phố Ninh Bình. Đường lên đỉnh
núi có bậc đá, gồm 72 bậc. Sát
dưới núi có chùa Non Nước, động
thờ Thủy thần và đền thờ Trương
Hán Siêu mới xây dựng. Nơi tảng
đá ở sườn phía Bắc núi có khắc
mấy chữ “Khán giao đình” (Đình
xem thuồng luồng). Trên đỉnh núi,
tương truyền Trương Hán Siêu
từng cho dựng Nghênh Phong các (Gác
đón gió) và Điếu đài (Đài câu).
Hiện còn lưu hơn 42 bài thơ văn
khắc vào vách núi (theo Danh
thắng Ninh Bình; Sở Văn hóa
Thông tin và Thể thao Ninh Bình
xuất bản, 1994).
[2]Núi Thái Sơn 泰 山 là ngọn đứng
đầu trong Ngũ Nhạc của Trung
Quốc, ở khoảng giữa tỉnh Sơn
Đông, cao 1532,7 m so với mặt
biển; trên núi có hơn 2200 nơi
khắc thơ đề văn của danh sĩ các
đời. Từ năm 1983 được Quốc vụ
viện Trung Quốc xếp là danh
thắng bậc nhất, và từ 1987 được
UNESCO công nhận là di sản văn
hóa thế giới.
[3]Hoàng Việt văn tuyển, Q 2; tờ
1a chú dẫn dưới bài Dục Thúy sơn
Linh Tế tháp ký như sau: 山 在 安 康
縣。 大 登 社 。 原 名 水 山 。 張 漢 超 始 稱 浴
翠 。Phiên âm: Sơn tại An Khang
huyện, Đại Đăng xã, nguyên danh
Thủy Sơn, Trương Hán Siêu thủy
xưng Dục Thúy. Dịch nghĩa: Núi
thuộc xã Đại Đăng, huyện An
Khang, vốn tên là Thủy Sơn,
Trương Hán Siêu là người đầu
tiên đặt tên Dục Thúy.
[4]Thật ra, Đại Việt sử ký toàn
thư chỉ chép rằng Trương Hán
Siêu khi đến trấn nhậm ở Lạng
Giang thì gả con gái cho Tù
trưởng Nùng Ích Vấn, khi đến
trông coi chùa Quỳnh Lâm thì gả
con gái cho Tam bảo nô là Nguyễn
Chế, đều là vì “tham giàu”,
nhưng từ đây suy ra, có thể khảo
sát điền dã để xem dòng họ
Trương có còn chi phái nào ở các
địa điểm trên, như nhiều vị quan
trong lịch sử đã để lại dòng tộc
mình trên các nẻo đường nhậm
chức.
[5]Chúng tôi phục chế nguyên văn
theo phiên âm của các thầy giáo
như sau: 陳 朝 太 保 太 傅 張 升 甫 嘉 封 卓
偉 上 等 神。
[6]Theo tài liệu của thầy giáo
Nguyễn Văn Cử, Phó hiệu trưởng
Trường trung học phổ thông Lương
Văn Tụy tại Hội thảo khoa học kỷ
niệm 640 năm năm mất Trương Hán
Siêu năm 1994 ở Ninh Bình. Tạm
phục chế dựa trên phiên âm: 正 忌
九 月 十 五 日。
[7]Đại Nam nhất thống chí, Tập III. Phạm Trọng Điềm dịch. Đào Duy Anh hiệu
đính. Nxb. Khoa học xã hội, Hà
Nội, 1971; tr. 258. Nguyễn Bá
Thản người Kinh Bắc, đỗ Cử nhân
năm 1825.
[8]Vũ Phạm Khải người huyện Yên
Mô, Ninh Bình, đỗ Cử nhân năm
1831.
[9]Nguyên văn:
余後客四方。任宦于朝。備位台。天崖舊隱。時復夢中遊耳。
[10] Đại Việt sử ký toàn thư,
Tập II. Cao Huy Giu dịch. Nxb.
Khoa học xã hội, Hà Nội, in lần
thứ hai, 1971; tr. 90.
[11] “Mậu thân năm thứ 16
[1308]… Mùa xuân tháng Giêng,
lấy Trương Hán Siêu làm Hàn lâm
học sĩ”. Đại Việt sử ký toàn thư,
bản dịch đã dẫn; tr. 104.
[12]Theo Đại Việt sử ký toàn thư,
sau khi nhận chức Hàn lâm học sĩ
năm Mậu thân (1308), đến năm
Bính dần (1326), Trương Hán Siêu
đã là Hành khiển, tiếp đấy lần
lượt được phong các chức: tháng
Bảy Nhâm ngọ (1342) Tả ty lang
trung kiêm Kinh lược sứ Lạng
Giang; tháng Mười một Ất dậu
(1345) Tả gián nghị đại phu;
tháng Bảy Tân mão (1351) Tham
tri chính sự; tháng Chín Quý tị
(1353). Với danh nghĩa Tả tham
tri chính sự ông được cử chỉ huy
quân Thần sách vào châu Hóa trấn
giữ, đề phòng quân Chiêm Thành
quấy rối, tháng Mười một năm sau
châu Hóa yên ổn ông xin trở về
triều, được chuẩn y nhưng chưa
về đến nơi đã mất, được tặng
Thái bảo. Dưới đời Dụ Tông,
tháng Ba năm Quý mão (1363), ông
lại được truy phong là Thái phó.
Dưới đời Nghệ Tông, tháng Mười
một Nhâm tí (1372), được thờ ở
Văn miếu. Từ năm 1326 đến năm
1342, ta có thể bổ sung bằng
chức tước được ghi trong văn bia
Khai Nghiêm đặt tại chùa Khai
Nghiêm ở xã Vọng Nguyệt, huyện
Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh hiện
nay: vào năm Kỷ mão tức 1339,
Trương Hán Siêu đã giữ các chức
Chính nghị đại phu, Học sĩ Viện
Hàn lâm, Tri chế cáo kiêm Thiêm
tri nội mật viện sự, Chưởng bảo
tứ kim ngư đại ô nha thủy.
[13]Xem Đại Việt
sử ký toàn thư, Bản kỷ, Quyển
VII, tờ 17b-18a, và bản dịch đã
dẫn; tr. 156-157.
[14]) Xem Đại Việt sử ký toàn
thư, Bản kỷ, Quyển VII, tờ 39b,
và bản dịch đã dẫn; tr. 181.
[15]) Xem Đại Việt sử ký toàn
thư, Bản kỷ, Quyển VII, tờ 17b.
[16]) Xem Đại việt sử ký toàn
thư, Bản kỷ, Quyển VI, tờ 41b.
Sự việc này được ghi vào năm Quý
hợi (1323).
[17]Cũng chính Ngô Sĩ Liên khi
đánh giá cách khu xử công việc
của nhà Trần, nhận định: “nhà
Trần về khoan hậu thì có thừa mà
về nghiêm trọng thì không đủ” (nguyên
văn: - ). Xem Đại Việt sử ký
toàn thư, Bản kỷ, Quyển VI, tờ
27a và bản dịch đã dẫn; tr. 109.
[18]Nguyên văn: -
Phiên âm: Nãi kỳ đồ chi giảo
hoạt giả, thù thất khổ không bản
ý, vụ chiếm danh viên giai cảnh,
dĩ kim bích kỳ cư, long tượng kỳ
chúng.
[19]Chúng tôi tạm dịch.
[20][21] Đều là những địa danh
Trung Quốc, chỉ những cảnh đẹp,
gắn bó với lịch sử và văn hóa.
[22] Bắt nguồn từ một câu nói
của Tư Mã Tương Như, tượng trưng
cho chí khí lớn lao.
[23]Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến
dịch. Bùi Văn Nguyên nhuận sắc.
Các đoạn trích ở sau đều cùng
một người dịch.
[24]Nguyên văn: - Niệm kỳ trước
vân căn, lũy quyển thạch, do
thốn nhi xích, xích nhi nhận;
nhất bộ tiến nhất bộ, nhất trùng
cao nhất trùng. Dĩ chí ngột
nhiên đặc lập, thế ỷ khung
thương, tăng quan hà chi tráng
quan, dữ tạo vật chi luận công.
Khởi thao thao nhàn nạp khả đồng
nhật nhi ngữ dã.
[25]Nguyên văn:- Y! Hậu thử giả
hựu kỷ bách niên, phủ ngưỡng
biến Diệt. Trùng hữu phát dư
trường khái, ninh vô Nhu đẳng
bối sổ nhân? Hà khả tất dã.
[26]Thương Lang: một tên khác
của sông Hán Thủy ở Trung Quốc,
về sau, xuất phát từ sách Mạnh
Tử, hai chữ Thương Lang có thêm
một nghĩa tượng trưng: khúc hát
của làng chài.
[27]Tử Lăng: Tên
tự của Nghiêm Quang, bạn thuở
nhỏ của Hán Quang Vũ. Khi Hán
Quang Vũ lên ngôi lập ra nhà
Đông Hán , có mời ông ra làm
quan nhưng ông từ chối, bỏ về đi
câu ở sông Đồng.
[28]) Đào Chu: Tức Phạm Lãi,
người nước Sở thời Xuân thu, có
công lớn giúp Việt vương Câu
Tiễn khôi phục cơ đồ, sau đó từ
quan, chèo thuyền đi chơi Ngũ Hồ
là cảnh đẹp, rồi đến ở đất Đào,
lấy hiệu là Đào Chu.
[29]) Nguyên văn: - Nhược phù
thúy nghiễn thương ba, giang
không tháp ảnh. Nhật mộ biển chu,
phiêu nhiên kỳ hạ. Thôi bồng
ngạo nghễ, dát thuyền huyền nhi
ca Thương Lang. Tố Tử Lăng nhất
ti chi thanh phong, phỏng Đào
Chu Ngũ Hồ chi cựu ước. Thử cảnh
thử hoài, duy dư dữ thử giang
sơn tri chi.
[30]Xin dẫn ra đây một đoạn
trong Nguyên sử, Q 53, Liệt
truyện, “Truyện Phàn Tiếp” nói
về trận chiến Bạch Đằng: - Phiên
âm: Tiếp dữ Ô Mã Nhi tương chu
sư hoàn, vi tặc yêu già Bạch
Đằng giang. Triều hạ, Tiếp chu
giao. Tặc chu đại tập, thỉ hạ
như vũ, lực chiến. Tự Mão chí
Dậu, Tiếp bị sang, đầu thủy
trung. Tặc câu chấp, độc sát
chi. Dịch nghĩa: [Phàn] Tiếp và
Ô Mã Nhi đem đoàn binh thuyền
trở về, bị giặc đánh úp ở sông
Bạch Đằng. Nước triều rút,
thuyền của Tiếp mắc cạn, thuyền
giặc kéo đến ùn ùn, tên bắn
xuống như mưa. Ra sức giao chiến,
từ giờ Mão đến giờ Dậu, Tiếp bị
trọng thương, nhảy xuống nước.
Giặc dùng móc bắt được hạ độc
thủ giết đi.
[31]Hải Thạch dịch.
[32]Chúng tôi tạm dịch.
[33]Hiện nay, tại Trung tâm Văn
miếu chỉ thấy Chu An được xếp là
người Việt Nam khởi đầu cho Nho
học và giáo dục. Xem ra, tiêu
chuẩn của hôm nay còn chật hẹp
và cứng nhắc rất nhiều so với
thời đại Trần cường.
|
|
| |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|