|
Cao Bá Quát là một nhà thơ Việt Nam. Ông có tên tự là Chu Thần, hiệu là Cúc Đường, biệt hiệu là Mẫn Hiên. Thơ văn của ông được vua Tự Đức, một người giỏi văn thơ, đã phải ngợi khen: Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán (Văn như Nguyễn Văn Siêu và Cao Bá Quát, đời Tiền Hán không có ai bằng). Cao Bá Quát là bạn thơ văn với Nguyễn Văn Siêu, tạo nên cặp nhà thơ Thần Siêu Thánh Quát.
Gia đình
Cao Bá Quát sinh ra, trong một cặp song sinh, ở một gia đình khoa bảng. Ông nổi tiếng thông minh, học giỏi ngay từ nhỏ. Người anh em song sinh với ông là Cao Bá Đạt cũng là cha của một nhà thơ sau này, Cao Bá Nhạ. Cha ông là Cao Tửu Chiếu là một nhà nho hay chữ.
Tiểu sử
Ông sinh năm 1809 tại làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh, nay là thôn Phú Thị, xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Có tài liệu cho rằng quê gốc của ông ở xã Hải Yến, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá.
Năm 1832 ông thi hương đỗ Á Nguyên, nhưng thi hội mãi vẫn không đỗ. Nhưng ông không đỗ không phải vì ông kém tài mà là vì bị quan trường đánh hỏng. Năm 1841 ông được bổ giữ chức Hành tẩu bộ lễ. Tháng 8 năm 1841 ông được cử làm sơ khảo trường thi Thừa Thiên, thấy một số bài thi hay nhưng phạm húy, ông cùng bạn chữa giúp. Việc bị phát giác, tội ông đáng chém nhưng sau được xét lại, chỉ cách chức và tù 3 năm. Năm 1847 ông được mời làm ở Viện hàn lâm, sưu tầm văn thơ. Cảm kích trước thái độ ân cần giúp đỡ của hai vị hoàng thân là Tùng Thiện Vương và Tuy Lý Vương, ông gia nhập Mạc Vân Thi xã (do hai hoàng thân sáng lập).
Do tính khinh miệt triều đinh và vua quan, Cao Bá Quát bị đầy về làm giáo học ở vùng quê Quốc Oai và làm Quốc sư cho Lê Duy Cự, dòng dõi nhà Lê, nổi lên chống triều Nguyễn năm 1854. Lúc đầu quân khởi nghĩa giành được một số thắng lợi ở Sơn Tây, Nam Định, nhưng rồi bị quân triều đình đánh tan. Theo Thư mục chính biên thì ông bị bắn chết trong một trận đánh, nhưng có tài liệu cho rằng ông bị bắt giải về triều và bị chém đầu. Vua Tự Đức ra lệnh tru di tam tộc dòng họ Cao.
Tác phẩm
Sau khi họ Cao bị tru di tam tộc, các tác phẩm của Cao Bá Quát bị cấm lưu hành và bị thu hồi đốt. Tuy vậy đến nay vẫn còn các tập:
Cao Bá Quát thi tập
Cao Chu thần di cảo
Cao Chu thần thi tập
Mẫn Hiên thi tập
Thơ, văn được chép rải rác trong các sưu tập thơ văn chữ Hán, chữ Nôm.
Nội dung các tác phẩm chú yếu phản ánh thực trạng xã hội đương thời và mong muốn thay đổi xã hội.
Giai thoại
Hai câu đối
Hai câu đối sau tương truyền là của Cao Bá Quát:
Phiên âm Hán-Việt:
Kinh thế hữu tài giai bách luyện
Độc thư vô tự bất thiên kim
Phiên âm Hán-Việt:
Thập tải luân giao cầu cổ kiếm
Nhất sinh đê thủ bái mai hoa
Vào năm Tân Hợi đời vua Tự Ðức thứ tư (1851)Cao Bá Quát bị đẩy khỏi kinh đưa ra Bắc, cho làm quan Huấn Đạo ở phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây. Trước hoàn cảnh bị trù dập, truất giáng Cao Bá Quát đã làm đôi liễn đối treo trước cửa:
Nhà trống ba gian
Một thầy, một cô, một chó cái.
Học trò dăm đứa
Nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi.
Chữa câu đối của vua
Vua Tự Đức nghĩ được hai câu đối sau:
Tử năng thừa phụ nghiệp
Thần khả báo quân ân
(tạm dịch nghĩa: Con phải nối nghiệp cha, Bầy tôi phải báo đền ơn vua)
Vua lấy làm đắc ý với hai câu đối này nên sai viết treo ở điện Cần Chánh và khoe với bá quan. Các quan trông thấy đều nức nở tán thưởng. Riêng Cao Bá Quát khi đọc xong cũng gật gù to tiếng khen ”Tối hảo! Tối hảo!” (Rất tuyệt! rất tuyệt!), xong quay ra chỗ khác lẩm bẩm “(nhưng mà) cang thường điên đảo!"
Chuyện tới tai vua Tự Đức, vua giận lắm đòi vào hỏi nguyên do. Cao Bá Quát liền giải thích: "Ở câu đầu chữ tử đứng trên chữ phụ, vậy là con trên cha, còn ở câu kế chữ thần đứng trên chữ quân, vậy là tôi trên vua. Hơn nữa, hai chữ phụ, tử lại viết trước hai chữ quân, thần cũng đi ngược tôn ti, trật tự. Như thế, cang thường không điên đảo là gì?" (câu đối được viết theo thứ tự từ trên xuống dưới và từ phải sang trái).
Cao Bá Quát giải thích đúng lí nên vua không bắt tội được. Vua bảo chữa, Cao Bá Quát liền đọc:
Quân ân, thần khả báo
Phụ nghiệp, tử năng thừa
Chỉ đảo ngược thứ tự hai câu và vị trí của chữ trong các câu, Cao Bá Quát đã chỉnh hai câu đối của vua theo đúng trật tự trong cương thường. Vua phải chịu rằng chữa như vậy là hay, cương thường được đảm bảo mà ý tứ của vua cũng được toàn vẹn.
Một câu đối hai hoàn cảnh
Tương truyền trong một dịp Tết có hai người đến xin Cao Bá Quát câu đối về treo tại nhà: anh đóng quan tài đến trước, chị bụng chửa sắp sinh đến sau. Ông cầm bút viết câu đối cho anh đóng quan tài:
Thiên thiêm tuế nguyệt, nhân thiêm THỌ
Xuân mãn càn khôn, phúc mãn ĐƯỜNG
Nghĩa là:
Trời thêm năm tháng, người thêm thọ
Xuân đầy vũ trụ, phúc đầy nhà
Câu đối khéo ở chỗ người xưa quen dùng chữ "cỗ Thọ Đường" để chỉ cỗ quan tài.
Đến lượt chị bụng chửa, ông cũng viết hai câu như trên, chỉ bớt đi chữ cuối, vẫn hợp với cảnh của chị:
Thiên thiêm tuế nguyệt, nhân thiêm
Xuân mãn càn khôn, phúc mãn
Nghĩa là:
Trời thêm năm tháng, người thêm
Xuân đầy vũ trụ, phúc đầy
Bịa thơ tài hơn vua
Tự Đức là ông vua hay chữ và hay khoe thơ với quần thần[1]. Một hôm tan buổi chầu, Tự Đức nói với bá quan:
Đêm qua trẫm nằm mơ làm được hai câu thơ thật kỳ lạ, để trẫm đọc cho các khanh nghe!
Rồi Tự Đức đọc luôn:
Viên trung oanh chuyển "khề khà" ngữ
Dã ngoại đào hoa "lấm tấm" khai
Đây là lối thơ vừa Hán vừa Nôm, các quan đều lấy làm lạ. Cao Bá Quát lúc bấy giờ cũng có mặt, thản nhiên tâu rằng:
Tưởng gì chứ hai câu ấy thì từ hồi còn để chỏm đi học, thần đã được nghe rồi! Thần được nghe cả tám câu kia, nếu bệ hạ cho phép, thần xin đọc lại tất cả.
Tự Đức đang cao hứng về mấy câu thơ vừa Hán dở Nôm độc đáo, nghe Cao Bá Quát nói rất bất ngờ, vì rõ ràng hai câu thơ đó chính vua nghĩ ra. Tự Đức bảo ông đọc cho nghe cả bài thơ, nếu không đọc được thì sẽ trị cái tội khi quân.
Ông suy nghĩ một lát như để nhớ lại một bài thơ lâu ngày không nhìn đến, rồi cất giọng sang sảng ngâm rằng:
Bảo mã tây phương huếch hoác lai,
Huênh hoang nhân tự thác đề hồi.
Viên trung oanh chuyển khề khà ngữ,
Dã ngoại đào hoa lấm tấm khai.
Xuân nhật bất văn sương lộp bộp,
Thu thiên chỉ kiến vũ bài nhài.
Khù khờ thi tứ đa nhân thức,
Khệnh khạng tương lai vấn tú tài.
Nghĩa là:
Ngựa báu từ phía tây huếch hoác lại,
Người huênh hoang nhờ cậy dìu về.
Trong vườn oanh hót giọng khề khà.
Ngoài đồng hoa đào nở lấm tấm.
Ngày xuân chẳng thấy sương lộp bộp.
Tiết thu chỉ thấy mưa bài nhài.
Tứ thơ khù khờ nhiều người biết,
Khệnh khạng còn mang hỏi tú tài.
Bài thơ vừa đọc xong, các quan nhìn nhau kinh ngạc, còn Tự Đức thì biết đích là Cao Bá Quát chơi xỏ mình, nhưng cũng rất sửng sốt và hết sức thán phục. Vua sai lấy chè và quế ban cho Quát và bắt Quát phải thú thật là đã bịa thêm sáu câu.
====Xem thêm Gia phả họ Cao - tỉnh Nghệ An:
Cao Xuân Dục
[1843 - 1923]
Ðông Các Ðại Học Sĩ
Việt Nam
Tiểu Sử
Cụ Cao Xuân Dục,- tự là Tử Phát, hiệu Long Cương Cổ Hoan Ðông Cao, sinh năm 1843 ở thôn Thịnh Mỹ (Thịnh Khánh), xã Cao xá, huyện Ðông Thành, phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
Năm 1876, cụ đỗ cử nhân, đồng khoa với cụ Phan Ðình Phùng ở Hà Tĩnh, cụ Nguyễn Ðôn Tiết ở Thanh Hoá và cụ Phan Vãn Ái ở Hà Nội. Trong quá trình làm quan, cụ Dục đã trải qua những chức:
Biện lý Bộ Hình (1883)
Án sát Hà Nội (1883)
Bố Chánh Hà Nội (1884)
Tuần Phủ Hưng Yên (1889)
Tổng Ðốc Sơn Hưng Tuyên (1889)
Khâm Sai Chủ Khảo trường thi Hương Hà Nam (1894)
Tổng Ðốc Ðịnh Ninh (1896)
Phó Tổng Tài Quốc Sử Quán (1898)
Tổng Tài Quốc Sử Quán (1903)
Chủ Khảo trường thi Hội (1901), quản Quốc Tử Giám
Thượng Thư Bộ Học (1907)
Cơ Mật Viện Ðại Thần - Phụ Chính Ðại Thần
Phong hàm Thái Tử Thiếu Bảo (1908)
Phong tước An Xuân Tử (1911)
Về hưu với hàm Ðông Các Ðại Học Sĩ (1913)
Ðông Các Ðại Học Sĩ là một trong Tứ Trụ Triều Ðình, bốn vị quan lớn có nhiệm vụ bàn bạc với vua Nguyễn những chuyện quan trọng trong việc giữ gìn cơ sở đất nước. Ðông Các Ðại Học Sĩ có nhiệm vụ lập dựng các văn thư quan trọng, coi sóc việc tuyển chọn nhân sự của triều đình.
Khi Hoàng Cao Khải theo Pháp muốn làm Phó Vương, bắt các quan trong triều phải ký vào biểu dâng lên Vua, ông Cao Xuân Dục đã không nghe theo, còn đề vào mấy câu:
Thiên Vô Nhị Nhật
Quốc Vô Lưỡng Vương
Thần Cao Xuân Dục
Bất Khả Ký Trời không có hai mặt trời
Nước không có hai vua
Thần Cao Xuân Dục
Không thể ký
Do đó mà ông bị gièm, giáng chức về làm tri phủ huyện Quốc Oai, Hoàng Xá.
Cụ Cao Xuân Dục qua đời năm 1923, thọ 81 tuổi.
Bắt đầu từ cụ Cao Xuân Dục, gia đình họ Cao trở thành một vọng tộc ở đất Nghệ An từ cuối thế kỷ XIX.
Trong số các con của cụ có:
Cao Xuân Tiếu, phó bảng khoa Ất Ty. (1905) làm quan đến Thượng Thư
Cao Xuân Khôi, tú tài (1905)
Cao Xuân Thọ, cử nhân (1911), làm quan Tri Phủ
Cao Xuân Xang, học vấn uyên bác, vẽ giỏi, thơ hay
Cao Thị Ngọc Anh, nhà thơ
Trong hàng cháu của cụ Cao Xuân Dục thì có:
Cao Xuân Tảo, cử nhân (1912), làm quan Tá Lý Bộ Lễ
Cao Xuân Huy, giáo sư triết học Hà nội
Trong hàng chắt thì có:
Cao Xuân Hạo, dịch giả và ngôn ngữ học nổi tiếng
__________
Giáo Sư Chương Thâu (Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu) có viết :
"Cao Xuân Dục có thể xứng đáng là một nhà văn hoá lớn ở nước ta cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Ðứng đầu Bộ Học và Sử Quán, ông chỉ đạo và tham gia biên soạn cùng một số học giả ở hai cơ quan này nhiều bộ sách về sử và địa lý."
Sách tiêu biểu gồm có:
Ðại Nam Thực Lục (ghi sử 1883-1888)
Quốc Triều Sử Toát Yếu (ghi sử Nguyễn Kim -1886)
Ðại Nam Nhất Thống Chí (địa chí Trung Bộ - Duy tân - 1910)
Ðại Nam Dư Ðịa Chí Ước Biên (Trung và Bắc Bộ)
Quốc Triều Luật Lệ Toát Yếu (Duy Tân 1907-1916)
Quốc Triều Khoa Bảng Lục (ghi chép tên họ quê quán người thi đỗ)
Quốc Triều Hương Khoa Lục (ghi chép tên họ quê quán người thi đỗ)
Ngoài ra Cụ Cao Xuân Dục còn biên tập:
Bộ Nhân Thế Tu Tri (1901 - 8 tập 900 trang) trích trong Kinh Sử những lời hay ý đẹp nhằm giúp giáo dục con người tu dưỡng, sửa mình và mưu sinh.
Long Cương Văn Ðối
Long Cương Bát Thập Thọ Ngôn
Cụ Cao Xuân Dục rất có ý thức sưu tầm bảo lưu sách cổ trong thời gian làm quan khắp nơi, cụ dày công tìm kiếm ghi chép lại những sách cổ, lập thành Long Cương Bảo Tàng Thư Viện.
"Ông thực có công lớn đối với văn hoá dân tộc."
____________________
Các bài trên Internet:
Ai là chủ khảo trường Hà Nam khoa Đinh Dậu? - Nguyễn Thị Chân Quỳnh viết.
Sờ râu các cụ khảo quan nhìn tây đầm... nhớ Tú Xương - Cao Xuân Tứ viết trả lời bài trên
Cao Xuân Dục - nhà văn hóa lớn thời cận đại - GS. Chương Thâu
(Thông Tin Khoa Học xã Hội (11/2005) - http://journals.sfu.ca/vn/index.php/ssir/article/viewFile/108/86)
Trang Diễn Châu - [sao y bản của caoxuan.com]
____________________
Sách của ông Cao Xuân Dục:
Nhân Thế Tu Tri (tám quyển) Nhắc đến ngũ luân (khuôn phép giữa vua tôi, cha con, vợ chồng, anh em, bè bạn) và thập nghĩa (mười lẽ phải gồm cha từ, con hiếu, anh lành, em kính, chồng nghĩa, vợ nghe theo, lớn huệ, bé thuận, vua nhân, tôi trung), trong bài Tựa năm 1901 cho Nhân thế tu tri có đoạn ông viết: “Đời người phải có ngũ luân, có thập nghĩa, thì trước hết làm ra các môn luân thường, môn phẩm hạnh. Đời người phải có mưu sinh, làm ăn, thì làm ra các môn thuật nghiệp, tố lý. Đời người phải có sửa mình, thu xếp việc nhà, thì làm ra các môn trị nhà, sửa xét mình. Đời người phải có tiếp xúc với người khác, thì làm ra các môn thù tiếp và thủ ngự để kết thúc toàn bộ sách. Vì vậy, nay vậy, nay tốt, tìm rộng trong các sách, lựa lọc trích lấy, chia môn, định loại, đem ra xếp đặt chú thích, tuy đến việc làm hung ác, cũng trích lấy một hai việc để mà khuyên răn.” Sách kể ra tám mươi sự việc xảy ra ở Trung Quốc và Việt Nam, nhằm khuyên làm lành tránh dữ. Có thể qua sách này tìm hiểu được triết lý đạo Nho ở Việt Nam trong một thời kỳ lịch sử nhất định.
Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu
Quốc Triều Khoa Bảng Lục
|