|
Nhắc đến Biển
Đông, không ai không nghĩ đến hai cái tên rất đẹp
Hoàng Sa và Trường Sa. Tiếc thay hai cái tên đó
lại gắn liền với những gì đi ngược với thiện, mỹ,
hoà, vì hai quần đảo xa xôi này đã và đang là đối
tượng của một cuộc tranh chấp sôi nổi giữa các
quốc gia và lãnh thổ trong vùng. Cuộc tranh chấp
đã kéo dài gần một thế kỷ nhưng đến nay vẫn chưa
giải quyết được, và ngày càng trầm trọng hơn, đang
là mối đe doạ cho hoà bình ở vùng Đông Nam Á.
Khi thì bùng nổ,
khi thì lắng dịu, cuộc tranh chấp này mang mọi
hình thức đấu tranh, từ đấu tranh chính trị, ngoại
giao đến đấu tranh vũ lực. Các quốc gia tranh chấp
cũng thay đổi tuỳ theo thời cuộc. Lúc đầu chỉ có
Pháp và Trung Hoa, tiếp sau đó, Nhật Bản và
Philippin cũng nhảy vào đòi quyền lợi. Sau Chiến
tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản bại trận rút lui
khỏi cuộc tranh chấp, Pháp rời Đông Dương, Trung
Hoa thay đổi chính quyền, thì các quốc gia và vùng
lãnh thổ tranh chấp gồm Việt Nam Cộng hoà, Trung
Quốc, Đài Loan và Philippin. Sau khi Việt Nam
thống nhất thì cuộc tranh chấp tiếp diễn giữa nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và ba quốc gia
và vùng lãnh thổ kia. Ngày nay, từ khi “Luật Biển
mới” ra đời, tầm quan trọng của 2 quần đảo tăng
thêm, thì số quốc gia tranh chấp cũng tăng theo.
Malaixia và Brunây cũng đòi quyền lợi trên quần
đảo Trường Sa. Với Công ước Luật Biển mới, quốc
gia nào nắm những quần đảo này không những được
hưởng lãnh hải quanh đảo mà cả vùng đặc quyền kinh
tế và thềm lục địa quanh quần đảo. Tuy nhiên, vấn
đề phân chia lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và
thềm lục địa giữa các quốc gia chưa thực hiện được
khi chưa biết hai quần đảo này thuộc về ai. Vì vậy,
vấn đề xác định chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa càng quan trọng.
Bài viết này sẽ
phân tích một số lý lẽ chính mà Việt Nam và Trung
Quốc đưa ra để khẳng định chủ quyền của mình, vì
đây là hai quốc gia chính trong cuộc tranh chấp.
I. DIỄN
BIẾN CUỘC TRANH CHẤP
Diễn biến cuộc
tranh chấp sẽ được trình bày vắn tắt theo thứ tự
thời gian, qua ba giai đoạn: trước thời Pháp thuộc,
trong thời Pháp thuộc, và sau thời Pháp thuộc.
1. Trước thời Pháp thuộc
· Những
người đánh cá Trung Hoa và Việt Nam sống trên
các đảo tuỳ theo mùa nhưng từ bao giờ thì không
thể xác định được.
· Đầu
thế kỷ XVII: Chúa Nguyễn tổ chức khai thác trên
các đảo. Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải có nhiệm vụ
ra đóng ở hai quần đảo, mỗi năm 8 tháng để khai
thác các nguồn lợi: đánh cá, thâu lượm những tài
nguyên của đảo, và những hoá vật do lấy được từ
những tàu đắm.
· Năm
1753: Có 10 người lính của Đội Bắc Hải đến quần
đảo Trường Sa: 8 người xuống đảo, còn 2 người
thì ở lại canh thuyền. Thình lình cơn bão tới và
thuyền bị trôi dạt đến cảng Thanh Lan của Trung
Quốc. Chính quyền Trung Hoa cho điều tra, và khi
biết các sự kiện, đã cho đưa 2 người lính Việt
Nam về.[2]
· Năm
1816: Vua Gia Long chính thức chiếm hữu đảo, ra
lệnh cắm cờ trên đảo và đo thuỷ trình.
· Năm
1835: Vua Minh Mạng cho xây đền, đặt bia đá,
đóng cọc, và trồng cây. Đội Hoàng Sa và Đội Bắc
Hải được trao nhiều nhiệm vụ hơn: khai thác,
tuần tiễu, thu thuế dân trên đảo, và nhiệm vụ
biên phòng bảo vệ hai quần đảo. Hai đội này tiếp
tục hoạt động cho đến khi Pháp nhảy vào Đông
Dương.
2. Thời Pháp thuộc
· Năm
1884: Hiệp ước Huế áp đặt chế độ thuộc địa.
· 9-6-1885:
Hiệp ước Pháp – Thanh Thiên Tân là một hiệp ước
hữu nghị, chấm dứt xung đột giữa Pháp và Trung
Hoa.
· 26-6-1887:
Hiệp ước Pháp – Thanh ấn định biên giới giữa Bắc
Việt Nam và Trung Hoa.
· 1895
– 1896: Vụ La Bellona và Imeji Maru.
Có hai chiếc tàu
La Bellona và Imeji Maru bị đắm gần Hoàng Sa,
một chiếc bị đắm năm 1895, và chiếc kia bị đắm
năm 1896. Những người đánh cá ở Hải Nam bèn thu
lượm đồng từ hai chiếc tàu bị đắm. Các công ty
bảo hiểm của hai chiếc tàu này phản đối chính
quyền Trung Hoa. Chính quyền Trung Hoa trả lời
là Trung Hoa không chịu trách nhiệm, vì Hoàng Sa
không phải là lãnh thổ của Trung Hoa, và cũng
không phải của An Nam.[3]
· Năm
1899: Toàn quyền Paul Doumer đề nghị chính phủ
Pháp xây ngọn hải đăng nhưng không thành vì tài
chính bị thiếu.
· Năm
1909: Tổng đốc Lưỡng Quảng ra lệnh thám thính
quần đảo Hoàng Sa.
· Năm
1920: Mitsui Busan Kaisha xin phép Pháp khai
thác quần đảo Hoàng Sa. Pháp từ chối.
· Bắt
đầu năm 1920: Pháp kiểm soát quan thuế và tuần
tiễu trên đảo.
· 30-3-1921:
Tổng đốc Lưỡng Quảng sáp nhập Hoàng Sa với Hải
Nam. Pháp không phản đối.
· Bắt
đầu từ năm 1925: Tiến hành những thí nghiệm khoa
học trên đảo do Dr. Krempt, Giám đốc Viện Hải
dương học Nha Trang tổ chức.
· 8-3-1921:
Toàn quyền Đông Dương tuyên bố hai quần đảo:
Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Pháp.
· Năm
1927: Tàu De Lanessan viếng thăm quần đảo Trường
Sa.
· Năm
1930: Ba tàu Pháp: La Malicieuse, L’Alerte và
L’Astrobale chiếm quần đảo Trường Sa và cắm cờ
Pháp trên quần đảo này.
· Năm
1931: Trung Hoa ra lệnh khai thác phân chim tại
quần đảo Hoàng Sa, ban quyền khai thác cho Công
ty Anglo-Chinese Development. Pháp phản đối.
· Năm
1932: Pháp chính thức tuyên bố An Nam có chủ
quyền lịch sử trên quần đảo Hoàng Sa. Pháp sáp
nhập quần đảo Hoàng Sa với tỉnh Thừa Thiên.
· Năm
1933: Quần đảo Trường Sa được sáp nhập với tỉnh
Bà Rịa. Pháp cũng đề nghị với Trung Hoa đưa vấn
đề ra Toà án Quốc tế nhưng Trung Hoa từ chối.
· Năm
1938: Pháp cho đặt bia đá, xây hải đăng, đài khí
tượng và đưa đội biên phòng người Việt ra để bảo
vệ đảo Pattle (đảo Hoàng Sa) của quần đảo Hoàng
Sa.
· Năm
1946: Nhật bại trận phải rút lui. Pháp trở lại
Pattle (An Vĩnh) nhưng vì chiến cuộc ở Việt Nam
nên phải rút.
· Năm
1947: Quân của Tưởng Giới Thạch đổ bộ lên đảo
Woody (đảo Phú Lâm) của quần đảo Hoàng Sa. Pháp
phản đối và gửi quân Pháp - Việt trở lại đảo.
Hai bên đàm phán tại Paris. Pháp đề nghị đưa ra
Trọng tài quốc tế nhưng Trung Hoa từ chối.
· Năm
1950: Quân của Tưởng Giới Thạch rút khỏi đảo
Woody.
· Năm
1951: Tại Hội nghị San Francisco, Nhật tuyên bố
từ bỏ tất cả các đảo, Đại diện chính phủ Bảo Đại
là Thủ tướng Trần Văn Hữu khẳng định chủ quyền
của Việt Nam trên hai quần đảo mà không có nước
nào lên tiếng phản đối.
3. Sau thời Pháp thuộc
· Năm
1956: Quân đội Pháp rút khỏi Đông Dương. Đội
canh của Pháp trên đảo Pattle được thay thế bởi
đội canh của Việt Nam.
Trung Quốc cho
quân chiếm phía Đông của quần đảo Hoàng Sa, tức
nhóm Amphitrite (Nhóm Đông). Trong khi phía Tây,
nhóm Crescent (Lưỡi Liềm), vẫn do quân Việt Nam
đóng trên đảo Pattle nắm giữ.
· 1-6-1956:
Ngoại trưởng Việt Nam Cộng hoà Vũ Văn Mẫu xác
nhận lại chủ quyền của Việt Nam trên cả hai quần
đảo.
· 22-8-1956:
Một đơn vị hải quân của Việt Nam Cộng hoà cắm cờ
trên quần đảo Trường Sa và dựng bia đá.
· Năm
1961: Việt Nam Cộng hoà sáp nhập quần đảo Hoàng
Sa với tỉnh Quảng Nam.
· Năm
1973: Quần đảo Trường Sa được sáp nhập vào tỉnh
Phước Tuy.
· Năm
1974: Trung Quốc oanh tạc quần đảo Hoàng Sa và
chiếm các đảo do quân Việt Nam Cộng hoà đóng.
· Năm
1975: Quân đội Nhân dân Việt Nam thay thế quân
đội của Việt Nam Cộng hoà tại quần đảo Trường
Sa.
· Năm
1977: Việt Nam tuyên bố lãnh hải, kể cả lãnh hải
của các đảo.
· Trong
thời gian này, nhiều quốc gia khác cũng đã chiếm
một số đảo của quần đảo Trường Sa.
· Năm
1988: Lần đầu tiên Trung Quốc gửi quân tới quần
đảo Trường Sa. Quân của Trung Quốc đụng độ với
Hải quân Việt Nam. Trên 70 người lính Việt Nam
bị mất tích. Trung Quốc đã chặn không cho tàu
mang cờ Chữ Thập Đỏ ra cứu quân Việt Nam.
· Năm
1989: Trung Quốc chiếm thêm một đảo.
· Năm
1990: Trung Quốc đề nghị khai thác chung quần
đảo Trường Sa.
·
Năm
1992: Trung Quốc chiếm thêm một số đảo nữa.
· Năm
1994: Đụng độ giữa Việt Nam và một chiếc tàu
Trung Quốc nghiên cứu cho Công ty Crestone.
Hiện nay
Trung Quốc kiểm soát toàn bộ quần đảo Hoàng Sa.
Còn quần đảo Trường Sa thì do sáu quốc gia và lãnh
thổ chiếm giữ là: Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan,
Philippin, Malaixia và Brunây.
II. PHÂN
TÍCH LẬP LUẬN CỦA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC
Lý lẽ mà cả Việt Nam
và Trung Quốc đưa ra là chủ quyền lịch sử, cả hai
quốc gia đều khẳng định mình có chủ quyền từ lâu
đời được củng cố và chứng minh bằng lịch sử. Ngoài
ra, Trung Hoa ngày xưa, cũng như Đài Loan ngày
nay, và nhiều tác giả thường viện dẫn Hiệp uớc
Pháp – Thanh 1887 để khẳng định hai quần đảo thuộc
về Trung Quốc. Vì Trung Quốc và Đài Loan đã đồng ý
nói chung một tiếng nói trong vụ tranh chấp này,
do đó, đây cũng có thể là một lý lẽ của Trung Quốc.
Thời kỳ gần đây, từ khi tranh chấp với Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam, Trung Quốc đã viện dẫn
thêm một lý lẽ, là những lời tuyên bố trước đây
của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Phần này sẽ
phân tích ba lý lẽ nói trên.
1. Chủ quyền lịch sử
Cả Việt Nam và Trung
Quốc đều nại rằng mình đã khám phá, chiếm hữu và
hành xử chủ quyền lâu đời. Chúng ta thử phân tích
lý lẽ chủ quyền lịch sử của mỗi bên có đạt đủ tiêu
chuẩn của luật quốc tế hay không. Trước tiên,
chúng ta hãy tìm hiểu luật quốc tế chi phối sự
chiếm hữu lãnh thổ vô chủ như thế nào.
1.1.
Sự chiếm hữu
lãnh thổ vô chủ theo luật quốc tế.
Một sự chiếm
hữu lãnh thổ, muốn hợp pháp, phải hội đủ ba điều
kiện:
Một là,
điều kiện liên quan đến đối tượng của sự chiếm hữu:
lãnh thổ được chiếm hữu phải là đất vô chủ (res
nullius), hoặc là đã bị chủ từ bỏ (res
derelicta).
Hai là,
tác giả của sự chiếm hữu phải là một quốc gia.
Chiếm hữu phải được thực hiện bởi chính quyền của
quốc gia muốn chiếm hữu hoặc bởi đại diện của
chính quyền chiếm hữu nhân danh quốc gia mình. Tư
nhân không có quyền chiếm hữu.
Ba là,
phương pháp chiếm hữu:
Phương pháp
chiếm hữu đã trải qua nhiều thay đổi theo thời
gian. Trước năm 1884, quyền chiếm hữu do Đức Giáo
Hoàng ban cho. Từ thế kỷ VIII đến XV, Đức Giáo
Hoàng chia đất giữa hai quốc gia là Tây Ban Nha và
Bồ Đào Nha. Đến thế kỷ XVI, khi nhiều quốc gia
khác cũng bắt đầu tham gia vào công cuộc đi tìm
đất mới, thì phương cách chia đất bởi Đức Giáo
Hoàng bị chỉ trích, và người ta đặt ra một phương
thức mới cho sự chiếm hữu lãnh thổ, đó là quyền
khám phá. Quốc gia nào khám phá ra mảnh đất đó
trước thì được chủ quyền trên đất đó. Khám phá đây
có nghĩa là chỉ nhìn thấy đất thôi, không cần đặt
chân lên đất đó, cũng đủ để tạo chủ quyền. Sau này,
điều kiện đó được xem như không đủ, nên người ta
đưa thêm một điều kiện nữa, là sự chiếm hữu tượng
trưng. Quốc gia chiếm hữu phải lưu lại trên lãnh
thổ một vật gì tượng trưng cho ý chí muốn chiếm
hữu của mình: cờ, bia đá, đóng cọc, hoặc bất cứ
một vật gì tượng trưng cho chủ quyền của quốc gia
chiếm hữu. Đến thế kỷ XVIII, người ta thấy chiếm
hữu tượng trưng cũng không đủ để chứng tỏ chủ
quyền của một quốc gia. Vì vậy, đến năm 1885, Định
ước Berlin nhằm giải quyết vấn đề chia đất ở châu
Phi, ấn định một tiêu chuẩn mới sát thực hơn cho
sự chiếm hữu lãnh thổ. Đó là sự chiếm hữu thực sự
và hành xử chủ quyền trên lãnh thổ được chiếm hữu.
Ngoài ra, Định ước Berlin cũng ấn định rằng quốc
gia chiếm hữu phải thông báo sự chiếm hữu của mình
cho các quốc gia khác biết. Nguyên tắc chiếm hữu
thực sự và hành xử chủ quyền sau này đã trở thành
tập quán quốc tế và được làm cơ sở cho sự chiếm
hữu lãnh thổ vô chủ trong luật quốc tế hiện đại.
Tuy nhiên, yếu tố thông báo không phải là một tập
quán quốc tế, nó chỉ áp dụng riêng cho trường hợp
chiếm hữu đặt trong phạm vi của Định ước Berlin mà
thôi.
Ngày nay theo
luật quốc tế, sự chiếm hữu lãnh thổ phải bao gồm
cả hai yếu tố vật chất và tinh thần. Yếu tố vật
chất được thể hiện qua việc chiếm hữu thực sự và
hành xử chủ quyền trên lãnh thổ đó. Điều này có
nghĩa là quốc gia chiếm hữu phải có sự hiện diện
thường trực trên lãnh thổ được chiếm hữu, và phải
có những hoạt động hoặc những hành vi có tính quốc
gia đối với lãnh thổ đó. Sự hành xử chủ quyền phải
có tính liên tục. Còn yếu tố tinh thần có nghĩa là
quốc gia phải có ý định thực sự chiếm hữu mảnh đất
đó. Phải hội đủ hai yếu tố vật chất và tinh thần
trên thì sự chiếm hữu mới có hiệu lực. Và sự từ bỏ
lãnh thổ cũng phải hội đủ cả hai yếu tố: vật chất,
tức là không hành xử chủ quyền trong một thời gian
dài, và tinh thần, tức là có ý muốn từ bỏ mảnh đất
đó. Phải hội đủ cả hai yếu tố: từ bỏ vật chất và
từ bỏ tinh thần thì lãnh thổ đó mới được xem như
bị từ bỏ, và trở lại quy chế vô chủ.[4]
Ngoài phương
pháp chiếm hữu thực sự và hành xử chủ quyền (occupation
và effectivité), một quốc gia cũng có thể
thụ đắc chủ quyền qua những phương pháp khác như
chuyển nhượng (cession), thời hiệu (prescription),
củng cố chủ quyền bằng danh nghĩa lịch sử (consolidation
par titre historique),… Phương pháp “củng cố
chủ quyền bằng danh nghĩa lịch sử” được áp dụng
nếu quốc gia đã sử dụng lâu đời một lãnh thổ khác
mà không có phản đối của một quốc gia nào khác.[5]
Những tiêu
chuẩn trên đã được áp dụng thường xuyên bởi án lệ
quốc tế, trong những bản án về tranh chấp đảo
Palmas, đảo Groenland, đảo Minquier và Ecrehous…
1.2.
Chủ quyền
lịch sử của Việt Nam
Phải nói rằng,
vì hoàn cảnh chiến tranh, nên tài liệu lịch sử của
Việt Nam đã bị tàn phá hoặc thất lạc rất nhiều.
Việt Nam đã đưa ra những tài liệu lịch sử và địa
lý đủ để chứng minh rằng mình đã khám phá ra hai
quần đảo này từ lâu, đã chiếm hữu tượng trưng cũng
như thực sự và hành xử chủ quyền trên hai quần đảo
qua nhiều đời vua và trải qua ít nhất là ba thế kỷ.
1.2.1. Khám
phá ít nhất là từ thế kỷ XV, và hành xử chủ quyền
trong thế kỷ XVII
Dân đánh cá
Việt Nam đã sống trên những đảo này và khai thác
đảo từ lâu đời. Tài liệu sớm nhất mà Việt Nam còn
có được là quyển “Tuyển tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ
đồ thư” của Đỗ Bá, viết vào thế kỷ XVII. Danh
từ “Tuyển tập” cho ta thấy tài liệu này được thu
nhập từ nhiều tài liệu trước nữa. Trong quyển này,
Đỗ Bá đã tả những quần đảo này rất chính xác, và
xác nhận rằng Chúa Nguyễn đã lập Đội Hoàng Sa để
khai thác quần đảo từ thế kỷ XVII. Đoạn trích do
sử gia kiêm nhà Hán học Võ Long Tê dịch như sau:
“Tại làng Kim
Hộ, ở hai bên bờ sông có hai ngọn núi, mỗi ngọn có
mỏ vàng do nhà nước cai quản. Ngoài khơi, một quần
đảo với những cồn cát dài, gọi là “Bãi Cát Vàng”,
dài khoảng 400 lý, và rộng 20 lý nhô lên từ dưới
đáy biển, đối diện với bờ biển từ cửa Đại Chiêm
đến cửa Sa Vinh. Vào mùa gió nồm Tây Nam, những
thương thuyền từ nhiều quốc gia đi gần bờ biển
thường bị đắm dạt vào những đảo này; đến mùa gió
Đông Bắc, những thuyền đi ngoài khơi cũng bị đắm
như thế. Tất cả những người bị đắm trôi dạt vào
đảo, đều bị chết đói. Nhiều hàng hoá tích luỹ trên
đảo.
Mỗi năm, vào
tháng cuối của mùa đông, Chúa Nguyễn đều cho một
hạm đội gồm 18 thuyền đi ra đảo để thu thập những
hoá vật, đem về được một số lớn vàng, bạc, tiền tệ,
súng đạn. Từ cửa Đại Chiêm, ra tới đảo mất một
ngày rưỡi, nếu đi từ Sa Kỳ thì chỉ mất nửa ngày.”[6]
Theo sử gia Võ
Long Tê, mặc dù quyển sách của Đỗ Bá được viết vào
thế kỷ XVII (vào năm 1686), đoạn thứ nhất của hai
đoạn trên được trích từ phần thứ ba của quyển
Hồng Đức Bản Đồ - Hồng Đức là tên hiệu của vua
Lê Thánh Tông (1460 – 1497).[7]
Như vậy, Việt Nam đã khám phá hoặc biết tới những
đảo này ít ra cũng từ thế kỷ XV. Danh từ Bãi Cát
Vàng chứng tỏ rằng những đảo này đã được những
người Việt Nam ít học nhưng hiểu biết nhiều về
biển khám phá và khai thác, từ lâu trước khi chính
quyền Chúa Nguyễn tổ chức khai thác đảo. Dân Việt
Nam đã sinh sống ở đó từ nhiều thế kỷ, và chính
quyền nhà Nguyễn từ thế kỷ XVII đã biết tổ chức
khai thác đảo có hệ thống. Những yếu tố này, nhất
là sự khai thác của nhà nước từ thế kỷ XVII qua
rất nhiều năm, đã tạo nên từ thời đó một chủ quyền
lịch sử cho Việt Nam trên những đảo này.
1.2.2. Hành
xử chủ quyền trong thế kỷ XVIII: Quyển Phủ biên
tạp lục của Lê Quý Đôn
Lê Quý Đôn là
quan dưới thời nhà Lê, phụ trách vùng Thuận Hoá,
Quảng Nam. Ông đã viết Phủ biên tạp lục vào
năm 1776, tại Quảng Nam, nên đã sử dụng được rất
nhiều tài liệu của chính quyền các Chúa Nguyễn để
lại.[8]
Đoạn sau đây nói về hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa:
“… Phủ Quảng
Ngãi, ở ngoài cửa biển xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn
có núi gọi là cù lao Ré, rộng hơn 30 dặm, trước có
phường Tứ Chính, dân cư trồng đậu ra biển bốn canh
thì đến; phía ngoài nữa, lại có đảo Đại Trường Sa,
trước kia có nhiều hải vật và những hoá vật của
tàu, lập đội Hoàng Sa để lấy, đi ba ngày đêm thì
mới đến, là chỗ gần Bắc Hải”.[9]
Một đoạn rất
dài khác cũng trong Phủ biên tạp lục nhưng
cần phải trích dẫn vì nó cung cấp nhiều chi tiết
quan trọng liên quan đến cách Chúa Nguyễn tổ chức
khai thác hai quần đảo một cách hệ thống:
… Phủ Quảng
Ngãi, huyện Bình Sơn có xã An Vĩnh, ở gần biển,
ngoài biển về phía Đông Bắc có nhiều cù lao, các
núi linh tinh hơn 130 ngọn, cách nhau bằng biển,
từ hòn này sang hòn kia hoặc đi một ngày hoặc vài
canh thì đến. Trên núi có chỗ có suối nước ngọt.
Trong đảo có bãi cát vàng, dài ước hơn 30 dặm,
bằng phẳng rộng lớn, nước trong suốt đáy. Trên đảo
có vô số yến sào; các thứ chim có hàng ngàn, hàng
vạn, thấy người thì đậu vòng quanh không tránh.
Trên bãi vật lạ rất nhiều. Ốc vân thì có ốc tai
voi to như chiếc chiếu, bụng có hạt to bằng đầu
ngón tay, sắc đục, không như ngọc trai, cái vỏ có
thể đẽo làm tấm bài được, lại có thể nung vôi xây
nhà; có ốc xà cừ, để khảm đồ dùng; lại có ốc hương.
Các thứ ốc đều có thể muối và nấu ăn được. Đồi mồi
thì rất lớn. Có con hải ba, tục gọi là Trắng bông,
giống đồi mồi nhưng nhỏ hơn, vỏ mỏng có thể khảm
đồ dùng, trứng bằng đầu ngón tay cái, muối ăn được.
Có hải sâm tục gọi là con đột đột, bơi lội ở bến
bãi, lấy về dùng vôi sát quan, bỏ ruột phơi khô,
lúc ăn thì ngâm nước cua đồng, cạo sạch đi, nấu
với tôm và thịt lợn càng tốt.
Các thuyền
ngoại phiên bị bão thường đậu ở đảo này. Trước họ
Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An
Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng ba nhận
giấy sai đi, mang lương đủ ăn sáu tháng, đi bằng 5
chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến
đảo ấy. Ở đấy tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy
được hoá vật của tầu, như là gươm ngựa, hoa bạc,
tiền bạc, vòng sứ, đồ chiên, cùng là kiếm lượm vỏ
đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm, hột ốc vân rất nhiều.
Đến kỳ tháng tám thì về, vào cửa Eo, đến thành Phú
Xuân để nộp, cân và định hạng xong mới cho đem bán
riêng các thứ ốc vân, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh
bằng trở về. Lượm được nhiều ít không nhất định,
cũng có khi về người không. Tôi đã xem sổ của cai
đội cũ là Thuyên Đức Hầu biên rằng: Năm Nhâm Ngọ
lượm được 30 hốt bạc; năm Giáp Thân được 5.100 cân
thiếc; năm Ất Dậu được 126 hốt bạc; từ năm Kỷ Sửu
đến năm Quý Tỵ năm năm ấy mỗi năm chỉ được mấy tấm
đồi mồi, hải ba. Cũng có năm được thiếc khôi, bát
sứ và hai khẩu súng đồng mà thôi.
Họ Nguyễn lại
đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất, hoặc
người thôn Thứ Chính ở Bình Thuận, hoặc người xã
Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi,
miễn cho tiền sưu cùng các tiền tuần đò, cho đi
thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn
và các đảo ở Hà Tiên, tìm lượm vật của tầu và các
thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai
cai đội Hoàng Sa kiêm quản. Chẳng qua là lấy các
thứ hải vật, còn vàng bạc của quý ít khi lấy được”.[10]
Đoạn này cho
thấy việc khai thác hai quần đảo của Đội Hoàng Sa
và Đội Bắc Hải kéo dài từ thế kỷ XVII sang đến
cuối thế kỷ XVIII. Hoạt động của hai đội này được
tổ chức có hệ thống, đều đều mỗi năm ra đảo công
tác 8 tháng. Các thuỷ thủ do nhà nước tuyển dụng,
hưởng bổng lộc của nhà nước, giấy phép và lệnh ra
công tác do nhà nước cấp.
Các bộ sử như
Lịch triều hiến chương loại chí, Đại Nam thực
lục tiền biên, Đại Nam nhất thống chí, Hoàng Việt
địa dư chí, đều có đoạn ghi các Chúa Nguyễn tổ
chức khai thác hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa,
và cả các đảo khác nữa: Đội Thanh Châu phụ trách
các đảo ngoài khơi Quy Nhơn lấy tổ chim yến, Đội
Hải Môn hoạt động ở các đảo Phú Quý, Đội Hoàng Sa
chuyên ra quần đảo Hoàng Sa, sau đó lại tổ chức
Đội Bắc Hải thuộc đội Hoàng Sa nhưng phụ trách các
đảo xa ở phía Nam trong đó có quần đảo Trường Sa,
đảo Côn Lôn và các đảo nằm trong vùng vịnh Thái
Lan thuộc chủ quyền của Việt Nam.[11]
Đặc biệt là bộ
Lịch triều hiến chương loại chí: Dư địa chí
của Phan Huy Chú (1782 – 1840). Phan Huy Chú và
các tác phẩm của ông được Gaspardone nghiên cứu.
Bộ sử này viết vào đầu thế kỷ XIX và gồm 49 quyển
nằm ở
École Fransaise d’Extrême Orient.[12]
1.2.3.
Chính thức
chiếm hữu và hành xử chủ quyền trong thế kỷ XIX
Chủ quyền được
tiếp tục hành xử qua thế kỷ XIX, dưới thời nhà
Nguyễn (là thời đại kế vị chính quyền các Chúa
Nguyễn).
Vị vua đầu
tiên của nhà Nguyễn, Vua Gia Long, đã củng cố thêm
quyền lịch sử của Việt Nam bằng cách chính thức
chiếm hữu hai quần đảo. Năm 1816, Vua đã ra lệnh
cho Đội Hoàng Sa và hải quân của triều đình ra
thăm dò, đo thuỷ lộ, và cắm cờ trên quần đảo Hoàng
Sa để biểu tượng cho chủ quyền của Việt Nam. Đoạn
sau đây của bộ Việt Nam thực lục chính biên
chứng minh điều này:
“Năm Bính Tý,
năm thứ 15 đời Vua Gia Long (1816)
Ra lệnh cho
lực lượng hải quân và đội Hoàng Sa đổ bộ lên quần
đảo Hoàng Sa để thanh tra và khám xét thuỷ trình.”
Sự chiếm hữu
hai quần đảo theo lệnh của Vua Gia Long cũng được
chứng nhận bởi các tài liệu của phương Tây.
Bài của M.A.
Dubois de Jancigny viết như sau:
“… Từ hơn 34
năm, Quần đảo Paracel, mang tên là Cát Vàng hay
Hoàng Sa, là một giải đảo quanh co của nhiều đảo
chìm và nổi, quả là rất đáng sợ cho các nhà hàng
hải, đã do những người Nam Kỳ chiếm giữ. Chúng tôi
không biết rằng họ có xây dựng cơ sở của mình hay
không, nhưng chắc chắn rằng vua Gia Long đã quyết
định giữ nơi này cho triều đại mình, vì rằng chính
ông đã thấy được rằng tự mình phải đến đấy chiếm
lấy và năm 1816 nhà vua đã trịnh trọng cắm ở đây
lá cờ của Nam Kỳ”.[13]
Một bài khác
của Jean Baptiste Chaigneau cũng ghi nhận điều
trên:
“Nam Kỳ, mà
nhà vua hiện nay là hoàng đế bao gồm bản thân xứ
Nam Kỳ, xứ Bắc Kỳ, một phần của Vương quốc
Campuchia, một số đảo có người ở không xa bờ biển
và quần đảo Paracel gồm những bá đá ngầm, đá nổi
không có người ở. Chỉ đến năm 1816 hoàng đế hiện
nay mới chiếm lĩnh những đảo ấy.”[14]
Năm 1833, vua
Minh Mệnh cho đặt bia đá trên quần đảo Hoàng Sa và
xây chùa. Vua cũng ra lệnh trồng cây và cột trên
đảo. Bộ Đại Nam thực lục chính biên, quyển
thứ 104, viết như sau:
“Tháng tám mùa
thu năm Quý Tỵ, Minh Mệnh thứ 14 (1833)… Vua bảo
Bộ Công rằng: Trong hải phận Quảng Ngãi, có một
dải Hoàng Sa, xa trông trời nước một mầu, không
phân biệt được nông hay sâu. Gần đây, thuyền buôn
thường (mắc cạn) bị hại. Nay nên dự bị thuyền mành,
đến sang năm sẽ phái người tới đó dựng miếu, lập
bia và trồng nhiều cây cối. Ngày sau cây cối to
lớn xanh tốt, người dễ nhận biết ngõ hầu tránh
khỏi được nạn mắc cạn. Đó cũng là việc lợi muôn
đời”.[15]
Năm sau, Vua
Minh Mệnh ra lệnh cho Đội Hoàng Sa ra đảo lấy kích
thước để vẽ bản đồ. Quyển Đại Nam thực lục
chính biên (1834), quyển thứ 122 ghi nhận điều
này:
“Năm Giáp Ngọ,
thứ 15, đời Minh Mệnh:
… Vua truyền
lệnh cho Đội trưởng Trương Phúc Sĩ và khoảng trên
20 thuỷ thủ ra quần đảo Hoàng Sa để vẽ bản đồ…”.[16]
Đến năm 1835
thì lệnh xây miếu, dựng bia đá được hoàn tất và
được ghi nhận trong quyển Đại Nam thực lục
chính biên, quyển thứ 154:
“Tháng sáu mùa
hạ năm Ất Mùi, Minh Mệnh thứ 16 (1835)… Dựng đền
thờ thần (ở đảo) Hoàng Sa thuộc Quảng Ngãi. Hoàng
Sa ở hải phận Quảng Ngãi, có một chỗ nổi cồn cát
trắng, cây cối xanh um, giữa cồn cát có giếng,
phía Tây Nam có miếu cổ, có tấm bài khắc 4 chữ:
“Vạn Lý Ba Bình” (1). Còn Bạch Sa chu vi 1.070
trượng, tên cũ là Phật Tự Sơn, bờ đông, tây, nam
đều đá san hô thoai thoải uốn quanh mặt nước. Phía
bắc, giáp với một cồn toàn đá san hô, sừng sững
nổi lên, chu vi 340 trượng, cao 1 trượng 3 thước,
ngang với cồn cát, gọi là Bàn Than Thạch. Năm
ngoái vua toan dựng miếu lập bia ở chỗ ấy, nhưng
vì sóng gió không làm được. Đến đây mới sai cai
đội thuỷ quân Phạm Văn Nguyên đem lính và Giám
thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình
Định, chuyên chở vật liệu đến dựng miếu (cách toà
miếu cổ 7 trượng). Bên tả miếu dựng bia đá; phía
trước miếu xây bình phong. Mười ngày làm xong, rồi
về”.[17]
Đoạn sau đây
của cùng bộ sách, cho thấy vua nhà Nguyễn không
những quan tâm đến việc khai thác đảo mà còn nhận
thức được vị trí chiến lược của hai quần đảo, xem
chúng như là lãnh thổ biên phòng của Việt Nam và
tổ chức cả một chương trình dài hạn để củng cố
biên cương đó – theo Đại Nam thực lục chính
biên, quyển thứ 165:
“Năm Bính Thân,
niên hiệu Minh Mệnh thứ 17 (1836), mùa xuân, tháng
giêng, ngày mồng 1…
Bộ Công tâu:
Cương giới mặt biển nước ta có xứ Hoàng Sa rất là
hiểm yếu. Trước kia, đã phái vẽ bản đồ mà hình thể
nó xa rộng, mới chỉ được một nơi, cũng chưa rõ
ràng. Hàng năm, nên phái người đi dò xét cho khắp
để thuộc đường biển. Từ năm nay trở về sau, mỗi
khi đến hạ tuần tháng giêng, xin phái thuỷ quân và
vệ Giám thành đáp một chiếc thuyền ô, nhằm thượng
tuần tháng hai thì đến Quảng Ngãi, bắt hai tỉnh
Quảng Ngãi, Bình Định thuê 4 chiếc thuyền của dân,
hướng dẫn ra đúng xứ Hoàng Sa, không cứ là đảo nào,
hòn nào, bãi cát nào; khi thuyền đi đến, cũng xét
xem xứ ấy chiều dài, chiều ngang, chiều cao, chiều
rộng, chu vi, và nước biển xung quanh nông hay sâu,
có bãi ngầm, đá ngầm hay không, hình thế hiểm trở,
bình dị thế nào, phải tường tất đo đạc, vẽ thành
bản đồ. Lại xét ngày khởi hành, từ cửa biển nào ra
khơi, nhằm phương hướng nào đi đến xứ ấy, căn cứ
vào đường đi, tính ước được bao nhiêu dặm. Lại từ
xứ ấy trông vào bờ biển, đối thẳng vào là tỉnh hạt
nào, phương hướng nào, đối chênh chếch là tỉnh hạt
nào, phương hướng nào, cách bờ biển chừng bao
nhiêu dặm. Nhất nhất nói rõ, đem về dâng trình”.
“Vua y lời tâu,
phái suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật đem binh
thuyền đi, chuẩn cho mang theo 10 cái bài gỗ, đến
nơi đó dựng làm dấu ghi (mỗi bài gỗ dài 5 thước,
rộng 5 tấc, dày 1 tấc, mặt bài khắc những chữ
“Minh Mệnh thứ 17, năm Bính Thân, thuỷ quân Chánh
đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật, vâng mệnh đi
Hoàng Sa trông nom đo đạc đến đây lưu dấu để ghi
nhớ”.[18]
Sau đó, hai
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được vẽ trên bản đồ
của triều đình Vua Minh Mệnh. Những đoạn trên đây
cho thấy chủ quyền lịch sử của Việt Nam đã tiếp
tục được hành xử bởi các vua nhà Nguyễn. Đội Hoàng
Sa và Bắc Hải được trao thêm nhiều nhiệm vụ: tuần
tiễu, đi lấy kích thước đảo để vẽ bản đồ, thăm dò
địa hải, vẽ thuỷ trình,… Những Đội này cũng có
nhiệm vụ thu thuế những người tạm sống trên đảo[19].
Hai đội Hoàng
Sa và Bắc Hải hoạt động cho đến khi Pháp xâm lược
Việt Nam. Ít nhất từ thế kỷ XVII (và có thể từ thế
kỷ XV hoặc trước nữa), từ thời Chúa Nguyễn, trải
qua các triều đại vua nhà Nguyễn, trong 3 thế kỷ,
hai đội này đã có nhiều hoạt động khai thác, quản
trị và biên phòng đối với hai quần đảo. Đây là
những hoạt động của nhà nước, do nhà nước tổ chức.
Những hoạt động này kéo dài suốt 300 năm không có
một lời phản đối của Trung Hoa thời đó. Nhà Nguyễn
cũng ý thức được trách nhiệm quốc tế của mình từ
thời đó và cho trồng cây trên đảo để các thuyền bè
khỏi bị đắm và mắc cạn. Rõ ràng đây là những sự
hành xử chủ quyền của một quốc gia trên lãnh thổ
của mình.
Như vậy, chủ
quyền của Việt Nam được thụ đắc qua hai phương
pháp phối hợp nhau: (1) quyền lịch sử bắt nguồn từ
sự sử dụng và chiếm hữu lâu đời một lãnh thổ vô
chủ dưới thời các Chúa Nguyễn, thế kỷ XVII và
XVIII (consolidation par titre historique),
và (2) chủ quyền bắt nguồn từ sự chính thức chiếm
hữu và hành xử chủ quyền một cách liên tục dưới
thời các vua nhà Nguyễn, thế kỷ XIX (prise de
possession, occupation et effectivité). Thực
ra việc thụ đắc bằng phương pháp (1) cũng đã đủ để
tạo chủ quyền cho Việt Nam, và như vậy, Việt Nam
đã có chủ quyền lịch sử từ thế kỷ XVII. Quyền này
lại được củng cố thêm khi các vua nhà Nguyễn chính
thức chiếm hữu đảo. Đội Hoàng Sa và Bắc Hải không
hiện diện thường xuyên trên đảo vì điều kiện sinh
sống ở các đảo không cho phép. Tuy nhiên, lệ án
quốc tế đã mềm dẻo đối với những nơi này luật
không bắt buộc phải có một sự hiện diện thường
xuyên của quốc gia chiếm hữu. Trong vụ án
Clipperton, Pháp chỉ cho tàu chiến thanh tra đảo,
mà không đặt một cơ quan công quyền nào hiện diện
thường xuyên tại đảo. Trọng tài Quốc tế đã cho
rằng như vậy cũng đủ để hành xử chủ quyền, vì điều
kiện ở đảo không cho phép sống thường xuyên trên
đó.[20]
Trong trường hợp Việt Nam, mặc dù không ở lại đảo
thường xuyên, hai Đội Hoàng Sa và Bắc Hải cũng
sống ở đó 8 tháng mỗi năm đến khi gió nồm bắt đầu
thổi, tức là mùa bão biển tới, họ mới trở về đất
liền 4 tháng, và đến tháng giêng lại trở ra các
đảo đóng ỏ đó 8 tháng và hàng năm đều như vậy. Với
hoàn cảnh thời đó, thuyền của các quốc gia khác,
kể cả thuyển của Trung Hoa đều sợ không dám đến
đảo, trong khi Việt Nam cho quân đến đóng ở các
đảo 8 tháng mỗi năm. Như vậy, đã vượt tiêu chuẩn
ấn định bởi vụ án Clipperton, và quá đủ để xem như
Việt Nam đã chiếm hữu hai quần đảo từ thời các
Chúa Nguyễn (thế kỷ XVII).
1.2.4. Trung
Quốc nói rằng những đảo trong bản đồ của Việt Nam
(Đại Nam nhất thống toàn đồ), không phải là Xisha
(đảo Cồn cát Tây) và Nansha (đảo Cồn cát Nam) của
Trung Quốc vì bản đồ cho thấy những đảo gần bờ
biển quá.[21]
Phải nói rằng
kỹ thuật đo lường, kỹ thuật vẽ bản đồ, ý niệm về
khoảng cách và thời gian ngày xưa không phải như
ngày nay. Chính những tác giả Trung Quốc đã khẳng
định điều đó.[22]
Vấn đề xác định những đảo tranh chấp không phải là
mới mẻ, vì nó đã được đặt ra trong nhiều bản án.[23]
Vấn đề này cũng được đặt ra đối với lập luận của
Trung Quốc ở mục 1.3. của bài này. Dù sao, trong
trường hợp Việt Nam, chỉ cần nhìn bản đồ cũng thấy
rằng không có sự nhầm lẫn giữa Hoàng Sa, Trường Sa
và các đảo ở ven biển, khi bản đồ được vẽ, vì
những đảo ven bở biển như đảo Ré cũng đều được vẽ
trên bản đồ, những đảo này đã được vẽ sát dọc theo
bờ biển. Mà trên thực tế, giữa những đảo ven bờ
biển và Hoàng Sa, Trường Sa, không có đảo hoặc
quần đảo nào khác. Từ đó, chúng ta có thể kết luận
rằng những quần đảo mà bản đồ Việt Nam ghi là
Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa chính là Hoàng Sa và
Trường Sa. Phương pháp suy diễn này đã được áp
dụng trong bản án Palmas. Người vẽ bản đồ chỉ
không có ý niệm xác thực về khoảng cách không gian
và tỷ lệ phải áp dụng khi chuyển nó lên mặt giấy
để vẽ bản đồ, nên vẽ khoảng cách ngắn hơn thực tế.
Ngay cả khoảng
cách giữa hai quần đảo Hoàng Sa và Vạn Lý Trường
Sa cũng bị rút ngắn lại, khiến cho thoạt nhìn,
người ta có thể tưởng rằng đây chỉ là một quần đảo.
Tuy nhiên, nhiều điều rút từ những ghi chép trong
sách sử Việt Nam, và từ những bản đồ thời đó, đã
chứng minh đó không phải chỉ là một quần đảo Hoàng
Sa:
(1) Trên
bản đồ Đại Nam nhất thống toàn đồ có ghi
tên hai đảo rõ rệt vẽ bằng chữ nho: Hoàng Sa và
Vạn Lý Trường Sa.
(2) Các
sách sử địa của Việt Nam có nói đến 130 đảo. Con
số này không phù hợp với số đảo thuộc quần đảo
Hoàng Sa, hoặc quần đảo Trường Sa tính riêng.
Nhưng nếu cộng số đảo của hai quần đảo lại thì con
số vừa đúng là 130.[24]



Bản đồ 4
Hoàng Sa


Bản đồ 6
Atlas of the world

Bản đồ 7

(3) Nếu
so sánh bản Đại Nam nhất thống toàn đồ (Bản
đồ 1), bản đồ phóng đại của quần đảo này trích từ
Đại Nam nhất thống toàn đồ (Bản đồ 2), bản
đồ The Times Atlas of the World (ghi tắt là
Atlas, Bản đồ 3 và 6), bản đồ phóng to hiện thời
của dãy Hoàng Sa (Bản đồ 4), và bản đồ của dãy
Trường Sa (Bản đồ 7), thì sẽ thấy như sau:
· Hình
dạng của dãy quần đảo trên Bản đồ 1 không phù
hợp với hình dạng của quần đảo Hoàng Sa nói
riêng. Hình dạng của quần đảo của Hoàng Sa là
theo hình vòng tròn, nó gồm hai cụm đảo chính là
cụm Crescent hình dạng đúng như cái tên của nó,
tức là các đảo nằm cụm vào nhau theo hình lưỡi
liềm. Phía sau cụm Crescent (Lưỡi Liềm) là cụm
Amphitrite (An Vĩnh), xếp theo hình vòng cung.
Ngoài ra có vài đảo rải rác quanh đó, nằm theo
hình vòng tròn vây quanh hai cụm đảo chính, chứ
không phải hình dài (xem Bản đồ 3 và 4). Trong
khi đó, nếu nhìn vào Bản đồ 2, ta sẽ thấy một
quần đảo theo hình chuỗi trải dài xuống và bị
thóp lại ở giữa, hoàn toàn không phải là hình
cụm như quần đảo Hoàng Sa. Phần trên của chuỗi
này, được xếp theo cụm giống như Hoàng Sa (xem
đoạn từ A tới B trên bản đồ, do tác giả kẻ cho
dễ thấy). Nhưng nửa dưới của chuỗi đảo mang một
hình dạng xuôi dài xuống (đoạn kẻ từ B tới C),
không giống một phần nào của quần đảo Hoàng Sa
như ta thấy trên Bản đồ 3 hoặc Bản đồ 4. Phần
này chắc chắn không phải là Hoàng Sa. Theo Bản
đồ 6 thì giữa quần đảo Hoàng Sa và quần đảo
Trường Sa không có một quần đảo nào khác cả, mà
quần đảo hình chuỗi dài xuống thì lại càng không
có. Như vậy phần dưới của chuỗi đảo được vẽ trên
Bản đồ 2 không thể là quần đảo nào khác hơn là
Trường Sa.
Mỗi phần lại có
một tên riêng viết bằng chữ nho: “Hoàng Sa” và
“Vạn Lý Trường Sa”. Điều này chứng minh Đại Nam
nhất thống toàn đồ phân biệt rõ ràng hai quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
· Bản
Đại Nam nhất thống toàn đồ (Bản đồ 1) cho
thấy chuỗi đảo kéo dài suốt từ Quảng Nam đến tận
Cam Ranh, đảo thấp nhất trên bản đồ nằm ngoài
khơi Cam Ranh và Khánh Hoà. Trong khi đó quần
đảo Hoàng Sa trên bản đồ Atlas nằm ngoài
khơi tỉnh Quảng Nam, đảo thấp nhất của nó theo
hướng tây nam là đảo Triton (đảo Tri Tôn) nằm
song song với tỉnh Quảng Nam. Trên Bản đồ 2, đảo
thấp nhất phía tây của cụm đảo A-B nằm ngang với
cửa Đại Cát (trong sách của Đỗ Bá gọi là Đại
Chiêm), mà Đại Cát vị trí ngang với Quảng Nam.
Như vậy, đảo nói trên là đảo Triton (gạch chữ X
trên Bản đồ 2, do tác giả ghi). Và như thế thì
làm sao cắt nghĩa được đoạn dưới của chuỗi đảo
trên Đại Nam nhất thống toàn đồ, là đoạn
bắt đầu từ Quảng Nghĩa (Quảng Ngãi trên bản đồ
Atlas) đến vịnh Cam Ranh? Đảo Hoàng Sa
không kéo dài xuống tới Khánh Hoà hoặc vịnh Cam
Ranh. Nếu nhìn vảo bản đồ Atlas, ta sẽ
thấy song song với tỉnh Phan Rang, gần vịnh Cam
Ranh (xem Bản đồ 6), là đảo Thitu (đảo Thị Tứ)
của dãy Trường Sa: Northeast Cay (đảo Song Tử
Đông), Southeast Cay (đảo Song Tử Tây), South
Reef (đá Nam), và West York Island (đảo Dừa),
đều nằm ngoài khơi, ngang với khoảng cách từ
Khánh Hoà tới Cam Ranh (xem Bản đồ 7).
· Nhìn
vào bản đồ của Đại Nam nhất thống toàn đồ
(Bản đồ 1), có thể có 4 giả thuyết:
a) Đội
Hoàng Sa và Bắc Hải không biết đến Trường Sa và
các tác giả chỉ vẽ Hoàng Sa mà thôi.
b) Đội
Hoàng Sa và Bắc Hải đã hoạt động ở cả quần đảo
Hoàng Sa và toàn thể quần đảo Trường Sa, và tác
giả của bản đồ muốn vẽ cả hai quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa, nhưng vì kỹ thuật kém, nên toàn
khối Trường Sa gần với Hoàng Sa hơn ngoài thực
tế.
c) Đội
Hoàng Sa và Bắc Hải chỉ hoạt động và thám thính
các đảo phía bắc của dãy Trường Sa, tức
Northeast Cay, Southeast Cay, South Reef và
Thitu; và người vẽ bản đồ, vì kỹ thuật kém nên
vẽ các đảo đó gần với quần đảo Hoàng Sa.
d) Đội
Hoàng Sa và Bắc Hải đã hoạt động ở những đảo nói
trên của quần đảo Trường Sa và cả dãy đảo phía
dưới các đảo này tức Xubi Reef (đá Subi), Loaita
Island (đảo Loai Ta), Itu Aba Island (đảo Ba
Bình), Great Discovery Reef (đá Lớn), Spratly
Island (đảo Trường Sa), … nhưng vì kỹ thuật kém,
nên vẽ dãy đảo này gần với quần đảo Hoàng Sa.
Dựa vào những
dữ kiện vừa nêu, thì giả thuyết thứ nhất (a) đáng
loại bỏ trước tiên, vì số đảo, hình dạng của quần
đảo Hoàng Sa, địa điểm của nó so với những tỉnh
trong đất liền, tất cả những chi tiết này như được
vẽ trên Bản đồ 1 và 2 không ăn khớp với thực tế
trên Bản đồ 3 và 4. Chúng ta cũng không nghĩ rằng
tác giả bản Đại Nam nhất thống toàn đồ có
thể vì kỹ thuật kém nên kéo dài Hoàng Sa xuống tận
Cam Ranh. Vì Đại Nam thư lục chính biên,
quyển 165, có nói rõ một trong những mục đích của
những chuyến công tác của Đội Hoàng Sa và Bắc Hải
là gạch lộ trình để ra mỗi đảo, và ấn định rõ vị
trí của mỗi đảo so với mỗi tỉnh ngang với nó trong
đất liền. “Phải ấn định rõ cửa khẩu nào đưa
ra mỗi đảo. Mỗi lộ trình phải được ước lượng bằng
“dặm”.[25]
Như vậy, tác giả của bản đồ này không thể nào nhầm
lẫn mà ấn định đảo cuối của dãy Hoàng Sa nằm ngang
với Cam Ranh. Giả thuyết thứ ba (c) không giải
thích được hình dạng của chuỗi đảo trên bản đồ 1.
Giả thuyết thứ hai (b) và thứ tư (d) có lẽ sát sự
thực vì nó giải thích được hình dạng của chuỗi đảo
trên Bản đồ 1, vị trí của đảo ngang với vùng Khánh
Hoà, Cam Ranh. Hình chuỗi nằm xuôi dài xuống của
các đảo ở đoạn CD, khiến chúng ta nghiêng về giả
thuyết thứ tư (d) hơn. Tuy nhiên, giả thuyết thứ
ba (c) cũng có thể áp dụng được nếu cho rằng Đội
Hoàng Sa và Bắc Hải đã biết toàn thể hoặc đa số
các đảo trên dãy Trường Sa, nhưng khi đưa lên bản
đồ chỉ vẽ được một số đảo ở phía Tây mà thôi. Như
vậy, sẽ ăn khớp với số đảo là 130 đã được ghi
trong những sách sử nói trên. Vả lại, Đại Nam
thực lục chính biên cũng có nói trong tờ trình
của Bộ Công, là quần đảo rất rộng nên chỉ vẽ được
một số đảo giới hạn. Tờ trình cũng công nhận là
bản đồ vẽ không được chính xác.
“Quần đảo Hoàng
Sa, biên giới biển của nước ta, là một địa điểm
chiến lược rất quan trọng… Những đoàn công tác đã
được phái đi để lấy kích thước vẽ bản đồ, nhưng vì
quần đảo quá rộng, nên chỉ mới vẽ được một
đảo trên bản đồ, mà cũng không được chính xác
và chi tiết như mong muốn…”. Vì vậy, tờ trình
của Bộ Công đã đề nghị Vua cho công tác ra các đảo
mỗi năm: “Ta nên gửi đoàn công tác ra mỗi năm để
thám sát toàn diện quần đảo…”.[26]
Bản đồ vẽ quần
đảo Trường Sa gần với quần đảo Hoàng Sa hơn trong
thực tế chỉ vì kỹ thuật thời đó còn kém, không
biết tỷ lệ đưa lên giấy. Bản đồ của Trung Hoa và
của phương Tây thời đó cũng mang khuyết điểm này.
Hơn nữa, vị trí của hai quần đảo nằm trên cùng một
kinh tuyến 111°;[27]
quần đảo Trường Sa nằm hơi nhích sang phía đông
nam, nên trên thực tế cũng không xa nhau lắm, và
vì thời đó người ta không có được ý niệm chính xác
về kích thước và tỷ lệ phải tuân theo khi vẽ bản
đồ, thì có khuynh hướng vẽ hai quần đảo gần nhau
hơn thực tế, cũng dễ hiểu. Dù sao, giả thuyết thứ
hai (b), thứ ba (c) hoặc thứ tư (d) cũng đều chứng
minh được Việt Nam ít ra cũng có hành xử chủ quyền
trên quần đảo Trường Sa.
Những bản đồ
của phương Tây thời xưa cũng không phân biệt được
quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa nên đã vẽ
cả hai thành một khối gọi là Hoàng Sa. Thí dụ, bản
đồ của anh em Van Langren, 1595, bản đồ Les
établissement et point de penetration européen en
Extrême Orient au 18è siècle (Bản đồ 8 và 9).
Bản đồ 8

Bản đồ 9

Bản đồ 10
Đại Việt đời Hồng Đức
(Bản vẽ lại cho dễ đọc các địa danh)

Bản đồ 11
Đại Việt Quốc Tổng Lãm Đồ (Lê Trung Hưng)

Trước thời Minh
Mạng, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng được
xem như một quần đảo, nên gọi hai quần đảo là
Hoàng Sa, có khi gọi là Vạn Lý Trường Sa. Nhưng
sau khi các đoàn công tác được Vua Minh Mạng ra
lệnh lấy kích thước và thám sát cả hai quần đảo,
thì bản đồ được vẽ sau đó (tức bản Đại Nam nhất
thống toàn đồ), mới ghi rõ ràng hai tên khác
nhau cho hai quần đảo. Nếu trên Bản đồ 2, chúng ta
lấy bút khoanh cụm đảo ở đoạn A-B lại, và cũng
khoanh chuỗi đảo ở đoạn B-C lại, thì ta sẽ thấy
hai quần đảo riêng rẽ, với hai cái tên riêng rẽ (xem
Bản đồ 5).
Do đó, ta có
thể kết luận rằng Việt Nam đã hành xử chủ quyền
trên cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vì vậy
mới có sự hiện diện của Đội Bắc Hải được cử đi
khai thác và quản lý những đảo Trường Sa, Côn Lôn,
vùng Hà Tiên,… (thể theo quyển Phủ Biên tạp lục,
quyển 2). Người ta có thể thắc mắc tại sao Đội Bắc
Hải đảm trách Trường Sa, Côn Lôn, Hà Tiên, là
những vùng phía Nam, mà lại gọi là Bắc Hải. Sử gia
Võ Long Tê có giải thích rằng Bắc Hải theo nghĩa
chữ nho cũng có thể là “xa xôi”. Như vậy “Bắc Hải”
có thể hiểu là vùng biển xa xăm.[28]
Nghĩa thứ hai mà ta có thể giải thích là Đội Bắc
Hải kiêm trách cả vùng biển miền Bắc lẫn những đảo
ở phía Nam. Vì quyển Phủ Biên tạp lục có
ghi rằng Đội Bắc Hải hoạt động ở “… vùng Biển Bắc,
những đảo Côn Lôn, Cù Lao, vùng Hà Tiên và Cồn Tự…”.[29]
Nếu theo giả thuyết trên thì ta phải hiểu là hai
Đội Hoàng Sa và Bắc Hải bổ túc cho nhau chứ không
có sự phân chia vùng hoạt động giữa hai Đội. Theo
như ghi chép trong Phủ Biên tạp lục thì sự
phân chia giữa hai Đội là ở sản vật được khai thác:
Đội Bắc Hải gần như chỉ thu thập các hải sản, còn
Đội Hoàng Sa thu thập cả các hoá vật, vàng, bạc,…
do tàu đắm để lại.
Thêm một nhận
xét nữa là: Trường Sa nằm ở gần đảo Côn Lôn nên
không lẽ thời đó, Đội Bắc Hải hoặc dân đánh cá
Việt Nam từ trước nữa đã khám phá và khai thác đảo
Côn Lôn mà lại không hề biết đến đảo Trường Sa.
Nhất là tàu thuyền của Việt Nam thời đó là một lực
lượng hùng mạnh khiến nhiều nhà thám hiểm phương
Tây phải xác nhận điều đó. Thí dụ, ông Gentil de
la Barbinais đã viết trong quyển Nouveau voyage
autour du monde (xuất bản vào năm 1738) như
sau: “Quoique jusqu’ici les Cochinchinois, aient
attaqué ou se soient défendus par terre, les
emplois de I’armée navale sont plus recherchés,
comme étant les plus honorifiques. Le Roi de
Cochinchine entretient 150 galères. À la dernière
revue des galères, qui se fit en 1678, il y avait
131 galères…”[30]
(Có thể dịch là: “Mặc dù dân Việt Nam đến bây giờ
vẫn tấn công hoặc phòng thủ trên đất liền, việc sử
dụng lực lượng hải quân của họ tinh vi hơn, và có
thể nói là xuất sắc nhất. Vua Việt Nam có 150
chiến thuyền. Nhân cuộc biểu trương chiến thuyền
gần nhất, được tổ chức vào năm 1678, có tới 131
chiến thuyền…”).
1.3.
Chủ quyền
lịch sử viện dẫn bởi Trung Quốc
Trung Quốc
cũng viện dẫn quyền khám phá và sự hành xử chủ
quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
1.3.1.
Quyền khám
phá
Trung Quốc đã
khẳng định rằng mình đã khám phá ra hai quần đảo
tranh chấp từ đời nhà Hán, năm 206 trước Công
nguyên. Tuy nhiên, có tác giả Trung Hoa lại xác
định là những tài liệu sớm nhất ghi chép sinh hoạt
của người Trung Hoa trên những đảo này, thuộc đời
nhà Tống (thế kỷ XIII).[31]
Trung Quốc đã
viện dẫn nhiều đoạn trích từ sách sử địa của mình.
Nhưng thực tế cho thấy các đoạn do Trung Quốc đưa
ra, chỉ tả hai quần đảo như những gì nằm trong lộ
trình đi ngang Biển Đông mà thôi. Ngoài ra, các
đoạn được viện dẫn trước thế kỷ XIII cũng không
nói đến đảo nào, mà chỉ nói đến biển Nam Hải.
Những đoạn sách viết từ thế kỷ XIII mới bắt đầu
nêu tên đảo, nhưng không có đoạn nào nói tới Xisha
và Nansha. Nhiều điểm từ những đoạn được nêu ra,
còn cho thấy rõ ràng Wanlishitang (Vạn Lý Thạch
Sành) mà Trung Quốc nói là Nansha thực tế không
phải là Nansha mà là đảo khác.
a) Sách sử trước thế
kỷ XIII
· Quyển
Dị vật chí thời Hán (Yi Wu Zhi), viết như
sau:[32]
“Có những đảo
nhỏ, cồn cát, đá ngầm, và băng cát tại Nam Hải,
nơi đó nước cạn và đầy đá nam châm…”. Những câu
tả này rất mơ hồ, chỉ viết “có những đảo nhỏ”,
mà không nói rõ đảo nào.
· Quyển
Zuo Zhuan viết từ thời Xuân Thu, ghi như
sau:[33]
“Triều đại vẻ vang
của nhà Chu trấn an dân man di để viễn chinh
vùng Nam Hải (đảo) để làm sở hữu của Trung Hoa…”
Chữ “đảo” là
do tác giả Jian-Ming Shen thêm vào trong dấu
ngoặc để ám chỉ rằng “Nam Hải” có nghĩa là
“những đảo ở vùng Nam Hải”. Bản văn bằng tiếng
Trung Hoa chỉ ghi “Nam Hải” chứ không phải “NamHaidao”.
b) Sách sử từ thế kỷ
XIII
· Quyển
Chư Phiên Chí (thế kỷ XIII) có ghi rằng:
“Phía Đông Hải Nam là Thiên Lý Trường Sa và Vạn
Lý Thạch Đường, và ngoài nữa là đại dương vô tận…”[34]
· Quyển
Hải Lục (On the Sea), tác giả Hoàng
Chung, xuất bản đời Minh, ghi rằng: “Vạn Lý
Trường Sa nằm ở Đông Nam của Vạn Lý Thạch Đường…”.[35]
· Ngay
cả những tài liệu sử thế kỷ XIX của Trung Hoa,
đồng thời với sự chiếm hữu và hành xử chủ quyền
của các vua nhà Nguyễn tại Việt Nam, cũng chỉ tả
những đảo này như những gì tình cờ thấy, nằm
trên lộ trình xuyên Biển Đông của các thuyền
Trung Hoa. Hơn thế nữa, có tài liệu còn mặc
nhiên công nhận sự liên hệ của các quần đảo đối
với Việt Nam, nếu không muốn nói rằng nó công
nhận những quần đảo này là biên phòng của An
Nam. Thí dụ quyển Hải Lục của Vương Bỉnh
Nam (1820-1842) viết:
“Lộ trình phía
ngoài được nối liền với lộ trình phía trong bởi
Vạn Lý Trường Sa nằm giữa biển. Chiều dài của
quần đảo khoảng vài chục ngàn dặm. Nó là bức màn
phòng thủ phía ngoài của An Nam”.[36]
Từ đó, ta có
những nhận xét sau đây về những chứng cớ lịch sử
về quyền khám phá của Trung Quốc:
Không có một
quyển sách sử nào nói đến hai cái tên Xisha (Tây
Sa) và Nansha (Nam Sa), và không có một quyển sách
nào nói đến chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần
đảo này.[37]
Những sách sử địa của Trung Quốc nhắc đến rất
nhiều tên, nào là Qianli Chang sha, Wanlishitang,
Quianlishitang, Jiuruluozhou, Qizhouyang,
Zizhousan. Và bây giờ Trung Quốc nói rằng tất cả
những tên đó đều ám chỉ Xisha và Nansha. Vì vậy,
muốn xét đến những chứng cớ lịch sử này, thiết
tưởng cần phải có những chuyên viên để nghiên cứu
tại chỗ và khẳng định các tên này có đúng là Xisha
và Nansha mà Trung Quốc nói tới hay không.
1.3.2 Hành xử chủ
quyền
Những dữ kiện
mà Trung Quốc và các tác giả Trung Hoa đưa ra để
chứng minh mình hành xử chủ quyền trên hai quần
đảo gồm có: những cuộc thanh tra, những cuộc viễn
chinh, và những di vật đào bới được từ các đảo.
Thanh tra và
viễn chinh
Phần lớn những
bài viết về thanh tra và viễn chinh là sự khẳng
định nhưng không có đoạn sử nào được viện dẫn để
chứng minh điều này.
*Trước nhà
Nguyên
Đoạn sau đây
được trích, không phải từ sách sử nào cả, mà từ
kết luận của một viên chức chính quyền Trung Quốc,
giáo sư Wang Hengjie thuộc Trung tâm chuyên về các
sắc tộc thiểu số, vào năm 1991, dựa trên những di
tích được đào bới trên đảo Xisha để kết luận rằng
nhà Chu đã có những cuộc viễn chinh trên quần đảo
này:
“Chính quyền nhà
Chu thuộc thời Xuân Thu không những chinh phục
những “dân man rợ” ở phía Nam, mà cũng tổ chức
những cuộc viễn chinh trên những đảo của biển Nam
Hải để chiếm làm đất Trung Hoa…”.[38]
Đây chỉ là một
kết luận của một viên chức nhà nước vào năm 1991,
chứ không phải từ sách sử khách quan. Nếu đã có
những cuộc viễn chinh, và những hoạt động khác thì
tại sao lại không được ghi trong sách sử của Trung
Hoa – tương đương với những ghi chú trong sách sử
của Việt Nam? Trung Hoa vẫn tự hào là xứ văn minh
và các dân tộc khác là “man di” mà tại sao không
biết ghi những hoạt động của nhà nước vào sách sử
của mình, nếu những hoạt động đó có thực?
Tác giả Shen
viết rằng trong quyển Hậu Hán thư có ghi:
Chen Mao được bổ nhiệm làm quan Thái thú ở tỉnh
Giao Chỉ (Jiaozchi) đã có những cuộc tuần tiễu và
“thám thính trên (các đảo của) biển Nam Hải”. Và
ông ta đã ghi trong dấu ngoặc chữ viết bằng tiếng
Trung là “xing bu Zhanghai”.[39]
Đoạn này cho
thấy không có chỗ nào nói đến Xisha và Nansha cả.
Hơn nữa, chữ “đảo” là do tác giả thêm vào trong
dấu ngoặc, chứ bản viết tiếng Trung mà ông ta chêm
trong ngoặc kép (xing bu Zhanghai) không có chữ “đảo”,
mà chỉ là thám thính Zhanghai, tức là Nam Hải, mà
thôi.
Tác giả Shen
cũng viết rằng quyển Nam châu dị vật chí (Nanzhou
Yiwu Zhi) kể những thuỷ thủ nhà Hán đi viễn chinh
từ bán đảo Malaixia trở về Trung Hoa. Rồi ông
trích câu trong Nam châu dị vật chí: “đi thuyền về
phía Đông Bắc, người ta gặp rất nhiều đảo nhỏ, đá
ngầm, bãi cát ngầm, trở nên rõ rệt tại biển Nam
Hải, nơi đây nước cạn và có nhiều đá nam châm”.[40]
Như vậy, trong Nam Châu dị vật chí không có
chỗ nào nói đến viễn chinh trên đảo Xisha và
Nansha, hoặc tuần hành quanh đảo này, mà chỉ nói
chung chung là họ đi thuyền qua Biển Đông mà thôi,
hoặc viễn chinh tại các vùng như Malaxia, Bornéo.
Chỗ khác, tác
giả Shen viết là chính quyền địa phương dưới triều
đại nhà Tấn đã hành xử chủ quyền trên đảo Xisha và
Nansha bằng cách gửi tàu đi tuần tiễu trên vùng
biển quanh đó. Để chứng minh điều này, tác giả
viện dẫn quyển Quảng Đông tổng chí (General
Record of Quangdong) do Hao Yu-lin viết, có ghi là
quan phụ trách những vấn đề biển Nam Hải thời đó,
có đi tuần tiễu và thám thính tại biển Nam Hải (xing
bu ru hai).[41]
Ở đây cũng như trên, tác giả Shen không trích
thẳng đoạn nào trong quyển Quảng Đông tổng chí
ghi lại sự kiện trên, nên chúng ta không biết
chính thức đoạn đó viết như thế nào.
Chỉ 4 chữ tiếng
Trung được ghi trong dấu ngoặc là “xing bu ru hai”.
Nếu đây là nguyên văn trong sách sử, thì nó chỉ
nói đến thám thính trên biển Nam Hải (nếu thật
tình là biển Nam Hải, vì chúng ta không biết đây
có phải là biển Nam Hải không hay là biển khác).
Dù sự kiện đi
tuần tiễu thám thính có thật đi chăng nữa thì nó
chỉ tổng quát tại biển mà Trung Quốc nói là biển
Nam Hải, chứ không nói là tuần tiễu quanh hai đảo
Xisha và Nansha. Mà nếu sự thật là biển Nam Hải,
thì nó rộng mênh mông làm sao mà biết được họ có
tuần tiễu quanh hai quần đảo Xisha và Nansha hay
không. Và nếu có, có phải là tuần tiễu để thanh
tra đảo với tư cách là chủ của đảo hay chỉ là tuần
tiễu vùng biển nói chung? Nguyên văn quyển sách mà
tác giả Shen nói có thực sự viết đó là những cuộc
tuần tiễu hay chỉ là đi thuyền ngang qua đó mà
thôi?
Chỗ khác, tác
giả Shen khẳng định là hai đảo được đặt dưới quyền
quản trị của huyện Qiongzhou (là Hải Nam bây giờ),
nhưng không viện dẫn chứng cớ lịch sử nào cả, mà
footnote chỉ ghi là tài liệu của một cơ
quan chính quyền của Trung Quốc năm 1992.[42]
Vả lại, nếu Trung Hoa thời đó có sáp nhập hai quần
đảo và đảo Hải Nam đi nữa, thì sự sáp nhập không
cũng không đủ để tạo nên chủ quyền theo tiêu chuẩn
của luật quốc tế.
Trung Quốc cũng
cho rằng những di vật tìm thấy trên các đảo chứng
minh rằng dân Trung Hoa đã sống ở đó. Những di
tích lịch sử đào được trên đảo Xisha như bình, đồ
gốm, và các di vật khác từ những năm 420 cho đến
thời nhà Thanh, cho thấy từ thế kỷ thứ V, dân
Trung Hoa đã sinh sống làm ăn trên các đảo vùng
biển Nam Hải.[43]
Từ đó Trung Quốc lập luận rằng vì dân Trung Quốc
sinh sống ở đó, nên Trung Quốc có chủ quyền.
Tuy nhiên, luật
quốc tế không chấp nhận chủ quyền trên một lãnh
thổ được thụ đắc vì có dân sống trên đảo. Trên đảo
có rất nhiều loại dân sinh sống tuỳ theo mùa, kể
cả dân Việt Nam chứ không phải chỉ có dân Trung
Hoa và tư nhân không có quyền chiếm hữu lãnh thổ.
* Từ thời nhà
Nguyên đến nay
Trung Quốc viện
dẫn rằng Trung Quốc gửi một nhà chiêm tinh học đến
đảo để tham quan và lấy kích thước đảo.[44]
- Những
cuộc viễn chinh được viện dẫn cho thời kỳ này
thực ra là viễn chinh đến những vùng khác như
vùng Java chứ không phải tại Xisha hoặc Nansha.
- Đoạn
được viện dẫn để chứng minh cho những cuộc tuần
tiễu và viễn chinh trên đảo Xisha và Nansha,
trích từ quyển Nguyên Sử (Yuan Shi) như sau:
“… thuyền đi
qua Qizhou Yang và Wanlishitang, ngang Jiaozhi (Giao
Chỉ) và Zhangcheng (Quy Nhơn),… họ đổ bộ lên
những đảo như Hundun Dayang, đảo Ganlan,
Jialimada, và Julan, họ đóng ở đó và chặt cây để
làm những thuyền nhỏ…”
Tác giả
giải thích Qizhou Yang và Wanlishitang là Xisha và
Nansha, còn Jialimada là Bornéo hiện nay[45].
Tuy nhiên, điểm này mâu thuẫn với đoạn trích trong
quyển Hải Lục:
“Vạn Lý
Trường Sa nằm ở Đông Nam của Vạn Lý Thạch Đường”.[46]
Dựa vào câu
trích dẫn trên trong quyển Hải Lục, nếu chấp nhận
hai cái tên này ám chỉ Nansha và Xisha, thì Vạn Lý
Trường Sa phải là Nansha, còn Vạn Lý Thạch Đường
phải là Xisha. Thế nhưng, quyển Nguyên Sử
nói trên thì lại được diễn giải Vạn Lý Thạch Đường
(Wanlishitang) tức là Nansha, và Qizhou Yang tức
là Xisha. Rút cuộc người đọc không biết đâu là
Nansha, đâu là Xisha nữa. Nếu ráp hai câu trích
dẫn trên với câu trong quyển Chu Phan Chí đã được
nêu ở đoạn trên: “Phía Đông Hải Nam là Thiên Lý
Trường Sa và Vạn Lý Thạch Đường”, thì Vạn Lý Thạch
Đường có thể là Macclesfield Bank. Tác giả Marwyn
Samuels cũng khẳng định như vậy (xem sách của
Marwyn Samuels, tr. 18 và 19, Reference Note 31).
Một điểm khác
có thể chứng minh Wanlishitang thực ra là
Macclesfield Bank là câu trích trên của quyển
Nguyên Sử: “… thuyền đi qua Qizhou Yang và
Wanlishitang, ngang Jiaozhi (Giao Chỉ) và
Zhangcheng (Quy Nhơn),…”. Nếu theo thứ tự trước
sau trong lộ trình thì Wanlishitang không thể là
Nansha, mà là Macclesfield Bank vì thuyền không
thể đi ngang Nansha trước khi đi ngang qua Giao
Chỉ được. Hơn nữa, đoạn này cho thấy thuyền chỉ đi
qua Quizhou Yang và Wanlishitang, chứ không có chỗ
nào nói là tuần tiễu trên hai đảo Xisha và Nansha
(nếu chấp nhận Qizhou Yang và Wanlishitang là
Xisha và Nansha).[47]
Một đoạn khác
được viện dẫn từ quyển Đảo Di Chí Lược
(Abridged Records of Islands and Barbarians) của
Wang DaYuan mà tác giả giới thiệu là một nhà hàng
hải nổi tiếng thời Nguyên:
“Gốc của Shitang
bắt nguồn từ Chaozhou. Nó ngoằn ngoèo như một con
rắn dài nằm trên biển, vắt ngang biển tới gần
nhiều nước; nó được gọi theo lối bình dân là:
Wanlishitang. Theo sự ước đoán của tôi, nó dưới
10.000 lý… Ta có thể nhận định được những nhánh
của nó. Một nhánh vươn tới vùng Java, một nhánh
Boni và Gulidimen, và một nhánh vươn tới phía tây
của biển về phía Kunlun… Muốn an toàn thì nên
tránh nó, vì đến gần rất nguy hiểm.”[48]
Cả đoạn này
cũng thế, không thấy nói là quân của Trung Hoa đi
tuần tiễu quanh đảo hoặc đi viễn chinh đổ bộ lên
đảo. Ngược lại, quần đảo được tả như là một con
quái vật, có phần ghê gớm và đáng sợ, đáng tránh
xa là đằng khác. Nếu tả một lãnh thổ mà mình xem
như sở hữu của mình thì không bao giờ văn lại xa
lạ như vậy cả.
Trung Quốc cũng
lập luận rằng dưới thời Minh, thế kỷ XV, nhà thám
hiểm Cheng Ho (Trịnh Hoà) đã đi xuyên Biển Đông 7
lần, và khi trở về đã đưa Hoàng Sa và Trường Sa
vào bản đồ.[49]
Tuy nhiên,
những chuyến đi này hoàn toàn không hề có sự chiếm
hữu hai quần đảo nói trên.[50]
Những chuyến đi này không phải là viễn chinh để
chiếm hữu đất mà nhằm thám hiểm biển để biết địa
hải, tìm mối giao thương, và phô trương lực lượng
với các quốc gia trong vùng, chư hầu của Trung Hoa.[51]
Tác giả Samuels
kết luận rằng ngay trong thời ấy các đảo vẫn không
được Trung Hoa chú ý tới.[52]
Để kết luận cho
đoạn “chủ quyền lịch sử của Trung Quốc”, chúng ta
có thể nói rằng những đoạn viết trước thế kỷ XIII
chỉ chứng minh được việc các thuyền của Trung Hoa
có đi lại trên biển Nam Hải. Những tại liệu này
không nói đến một tên đảo nào trong hai quần đảo
cả. Những tài liệu đầu tiên nêu tên đảo là những
tài liệu cuối đời nhà Nguyên và dưới đời nhà Tống
(thế kỷ XIII). Tuy nhiên những tài liệu này nêu
tên Thiên Lý Trường Sa và Vạn Lý Thạch Đường –
không biết có phải là Xisha và Nansha hay không,
nhất là Vạn Lý Thạch Đường – được tả nằm ở phía
đông đảo Hải Nam, thì chắc chắn không phải là
Nansha, mà có thể là Macclesfield Bank. Dù sao,
những tài liệu này cũng chỉ chứng minh các thuyền
của Trung Hoa có đi ngang và tình cờ thấy các đảo
này trên lộ trình xuyên Biển Đông. Không có chữ
nào cho thấy rằng Trung Hoa đã cho tàu đi tuần
tiễu quanh các đảo đó với tư cách là chủ của đảo,
để bảo vệ đảo, như là biên giới của mình. Cũng
không có câu nào chứng minh rằng Trung Hoa đã tổ
chức những cuộc viễn chinh trên hai quần đảo Xisha
và Nansha, mà chỉ nói đến đi trấn an Giao Chỉ,
viễn chinh ở Malaixia, Bornéo, Java.
Theo luật quốc
tế cổ điển thì chỉ nhìn thấy đảo không cần đổ bộ
lên là được chủ quyền trên quyền khám phá. Tuy
nhiên, tiêu chuẩn này áp dụng cho các quốc gia
phương Tây ngày xưa ra đi để khám phá, để tìm đất
mới. Còn Trung Quốc chỉ đi ngang, tình cờ thấy,
sau đó không hề chiếm hữu, không hề xem đảo như là
của mình, để rồi mấy thế kỷ sau, khi quốc gia khác
chiếm, mới cho rằng mình đã khám phá. Trường hợp
như vậy cũng phải đặt câu hỏi là chỉ tình cờ trông
thấy, không hề có ý định chiếm đất thì có thực sự
là quyền khám phá theo nghĩa pháp lý hay không? Có
thể nại quyền khám phá hay không khi thiếu yếu tố
tinh thần là ý chí muốn tìm thấy đất mới và xem nó
thuộc quyền sở hữu của mỉnh? Trường hợp Trung Hoa
là “biết” chứ không phải khám phá.[53]
Đặt giả thuyết
là Trung Hoa có quyền khám phá, thì quyền khám phá
này mới là quyền ban đầu, quyền phôi thai (inchoate
title), bởi vì sau đó Trung Hoa không hề chiếm
hữu đảo, dù là chiếm hữu tượng trưng, không hề đổ
bộ lên đảo, và không hề hành xử chủ quyền. Nói
chung là không hề xem đảo như là của mình. Toà án
quốc tế đã phán quyết nhiều lần rằng quyền khám
phá phải được hoàn tất bởi sự chiếm hữu, trong một
thời gian tương đối, thì mới có hiệu lực.[54]
Giáo sư Marwyn
Samuels đã phân tích thái độ của Trung Hoa thời đó.
Ông cho rằng chính sách của Trung Hoa cuối thời
nhà Minh và thời nhà Thanh, không quan tâm đến
vùng biển ngoài khơi mà chỉ chú tâm đến việc trấn
giữ biên cương nội địa, vùng SinKiang (Tân Cương),
Mông Cổ và biên giới phía bắc, nên lực lượng hải
quân rất kém.[55]
Dưới thời nhà Nguyên, là thời lực lượng hải quân
hùng mạnh (thế kỷ XIV), Trung Hoa cũng vẫn không
quan tâm đến những đảo ngoài khơi biển Đông, và
không có ý định chiếm hữu chúng.[56]
Ngược lại, các thuyền bè còn sợ chúng và tránh
không dám đến gần vì sợ đá ngầm và nước cạn đã
từng làm đắm bao nhiêu tàu của các nước khác. Các
thuỷ thủ Trung Hoa thời đó đã có câu tục ngữ
truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác: “Trên đường
đi ra thì sợ Thất Châu (tức là Thất Châu Dương mà
Trung Quốc bây giờ cho là Xisha), trên đường đi về
thì hãi Côn Lôn.”[57]
Với tâm lý thời
đó như vậy làm sao Trung Hoa có thể xem đảo như sở
hữu chủ nhằm viễn chinh và tuần tiễu quanh đảo
nhằm bảo vệ đảo được? Điều này được kiểm chứng bởi
những thái độ im lặng không phản đối sự hành xử
chủ quyền của Việt Nam, mặc dù Trung Hoa biết đến
những hoạt động của Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải.
Nó cũng được kiểm chứng bởi vụ đắm tàu La Bellona
và Imeji Maru (xem mục I của bài này). Tất cả
những dữ kiện trên cho thấy Trung Hoa không những
không hành xử chủ quyền, không xem những quần đảo
như của Trung Hoa, mà lại còn minh thị và mặc thị
công nhận chủ quyền của Việt Nam.
2. Hiệp
ước 1887
Trung Hoa ngày
xưa đã viện dẫn Hiệp ước Pháp – Thanh ký năm 1887
để khẳng định rằng Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về
mình. Sau này, phát ngôn viên của Trung Quốc và
các tác giả Trung Quốc đều nhiều lần dùng Hiệp ước
này để khẳng định Hoàng Sa thuộc về Trung Quốc.
Thực sự, Hiệp
ước này không phải là hiệp ước phân chia những đảo
ở ngoài xa khơi (high sea) giữa toàn bộ
nước Việt Nam và Trung Hoa mà chỉ ấn định biên
giới giữa miền Bắc Việt Nam và Trung Hoa. Ngày
nay, trong những cuộc đàm phán, Trung Quốc không
nhắc đến Hiệp ước này nữa. Nhưng cho đến hiện tại,
không ít các tác giả mà phần lớn là những tác giả
Trung Hoa sống ở nước ngoài viết về vấn đề này,
vẫn viện dẫn Hiệp ước 1887 như một trong những lý
lẽ chính để chứng minh là hai quần đảo thuộc về
Trung Quốc. Và một số các tác giả phương Tây, có
lẽ vì ảnh hưởng dây chuyền, dùng những bài viết
trên, nên cũng kết luận là Hiệp ước này trao cho
Trung Hoa chủ quyền trên các đảo tranh chấp.[58]
Vì vậy, thiết tưởng cũng nên làm sáng tỏ sự lầm
lẫn này, vì ảnh hưởng dây chuyền của nó trong dư
luận thế giới.
Một số tác giả
trên đã trích đoạn sau đây của Hiệp ước để khẳng
định chủ quyền của Trung Quốc.
“Từ Quảng Đông,
những điểm tranh chấp nằm từ phía đông đến phía
tây bắc của Móng Cái, ngoài biên giới đã được hai
phái bộ xác định, có thể coi là thuộc về Trung
Quốc. Những hòn đảo nằm ở phía đông dọc đường kinh
tuyến đông 105°43’
của Paris, có nghĩa là trục bắc-nam đi qua điểm
phía đông của đảo Tch’a Kou hay Ouan-Chan (Trà Cổ)
và làm thành đường biên giới, cũng thuộc về Trung
Quốc. Các đảo Go-tho và các đảo khác nằm phía tây
của đường kinh tuyến thuộc về An Nam.”
Các tác giả
trên lý luận rằng vì Hoàng Sa và Trường Sa nằm ở
phía đông kinh tuyến Paris 105°43’
nên thuộc về Trung Quốc.[59]
Có tác giả cho
rằng phải giải thích Hiệp ước theo sát nghĩa lời
văn trong Hiệp ước.[60]
Thực ra, nếu giải thích sát nghĩa, thì phải hiểu
Hiệp ước 1887 là một hiệp ước phân chia biên giới
giữa miền Bắc Việt Nam và Trung Hoa mà thôi, chứ
không phải chia các đảo ở ngoài xa khơi (high
sea, haute mer), không thuộc vùng biển của
miền Bắc Việt Nam. Chỉ cần nhìn tên của Hiệp ước
cũng đủ để thấy điều đó. Tên Hiệp ước là “Convention
relative à la delimitation de la frontière entre
la Chine et
le Tonkin.”[61]
Hơn nữa, Công
ước Vienne về điều ước quốc tế có ấn định rằng một
hiệp ước phải được giải thích sát nghĩa những từ
được dùng trong hiệp ước, nhưng nếu phương pháp
này đưa đến một sự “vô lý hay ngu xuẩn”, thì có
thể dùng những tài liệu hoặc hiệp ước khác, có
liên quan đến hiệp ước này, hoặc tìm hiểu mục đích
của hiệp ước để giải thích những điểm không rõ rệt.[62]
Dựa vào những
điều khoản trên của Công ước Vienne, chúng ta có
thể xét Hiệp ước 1887 theo ba phương pháp: 1) xét
sát nghĩa lời văn của Hiệp ước, 2) xét toàn thể
bản Hiệp ước, và 3) tìm hiểu mục đích của Hiệp ước.
2.1.
Xét sát nghĩa
lời văn bản Hiệp ước
Việc này thật
ra rất đơn giản trong trường hợp Hiệp ước 1887,
như đã nói trên, chỉ cần nhìn tên của Hiệp ước
trên bản chính bằng tiếng Pháp, cũng đủ thấy Hiệp
ước này chỉ liên quan đến biên giới giữa miền Bắc
Việt Nam và Trung Hoa. Tiếng Pháp “Tonkin” là miền
Bắc Việt Nam. Trong thời thuộc địa, Pháp đã chia
Việt Nam ra làm ba kỳ: miền Bắc gọi là Tonkin,
miền Trung gọi là An Nam hoặc vẫn giữ tên của cả
nước Việt Nam, và miền Nam gọi là Cochinchine. Các
tác giả nêu trên tưởng rằng Tonkin là toàn thể
nước Việt Nam.
Chữ “frontière”
dùng trong Điều 2 của Hiệp ước cho thấy rõ
ràng là kinh tuyến Paris 105°43’
là biên giới biển, nhưng chỉ là biên giới biển
thuộc miền Bắc Việt Nam (Tonkin), chứ không phải
là đường phân chia các đảo ngoài khơi xa, ngang
với miền Trung Việt Nam và miền Nam Việt Nam. Hiệp
ước đã ấn định rõ chiều hướng của biên giới đó là
hướng bắc nam, và nó kéo ngang góc đông của đảo
Trà Cổ. Và vì đây là biên giới giữa Tonkin và
Trung Hoa nên phải hiểu biên giới này chấm dứt ở
điểm nào ngang với ranh giới mà trước kia Pháp đã
ấn định giữa Tonkin và Annam (tức là ranh giới
giữa miền Bắc Việt Nam và miền Trung Việt Nam).
Việc ấn định
biên giới giữa miền Bắc Việt Nam và Trung Hoa cũng
dễ hiểu nếu nhìn vào cách Pháp chia và quản trị
nước Việt Nam thời đó. Nhằm thực hiện chính sách
“chia để trị”, Pháp đã chia Việt Nam thành ba kỳ
với ba chế độ cai trị khác nhau. Miền Bắc theo chế
độ bảo hộ, miền Trung – vì hệ thống vua và triều
đình Huế vẫn còn (dù chỉ là tượng trưng) – nên
theo chế độ tự trị, và miền Nam thì theo chế độ
thuộc địa. Ba miền được xem gần như ba xứ riêng
biệt. Vì vậy, vấn đề ấn định biên giới chỉ là giữa
Tonkin (miền Bắc) và Trung Hoa mà thôi, chứ không
phải miền Trung hoặc miền Nam, là chuyện dễ hiểu
đối với chính sách thuộc địa của Pháp thời đó. Nói
tóm lại, dùng phương pháp giải thích sát nghĩa cho
thấy hai chữ “Tonkin” và “frontière”
chỉ rõ đây là biên giới giữa miền Bắc Việt Nam và
Trung Hoa. Nó bao gồm biên giới đất và biên giới
biển tức là vùng Vịnh Bắc Bộ.[63]
2.2.
Xét toàn bộ
bản Hiệp ước
Toàn bộ bản Hiệp ước không có chỗ nào nói đến
Hoàng Sa và Trường Sa. Toàn văn bản Hiệp ước nói
đến việc kẻ biên giới giữa miền Bắc Việt Nam và
Trung Hoa, và ấn định những điểm mà Uỷ ban kẻ biên
giới của hai bên Pháp-Thanh không đồng ý với nhau
được, đó là hai đoạn biên giới Vân Nam và Quảng
Đông.
Các tác giả
nói trên chỉ viện dẫn đoạn liên quan tới đoạn biên
giới Quảng Đông. Tuy nhiên, trước đó, Hiệp ước có
nói: “Những điểm mà Uỷ ban hai bên không đồng ý
với nhau được, và những điều chỉnh được dự trù ở
Điều 3 của Hiệp ước 9-6-1885 được ấn định như sau:
ở Quảng Đông, những điểm tranh chấp…”.
Sau đoạn nói
đến biên giới Quảng Đông, tới đoạn ấn định biên
giới Vân Nam: “Trên vùng biên giới Vân Nam, đường
biên giới được ấn định như sau:…”[64]
Nếu theo sự
giải thích của Trung Hoa, là tất cả những đảo nào
nằm ở phía đông của kinh tuyến Paris 105°43’
thuộc về Trung Hoa, thì không những Hoàng Sa,
Trường Sa, mà tất cả các đảo ven bờ biển Việt Nam
nằm ở phía đông của kinh tuyến Paris 105°43’
đều thuộc về Trung Quốc. Sự giải thích đưa đến một
kết luận “vô lý hoặc ngu xuẩn” (absurd or
unreasonable) theo đúng như danh từ mà Công
ước Vienne dùng. Do đó, chúng ta có thể tìm hiểu
mục đích của Hiệp ước 1887 bằng cách xét các tài
liệu và các hiệp ước liên quan đến Hiệp ước 1887.
2.3.
Mục đích của
Hiệp ước 1887
Nếu đọc bản
báo cáo của ông Dureau de Vaulcomte gửi cho Bộ
Ngoại giao Pháp giải thích Hiệp ước 1887, chúng ta
càng thấy rõ hơn mục đích của Hiệp ước là kẻ hai
đoạn tranh chấp của biên giới miền Bắc Việt Nam và
Trung Hoa.[65]
Hiệp ước 1887 được ký thể theo Điều 3 của Hiệp ước
1885 là một hiệp ước hữu nghị nhằm chấm dứt sự
xung đột giữa hai bên Pháp – Thanh. Sau khi Pháp
đưa quân đến Việt Nam thì ba Tổng đốc: Quảng Đông,
Quảng Tây và Vân Nam cho quân vượt biên giới giữa
Bắc Việt Nam và Trung Hoa. Vì vậy, để chấm dứt
tình trạng này và vãn hồi lại biên giới cũ, Pháp
đã thoả thuận với Trung Hoa ở Điều 3 của Hiệp ước
1885, là hai bên sẽ lập một Uỷ ban kẻ biên giới
gồm chuyên viên của cả hai bên để kẻ lại biên giới.
Hiệp ước 1885 cũng ấn định là nếu có điểm bất đồng
giữa chuyên viên của hai bên về bất cứ điểm nào
liên quan đến việc kẻ biên giới thì Uỷ ban này sẽ
chuyển vấn đề sang cho chính quyền hai bên xét xử.[66]
Biên giới được kẻ chia ra làm ba đoạn: đoạn biên
giới Quảng Tây, đoạn biên giới Quảng Đông, và đoạn
biên giới Vân Nam. Việc ấn định đoạn Quảng Tây
không gặp rắc rối gì, nhưng hai bên không thoả
thuận được trong việc kẻ hai đoạn biên giới Quảng
Đông và Vân Nam. Từ đó mới có Hiệp ước 1887 do hai
chính quyền ký để giải quyết hai đoạn biên giới
trên.
Tại Quảng Đông,
sự bất đồng liên quan đến vùng Paklung (Bạch Long)
và những đảo quanh đó. Vì có quân thổ phỉ từ Trung
Hoa sang tập trung ở vùng này, nên Pháp đã đưa
quân đến chiếm đóng. Trung Hoa phản đối, đòi vùng
này là vùng của Trung Hoa. Do đó, mới xảy ra sự
tranh chấp.[67]
Như vậy, sự
tranh chấp không liên quan đến Hoàng Sa và Trường
Sa. Lúc đó, Trung Hoa chưa để ý đến hai quần đảo
này, và Pháp cũng chưa biết rằng Việt Nam đã có
chủ quyền trên hai quần đảo đó. Vì thế lúc đó chưa
hề có tranh chấp trên hai quần đảo này. Cho nên,
Pháp và Trung Hoa khi ký kết Hiệp ước 1887 không
hề nghĩ đến hai quần đảo này. Tóm lại, mục đích
của Hiệp ước 1887 là kẻ hai đoạn biên giới Quảng
Đông và Vân Nam; và đường biên giới kẻ theo Điều 2
của Hiệp ước 1887 chỉ giới hạn ở biên giới miền
Bắc Việt Nam và Vịnh Bắc Bộ mà thôi.
Trung Quốc một
mặt nói rằng Hiệp ước 1887 áp dụng cho Hoàng Sa và
Trường Sa, là những đảo nằm ngoài khơi xa, nhưng
mặt khác, khi bàn về biên giới vùng Bắc Bộ thì
Trung Quốc lại khẳng định rằng Hiệp ước này chỉ
phân chia “những đảo ở vùng Bắc Bộ”, chứ không
phải là biên giới biển. Ngày 12 tháng 5 năm 1973,
Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hàn Niệm Long
(Han Nian Long) đã tuyên bố điều nói trên. Như vậy,
Trung Quốc tự mâu thuẫn.[68]
3. Những
lời tuyên bố của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Trung Quốc nói rằng Việt Nam đã công nhận chủ
quyền của Trung Quốc trên quần đảo Hoàng Sa vì
những dữ kiện sau đây:
· Ngày
15 tháng 6 năm 1956, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao
của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nói rằng “theo
những tài liệu của Việt Nam, trên phương diện
lịch sử, Xisha và Nansha thuộc lãnh thổ của
Trung Quốc.”
· Ngày
14 thágn 9 năm 1958, trong bối cảnh của thời kỳ
chiến tranh lạnh, khi Mỹ bắt đầu can thiệp vào
Việt Nam, tuyên chiến với Trung Quốc, và hạm đội
Mỹ đi lại tuần tiễu trên eo biển Đài Loan, Trung
Quốc bèn tuyên bố lãnh hải của mình là 12 dặm.
Nhân dịp này, Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi bức
công hàm cho Thủ tướng Chu Ân Lai nguyên văn như
sau:
“Thưa đồng
chí Tổng lý
Chúng tôi
xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ:
Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi
nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958
của Chính phủ nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa
quyết định về hải phận của Trung Quốc.
Chính phủ
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết
định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước
có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12
hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với
nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa trên mặt bể.
Chúng tôi
xin gửi đồng chí Tổng lý lời chào trân trọng”.[69]
· Ngày
9 tháng 5 năm 1965, nhân lúc Mỹ leo thang chiến
tranh tại Việt Nam và ấn định những vùng chiến
thuật, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tuyên bố
Xisha thuộc chủ quyền của Trung Quốc.
Những lời
tuyên bố trên không có hiệu lực vì trước năm 1975,
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không quản lý những đảo
này. Lúc đó, những đảo này nằm dưới sự quản lý của
Việt Nam Cộng hoà; mà các chính phủ Việt Nam Cộng
hoà luôn luôn khẳng định chủ quyền của Việt Nam
trên hai quần đảo. Còn Chính phủ Cách mạng Lâm
thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam cũng không tuyên
bố điều gì có thể làm hại đến chủ quyền này cả.
Tác giả Monique Chemillier-Gendreau đã viết như
sau:
“Dans ce
contexte, les declarations ou prise de position
éventuelles des autorités du Nord Vietnam sont
sans consequences sur le titre de souveraineté. Il
ne s’agit pas du gouvernement territorialement
competent à l’égard des archipels. On ne peut
renoncer à ce sur quoi on n’a pas d’autorité…”[70]
(Có thể dịch
là: “Trong những điều kiện này, những lời tuyên bố
hoặc lập trường nào đó của chính quyền miền Bắc
Việt Nam không có hiệu lực gì đối với chủ quyền.
Đây không phải là chính quyền có thẩm quyền trên
quần đảo này. Người ta không thể chuyển nhượng
những gì người ta không kiểm soát được…”).
Một lý lẽ thứ
hai nữa là đứng trên phương diện thuần pháp lý,
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lúc đó không phải
là một quốc gia trong cuộc tranh chấp. Trước năm
1975, các quốc gia và lãnh thổ tranh chấp gồm:
Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam Cộng hoà và
Philippin. Như vậy, những lời tuyên bố của Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa xem như lời tuyên bố của một
quốc gia thứ ba không có ảnh hưởng đến vụ tranh
chấp.
Nếu đặt giả
thuyết Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là một thì dựa trên luật
quốc tế, những lời tuyên bố đó cũng không có hiệu
lực. Tuy nhiên, có tác giả đã nêu thuyết “estoppel”
để khẳng định những lời tuyên bố đó có hiệu lực bó
buộc đối với Việt Nam, và Việt Nam bây giờ không
có quyền nói ngược lại.[71]
Theo luật quốc
tế, không có một văn bản pháp lý nào có thể gắn
cho những lời tuyên bố đơn phương một tính chất bó
buộc, ngoại trừ thuyết “estoppel”. Điều 38
Quy chế Toà án Quốc tế không liệt kê những lời
tuyên bố đơn phương trong danh sách những nguồn
gốc của luật pháp quốc tế. Estoppel là một nguyên
tắc theo đó một quốc gia không có quyền nói hoặc
hoạt động ngược lại với những gì mình đã nói hoặc
hoạt động trước kia. Câu tục ngữ thường dùng để
định nghĩa nó là “one cannot at the same time
blow hot and cold.”[72]
Nhưng thuyết estoppel không có nghĩa là cứ tuyên
bố một điều gì đó thì quốc gia tuyên bố phải bị
ràng buộc bởi lời tuyên bố đó.
Thuyết estoppel
bắt nguồn từ hệ thống luật quốc nội của Anh, được
thâu nhập vào luật quốc tế. Mục đích chính của nó
ngăn chặn trường hợp một quốc gia có thể hưởng lợi
vì những thái độ bất nhất của mình, và do đó, gây
thiệt hại cho quốc gia khác.[73]
Vì vậy, estoppel phải hội đủ các điều kiện chính:
1. Lời
tuyên bố hoặc hành động phải do một người hoặc cơ
quan đại diện cho quốc gia phát biểu, và phải được
phát biểu một cách minh bạch (clair et non
equivoque).[74]
2. Quốc
gia nại “estoppel” phải chứng minh rằng mình đã
dựa trên những lời tuyên bố hoặc hoạt động của
quốc gia kia, mà có những hoạt động nào đó, hoặc
không hoạt động. Yếu tố này trong luật quốc nội
Anh-Mỹ gọi là “reliance”.
3. Quốc
gia nại “estoppel” cũng phải chứng minh rằng, vì
dựa vào lời tuyên bố của quốc gia kia, mình đã bị
thiệt hại, hoặc quốc gia kia đã hưởng lợi khi phát
biểu lời tuyên bố đó.[75]
4. Nhiều
bản án còn đòi hỏi lời tuyên bố hoặc hoạt động
phải được phát biểu một cách liên tục và trường kỳ.
Thí dụ: bản án “Phân định biển trong vùng Vịnh
Maine”, bản án “Những hoạt động quân sự và bán
quân sự tại Nicaragua”, bản án “Ngôi đền Preah
Vihear”,…[76]
Ngoài ra, nếu
lời tuyên bố đơn phương có tính chất một lời hứa,
nghĩa là quốc gia tuyên bố mình sẽ làm hoặc không
làm một việc gì, thì quốc gia phải thực sự có ý
định muốn bị ràng buộc bởi lời hứa đó, thực sự
muốn thi hành lời hứa đó.[77]
Thuyết
estoppel với những điều kiện trên đã được án lệ
quốc tế áp dụng rất nhiều. Trong bản án “Thềm lục
địa vùng Biển Bắc” giữa Cộng hòa Liên bang Đức và
Đan Mạch/Hà Lan, Toà án quốc tế đã phán quyết rằng
estoppel không áp dụng cho Cộng hòa Liên bang Đức,
mặc dù quốc gia này đã có những lời tuyên bố trong
quá khứ nhằm công nhận nội dung của Công ước
Genève 1958 về thềm lục địa, vì Đan Mạch và Hà Lan
đã không bị thiệt hại khi dựa vào những lời tuyên
bố đó.
Trong bản án
“Những hoạt động quân sự và bán quân sự tại
Nicaragua” giữa Nicaragua và Mỹ, Toà đã phán quyết
như sau: “… ‘Estoppel’ có thể được suy diễn từ một
thái độ, những lời tuyên bố của một quốc gia, nhằm
chấp nhận một tình trạng nào đó; thái độ hoặc lời
tuyên bố không những phải được phát biểu một cách
rõ rệt và liên tục, mà còn phải khiến cho một hoặc
nhiều quốc gia khác dựa vào đó mà thay đổi hoạt
động, và do đó phải chịu thiệt hại”.[78]
Áp dụng những
nguyên tắc trên của estoppel vào những lời tuyên
bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chúng ta thấy
thiếu điều kiện 2/ và 3/ đã nêu ở trên. Năm 1956,
năm 1958 và năm 1965, Trung Quốc đã không có thái
độ nào, hoặc thay đổi thái độ vì dựa vào lời tuyên
bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Và Trung Quốc
cũng không thể chứng minh được rằng mình bị thiệt
hại gì do dựa vào những lời tuyên bố đó. Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa cũng không được hưởng lợi gì khi
có những lời tuyên bố đó. Lúc đó hai dân tộc Việt
Nam và Trung Hoa rất thân thiện, “vừa là đồng
chí, vừa là anh em”. Những lời tuyên bố của
Thủ tướng Phạm Văn Đồng hoàn toàn do tình hữu nghị
Hoa-Việt.[79]
Hơn nữa, lời văn của bản tuyên bố không hề nói rõ
ràng minh bạch là công nhận chủ quyền của Trung
Quốc trên Hoàng Sa. Bức công hàm chỉ nói: “Chính
phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết
định ấy (quyết định ấn định lãnh hải 12 dặm của
Trung Quốc), và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà
nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12
hải lý của Trung Quốc…”.
Lời tuyên bố
của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng có thể hiểu là
một lời hứa đơn phương, một lời tuyên bố ý định sẽ
làm một việc gì (declaration d’intention).
Thật vậy, đây là một lời hứa sẽ tôn trọng quyết
định của Trung Quốc trong việc ấn định lãnh hải
của Trung Quốc, và một lời hứa sẽ ra lệnh cho cơ
quan công quyền của mình tôn trọng lãnh hải đó của
Trung Quốc.
Một lời hứa
thì lại càng khó ràng buộc quốc gia đã hứa. Toà án
Quốc tế đã ra thêm một điều kiện nữa để ràng buộc
một lời hứa: đó là ý chí thực sự của một
quốc gia đã hứa. Nghĩa là quốc gia đó có thực sự
muốn bị ràng buộc bởi lời hứa của mình hay không.
Để xác định yếu tố “ý chí” (intention de se
lier), Toà xét tất cả những dữ kiện xung quanh
lời tuyên bố đó, xem nó đã được phát biểu trong
bối cảnh, trong những điều kiện nào (circonstances).
Hơn nữa, nếu thấy quốc gia đó có thể tự ràng buộc
mình bằng cách ký thoả ước với quốc gia kia, thì
lời tuyên bố đó là thừa, và Toà sẽ kết luận là
quốc gia phát biểu không thực tình có ý muốn bị
ràng buộc khi phát biểu lời tuyên bố đó. Vì vậy,
lời tuyên bố đó không có tính chất ràng buộc.
Trong bản án
“Những cuộc thí nghiệm nguyên tử” giữa Úc/Tân Tây
Lan và Pháp, Pháp đã tuyên bố là sẽ ngừng thí
nghiệm nguyên tử. Toà án đã phán quyết rằng Pháp
bị ràng buộc bởi lời hứa vì Pháp thực sự có ý muốn
bị ràng buộc bởi lời hứa đó.[80]
Trong trường
hợp Việt Nam, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, khi tuyên
bố sẽ tôn trọng lãnh hải của Trung Quốc, không hề
có ý định nói đến vấn đề chủ quyền trên Hoàng Sa
và Trường Sa. Ông đã phát biểu những lời tuyên bố
trên trong tình trạng khẩn trương, chiến tranh với
Mỹ bắt đầu leo thang, Hạm đội 7 của Mỹ hoạt động
trên eo biển Đài Loan và đe doạ Trung Quốc. Ông đã
phải lập tức lên tiếng để ủng hộ Trung Quốc nhằm
gây một lực lượng chống đối lại với mối đe doạ của
Mỹ.[81]
Lời tuyên bố
năm 1965 của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
cũng như vậy. Động lực của lời tuyên bố đó là tình
trạng khẩn trương, nguy ngập ở Việt Nam. Đây là
những lời tuyên bố có tính chính trị, chứ không
phải pháp lý.
Nếu xét yếu tố
liên tục và trường kỳ thì ba lời tuyên bố của Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa cũng không hội đủ tiêu chuẩn
này. Estoppel chỉ đặt ra nếu chấp nhận giả thuyết
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là một; và cả Pháp trong thời kỳ
thuộc địa, và Việt Nam Cộng hoà trước năm 1975
cũng là một đối với Việt Nam hiện thời. Nếu xem
như Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia
riêng biệt với Việt Nam hiện thời, thì estoppel
không áp dụng, vì như đã nói ở trên, lời tuyên bố
sẽ được xem như lời tuyên bố của một quốc gia
không có quyền kiểm soát trên lãnh thổ tranh chấp.
Như vậy, nếu xem Việt Nam nói chung như một chủ
thể duy nhất từ xưa đến nay, thì ba lời tuyên bố
của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ là một sự phát
biểu có ý nghĩa chính trị trong đoản kỳ thời chiến,
so với lập trường và thái độ của Việt Nam nói
chung từ thế kỷ XVII đến nay.
Tóm lại, những
lời tuyên bố mà chúng ta đang phân tích thiếu
nhiều yếu tố để có thể áp dụng thuyết estoppel.
Yếu tố “reliance” (tức là quốc gia kia có dựa vào
lời tuyên bố của quốc gia này mà bị thiệt hại), và
yếu tố “ý chí” (tức là quốc gia phát biểu lời hứa
có ý muốn bị ràng buộc bởi lời hứa đó) rất quan
trọng. Không có “reliance” để giới hạn sự áp dụng
của estoppel thì các quốc gia sẽ bị cản trở trong
việc hoạch định chính sách ngoại giao. Các quốc
gia sẽ phải tự ép buộc cố thủ trong những chính
sách ngoại giao lỗi thời.[82]
Khi điều kiện chung quanh thay đổi, chính sách
ngoại giao của quốc gia kia thay đổi, thì chính
sách ngoại giao của quốc gia này cũng phải thay
đổi. Các quốc gia đổi bạn thành thù và đổi thù
thành bạn là chuyện thường.
Còn những lời
hứa đơn phương trong đó quốc gia không thật tình
có ý muốn bị ràng buộc, thì nó chẳng khác gì những
lời hứa vô tội vạ, những lời hứa suông của các
chính khách, các ứng cử viên trong cuộc tranh cử.[83]
Trong môi trường quốc tế, nguyên tắc “chủ quyền
quốc gia” (état souverain) rất quan trọng.
Ngoại trừ tục lệ quốc tế và những điều luật của
Jus Congens, không có luật nào ràng buộc quốc
gia ngoài ý muốn của mình, khi mà quốc gia này
không gây thiệt hại cho quốc gia nào khác. Vì vậy
ý chí của quốc gia đóng một vai trò quan trọng
trong việc quyết định tính chất ràng buộc của một
lời hứa đơn phương.
III. KẾT LUẬN
Những phân tích
trên cho thấy lý lẽ của Việt Nam mạnh hơn của
Trung Quốc, vì Việt Nam đã sử dụng hai quần đảo
liên tục trong ba thế kỷ, sử dụng một cách hoà
bình không có sự phản đối của bất cứ một quốc gia
nào, kể cả Trung Quốc. Không những thế, sách sử
của Trung Quốc lại còn công nhận rằng những quần
đảo đó là vòng đai phòng thủ của Việt Nam, và qua
thái độ của họ trong thời gian đó thì Trung Quốc
cũng đã mặc thị công nhận chủ quyền của Việt Nam
trên những quần đảo này. Nếu cho rằng Chúa Nguyễn
đã khai thác các đảo từ đầu thế kỷ XVII, sau gần
100 năm, chủ quyền lịch sử của Việt Nam đã hoàn
tất. Chủ quyền lịch sử đó lại được củng cố thêm
qua sự chiếm hữu của vua Gia Long và Minh Mạng.
Đồng thời, chủ quyền vẫn được hành xử liên tục qua
sự khai thác và quản trị của hai Đội Hoàng Sa và
Bắc Hải, là những bộ phận của nhà nước.
Phía Trung Quốc
cũng đã đưa ra những tài liệu để chứng minh rằng
mình đã khám phá và hành xử chủ quyền trước tiên.
Tuy nhiên, những tài liệu này chỉ cho thấy những
thuyền bè của Trung Quốc thời đó đã lui tới Biển
Đông, và trong lộ trình, họ tình cờ thấy những đảo
mang nhiều tên khác nhau, nhưng không có đảo nào
tên là Xisha hay Nansha. Nếu đặt giả thuyết là
Trung Quốc đã khám phá ra những đảo này, thì Trung
Quốc đã không hành xử chủ quyền trên đó. Sự hiện
diện của những người đánh cá không đủ để gọi rằng
đó là hành xử chủ quyền của nhà nước. Do đó, chủ
quyền lịch sử mà Trung Quốc khẳng định mình có,
rất yếu. Phần lớn các tác giả luật gia chuyên về
luật quốc tế, trừ những tác giả Trung Hoa, đều
công nhận điều này.[84]
So sánh chủ quyền lịch sử viện dẫn bởi hai bên,
chúng ta có thể kết luận rằng giữa Việt Nam và
Trung Quốc thì Việt Nam mới là quốc gia có chủ
quyền lịch sử trên hai quần đảo. Phân tích còn cho
thấy chủ quyền lịch sử của Việt Nam đã được hoàn
tất từ thế kỷ XVII, dưới thời Chúa Nguyễn.
Hiệp ước
Pháp-Thanh 1887 không trao chủ quyền trên hai quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc vì Hiệp
ước này chỉ là hiệp ước ấn định biên giới giữa
miền Bắc Việt Nam và Trung Hoa. Do đó, nó chỉ ấn
định phần biên giới ở Vân Nam, Quảng Đông và Vịnh
Bắc Bộ.
Những lời tuyên
bố trước đây của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về hai
quần đảo này không có hiệu lực vì trước năm 1975
hai quần đảo này không thuộc quyền kiểm soát của
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mà thuộc quyền kiểm
soát của Việt Nam Cộng hoà. Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa lúc đó không phải là quốc gia tranh chấp, nên
những lời tuyên bố này chỉ là những lời tuyên bố
của một quốc gia thứ ba không liên can. Hơn nữa,
lúc đó nếu không chấp nhận rằng Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa là một quốc gia thứ ba, thì “estoppel”
cũng không áp dụng trong những trường hợp này, vì
Trung Quốc đã không bị thiệt hại gì, và Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa cũng không hưởng lợi gì qua những
lời tuyên bố đó. Lời tuyên bố của Thủ tướng Phạm
Văn Đồng chỉ là một lời hứa bị tác động bởi hoàn
cảnh chiến tranh. Cuối cùng, nếu xem ba lời tuyên
bố này như là của Việt Nam nói chung, thì nó thiếu
tính liên tục và trường kỳ để có thể làm mất đi
chủ quyền của Việt Nam, với tư cách là một chủ thể
duy nhất, đã hành xử và khẳng định quyết liệt từ
hơn ba thế kỷ nay.
Trên thực tế
thì hiện nay, Trung Quốc đã kiểm soát toàn bộ quần
đảo Hoàng Sa. Trung Quốc đã cho xây cất nhiều công
trình nhằm củng cố sự chiếm hữu bất hợp pháp. Một
sự chiếm hữu bất hợp pháp, với thời gian, nếu
không có sự phản đối từ quốc gia kia, và nếu có sự
thừa nhận của các quốc gia thứ ba, sẽ tạo nên chủ
quyền cho quốc gia chiếm hữu. Vì thời gian với sự
công nhận sẽ “tẩy xoá tội lỗi”.[85]
Trong hoàn
cảnh hiện tại, muốn bảo đảm cho sự chiếm hữu của
Trung Quốc không thể tạo ra chủ quyền được, thì
Việt Nam phải thường xuyên lên tiếng phản đối và
khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa (và cả
Trường Sa nữa). Việt Nam cũng nên công khai đề
nghị Trung Quốc đưa vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa
ra trước Toà án Quốc tế. Nếu Trung Quốc thật tình
tin tưởng rằng mình có căn bản pháp lý vững chắc
để khẳng định chủ quyền trên hai quần đảo này, thì
Trung Quốc không có lý do gì để từ chối một giải
pháp pháp lý.
Còn Trường Sa
thì hiện nay đang bị 6 quốc gia và vùng lãnh thổ
chiếm giữ là: Philippin, Việt Nam, Đài Loan, Trung
Quốc, Malaxia và Brunây. Quốc gia nào cũng đòi chủ
quyền của mình trên hết cả quần đảo hoặc một số
đảo. Đến nay, vấn đề vẫn chưa giải quyết được mà
còn trầm trọng thêm.
Năm 1988,
Trung Quốc lần đầu tiên ra đánh chiếm một số đảo ở
Trường Sa, tàu của Việt Nam bị đánh đắm, nhưng
Trung Quốc chặn không cho tàu của Hội Chữ thập đỏ
đến cứu. Đây là một sự vi phạm những điều luật cơ
bản nhất của chiến tranh. Như vậy, có thể suy đoán
Trung Quốc sẽ không ngần ngại gì mà không tiếp tục
sử dụng vũ lực. Từ đó đến nay, lâu lâu, Trung Quốc
lại chiếm thêm vài đảo ở quần đảo Trường Sa. Trung
Quốc một mặt vẫn hô hào tôn trọng luật quốc tế, và
đề nghị thương thuyết song phương, nhưng lời nói
của Trung Quốc không đi đôi với việc làm.[86]
Vì vậy, không thể dựa vào những lời nói của Trung
Quốc để kết luận rằng Trung Quốc sẽ ngừng không
dùng vũ lực. Viễn tưởng Trung Quốc dùng biện pháp
vũ lực để thôn tính hết các đảo tại quần đảo
Trường Sa càng dễ xảy ra hơn, khi mà Mỹ và Nga đã
rút khỏi Biển Đông, để lại một khoảng trống chính
trị và quân sự tại vùng này, khiến cho Trung Quốc
hiện nay là một quốc gia bá chủ ở Biển Đông.[87]
Điều này rất đáng lo ngại. Trung Quốc nắm hết cả
hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là nắm hết Biển
Đông, mà Biển Đông là con đường giao thông quan
trọng của các thuyền bè Nga, Mỹ, Nhật Bản và các
quốc gia khác trên thế giới.[88]
Một giải pháp
thương thuyết song phương giữa Trung Quốc và các
quốc gia và lãnh thổ tranh chấp khó thực hiện được
một cách công bằng, vì sức mạnh để thương thuyết
giữa hai bên không bằng nhau, nó chênh lệch và
mạnh dĩ nhiên là Trung Quốc. Cũng vì vậy mà Trung
Quốc cho đến nay chỉ chấp nhận thương thuyết song
phương. Trung Quốc muốn thương thuyết song phương
để buộc quốc gia đối phương phải thương thuyết
theo chiều mà Trung Quốc muốn. Nếu không Trung
Quốc sẽ sử dụng vũ lực.[89]
Đây chỉ là một chiến thuật để Trung Quốc tranh thủ
thời gian để củng cố thêm thế của mình đối với hai
quần đảo. Thời gian càng kéo dài thì càng có lợi
cho Trung Quốc.
Giải pháp khai
thác chung mà Trung Quốc đề nghị không thể thực
hiện được khi mà vấn đề chủ quyền chưa được giải
quyết. Như vậy, thời gian càng kéo dài thì lại
càng củng cố được những sự chiếm hữu bất hợp pháp,
và quốc gia nào có chủ quyền pháp lý vững vàng sẽ
bị thiệt thòi.
Giải pháp đưa
ra Toà án Quốc tế hoặc Trọng tài Quốc tế có lẽ
công bằng nhất, nhưng Trung Hoa ngày xưa đã hơn
một lần phủ nhận giải pháp này, khi Pháp đề nghị
vào năm 1932 và năm 1947. Đối với Trung Quốc bây
giờ thì lại càng khó hơn nữa.
Giải pháp hiện
thời, thực tiễn nhất là đem ra khối ASEAN hoặc
Liên hợp quốc để giải quyết. Liên hợp quốc là giải
pháp có thể hữu hiệu hơn, vì đem ra cơ quan này có
tính cách khoáng đại, cho phép Mỹ, Nga, Nhật Bản
và các quốc gia khác tham dự vào. Hơn nữa, trường
hợp Liên hợp quốc không giải quyết được, hoặc nếu
có vấn đề trong việc giải quyết, Liên hợp quốc vẫn
có quyền đem vấn đề ra Toà án quốc tế và yêu cầu
Toà cho ý kiến (avis consultatif) mà không
cần sự đồng ý của bất cứ quốc gia nào. “Thủ tục
cho ý kiến” của Toà án Quốc tế không có hiệu lực
quyết định như một bản án thực sự, nhưng nó vẫn có
một tác động mạnh mẽ trong dư luận thế giới. Vụ
tranh chấp vùng Tây Sahara đã được Toà cho ý kiến
trong những hoàn cảnh như trên (nghĩa là thể theo
yêu cầu của Liên hợp quốc).
[90]
Cuộc tranh
chấp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cần phải
giải quyết càng sớm càng tốt. Để càng lâu, nó càng
đe dọa hòa bình ở Đông Nam Á và có thể là hoà bình
thế giới.
* Tham luận đọc
tại Hội Thảo Hè “Vấn
Đề Tranh Chấp Biển Đông”
tại New York City, ngày 15-16 tháng 8, 1998.
[1]
Tiến sĩ Luật, Đại học Sorbonne.
[2]
Lê Quý Đôn: Phủ biên tạp lục. Trích từ Võ Long
Tê, Les archipels de Hoang Sa et de Truong Sa
selon les anciens ouvrages viêtnamiens
d’histoire et de geographie, Sài Gòn, 1974,
tr. 62.
[3]
Eveil economique de l’Indochine, no. 741.
[4]
Nguyễn Quốc Định: Droit International Public,
LIbrarie Générale de Droit et de
Jurisprudence, Paris, 1975. tr. 401-402.
[5]
Robert Jennings: The acquisition of
territory in international law (New York,
1963), viện dẫn Charles de Visscher. Luật gia
Charles de Visscher viết như sau về phương
pháp consolidation:
“… Le
long usage établi, qui en est le fondement, ne
fait que traduire un ensemble d’interêts et de
relations qui tendent par eux meme à rattacher
un territoire ou un espace maritime à un état
determine… elle peut être repute acquise… par
une absence d’opposition suffisemment
prolongée…”, xem Jennings, tr. 25, lưu ý 2.
[6]
Võ Long Tê, Kes archipels de Hoàng Sa et de
Trường Sa selon les anciens ouvrages
viêtnamiens d’histoire et de geographie,
Sài Gòn, 1974, tr. 39 và 40.
[9]
Lê Quý Đôn: Phủ biên tạp lục, 1776. Vụ
Thông tin và Báo chí Bộ Ngoại giao Việt Nam
viện dẫn: Chủ quyền của Việt Nam đối với
hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Hà Nội,
1979, tr. 13.
[11]
Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, bộ
phận lãnh thổ của Việt Nam, Nxb. Sự thật,
Hà Nội, 1982, tr. 13 và 14.
[12]
Võ Long Tê, Sđd, tr. 69.
[13]
M.A. Dubois de Jancigny: Thế giới, lịch sử
và sự mô tả các dân tộc, các tôn giáo của họ,
Ceylan, (1830). Võ Long Tê viện dẫn, Sđd,
tr. 168.
[14]
J. B. Chaigneau (1769-1825): Notice sur la
Cochinchine, 1820. Võ Long Tê viện dẫn, Sđd,
tr. 168.
[15]
Vụ Thông tin và Báo chí Bộ Ngoại giao, Sđd,
tr. 21.
[16]
Võ Long Tê, Sđd, tr. 100.
[17]
Vụ Thông tin và Báo chí Bộ Ngoại giao, Sđd,
tr. 21.
[19]
Gutzlaff: Geography of the Cochinchinese
Empire in Journal of the Geographical Society
of London, 1849, tập XIX. Viện dẫn bởi Nhà
xuất bản Sự thật, Sđd, tr. 16, Gutzlaff viết
như sau:
“Chính phủ
An Nam thấy đặt một hạn ngạch thuế thì có thể
thu được nhiều lợi bèn lập những trưng thuyền
và một trại quân nhỏ ở chỗ này (tức quần đảo
Paracel, mà tác giả gọi là KatVang) để thu
thuế mà mọi người tới đây đều phải nộp…”
[20]
Vụ án Clipperton: Recueil des Sentences
Arbitrales, tập II.
[21]
Teh-Kuang Chang: China’s claim of sovereignty
over Spratley and Paracel Islands: a
historical and legal perspective, Case
Western Reserve Journal of International Law,
vol. 23 (1991), p. 418.
[22]
Jian-Ming Shen: International law rules and
historical evidence supporting China’s title
to the South China Sea islands, Hastings
International and Comparative Law Review,
vol. 21 (1997), p. 22 & 23.
[23]
Vụ án đảo Palmas: Receuil des Sentences
Arbitrales, tập II, tr. 859-860.
[24]
Monique Chemillier-Gendreau: La
souveraineté sur les Paracels et Spratleys.
L’Harmatan, Paris, 1996, p. 71.
[25]
Võ Long Tê, Sđd, tr. 111.
[27]
Gendreau, Sđd, tr. 21, 23.
[28]
Võ Long Tê, Sđd, tr. 134.
[29]
Võ Long Tê, Sđd, tr. 61.
[31]
Tao Cheng: The dispute over the South China
Sea Islands, Texas International Law
Journal, vol. 10 (1975), p. 272.
[32]
Jian-Ming Shen, Sđd, tr. 18.
[34]
Elizabeth van Wie Davis: China and the Law
of the Sea Convention, Follow the Sea, New
York, 1995, p. 154.
Cũng xem
Marwyn Samuels: Contest for the South China
Sea, New York/London, 1982, tr. 16.
Và Shen,
Sđd, tr. 21.
[35]
Van Wie Davis, Sđd.
Cũng xem
Shen, Sđd, tr. 31.
Cũng xem
Hungdah Chiu & Choon-ho Park: Legal status of
the Paracels and Spratly Islands, Ocean
Development and International Law Journal,
tập 3 (1975), tr. 43.
[36]
Samuels, Sđd, note 31, tr. 38.
[37]
Lưu Văn Lợi: Cuộc tranh chấp Việt-Trung về
hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Nxb.
Công an nhân dân, Hà Nội, 1995, tr. 10.
[43]
Sđd, tr. 20 và 21. Cũng xem Teh Kuang
Chang, Sđd, tr. 400, và Hungdah Chiu,
Sđd, lưu ý 32, tr. 463 và 465.
[46]
Xem chú thích 2 ở trang 361, Chiu, Sđd,
lưu ý 32.
[47]
“… guo Qizhou Yang, Wanlishitang…”. Chữ “guo”
của tiếng Trung, nghĩa là “qua” của tiếng Việt.
[49]
Hungdah, Sđd, tr. 463.
[50]
Lưu Văn Lợi, Sđd, tr. 17.
[51]
Samuels, Sđd, tr. 21 và 22.
[53]
Gendreau, Sđd, tr. 57 và 58. Cũng xem
Lưu Văn Lợi, Sđd, tr. 14.
[54]
Vụ án đảo Palmas, Sđd, tr. 846.
“Inchoate title must be completed within a
reasonable time by effective occupation of the
region…”.
[55]
Samuels, Sđd, tr. 30-31, 42.
[58]
Ít ra các tác giả sau đây đã viện dẫn Hiệp ước
1887:
- Hungdah,
Sđd, tr. 464 và 467.
- Shen,
Sđd, tr. 119.
- Tao
Cheng, Sđd, tr. 274.
- John
Chao: South China Sea: boundary problems
relating to the Nansha and Xisha Islands,
Chinese Yearbook of International Law, tập 9
(1989-1990): tr. 119 và tiếp theo.
- Steve
Kuan Tsy Yu, Who owns the Paracel and
Spratlys? An evaluation of the nature and
legal basis of the conflicting territorial
claims, Chinese Yearbook of International
Law, vol. 9 (1989-1990): p. 5, 7 and 8.
- Choon-ho
Park, The South China Sea dispute: Who owns
the islands and the natural resources?
Ocean Development and International Law
Journal, vol. 5 (1978): p. 34.
- Marwyn
Samuels, Sđd, tr. 52-53.
- Brian
Murphy, Dangerous ground: the Spratly Islands
and international law, Ocean and Coastal
Law Journal, vol. 1 (1994), p. 201.
- Elizabeth
van De Wie, Sđd, tr. 52-53.
- Michael
Bennet, The PRC and the use of international
law in the Spratly Islands dispute,
Stanford Journal of International Law,
vol. 28 (1992), p. 446.
[59]
Hungdah, Sđd, tr. 464.
[60]
Shen, supra, tr. 120.
[61]
Receuil des Traités de la France, Tome 17
(1886- 1887). Duran & Pedone (Paris),
1891, p. 387.
[62]
Convention de Vienne sur le Droit des
Traités, 1969, Art. 32.
[63]
Có tác giả đã cho rằng Hiệp ước 1887 không ấn
định biên giới biển, xem Elizabeth van De Wie,
Sđd, tr. 156. Tuy nhiên, nếu theo sát
nghĩa lời văn của Điều 2 của bản Hiệp ước (tức
là hiểu những từ theo nghĩa thông thường của
chúng) thì rõ ràng là kinh tuyến Paris 105°43’
là biên giới biển giữa miền Bắc Việt Nam và
Trung Hoa.
“Les Iles
qui sont à l’est du meridien de Paris 105°43’,
… c’est à dire de la ligne Nord-Sud passant
par le point oriental de l’èle de Tra Co, et
formant la frontière…”
[64]
Receuil des Traités, Sđd, tr. 387 và
388.
[65]
Sđd, Rapport Vaulcomte, tr. 187.
[66]
Traité de Paix, d’Amitié et de Commerce conclu
à Tien-Tsin le 9/6/1885 entre la France et la
Chine, trong Receuil des Traités de la
France, Tome 16, tr. 496.
[67]
Rapport Vaulcomte, Sđd, tr. 189-191.
[69]
Lưu Văn Lợi, Sđd, tr. 105.
[70]
Gendreau, Sđd, tr. 123.
[72]
Charles Vallée: Quelqques observations sur
l’estoppel en Droit des gens, Revue
Générale de Droit International Publie
(1973), p. 951, note 7.
[73]
D. W. Bowett: Estoppel before International
Tribunals and its relation to acquiescence,
Bristish Yearbook of International Law,
vol. 33 (1957), p. 177.
[74]
Antoine Martin: L’Estoppel en droit
international public Précédé d’un apercu de la
théorie de l’estoppel en droit anglais,
Revue Générale de Droit International Publie,
vol. 32 (1979), p. 274.
[76]
Délimitation de la frontière maritime dans la
region du Golfe de Maine, Cour
Internationale de Justice Receuil, 1984,
p. 309-310.
- Activités
militaires et para-militaires au Ncarague et
contre celui-ci, Cour Internationale de
Justice Receuil, 1984. p. 414-415.
- Affaire
du Temple Préah Vihear, Cour Internationale
de Justice Receuil, 1962, p. 22-23, 32.
[77]
Brigitte Bollecker-Stern: L’Affaire des essays
nucléaires francais devant la Cour
Internationale de Justice, Annuaire
Francais de Droit International (1974), p.
329.
Cũng
xem Megan Wagner: Jurisdiction by Estoppel in
the International Court of Justice, California
Law Review, vol. 74, p. 1792.
[78]
Cour Internationale de Justice Receuil
1984, Sđd, p. 414.
[79]
Lưu Văn Lợi, Sđd, tr. 75.
[80]
Cour Internationale de Justice Receuil,
1974, tr. 267 và 269.
[81]
Lưu Văn Lợi, Sđd, tr. 104-110.
[82]
Megan Wagner, Sđd, lưu ý 64, tr. 1780.
[83]
Bollecker – Stern, Sđd, tr. 331.
[84]
Trong các tác giả phương Tây khẳng định lý lẽ
chủ quyền lịch sử của Trung Quốc rất yếu, có
ít nhất các tác giả sau:
- Bennett,
Sđd, tr. 446;
- Murphy,
Sđd, tr. 201;
- Roque
Jr., Sđd, tr. 203;
- Chemillier
– Gendreau, Sđd, tr. 66;
- Jean
Pierre Ferrieer, xem tiếp, tr. 182;
- Samuels,
Sđd, tr. 40. Giáo sư Samuels không bàn
đến vấn đề chủ quyền, nhưng phân tích lịch sử
sự liên hệ của Trung Hoa đối với biển Đông và
các đảo; ông viết rằng cho đến thế kỷ XIX
không có bằng chứng nào rằng nhà Thanh đã
chiếm hữu những đảo này làm sở hữu của mình:
“By the
mid-19th Century, the literari
cognitive map of the South China Sea had
become more elaborate, but still barely
touched upon the islands of the sea… There is
no evidence here that the Ching State had in
any sense absorbed the islands into the
imperial domain.”
[85]
Jean Pierre Ferrier: Le conflit des iles
Paracels et le problème de la souveraineté sur
les iles inhabités, Annuảie Francais de
Droit International (1975), p. 178: “…
quoi qu’il en soit la conquête militaire des
iles par la Chine ne peut résoudre le problème
juridique: pour qu’une telle occupation,
ellegale dans son principe, puisse avoir des
effets juridiques, il faut que la
reconnaissance par les autres états
intervienne et ‘purge juridiquement de ses
vices’ l’annexion ainsi réalisée.”
[86]
Mark Valencia: China and the South China
Sea disputes, Oxford University Press,
London, 1995, p. 7.
[87]
Bennett, Sđd, tr. 427.
[88]
Jeannette Greenfield: China’s practice in
the Law of the Sea, Clarendon Press,
Oxford, 1992, p. 13.
[89]
Mark Valencia, Sđd, tr. 6 và 7. Cũng
xem Murphy, Sđd, tr. 209 và 210.
[90]
Vụ Sahara Occidental, xem Avis Consultatif,
Cour Internationale de Justice Receuil,
1975, tr. 21 tới 28. Trong những trang này,
Toà nói về thẩm quyền cho ý kiến của mình thể
theo Điều 65, Đoạn 1 trong Quy chế của Toà.
|