ĐÂU LÀ MẪU NGƯỜI CỦA
VĂN HÓA VIỆT?
(Theo TĐ NGUYỄN VIỆT NHO)
Hợp mặt văn hóa kỳ 4
‘PHONG CHÂU MỞ HỘI TIÊN
RỒNG’ do nhóm Vietology
của GS Trương Bổn Tài tổ
chức tại San Jose, GS
Lưu Văn Vịnh có đưa ra
tiêu chuẩn HIỀN LÀNH làm
đại diện cho mẫu người
của Văn Hóa Việt và lấy
Trạng Trình Nguyễn Bính
Khiêm làm người tiêu
biểu. Theo tôi, nói thế
chưa được chính xác, giờ
muốn thưa lại cùng GS
các điểm sau đây:
1. 1.Về Văn Hóa Việt Với
Con Lý Số Chỉ Ra Mẫu
Người Văn Hóa:
Điều đặc biệt hơn mọi
nền văn hóa của nhân
loại, Văn Hóa Việt có
hai nhánh văn hóa: VĂN
HÓA HỮU NGÔN (VHHN) và
VĂN HÓA VÔ NGÔN (VHVN)
@ Văn Hóa Hữu Ngôn: dùng
lời nói và chữ viết để
diễn ý. Đây là thể loại
văn hóa thông dụng cho
cả Đông Tây, xưa và nay.
Cái đáng nói của văn hóa
nầy là nó được xây dựng
trên ý niệm của con
người đặt lên trên sự
vật: “Người là thước đo
mọi sự” Protagoras.
Sự xác định giá trị
không theo tiêu chuẩn
khách quan minh triết mà
đánh giá tốt xấu, đúng
sai dựa vào cảm tính cá
nhân cho là có lý “cái
gì có lý là thực và cái
gì thực là hợp lý”
(Hegel), lấy ý của ta
đặt trên sự vật, khiến
nó mang tính cách nói về
hay mô tả sự vật bằng
ngôn ngữ chứ không là
cái chính sự vật nó hiển
lộ ra như chính nó, đây
là điều lầm lạc tệ hại
của nền văn hóa triết
tây và cũng là sự khác
biệt giữa triết Tây và
Minh Triết Việt.
Văn hóa được đặt trên
nền tảng ý hệ mà ý hệ
thì thiếu tính khách
quan mà đầy chủ quan
được dẫn dắt bằng cảm
tính, dẫn đến nhiều khác
biệt dễ đi đến chống đối
khiến nó “đi đến đâu
gieo sắt máu đến đó”
Heiddegger, ngược với
nền Văn Hóa Vô ngôn, sẽ
được đề cập dưới đây,
văn hóa nầy để cho sự
vật chưng ra, để cho sự
vật tự “nói” lên chính
nó thay ta nói về nó, sẽ
làm cho chân lý hiển lộ
(1).
@ Văn Hóa Vô Ngôn: là
nhánh thứ hai của Văn
Hóa Việt, rất độc đáo,
không dùng ngôn tự mà
dùng “triết tự văn hóa”,
là đạo tự Càn (___) Khôn
(_ _) [huyền tự gọi là
Tiên Âm, Rồng Dương] để
viết nên các con Lý Số
(con số chứa cái lý) để
qua đó, sự vật và sự
việc sẽ hiển lộ qua
tượng hình và tượng ý
như chính nó mà ta có
thể thấy được, thay vì
nói về chúng theo lối
của VHHN. Điều nầy cũng
có nghĩa là VHVN sẽ giúp
ta trực thị sự vật, thấy
sự vật và sự việc bằng
mắt thay vì nghe nói về
chúng! Dĩ nhiên, cái
thấy bao giờ cũng chính
xác hơn là cái nghe:
“Trăm nghe không bằng
một thấy”! Và, thấy như
thế nào đã được đề cập
trong Giải Mã Huyền
Thoại Việt, phần viết về
Huyền Số và Huyền Đồ,
của cùng tác giả.
Nhắc về nhánh văn hóa
nầy ở đây, nhằm giúp ta
nhận diện Mẫu Người Văn
Hóa của GS Vịnh cũng như
cái Mẫu Người Văn Hóa
Việt đích thực.Hóa Vô
ngo6Ho1a VvH
@ Mẫu người của nền Văn
Hóa có thể “thấy” được
bằng con lý số LI ( ):
Con lý số chỉ ra Việt
Đạo là con LI ( ) phía
Nam hình Bát Quái Hậu
Thiên. LI có nhiều nghĩa,
trong lãnh vực Đạo Lý,
LI có nghĩa là sáng, là
Chân Lý, là Đạo hay Chủ
Đạo Văn Hóa.
Con Lý số LI có cấu trúc
các hào nằm vào vị trí
trung chánh, lại được
xếp nằm phương Nam đồ
hình Bát Quái Hậu Thiên,
nên Khổng Tử nhìn vào
đây mà nói rằng đây là
điểm mạnh của phương
Nam, người quân tử ở
phương nầy: “Nam phương
chi cường quân tử cư
chi”.
Về cấu trúc, LI ( ) là
cơ cấu của mẫu người Táo
Việt: Khác hẳn với Táo
Tàu, Táo Việt là một tổ
hợp ba thành phần gồm
hai Ông một Bà: “Thế
gian một vợ một chồng,
đâu như vua táo hai ông
một bà”, còn Táo Tàu chỉ
duy nhất là một tên đực
rựa. Xin đọc: Ngày Xuân
Nói Chuyện Táo Quân đăng
trên mạng
www.anviettoancau.net
của cùng tác giả.
Tổ hợp ba thành phần làm
nên một Táo: Hai Ông là
hai nét Dương Càn (___)
và một bà là một nét Âm
Khôn (_ _) nằm giữa con
LI ( ).
Cấu trúc âm dương bằng
Đạo tự Càn (___), Khôn
(_ _) cho ta biết cái Lý
Tam Tính của Đạo LI cũng
là Mẫu Người Văn Hóa
Việt!
Ngoài tục lệ thờ Ông Táo
của ta nhằm nhắc về Đạo
Lý LI. Dưới thời Thủ
Tướng Trần Trọng Kim qủe
LI còn được chọn làm
biểu tượng của quốc kỳ
để nêu bật cái Đạo của
người Nam. Đến thời các
chính phủ sau ông, vì
không hiểu được ý nghĩa
của con Lý Số LI cũng
như cái di chúc truyền
dòng của giống Hồng Lạc
là xuôi Nam tìm nắng ấm
(biểu tượng của LI (Hỏa)
trên Địa là sắc vàng là
nền của cờ, là LI Địa
Tấn) (2) và ngại rằng LI
là Li cách, chia lìa
cũng là biểu tượng của
chiến tranh, nên các vị
nầy đã thay con LI bằng
con Càn với ba sọc đỏ.
Điều nầy khiến nó ứng
với số phận chính trị
của miền Nam qua lá cờ
mang tượng Thiên Địa Bỉ
do ba sọc Càn/Thiên trên
nền vàng Khôn/Địa tạo
nên (3)
Phật Giáo gọi cái Lý Tam
Tánh Hai Dương Một Âm,
Hai Ông một Bà nầy là
Phật Tự Tánh hay Phật
Tam Thể BI,
TRÍ, DŨNG. Thiên Chúa
Giáo gọi là CHÚA BA NGÔI
với ý rằng: Ngôi 1 là
Đức Chúa Cha (TRÍ của
PG), Ngôi 2 là Đức Chúa
Con (BI hay tình thương
hay Nhân lành) và Ngôi 3
là Đức Chúa Thánh Thần (Dũng).
Điều nầy được thấy rõ
qua phép làm dấu thánh
trong TCG và nói Ba Ngôi
là Một, gọi là mầu nhiệm
Đức Tin!
Đối chiếu với mẫu người
Táo Quân: Hai hào dương
của con LI là hai ông
trong tổ hợp Táo, biểu
trưng cho Trí và Dũng,
tương ứng với TCG: Trí (Chúa
Cha, làm dấu thánh chỉ
Đầu) Dũng (làm dấu tay
chỉ hai vai) và hào âm
nằm giữa hai hào dương
tượng trưng cho Đức Nhân
tương ứng với Ngôi Hai
TCG (Ngôi Hai xuống thế
làm người) là Tánh BI
của PG.
Qua đó ta có thể nói:
Mẫu người Văn Hóa Việt
phải là Mẫu người Quân
Tử của NGUYÊN NHO hay
VIỆT NHO (Khổng Tử nói
người quân tử ở phương
Nam là vậy). Nguyên Nho
là nền nho học có trước
HÁN NHO, không sử dụng
ngôn từ mà sử dụng triết
tự để diễn ý, tận thời
Bách Việt khi chưa bị
Hán xóa sổ, như trong
lời Kinh thờ Quốc Tổ
Hùng Vương còn ghi lại:
“Kinh Châu Dương Việt
hai miền
Triết tự văn hóa lưu
truyền sử xanh”
2.Về Bản Tính Hiền Lành
Của Mẫu Người Văn Hóa
Của GS Vịnh
Qua điều thấy được bằng
mắt xuyền qua hình ảnh
Táo Quân hay con Li, mẫu
người văn hóa Việt là
mẫu người toàn diện
chẳng khác Ba Ngôi Thiên
Chúa hay Phật Tam Thể
của Phật Giáo. Cái khác
biệt là cái phương tiện
diễn ý: Hai tôn Giáo lớn
của nhân loại sử dụng
ngôn ngữ, là lời qui ước,
còn VHV diễn ý qua tượng
hình và tượng ý của con
Lý Số LI hay tổ hợp Táo,
nhờ đó ta có thể mạc
khải (thấy trực tiếp
bằng mắt) Ba Ngôi Chúa
hay Tam Tánh Phật. Ưu
việt thay nền văn hóa
Việt Nho trong ý chỉ ra
rằng “trăm nghe không
bằng một thấy”! Chính
nhờ cái “văn hóa thấy”
mới thấy được cái Ba
Ngôi là Một và thấy được
điểm tương đồng của ba
nền văn hóa lớn của nhân
loại!
Cũng qua con lý số LI
nầy ta sẽ biết được cái
lý được cảm nhận bằng
cảm tính thông qua ngôn
ngữ thông thường của GS
Lưu Văn Vịnh về Mẫu
Người Hiền của VHV là
cũng không sai, nhưng
chưa đầy đủ, ông chỉ nêu
lên được tính BI hay
tính Nhân là tính của
hào âm nằm giữa của con
LI ( ) mà không thấy
được tính Trí và tính
Dũng của Tam Tính biểu
trưng bằng ba hào Dịch
viết thành con LI.
3. Mẫu Người Của Văn Hóa
Việt Là Mẫu Người Nào?
Cụ Trạng Trình Là Đại
Diện Mẫu Người Của Nền
Văn Hóa Nào?
@ Về mẫu người Văn Hóa
Việt: Xin thưa ngay rằng:
Mẫu người VHV là mẫu
người của Tam Tính hay
Tam Tài Việt qua hình
ảnh Táo Quân với tổ phợp
Ba thành phần: Thiên Địa
Nhân, xuyên qua hình ảnh
con LI vừa nói, nói rõ
ra là mẫu người của Văn
Hóa Việt là mẫu người
Quân Tử theo tiêu chuẩn
Việt Nho. Điều nầy cũng
có nghĩa: Đây là mẫu
người Minh Triết Việt
Nho và Nho nằm trong
định nghĩa “Thông thiên,
Địa, Nhân viết Nho”. Nói
rộng ra là: Nho là người
thông suốt cả chuyện
trên Trời (là những qui
tắc tự nhiên của Thiên
Nhiên, là hào Dương thứ
ba trên cùng của con Li
), là người hiểu một
cách cùng triệt những
qui luật biến hóa và
tiến hóa của muôn loài,
muôn sự xảy ra trên mặt
Đất (hào 1 Dương của con
LI), cũng là người hiểu
cách hành xử đúng hợp
của con Người đứng giữa
Trời Đất (hào 2 âm của
con LI). Ba hào đại diện
cho ba Tài, gọi là Tam
Tài: Thiên Địa Nhân.
Có lẽ quí vị đều thấy
tôi cứ nhắc, cứ nhấn
mạnh VIỆT NHO, điều nầy
muốn lưu ý rằng nền Nho
Học có hai nhánh: Nhánh
của Huyền (nguyên) là
nhánh có trước của dòng
Việt tộc (Bách Việt),
không sử dụng ngôn từ mà
cơ cấu trên đồ hình và
lý số Tiên Khôn (_ _),
Rồng Dương (___), truyền
ý qua tượng hình và
tượng ý, có con chủ đạo
văn hóa là vài ba 2/3
Thủy Phong Tỉnh. Nhánh
thứ hai của Hán Nho về
sau mang nặng tính duy
dương, với con số chủ
Đạo là tham lưỡng 3/2
“tham thiên lưỡng Địa
nhi ỷ số”, nếu chuyển
sang Dịch số sẽ là con
Phong Thủy Hoán (Hoán là
cải sửa lại). Bởi cái
cải sửa mang tính duy
dương, trọng Nam khinh
nữ, trọng vua (giới cai
trị) hơn dân, đặt con 3
trên 2 thay vì 2 trên 3
theo kiểu Việt. Do vậy,
Ông Cha ta cho rằng Tàu
đã đi lệch hướng, nên
gọi họ là “Tàu chệch” (đi
sai lệch với cái ban đầu)
tạo ra mẫu người “Quân
Tử Tàu” bị người Việt
xem thường, chế diễu.
Nghĩa của VIỆT NHO (nguyên
nho) như vậy là nghĩa
thật tròn đầy gôm cả BI,
TRÍ, DŨNG thì NHO không
thể nào đồng nghĩa của
NHU trong nghĩa NHU
NHƯỢC: NHO là Nhu, là Bi
của PG và Bi không là bi
ai để thành nhược, bởi
NHO (nhu) được soi sáng
bởi Trí và được hổ trợ
bởi Dũng trong thế vững
bền vững của chiếc
“kiềng ba chân”:
Dù ai nói ngã nói
nghiêng
Lòng ta vẫn vững như
kiềng ba chân”
Kiềng ba chân là kiềng
ÔNG TÁO VIỆT, là con LI
chỉ ra Tam Tài Ba Ngôi
là Một vậy! Cũng vì vậy
cái HIỀN đơn thuần, đứng
lẻ loi thì “Hiền” sẽ dễ
thành “Hèn” vì thiếu
vắng Trí, Dũng như thể
chiếc kiềng bị gãy mất
hai chân mà thành “Hiền
quá hóa ngu”
Thể hiện trên hiện thực,
những bậc chân tu rất
hiền lành, những vị vua
đầy lòng thương người,
thương dân, thương nước
và thương cả kẻ thủ thù
dưới thời Lý Trần là
những Minh Quân HIỀN mà
không HÈN, là đại diện
của mẫu người QUÂN TỬ
đích thực của NGUYÊN NHO,
đã dùng ‘cương nhu dĩ
giáo, bất báo vô Đạo’.
Hiền không hèn và Dũng
cũng không thành vũ phu
nhờ Trí (thuộc Thiên hào
3 quái LI) và Dũng,
Hùng thuộc Địa (hào
1
con LI) kết hợp nhuần
nhuyễn cùng Đức Nhân nằm
giữa. Điều nầy chỉ ra:
Mẫu Người Táo Quân Việt
Nho mới đúng là người
Mẫu của Văn Hóa Việt
Ở thời cận đại, người
hiền, Đấng chân tu như
Giáo Chủ Huỳnh Phú Số,
đại diện chân chính của
người hiền lương chịu
thương khó: “Ta chịu khổ
là khổ cho nhân loại”,
vẫn có được cái dũng của
một đấng anh hùng: “…
Quyết một trận chùa am
đóng cửa, tuốt gươm vàng
lên ngựa xông pha, đền
xong nợ nước thù nhà,
thiền am đóng của Phật
Đà Nam mô (4)
Những mẫu người quân tử
hiện thực tiêu biểu trên
được vậy hẳn nhờ thấm
nhuần cái Đạo Lý Minh
Triết Kiềng Ba Chân của
con LI phương Nam vậy!
@ Về mẫu người cụ Trạng:
Cụ Trạng là Mẫu Người
Việt Nho với đủ Trí,
Dũng và Bi
_ Cụ Trạng là một người
TRÍ
Cụ Trạng là người thông
nho, rất thông nho, Ông
đã viết Sấm Trạng đặt
trên cơ Sơ Nguyên Nho
dựa trên đồ hình Đồ Thư
(hình căn bản cho Dịch
Lý) như Ông nói ở phần
mở đầu của Sách Sấm:
“Nước Nam từ thuở Hồng
Bàng
Đổi thay cuộc thế, gian
sang chuyển vần
Từ Đinh, Lê, Lý, Trần
thuở trước
Đã bao lần vận nước đổi
thay
Núi song thiên định đặt
bày
Đồ Thư một quyển xem
ngay mới rành”
Về Đức Trí: Trí tuệ Ông
có được là nhờ vào
nghiên cứu sách Đồ Thư
của Nguyên Nho Việt Dịch
do đốt trúc gậy thần tạo
nên (5). Khổng Tử “học
Dịch cho bớt sai lầm”,
Cụ Trạng nghiên cứu Dịch
để trí tuệ thông sáng,
biết mọi sự mọi việc
trong qúa khứ, hiện tại
và tương lai.
Nhờ TRÍ mà cụ Trạng thấy
được cái nội tình vào
thời của Cụ như là việc
“định tại thiên thư”
(6). “Sông có khúc,
người có lúc” và đất
nước thì có vận hạn của
nó như thể được an bài
vậy. Yếu tố nhân định
“Xưa nay nhân định thắng
thiên cũng nhiều” (7)
cũng cần đòi hỏi thời vị
và phải hội đủ “thiên
thời, Địa lợi, Nhân hòa”
thì việc mới thành tựu…
Tình thế đất nước vào
thời Cụ không thể cứu
chữa, cụ thấy được điều
nầy nên không tham chính
mà trở về “vô vi”, sống
với thiên nhiên, hưởng
nhàn như cụ tâm sự:
“Ta dại ta tìm nơi vắng
vẻ
Người khôn người đến
chốn lao xao
Thu ăn măng trúc đông ăn
giá
Xuân tắm hồ sen hạ tắm
ao
Rượu đến gốc cây ta sẽ
nhắp
Nhìn xem phú quí tựa
chiêm bao”
_ Cụ Trạng là Một Hiền
Nhân
Về Đức Nhân hay tâm lành:
Qua sự thổ lộ tâm tình
của Cụ như trên, tưởng
chừng như Cụ tiêu cực,
sống ngoài lề xã hội,
buông xuôi phó mặc cho
dòng đời để định mạng an
bài, cụ đã “vô vi” (không
làm). Nhưng thực chất
thì không phải vậy: Đó
là cái thấy hời hợt bề
ngoài, thực chất Cụ đã
“Vô vi nhi vô bất vi”.
Cái trí của cụ sáng suốt
đã đành, mà tâm của Cụ
cũng to lắm. Vì cái tâm
lành mà cụ đã hành động
không vì danh lợi riêng
tư, không vì danh, không
lợi cho cá nhân (không
ra làm quan để hưởng
bỗng lọc), Cụ không làm
nhưng cũng không không
không làm, nghĩa là Cụ
có làm hay không gì
không làm!: “Vô vi nhi
vô bất vi”. Cụ thấy được
vận nước và đã làm chính
trị với ý nghĩa chân
chính là giúp dân, giúp
nước mà không cầu lợi
cho mình:
Cụ lui về “vô vi” nhưng
thấy dân khổ, nước loạn
cũng không thể bỏ mặc
cho đời và vì bởi tâm
lành nên Cụ Trạng đã thi
hành kế sách “vô vi nhi
vô bất vi”:
Để ngăn chặn giặc Bắc
lợi dụng tình hình loạn
li của nước ta mà sang
xâm lấn, cụ cho học trò
đến cố vấn cho nhà Mạc
chiếm lĩnh vùng Cao Bằng.
Cụ giúp khuyên Chúa
Trịnh núp dưới bóng nhà
Lê để hưởng phúc để giữ
sự ổn định tạm thời. Cụ
xúi dòng Nguyễn vào Nam
nhằm mở mang bờ cõi với
câu: “hoành sơn nhất đái,
vạn đại dung thân”… Chưa
kể Cụ để sấm truyền nhằm
răn dạy và hướng dẫn
những nhà chính trị đời
sau.
_ Cụ Trạng và Đức Dũng
Về Đức Dũng: Dũng có hai
loại, Dũng hướng ngoại
nhằm thắng người và Dũng
hướng nội nhằm thắng
mình, đó là cái dũng của
các bậc chân tu, chân
nhân.
Cái Dũng hướng ngoại thì
dễ thấy, nó được lòng
háo thắng, háo danh thúc
đẩy: “làm nên đấng anh
hùng đâu đó tỏ” (8)…
“Làm trai cho đáng nên
trai, Xuống Đông, Đông
tịnh, lên Đoài, Đoài
tan”…
Cái Dũng hướng nội nhằm
tu thân để thắng mình,
thắng cái thất tình lục
dục trong ta, đó là cái:
tham, sân, si, hỉ, nộ ái,
ố. Có được Đức Dũng thì
thắng được tánh háo danh,
tham lợi, sống chết
không làm run sợ, xem
chúng như là qui luật
tất yếu thản nhiên đón
nhận nó. Không trách
Người, không oán Trời,
hùng tráng đứng giữa
Trời Đất mà không ỷ cậy
vào, giữ vững tư thế của
Ngôi Nhân Hoàng “Trung
lập nhi bất ỷ cường chi
kiểu”
Đối với vật chất là lực
hướng tâm, trong con
người là lòng nhân ái,
tình thương yêu: “Thương
người như thể thương
thân”. Cái dũng nầy chỉ
những bậc Thánh Nhân mới
có được: Kẻ phàm phu
thường hướng cái dũng
của mình vào thắng người
mà không chịu thắng mình.
Cụ Trạng quả là nhân tài
gồm đủ Nhân, Trí, Dũng,
xứng đáng là mẫu người
tiêu biểu của người quân
tử Việt Nho, vượt trên
Người Hiền đơn thuần do
cảm tính mà ta nghĩ về
Cụ.
Chốt lại, vẫn biết viết
theo kiểu không chính
qui, theo quan điểm
phương tây thì khó tìm
sự đồng thuận của học
giả chuyên nghiệp, nhưng
những điều trình bày
trên hẳn không là chuyện
bịa đặt do cảm tính cá
nhân, mà là từ môn Lý Số
xây dựng trên nền tảng
của nền Văn Hóa Việt Nho,
tuy đã bị phai nhạt qua
thời gian, mờ nhạt tưởng
chừng như huyễn hoặc,
nhưng lại đầy tính khách
quan của khoa học, vì nó
y cứ trên các con toán
số… Mà, đã là toán số,
thì tự thân nó đã mang
tính khách quan rối!
Điều nầy cũng có nghĩa
nữa là: Bài viết không
là trước tác, mà là
trước thuật: Tôi chỉ
thuật lại cái vốn có sẵn
từ trước chứ không chế
tác“Ngô dĩ Thuật nhi bất
tác”!
Cái nền văn hóa giúp ta
thấy thay vì nghe nầy
nghe chừng khó lọt tai
(?), nhưng quen dần rồi
sẽ thuận mắt và khi đã
quen mắt thì dễ đi đến
đồng thuận vì tính khách
quan của thể loại văn
hóa nầy: Với mắt thấy
thì ai cũng sẽ thấy như
nhau, cái còn lại chỉ là
biết cách “đọc” bằng
cách nhìn thể loại văn
hóa tượng hình, tượng ý
để dẫn thẳng vào Đạo Lý,
đúng với qui trình đọc
nó phải là: “Bỏ lời lấy
tượng, bỏ tượng lấy ý,
bỏ ý lấy Đạo”
Cái thói thông thường là:
Muốn bỏ một thói lề đã
được chấp nhận từ trước,
của nhiều người, qua
nhiều thế hệ, không phải
là dễ dàng. Đây không
phải là chuyện của ngày
một, ngày hai mà đòi hỏi
phải nhiều thời gian và
công sức của nhiều người,
có khi đòi hỏi qua nhiều
thế hệ nữa không chừng,
mới thuyết phục người
khác, nhưng điều quan
trọng ở đây là: Vấn đề
đặt ra và y cứ vào có
khách quan hay không ?
có để hướng tới sự chân
chính (Chân), có hướng
về điều thiện lành (Thiện)
và chúng ta có đủ kiên
nhẫn (Nhẫn) để đeo đuổi
cái Thiện, cái Chân nầy
chẳng ? Nói khác đi, ta
có đủ bộ Tam Tài Thiên
Địa Nhân, Tam Tánh Bi
Trí Dũng hay Ba Ngôi Cha
Con và Thánh Thần, cũng
là tượng hình và tượng ý
của mẫu người Táo Việt
mà người quân tử Việt
Nho chọn làm hướng để đi
theo chăng ?
Thật ra tác giả không
mong sớm có đồng thuận
của nhiều người, được
vậy thì càng tốt, còn
không, chỉ mong được như
là một sự đóng góp nhỏ
nhoi để tiếp tục truyền
lại cái di chúc Văn Hóa
Truyền Dòng, để con cháu
Tiên Rồng vốn “không
mong ruộng cả ao liền mà
mong cái bút cái nghiên
anh đồ”, hoặc của các cô
gái chân quê vốn nặng
lòng với Văn Hóa Tiên Tổ:
“Em thực tình công danh
không chuộng
Cửa nhà to, ao ruộng
cũng không
Mà mong sao được tấm
chồng
Văn hóa tiên tổ (9)
người không hững hờ !”
(10)
Riêng tôi, tôi vững tin
rằng Văn Hóa Việt tuy
liên tục bị các thế lực
ngoại lai phản động đã
nhiều lần bức tử, từ
giặc Tàu đến giặc Tây
cho đến giặc Cộng …
nhưng nền văn hóa nầy đã
không chết, nó đang hồi
sinh, phục sinh … nhất
định sẽ sống lại đễ dẫn
nhân loại bước vào thiên
niên kỷ mới nầy.
Chú thích:
(1) Nguồn: Minh Triết
Việt 2 trên mạng An Việt,
tác giả Nguyễn Việt Nho
(2), (3) Nguồn: Quốc Kỳ
và Ý Nghĩa Của Nó Qua
Các Thời Dưới Lăng Kính
Dịch Lý _Mạng An Việt _
Nguyễn Việt Nho
(4) Giáo chủ Huỳnh Phú
Sổ
(5) Nguồn: Nguồn Gốc
Kinh Dịch _ Văn Hóa Cổ
Việt _ Nguyễn Việt Nho _
XB 2004
(6) Lý Thường Kiệt
(7) Kiều _ Nguyễn Du
(8) Nguyễn Công Trứ
(9) Văn Hóa Nguyên Nho
hay Việt Nho được diễn
đạt bằng Đạo tư Ông
Dương Càn (___) và Bà Âm
Khôn (_ _)
(10) Thơ Nguyễn Việt Nho