Thoi-Nay - Giai Tri va Doi Song

Trang chính
Tài liệu và biên khảo

Mục lục

Nhật Bản:

Do Thái:

TL&BK:

Tài liệu và biên khảo- Phụ trách TN. 12/2008.  
 

Địa vị An Nam chí lược trong kho tàng lịch sử Việt Nam

(Hồ Bạch Thảo)

 
 

Nếu bạn được học vỡ lòng tại Hoa Kỳ; chắc bạn còn nhớ tại các bậc tiểu học, trung học xứ này; hàng năm học sinh phải học một môn gọi là kỹ năng [skill] phân biệt giữa ý kiến [opinion] và sự kiện [fact]. Một học sinh lớp một [grade 1] có thể phân biệt được:
 

  • Con chó vàng [sự kiện]

     

  • Chó vàng thì đẹp [ý kiến]
     

Cao hơn, có thể biện biệt đâu là sự kiện, đâu là ý kiến trong câu nói nổi tiếng của ông Đặng Tiểu Bình:
 

  • Mèo trắng, mèo đen đều là mèo [sự kiện]
     

Đã là mèo thì phải biết bắt chuột. (Cho dù câu này đúng gần 100% cho mèo châu Á, nhưng cũng chỉ là ý kiến mà thôi, vì cũng có trường hợp nuôi mèo không phải để bắt chuột).

Sở dĩ phải mất công dạy đi, dạy lại về cách phân biệt giữa “ý kiến” và “sự kiện”; vì Hoa Kỳ là nước thực dụng, nền giáo dục nước họ muốn rèn luyện cho học sinh chú trọng đến “sự kiện”, còn “ý kiến” thì muôn người muôn ý, không đáng quan tâm nhiều. Bởi vậy đừng lấy làm lạ, khi được biết trên địa cầu này, có nhiều người chửi Mỹ [ý kiến] ra rả, nhưng không hề bị rụng một sợi lông chân; nhưng ngược lại, cố tình đi trái với lộ trình họ đã vạch sẵn [sự kiện], thì hãy coi chừng!


Người mình khác hơn, coi trọng ý kiến hơn là sự kiện. Như trường hợp bộ sử An Nam chí lược (ANCL) của Lê Trắc, một bộ sử xưa nhất của nước ta hiện còn tồn tại; đã bị người đời coi có mà như không: “Khi nghiên cứu đối chiếu chắc người ta có sử dụng ANCL, nhưng không chua xuất xứ. Sách dù có mà xem như không. Chắc vì tư cách của soạn giả, khiến người ta không thể dành cho một vài lời khuyến miễn, dù sách có giá trị đến mức nào.[1]

Tại miền Nam Việt Nam trước năm 1975, Linh mục Cao Văn Luận, nguyên Viện trưởng viện Đại học Huế và một số cây bút khác cũng quá chú trọng đến một vài “ý kiến” trong ANCL; như gọi Trưng Trắc, Trưng Nhị là yêu tặc, vua Nguyên dùng lời mạt sát vua ta v.v. Cao Viện trưởng viết trong Lời giới thiệu bản dịch ANCL như sau:

Lê Tắc quên mình là người Việt, dựa vào lập trường và quan điểm của người Nguyên để soạn tập. Chẳng hạn như những lời nịnh hót a dua của tác giả, những đoạn văn kiêu ngạo tự tôn tự đại trình bày trong các chiếu chỉ của nhà Nguyên và trong bài tựa danh nhân hồi ấy, đều khiến cho chúng ta vô cùng uất ức và đau đớn.

Ô hô! Chiếu chỉ vua Nguyên thuộc vào dạng sử liệu [historical documents], chẳng lẽ phải đợi đến lúc vua nước địch khen vua mình mới chép vào sử ư? Cái gọi Hai Bà Trưng là yêu tặc, chỉ là một ý kiến [opinion] trong trường hợp chẳng đặng đừng mà thôi; để tác giả có thể công bố sự kiện [fact] quan trọng cho đời sau: “người đàn bà Giao Chỉ Trưng Trắc làm phản, các quận Cửu Chân, Nhật Nam đều hưởng ứng theo, cướp được 65 thành trì!” Hơn nữa, những ý kiến như “yêu tặc”, “giặc” chỉ là cái vỏ bọc ngoài của viên thuốc, giúp cho bộ sách được sống còn trước cặp mắt xoi mói rà soát của nhiều triều đại Trung Quốc, và nhờ đó ngày nay chúng ta mới có được nó, để dùng phương pháp thực dụng, tìm tòi những sử liệu quí giá, nhắm làm phong phú cho kho tàng lịch sử Việt nam. Theo chiều hướng này, xin được đi vào sự việc:

ANCL là một trong ba bộ sử đầu tiên của nước ta, hoàn thành vào đời Trần. Hai bộ kia đều thất truyền: một bộ tên là Việt chí, tác giả là Trần Phổ, không rõ đích xác hoàn tất vào năm nào; bộ thứ hai mang tên Đại Việt sử ký, tác giả Lê Văn Hưu, dâng lên vua Trần Thánh Tông vào năm Nhâm Thân [1272].

ANCL may mắn còn tồn tại, nó là bộ sử Việt Nam hiện nay có tuổi thọ cao nhất, và cũng nhờ nó ta biết được sự liên hệ giữa hai bộ sử thất truyền kia: ANCL ghi rằng Trần Phổ làm sách Việt chí, Lê Hưu thường tu sửa sách Việt chí, cả hai đều là người vào thời vua Trần Thái Tông [1225-1257] (Trần Phổ thường tác Việt chí, Lê Hưu thường tu Việt chí, câu Trần Thái vương thời nhân, Thái vương giả Trần Nhật Cảnh chi thụy).

Như vậy Lê Văn Hưu đã dùng bộ Việt chí làm gốc để trùng tu thành một bộ sử khác mang tên là Đại Việt sử ký. Tuy bộ Đại Việt sử ký bị thất truyền, nhưng dấu vết của nó còn thấy được qua bộ Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT) của Ngô Sĩ Liên hoàn thành vào năm Hồng Đức thứ 10 [1479]; trong bộ sử này thỉnh thoảng lời phê của sử thần Lê Văn Hưu được chép nguyên văn.

Trở lại, hãy tìm hiểu về tác giả ANCL. Ông tên là Lê Trắc, người quê tại Đông Sơn, Ái Châu, nay là huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa; biệt hiệu là Cổ Ái. Thân thế tác giả có nhiều chỗ éo le. Ông nguyên gốc họ Nguyễn, sinh vào khoảng thập niên 1260, làm con nuôi người cậu nên đổi sang họ Lê là họ của người cậu. Qua tên hiệu trên sách “Cổ Ái, Đông Sơn, Lê Trắc biên”, tác giả gián tiếp giới thiệu quê quán mình thuộc vùng Đông Sơn, Ái Châu xưa, tức huyện Đông Sơn, Thanh Hóa ngày nay. Thời trai trẻ làm Mạc liêu [2] cho Chương Hiến hầu Trần Kiện. Kiện là cháu vua Trần Thánh Tông, cầm quân giao tranh với quân Nguyên tại Thanh Hóa, đánh lâu không được viện binh, nên đã đầu hàng giặc vào năm Ất Dậu [1285]; Trắc cũng theo chủ hợp tác với giặc. Khi quân Nguyên rút lui, Trần Kiện bị quân ta đuổi theo tại ải Chi Lăng và bắn chết, Trắc mang xác chủ chôn tại gò Khâu Ôn rồi chạy sang Trung Quốc [3] . Tại đây tưởng cần nhấn mạnh rằng thời nhà Trần không theo chế độ trung ương tập quyền như hiện nay, các Vương Hầu như Trần Kiện có binh lính quan lại riêng. Lê Trắc làm quan cho chủ là Trần Kiện, việc theo giặc ảnh hưởng bởi quyết định của chủ, riêng cảnh liều thân trong lửa đạn để an táng chủ, chứng tỏ là con người có nghĩa; xét hoàn cảnh theo giặc của Lê Trắc cũng có thể châm chước được một phần nào!

Sau khi sang Trung Quốc, ông làm quan tới chức Thị lang, định cư tại Hán Dương. Phải rời khỏi quê hương trong cơn chiến loạn nên vợ con bị thất lạc; sống tại nước ngoài 10 năm sau, ông lập gia đình lần thứ hai, lấy một cô gái Việt thuộc dòng dõi tôn thất triều nhà Lý. Tuy có tỳ vết theo giặc, nhưng phong cách của ông được nhiều danh sĩ Trung Quốc đương thời đề cao. Trình Cừ Phu viết tựa tập thơ của ông (Lê Cảnh Cao thi tự) ca tụng:

Tôi không những yêu thơ mà lại mến tư cách của ông, cẩn thận nhưng không hẹp hòi, thông suốt nhưng không trôi nổi, đầm ấm như khí xuân, trong sáng như trời thu.”

Lúc trở về già, ông chuyên tâm về trước thuật, tự là Cảnh Cao, soạn bộ ANCL và các tác phẩm thơ văn khác.


 

*



ANCL là một tác phẩm lớn cả về lượng lẫn phẩm:

Về lượng, bộ sách gồm 20 quyển, hiện nay chỉ còn 19 quyển. Quyển thứ 20 gồm thơ văn các vị nổi tiếng ngâm vịnh về Việt Nam (Danh công đề vịnh An Nam chí) đã bị thất truyền.

Về phẩm, đây là một bộ sách của tư nhân được các triều đại Trung Quốc đưa vào làm sách của nhà nước, từ sách tư biến thành sách công! Vào đầu thế kỷ thứ 14 đời nhà Nguyên, bộ bách khoa toàn thư mang tên Kinh thế đại điển được ban hành, trong mục “An Nam điều” ghi như sau “Nay Lê Trắc soạn ANCL, các mục duyên cách [4] , địa lý, núi sông, sản vật, phong tục đều chính xác, nay lấy vào để làm phong phú thêm.

Đời Càn Long nhà Thanh [1772] chỉnh đốn lại Tứ khố toàn thư [5] , ANCL lại được đưa vào kho sách này. ANCL được chép tay từ nhiều đời, nên không khỏi lâm vào cảnh sao chép nhiều lần, làm sai nguyên văn; đến năm Quang Tự thứ 10 [1884] Lạc Thiện Đường cho in tại Thượng Hải, năm 1986 Thương vụ Ấn quán in tại Đài Loan, năm 1979 Thượng Hải Cổ tịch Thư điếm in phục bản. Năm 1995 Trung Hoa Thư cục cho in tại Bắc Kinh, dùng bản Lạc Thiện Đường làm bản gốc, rồi khảo dị với hai bản kia.

ANCL được các triều đại Trung Quốc đánh giá cao bởi những lý do sau đây:

Đây là bộ sử về Việt Nam xưa nhất còn tồn tại. Bản thân tác giả có rất nhiều kinh nghiệm, trong vòng 10 năm trời đã lặn lội suốt nửa nước Việt Nam (Bộc sinh trưởng Nam Việt, thập tuế gian bôn tẩu bán quốc trung) [6] , lại hàm dưỡng rất sâu về kiến thức sử học của Trung Quốc. Cái cơ duyên về từng trải và học vấn mà tác giả có được cũng giống như công phu của sử gia nổi tiếng Tư Mã Thiên vậy [7] .

Bộ sử của Lê Trắc giá trị về chính xác cao, có khả năng đính chính những chỗ sai lầm trong sử Trung Quốc. Đây là một vinh dự, vì Trung Quốc là nước có kinh nghiệm lâu đời về nghề viết sử, có đủ khả năng để đính chính sử Trung Quốc không phải là điều dễ! Đơn cử một vài chỗ ANCL đính chính Nguyên sử như sau: Lý Công Uẩn giành ngôi từ nhà Lê chứ không phải nhà Đinh, Chương Hiến hầu Trần Kiện là con anh của vua Trần Thánh Tông, chứ không phải là con rể. Đạt được những ưu điểm như vậy nên Tứ khố giản minh mục lục [8] phải công nhận sử của Lê Trắc tường thuật đầy đủ rõ ràng, có thể dùng trợ giúp trong việc kê cứu cùng tham khảo (kỳ tha tự thuật diệc giai tường thiệm, tuân khả vi tham kê hỗ khảo chi trợ).

Với nội dung phong phú như đã đề cập, ANCL có những đóng góp lớn lao qua các bộ môn như lịch sử, địa lý, phong tục:


A. Lịch sử

Tại quyển thủ, tác giả trình bày lịch sử Việt Nam từ thời lập quốc cho đến triều đại nhà Trần. Ngoài phần tự sự từ đầu đến cuối như một bộ thông sử, ANCL còn có các chương chuyên khảo về lịch sử, đặc biệt về những vấn đề quan trọng trong việc bang giao giữa hai nước Việt-Hoa như:
 

  • Sao lục các chiếu thư của vua Trung Quốc gửi sang nước ta.

     

  • Liệt kê các sứ thần Trung Quốc đến nước ta, cùng những phúc trình của họ về chuyến đi.

     

  • Chép về các cuộc chiến tranh giữa hai nước Trung Quốc và Việt Nam.

     

  • Sao lục các biểu chương của vua ta gửi sang Trung Quốc.

     

  • Chép tiểu sử các viên Thứ sử, Thái thú cai trị tại nước ta dưới thời đô hộ.

     

  • Lược khảo về học hiệu, quan chế, lễ phục, pháp luật, binh chế của nước ta.

     

  • Liệt kê các sứ thần Việt Nam sang Trung Quốc.

     

  • Tiểu sử các danh nhân Việt Nam.

     

  • Thơ văn xướng họa giữa sứ thần nhà Nguyên cùng vua và các vương hầu đời Trần.
     

Sau đây chúng ta hãy tìm hiểu một vài nét đặc trưng về những vấn đề nêu trên:


1. Chiếu thư của vua Trung Quốc gửi sang nước ta qua các triều đại

Các bộ sử của nước ta như ĐVSKTT chỉ ghi vắn tắt chiếu thư của vua Trung Quốc gửi sang nước ta vào thời điểm nào, chứ không chép nguyên văn. Riêng ANCL của Lê Trắc sao lục nguyên văn, cung cấp thêm nhiều sử liệu cần thiết.

Ví như, chiếu thư của vua Nguyên Thế Tổ gửi sang nước ta vào năm Ất Hợi [1275] nêu rõ 6 đòi hỏi: vua ta phải sang chầu, đưa con em sang làm con tin, nạp sổ hộ khẩu, nạp thuế, cung cấp lính và đặt quan Đạt Lỗ Hoa Xích tại nước ta để cai trị. Trải qua hai lần xâm lăng bị thua nên sự đòi hỏi qua các chiếu thư kế tiếp được rút bớt chỉ còn một điều duy nhất là bắt vua ta phải sang chầu. Đến năm Giáp Ngọ [1294] sau khi Nguyên Thế Tổ mất, Nguyên Thánh Tông đổi thái độ gửi sang nước ta một chiếu thư rất hòa nhã, không đòi một điều kiện nào khác, hứa bãi bỏ việc binh đao và trả Sứ thần ta về nước.

Nói tóm lại, qua những chiếu thư người đọc sử có thể thấy được phần nào chính sách của triều đình Trung Quốc đối với nước ta qua các thời điểm lịch sử.


2. Sứ thần Trung Quốc đến Việt Nam

ANCL quyển ba, trong mục “Đại Nguyên phụng sứ” và “Tiền triều phụng sứ” liệt kê các sứ thần Trung Quốc sang Việt Nam; ghi rõ triều đại, tên họ, chức tước, cùng phụ lục tờ trình các chuyến đi.

Ví như chuyến đi năm Tân Mão [1291] của sứ thần nhà Nguyên, ĐVSKTT chỉ ghi vẻn vẹn rằng nhà Nguyên sai Thượng thư Trương Lập Đạo đến dụ vua ta sang chầu. Riêng ANCL ghi lại chuyến đi của Trương Lập Đạo với nhan đề “Trương Thượng thư hành lục” nội dung cung cấp những sử liệu rất sống động về cuộc hành trình, nghi thức giao tế, cùng những cuộc tranh luận giữa đôi bên.


3. Chinh thảo và chuyển vận lương thực

Trong chương “Chinh thảo vận hướng” thuộc quyển bốn ANCL; tác giả Lê Trắc chép về những cuộc xâm lăng nước ta từ thời Tần Thủy Hoàng thứ 33 (214 TCN) cho đến thời nhà Nguyên (1288). Đặc biệt hai lần quân Nguyên xâm lăng nước ta, bản thân tác giả có tham dự, nên sự việc nhiều chỗ được mô tả rất sống động, có ghi rõ ngày tháng. Tuy chi tiết có một vài chỗ khác với ĐVSKTT, hoàn cảnh tác giả lại đứng vào phe địch; nhưng mức độ khả tín của sử liệu có thể dùng để tham khảo được. Sau đây là bản dịch về hai cuộc xâm lăng, riêng những chữ trong ngoặc do người dịch thêm vào:
 


CUỘC XÂM LĂNG CỦA QUÂN NGUYÊN VÀO NĂM GIÁP THÂN [1284]

Vào năm Trung Thống thứ 3 [1264] chế phong Trần Nhật Cảnh [vua Trần Thái Tông] làm An Nam Quốc vương. Dưới thời Chí Nguyên [Nguyên Thế Tổ] nhiều lần triệu Nhật Cảnh sang chầu, nhưng lấy cớ bị tật không chịu sang; mất vào năm Đinh Sửu [1277].

Thế tử Trần Nhật Huyễn [vua Trần Thánh Tông] kế vị; Thiên tử sai Sứ triệu sang chầu, vẫn lấy cớ tật bệnh từ chối. Vào đời Chí Nguyên năm Nhâm Ngọ [1282] Hữu thừa Toa Đô, Tả thừa Lưu Thâm, Tham chính A Lý điều binh đánh Chiêm Thành. Triều đình sai sứ dụ An Nam cho mượn đường, giúp quân cùng cấp lương; Thế tử không nghe lời.

Mùa đông năm Giáp Thân [1284] lại ra lệnh Trấn Nam vương Thoát Hoan cùng bọn Bình Chương A Lý Hải Nha tiến binh yểm trợ chiến dịch Chiêm Thành. Ngày 21 tháng 12 xuất phát từ châu Tư Minh đại quân chia đường đến biên giới An Nam. Vạn hộ La Hợp Đáp Nhi, Chiêu thảo A Thâm tiến quân từ phía tây qua huyện Khâu Ôn; Khiết Tiết Tán Lược Nhi, Vạn hộ Lý Bang Hiến tiến quân từ phía đông qua Cấp Lĩnh, đại quân của Trấn Nam vương theo sau. Cánh quân phía đông phá ải Khả Lợi, quan ải Anh Nhi, bắt được tên gián điệp Đỗ Vĩ đem chém. Người tôn trưởng là Hưng Đạo vương Trần Tuấn [Trần Quốc Tuấn] trấn thủ ải Nội Bàng bị đại quân đánh thua vào ngày 27, phải rút quân về trấn thủ châu Lạng Giang, quan quân lấy được vài chục chiếc thuyền. Cánh quân phía tây phá ải Chi Lăng tức Lão Thử quan.

Vào ngày 9 tháng giêng năm Ất Dậu [1285] Thế tử đem 10 vạn quân đại chiến tại Bài Than [Bình Than], bị quân của Nguyên soái Ô Mã Nhi, Chiêu thảo Nạp Bạn, Trấn phủ Tôn Đức Lâm đánh lui. Ngày 13 Thế tử đóng quân tại sông Lô [sông Hồng ngày nay] lại bị thua; quân của Trấn Nam vương lên bờ chiếm kinh thành [Thăng Long] chiêu an và làm lễ dâng tù. Ngày 21 phá ải Thiên Hán [Thiên Mạc], giết tướng Bảo Nghĩa hầu [Trần Bình Trọng]. Thế tử rút lui giữ ải Hải Thị, xây bệ cản bằng gỗ ngăn ngừa phía tây sông; quan quân trên dưới hai bên bắn chéo, quân Thế tử thua to.

Lúc bấy giờ Đại tướng Giảo Kỵ, Hữu thừa Toa Đô, Tả thừa Đường Cổ Đái, Tham chính Hắc Đích nhận được chiếu chỉ tiến binh từ Chiêm Thành vào phủ Bố Chính [Quảng Bình] đánh mặt sau. Thế tử sai em là Chiêu Văn vương Trần Duật [Trần Nhật Duật], Trịnh Đình Tán chống cự tại Nghệ An nhưng bị thua. Tình thế cấp bách, Thế tử sai con người anh là Chương Hiến hầu Trần Kiện nghênh chiến tại Thanh Hóa. Cầm cự lâu, sức yếu lại không có viện binh; Chương Hiến hầu cùng bọn Trắc [Lê Trắc] mang quân ra hàng.

Ngày 2 tháng 2, Giảo Kỵ mang kỵ binh vượt cửa Vệ Bố Kinh phá tan quân địch, giết các tướng Đinh Xa, Nguyễn Tất Dõng. Ngày mồng 3, Trấn Nam vương đánh phá quân của Thế tử tại sông Đại Hoàng [sông Hồng Hà], người cháu của Thế tử là Văn Nghĩa hầu Trần Tú Viên đem cả gia quyến ra hàng.

Ngày mồng 6, Giảo Kỵ cùng bọn Chương Hiến hầu đánh quân của em Thế tử là Thái sư Trần Khải [Trần Quang Khải] tại bến Phú Tân, chém ngàn thủ cấp; các vùng Thanh Hóa, Nghệ An đều hàng.Thế tử sợ, bèn sai người trong họ là Trung Hiến hầu Trần Dương xin nghị hòa; lại sai quan Thị vệ đem quốc muội Nam vương [ĐVSKTT chép là Công chúa An Tư, em út vua Thánh Tông] đến xin hòa giải. Ngài Thiên hộ đến dụ rằng muốn xin hòa sao không đích thân đến. Thế tử không nghe lời.

Ngày mồng 9 tháng 3, bọn Giảo Kỵ, Đường Cổ Đái dùng thủy quân vượt biển vây Thế tử tại Tam Tự suýt bắt được; thu vàng bạc vải vóc, con trai con gái. Ngày 15, em Thế tử là Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc đưa tôi tớ ra qui phụ. Toa Đô lại vào Thanh Hóa để kêu gọi mọi người ra qui phụ.

Mùa hè tháng 4, quân Nam thừa lúc sơ hở chiếm lại La Thành [Hà Nội].

Ngày mồng 5 tháng 5, Giảo Kỵ cùng Thiên hộ mưu mai phục lính cung nỏ để chiếm lại thành nhưng bị đẩy lui, bèn kéo quân đến sông Lô hợp binh với Trấn Nam vương Thoát Hoan để ngày hôm sau rút lui toàn bộ.

Quân Nam truy kích đến sông Nam Sách bị Hữu thừa Lý Hằng đánh lui, chém viên Nghĩa dũng của Hưng Đạo vương tên là Trần Thiệu. Lúc này tướng Toa Đô nghe tin đại quân đã rút về, bèn bắt đầu rút lui từ Thanh Hóa, dọc đường ngày đêm giao chiến bắt được tướng địch là Trần Đà Phạp, Nguyễn Thịnh. Đến Bái Khanh bị bộ tướng là Lễ Cước Trương làm phản kéo quân Nam đến đánh, Toa Đô ngã ngựa xuống nước chết, đại quân tan vỡ; Riêng Ô Mã Nhi cùng Vạn Hộ hầu Lưu Khuê dùng thuyền nhỏ thoát thân. Một mình Tiểu Lý giữ chiếc thuyền ở mặt sau chống cự với quân Nam, bị thua bèn tự vẫn, nhưng được quân Thế tử cứu sống và đối đãi tử tế.


CUỘC XÂM LĂNG CỦA QUÂN NGUYÊN VÀO NĂM MẬU TÝ [1288]

Mùa đông năm đó [1285] bọn nội phụ là Trần Ích Tắc đến kinh sư Đại Đô [Bắc Bình] làm lễ chiêm bái.

Mùa xuân năm Bính Tuất [1286] chế phong Trần Ích Tắc làm An Nam Quốc vương, Trần Tú Viên làm Phụ Nghĩa công, các quan lại tùy tùng đều được ban chức tước.

Năm Đinh Hợi [1288] triều đình lại hưng binh đem An Nam Quốc vương về nước. Thiên tử mệnh bọn Bình chương Áo Lổ Xích đem quân Mông Cổ và Hán thuộc 4 tỉnh Giang Hoài, Giang Tây, Hồ Quảng và Vân Nam; quân tại các động Quảng Tây, Lê binh tại Hải Nam, và lực lượng vận lương đường biển do bọn Vạn hộ Trương Văn Hổ chỉ huy gồm 10 vạn tên; tất cả chịu dưới quyền tiết chế của Trấn Nam vương Thoát Hoan

Tháng 9 mùa đông binh khởi hành tại tỉnh Ngạc [Hồ Bắc].

Ngày 28 tháng 10 đến Lai Tân [Quảng Tây] chia binh. Tham chính Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp suất 18.000 quân. Ô Vị, Lưu Khuê, Trương Ngọc cầm quân mấy vạn, 500 chiến thuyền, 70 thuyền vận tải xuất phát từ châu Khâm.

Ngày 11 tháng Một, cánh quân thủy ra quân trước, tới cửa biển Vạn Ninh; tướng giặc là Nhân Đức hầu Trần Da [Trần Khánh Dư] phục binh tại núi Lãng Sơn định đánh tập hậu; quân ta phát giác kịp bèn vây núi đến sáng tấn công; quân địch chết trôi mấy trăm tên, tịch thu vài chục chiếc thuyền. Ô Mã Nhi thừa thắng đuổi dài, không để ý đến thuyền lương đằng sau bị đánh tan vì không có tiếp viện.

Ngày 23 bộ binh tới Lộc Châu [vùng đất biên giới nằm trong tỉnh Lạng Sơn] chia binh như sau:
 

  • Hữu thừa Trịnh Bằng Phi, Tham chính A Tháp Nhi vào ải Chi Lăng.

     

  • Đại quân của Trấn Nam vương vào ải Khả Lợi, có Hữu thừa A Bát Xích làm tiên phong.
     

Hữu thừa Ái Lỗ từ Vân Nam tiến binh vào Tam Đại Giang giao chiến với Quốc đệ Trần Duật [Trần Nhật Duật] bắt được các tướng Hà Ánh, Lê Thạch.

Ngày mồng 3 tháng 12 quân bộ đến Tứ Thập Nguyên; Vương nhận thấy lương đã bị cướp mất, bèn ra lệnh cho Ô Mã Nhi dùng binh đi cướp lương các nơi; lại sai Hữu thừa Trình Bằng Phi, Tả thừa A Lý, Lưu Giang xây thành bằng gỗ tại hai núi Phổ Lại và Chí Linh để trữ lương nuôi quân.

Ngày 23 Vương chia binh tấn công, Phan Tham chính dùng thủy quân tháp tùng Vương đến Bắc Giang, quân địch ngăn sông, phục binh trong rừng lá bị ta đánh lui. Thủy quân ra sông Lô, [sông Hồng] quân Thế tử bị thua. Cũng vào thời gian này Tĩnh Đô Sự hầu Sư Đạt, Vạn Hộ hầu, Tiêu Thiên hộ điều một cánh quân khác khoảng 5.000 người cùng Lê Trắc từ châu Tư Minh tiếp tục tiến vào biên giới, ngày 28 đến ải Nội Bàng giao tranh suốt ngày đêm, bị quân địch đánh tan, Đô sự hầu tử trận. Trắc rành đường bèn dẫn các quan Vạn hộ, Thiên hộ cùng con trai của An Nam Quốc vương [Trần Ích Tắc] là Trần Dục, với bọn Thiêm sự Nguyễn Lĩnh, Phủ phán Lê Án cùng vài quân kỵ tử chiến thoát khỏi quan ải.

Ngày 29 Trấn Nam vương hành quân vượt sông Lô về phía tây, A Bát xích men theo bờ phía đông phá ải Hàm Tử. Thế tử rút lui về ải Hải thị, bị đại binh đánh phá.

Ngày mồng 4 tháng Giêng năm Mậu Tý [1286] Vương trở về đồn cũ, sai Ô Mã Nhi theo đường biển ngênh đón thuyền lương của Trương Văn Hổ đến lần thứ hai.

Vào ngày 11 giao chiến tại cửa Đa Ngư [cửa Văn Úc] quân Ô Mã Nhi bị đánh tan lúc thủy triều rút. Trước đó Trương Văn Hổ giao chiến với địch tại cửa An Bang bị thua, thuyền lương bị cướp mất, Văn Hổ chỉ còn một thuyền tháo lui về châu Khâm.

Ngày mồng 2 tháng 2, Thế tử cho anh là Hưng Ninh vương Trần Tung mấy lần đến xin hòa để làm giải đãi lòng quân ta, đêm đến lại cho quân cảm tử đến cướp các trại. Vương giận dữ sai Vạn Hộ hầu Giải Chấn đến đốt thành, các quan tả hữu can ngăn. Thần Nỗ Tổng quản Giả Nhược Ngu thưa:

“Quân chỉ có thể rút lui, không thể giữ được.”

Vương nói:

“Đất nóng, khí ẩm thấp, lương thực cạn, quân sĩ mệt mỏi.”

Rồi ra lệnh rút lui. Viên tướng hiệu về đường thủy thưa rằng:

“Chiến hạm chở lương hai lần đều bị đánh tan, chi bằng phá thuyền đi đường bộ là thượng sách.”

Vương sắp nghe lời nhưng bị tả hữu ngăn lại.

Ngày mồng 3 tháng 3, các viên Hữu thừa Trình Bằng Phi, Thiêm tỉnh Đạt Mộc dùng kỵ binh yểm hộ đoàn thuyền đến chợ Đông Hồ thì sông bị ngăn bằng chướng ngại vật nên phải quay trở lại. Cầu cống lại bị phá sập, địch đợi quân ta để đánh. Hữu thừa Trình Bằng Phi bắt một lão già chỉ đường, đang đêm rút lui hướng khác. Đại quân đến ải Nội Bàng, địch lại đánh tập hậu, bị Vạn Hộ hầu Đáp Thứ Xích, Lưu Thế Anh đánh lui, bắt được tướng giặc là Phạm Trù, Nguyễn Kỳ đem chém.

Ngày mồng 7, cánh quân đi bằng đường thủy đến Trúc Động, quân địch khiêu chiến bị Lưu Khuê đánh lui, thu 20 chiến thuyền. Ô Mã Nhi không theo đường biển mà lại noi theo đường sông Bạch đằng, gặp địch bèn dùng binh áp tải lương phản kích, lại được sự tiếp sức của cánh quân Phan Tham chính; tuy nhiên lại bị đánh bại lúc thủy triều rút.

Trên đường rút quân, Trấn Nam vương được tin địch đào rất nhiều hầm chông dọc đường, lại chiếm ải Nữ Nhi, bèn sai viên Châu mục Tư Minh là Hoàng Kiên dùng đường tắt dẫn quân qua Lộc Châu để trở về.”
 


4. Thư sớ của quan lại Trung Quốc

Hoàn cảnh đưa đẩy Lê Trắc, từ một gia thần tận tụy với chủ biến thành người dân phản bội tổ quốc; tuy khác tình khác cảnh với đồng bào ruột thịt, nhưng qua ngòi sử bút, ông vẫn luôn luôn nặng lòng với nước cũ. Không phải tình cờ khi tác giả sao lục các tờ chiếu dụ của vua Nguyên, để nói lên sự bắt buộc phải nhượng bộ của triều đình nhà Nguyên sau khi thua trận. Lại càng không phải vô tình khi ông nêu lên những thư sớ của quan lại Trung Quốc khuyên vua họ đừng nên xâm lăng Việt Nam. Hoàn cảnh của Lê Trắc không cho phép ông nói thẳng với Trung Quốc rằng họ chớ đụng đến Việt Nam, nên ông đã khéo léo mượn chính các danh nhân Trung Quốc làm công việc cảnh cáo những kẻ ôm mộng bành trướng, qua những sử liệu trong chương “Tiền Triều thư sớ” dưới đây:
 


“Như dưới thời Triệu Minh vương [124-113 TCN] Mân Việt đánh nhau với nước ta [Nam Việt], vua Vũ đế nhà Hán muốn nhân cơ hội này mang quân can thiệp để thôn tính Nam Việt; Hoài Nam vương An dâng sớ can gián, mạnh mẽ trình bày những lý do bất lợi về việc xâm lăng như sau:

“Việt là dân ngoài với tục cắt tóc vẽ mình, không thể xử lý theo pháp độ của dân ta với tục cân đai mũ nón. Từ khi nhà Hán dựng nước đến nay đã 72 năm rồi, các nước Ngô Việt đánh nhau không biết bao nhiêu lần nhưng Thiên tử chưa từng mang binh tới đó. Thần nghe nói rằng dân Việt không ở trong thành quách làng xã, sống trong khe suối lùm tre bãi sậy, quen thủy chiến giỏi dùng thuyền, đất hoang dã nhiều sông ngòi hiểm trở, núi sông tắc nghẽn đầy rẫy rừng già, đi không cùng được, nhìn qua tưởng dễ, nhưng vào việc mới thấy khó!

… Vả lại dân Việt khinh bạc phản phúc, không theo pháp độ không phải chỉ một lần. Nếu không theo pháp độ thì mang quân trách phạt, thần e rằng việc binh cách không bao giờ chấm dứt. Mỗi lần phát binh vào đất Việt, phải khiêng kiệu lên núi, kéo thuyền xuống nước; đi được vài trăm dặm, sông hẹp đầy tre trúc, đá núi đổ xuống, trong rừng đầy cọp dữ, mùa hạ trời nắng chang chang hay bị bệnh thổ tả chóng mặt; tuy đao kiếm chưa chạm địch mà chết cũng nhiều rồi….”

“… Thời nhà Tần cử Úy Đồ Thư đánh Việt, dân Việt rút vào rừng sâu đánh không được. Quân đóng chỗ không người, lần lữa ngày tháng trở nên mệt mỏi. Nhắm thời cơ này quân Việt tấn công, quân Tần đại bại. Nhà Tần bắt lính bị đày đến đồn trú, lúc này trong ngoài xao động dân chúng đồ thán; người đi chinh chiến không được về bèn bỏ hàng ngũ quần tụ thành giặc, mối loạn ở Sơn Đông bắt đầu phát sinh từ đó. Lời Lão Tử nói: “Quân lính hành quân chỗ nào, gai góc mọc đầy chỗ đó” đã thực sự xẩy ra. Binh là việc nguy hiểm, một phương có biến bốn phương giao động; thần sợ biến cố sinh, bọn gian thần lợi dụng thao túng. Chu Dịch [9] chép rằng: “Cao Tông phạt Quỉ Phương, 3 năm mới bình định được.” Quỉ Phương chỉ là một nhóm Man Di nhỏ, Cao Tông là vua thịnh trị đời nhà Ân. Thế mà vua nước thịnh trị đánh bọn Man Di nhỏ, phải mất 3 năm mới dẹp được, đủ biết việc dụng binh không thể không cẩn trọng.

Thần nghe rằng quân thiên tử chỉ dùng để chinh phục không phải để đánh, ý nói ra uy không ai dám cự. Nếu như để cho người Việt kiêu hãnh liều chết xông vào lúc không phòng bị nên buộc phải rút lui, thì cho dù lấy được đầu vua nước Việt cũng không đủ rửa nhục cho đại Hán.” (ANCL quyển V trang 113)
 


Thời vua Lê Đại Hành, vào năm Tân Tỵ [981] quân Tống xâm lăng nước ta bị thảm bại; tướng Hầu Nhân Bảo bị giết, Quách Quân Biện và Triệu Phụng Huân bị bắt. Vua nhà Tống tức giận định mang quân đánh trả thù. Các đại thần cực lực can gián; trong số đó có viên gián quan tên là Điền Tích dâng lên bài sớ nổi tiếng; được sao lục trong ANCL với những đoạn như sau:
 


Nay ta chưa hạ được Giao Chỉ, đánh mãi mà không thắng; xuân thu lần lữa, quân sĩ tiêu mòn, tài lực hao phí. Binh thư dạy rằng: “quân sĩ hành quân nơi khó khăn, nhuệ khí dễ mất”. Thần nghe rằng bậc Thiên tử anh minh không chuộng mở đất đai, chỉ chuộng đức lớn mà thôi; vua Vũ có 7 đức [10] sao bệ hạ không lo mở mang…

… Vả lại Giao Châu ở nơi góc biển đầy lam chướng, chiếm được chẳng khác gì cày trên ruộng gạch, tới nơi không quen thủy thổ, ở lại đầy lo lắng, đóng binh lâu chết chóc nhiều. Nên thương quân lính, tiếc sự tiêu hao sinh lực, đừng dụng binh lâu khiến hao mòn tiền của, hãy tu sửa đức để người xa đến triều cống, chớ nên tước đoạt sinh lực trong nước để chinh chiến cần lao bên ngoài. Nên dùng chiếu thư để hiểu dụ họ, tỏ lượng khoan hồng không chém giết. Đừng nên để các nước xa xôi làm bệ hạ mệt nhọc tức, giận gây sự tổn hại cho đại thể triều đình.” (ANCL quyển V, trang 126)



B. Địa lý

Về địa lý thiên nhiên ANCL có các chương đề cập đến vị trí, giới hạn, sông núi. Địa lý nhân văn có các chương về quận ấp, thành quách, cổ tích. Để giúp cho người đọc dễ dàng kê cứu, tác giả nhấn mạnh đến sự thay đổi về địa danh qua các thời đại; ví như tên nước ta xưa là Nam giao, đời nhà Chu gọi là Việt Thường, đời nhà Tần là Tượng Quận, đời nhà Triệu là Nam Việt v.v...

Đặc biệt trong quyển thứ XIX tác giả soạn một bài ca về bản đồ Việt Nam nhan đề là “Đồ chí ca” với phần mở đầu nói qua về lai lịch nước Việt, như sau:
 


An Nam bản đồ sổ thiên lý,
Thiểu thị dân cư, đa sơn thủy.
Đông lân Hợp phố, bắc nghi Ung,
Nam để Chiêm Thành, tây Đại Lý.
Cổ lai Ngũ Lĩnh hiệu man di,
Triệu tự Đào Đường hữu Giao Chỉ.
Kỳ tại Thành Chu vi Việt Thường,
Trùng dịch tằng lai cống bạch trĩ.
Tần danh Tượng Quận, Hán Giao Châu,
Cửu Chân, Nhật Nam tiếp kỳ địa…
 


Dịch nghĩa:
 


Bản đồ An Nam rộng hàng ngàn dặm,
Dân cư tuy ít nhưng sông núi thì nhiều.
Phía đông giáp Hợp Phố [11] , phía bắc giáp châu Ung [12] ,
Phía nam giáp Chiêm Thành, phía tây là nước Đại Lý. [13]
Thời xa xưa còn man di thì gọi là đất Ngũ Lĩnh,
Đến đời Đào Đường [14] có tên là Giao Chỉ.
Đời Thành Vương nhà Chu tên là nước Việt Thường,
Từng sai sứ mang chim bạch trĩ tiến cống, phải qua nhiều lần thông dịch.
Đời Tần có tên là Tượng quận,
Đời Hán gồm các quận Giao Châu, Cửu Chân và Nhật Nam.



C. Phong tục

Các bộ sử nước ta thời xưa chép rất ít về phong tục. Có thể nói chương phong tục trong ANCL dịch nguyên văn dưới đây, được coi như là những tư liệu quí hiếm và xưa nhất về phong tục Việt Nam:
 


An Nam xưa là đất Giao Chỉ, thời Đường Ngu [15] Tam đại [16] văn hóa Trung Quốc đã từng ảnh hưởng tới; đến đời Tây Hán bắt đầu nội thuộc [17] . Đàn ông làm ruộng hoặc buôn bán, đàn bà nuôi tằm dệt vải; lời nói hiền lành, ít dục vọng. Tính hiếu khách, thấy người xa tới thường chuyện trò thăm hỏi. Người đất Giao, Ái [18] cư xử nhẹ nhàng có mưu trí; dân hai xứ Hoan Diễn [19] thường hiếu học, kỳ dư thì chất phác. Dân theo tục Ngô Việt vẽ mình, bởi vậy thơ Liễu Tông Nguyên đời Đường có câu “Cộng lại bách Việt văn thân địa.” Trời nắng nóng thích tắm sông nên rành bơi lội chèo thuyền. Thông thường không đội nón, khi đứng thường khoanh tay, ngồi xếp vành hai chân. Yết kiến các bậc tôn trưởng thì quì xuống vái ba vái. Tiếp khách mời ăn trầu. Thích hải vị chua mặn, uống nhiều sức yếu nhược. Tuổi đến 50 được miễn sưu dịch.

Về lễ tiết thì trước tết hai ngày vua ngồi kiệu, các quan mặc lễ phục sắp hàng phía trước đến lễ điện Đế Thích. Ngày trừ tịch [30 tết] vua ngự tại cửa Đoan Củng, sau khi các đại thần quan liêu làm lễ xong sai hề diễn hài kịch; đến chiều yết kiến cung Đồng Nhân. Trước đó trong ngày, thỉnh sư làm lễ trừ tà; dân gian đốt pháo trước nhà, đặt mâm bàn cúng tổ. Trai gái nhà nghèo không có mối manh lễ lạt có thể tự lấy nhau.

Vào canh năm vào lễ Nguyên Đán vua ngự tại điện Vĩnh Thọ, các hoàng tử, thị vệ đến mừng tuổi rồi cùng đến cung Trường Xuân bái lăng miếu tổ tiên. Buổi sáng vua ngự tại điện Thiên An, phi tần ngồi theo thứ tự, các nội quan [20] đứng hầu trước điện, nhạc tấu tại đại đình. Các quan liêu lần lượt vào bái lạy chúc mừng, rượu mừng ba chén. Các Hoàng tử lên điện dự yến tiệc, nội quan ngồi dự tiệc tại tiểu điện phía tây, ngoại quan tại nhà chái phía tây. Quá giờ Ngọ thợ mộc dựng đài Chúng Tiên hai tầng trước điện. Đài được trang trí huy hoàng, vua thượng đài, rượu dâng 9 chén,các quan bái 9 lần rồi cáo lui. Ngày mồng 2 các quan làm lễ tổ tiên tại nhà. Ngày mồng 3 vua ngự tại gác Đại Hưng xem các Vương tôn, nội thị đá tú cầu; ai tiếp trái cầu không để rơi là thắng. Cầu hình tròn, to bằng nắm tay trẻ con, làm bằng gấm nối đuôi dài bởi 20 sợi tua đầy màu sắc. Ngày mồng 5, sau khi vãn tiệc khai hạ quan lại và dân gian đi lễ đền chùa, cùng thưởng ngoạn các vườn hoa nổi tiếng. Ngày lễ Nguyên Tiêu [15 tháng Giêng] trồng cây đèn tại quảng trường gọi là Quảng Chiếu Đăng, hàng ngàn ngọn đèn sáng ngời, sáng tận từ trên xuống dưới; sư nhiễu quanh đèn tụng kinh, quan lại bái lạy gọi là triều đăng. Tháng 2 dâng Xuân Đài, con gái hóa trang thành 20 vị thần ca hát trên đài. Nhà vua xem đấu võ tại Quan Đình, các dõng phu hoặc nhi đồng tranh đấu, ai thắng được thưởng. Các công hầu ngồi trên ngựa đá cầu, quan lại hoặc các binh sĩ thì đánh bạc hoặc chơi các trò chơi như trọi trâu… Tiết Hàn thực [21] các bà nội trợ làm bánh cuốn tặng lẫn nhau. Ngày mồng 4 tháng 4 các con cháu dòng Tôn thất hoặc các quan Nội thị [22] họp tại miếu sơn thần thề trung thành không hai lòng. Ngày mồng 8 tháng 4 mài gỗ đàn hương tắm Phật, làm bánh hình tròn cúng dường. Tết Đoan Ngọ [mồng 5 tháng 5] dựng lầu gác trên sông, vua ngự xem thi bơi. Trung Nguyên dự hội Vu Lan Bồn làm lễ xá tội vong nhân, tiêu phí nhiều cũng không tiếc. Ngày lễ Trung Thu, [rằm tháng 8] Trùng Cửu [ngày 9 tháng 9] chỉ có nhà quí tộc thưởng thức. Vào đầu tháng 10 dâng cơm mới cúng gia tiên, các thần liêu ra đồng xem gặt lúa nếp, săn bắn làm vui. Ngày 12 làm lễ cúng tổ, cử hành theo gia lễ. Ngày lập xuân theo tục lệ gia trưởng dùng roi đánh xuống đất và trâu cày [23] các thần liêu dắt hoa cài trâm dự yến hội. Hôn lễ được tổ chức vào những tháng mùa xuân, bà mai [24] mang hộp trầu cau đến nhà gái làm lễ hỏi, thách cưới tiền từ trăm cho đến ngàn, thứ dân chỉ đến hàng trăm thôi, nhà có lễ giáo không kể tiền nhiều hay ít. Tang lễ,các đồ nghi thức giống như Trung Quốc. Nhạc khí có phạn cô ba [trống cơm] gốc từ Chiêm Thành, dùng cơm nghiền nát quét lên mặt trống nên tiếng rất trong. Nhạc khí này hợp với tất lật, tiểu quản, tiểu bạt, đại ngữ thành đại nhạc. Đại nhạc dành riêng cho vua, ngoại trừ lễ Tiếu [25] các tôn thất quí quan không được dùng. Các nhạc khí như cầm, tranh, tỳ bà, thất huyền, song huyền, lập địch, tiêu gọi là tiểu nhạc; kẻ sang hiền ai dùng cũng được. Các khúc nhạc như Nam Thiên Nhạc, Ngọc Lâu Xuân, Đạp Thanh Du, Mộng Du Tiên, Canh Lậu Trường và còn nhiều khúc khác không thể kể xiết. Nhạc có khúc dùng thổ ngữ, có khúc phổ từ thi phú rất tiện cho việc ca ngâm; có loại hoan lạc, có loại sầu oán, vui buồn ngụ trong tâm tình. Đại để những điều trên đều là quốc tục.




 

*



Những điều trình bày ở trên chỉ mới nêu lên được những nét tiêu biểu của ANCL; hy vọng trong tương lai tác phẩm này được nghiên cứu kỹ; khi công trình này hoàn thành, chắc kho tàng lịch sử Việt Nam sẽ được cung cấp nhiều tài liệu quí giá.

© 2007 talawas

 


[1]Chương Thâu, “Sách An Nam chí lược và tác giả của nó”. Trong An Nam chí lược, NXB Thuận Hóa, Huế, 2002.
[2]Mạc liêu là quan lại riêng của các vương, hầu. Theo chế độ nhà Trần, các vương hầu có binh lính quan lại riêng.
[3]ANCL, quyển XIX, Tự sự.
[4]Duyên cách chỉ các địa danh thay đổi theo thời gian, như xưa gọi kinh đô Thăng Long, nay gọi là Hà Nội.
[5]Tứ khố toàn thư được thành lập vào đời Đường Minh Hoàng, thời Càn Long nhà Thanh (1772) thu thập thêm thành một kho sách khổng lồ của Trung Quốc gồm 9.339 quyển, được chia thành 4 loại: Kinh, Sử, Tử, Tập.
[6]ANCL, quyển Thủ, Tự sự.
[7]Tư Mã Thiên là sử gia nổi tiếng của Trung Quốc. Ông sinh vào đời Hán thuộc dòng dõi gia đình viết sử, lại từng du lịch nhiều nơi trong nước nên có đủ học vấn từng trải để viết nên một kiệt tác về sử.
[8]Mục lục của Tứ khố toàn thư.
[9]Dịch là bộ sách triết học quan trọng của Nho học, giải thích về vũ trụ quan và nhân sinh quan.
[10]Bảy đức gồm: Cấm bạo (ngăn cấm bạo loạn), tập binh (tập trung binh lính một chỗ riêng), bảo đại (giữ nước lớn mạnh), định công (định rõ công lao), an dân (yên ổn dân chúng), hòa chúng (dân chúng sống hòa hợp), phong tài (tài nguyên phong phú)
[11]Hợp Phố: tên một quận đời Hán, nay thuộc tỉnh Quảng Đông, TQ.
[12]Ung: tên một châu đời Đường, nay thuộc tỉnh Quảng Tây, TQ.
[13]Đại Lý: tên nước xưa đã bị Trung Quốc thôn tính, nay thuộc tỉnh Vân Nam, TQ.
[14]Đào Đường: Triều đại vua Nghiêu (2357 TCN), TQ
[15]Đường Ngu: các triều đại Nghiêu, Thuấn, TQ.
[16]Tam Đại: ba triều đại Hạ, Thương, Chu, TQ.
[17]Nội phụ hoặc nội thuộc, chỉ những nước lân bang bị Trung Quốc cai trị.
[18]Giao Ái: tức Giao Châu và Ái Châu; hiện nay là Bắc Việt và Thanh Hóa.
[19]Hoan Diễn: tức Hoan Châu và Diễn Châu; thuộc tỉnh Nghệ An hiện nay.
[20]Nội quan: Các quan làm việc trong triều.
[21]Tiết Hàn Thực vào đầu tháng 3 Âm lịch, trước tiết Thanh Minh 2 ngày, theo tập tục dịp này cấm lửa ăn đồ nguội.
[22]Nội thị: người hầu hạ trong cung vua.
[23]Phải chăng tục lệ đánh xuống đất và trâu bò, nhắm thôi thúc trâu bò làm việc hăng, đất sản xuất nhiều hoa màu?
[24]Bà mai: Người làm mai mối trong cuộc hôn nhân.
[25]Lễ Tiếu: lễ cầu thần linh phù hộ.

 

 
 
    Thoi Nay Montreal - Giai Tri va Doi Song

Mục lục

Thời Hùng Vương:

Ôn cố tri tân:

TL&BK:

   
 

Copyright © 2011 | TN InfoWay