̣Điểm
qua các binh-thư trứ danh của Trung-quốc
trong các đời thì về đời Tam-hoàng có các
sách:
Huỳnh Đế Binh Pháp
Ốc-Kỳ-Kinh của Phong-Hậu
Trong đời Chu được soạn các
sách:
Thái-Công Binh-pháp của Lã-Vọng
Lục-Thao của Triều-đình Chu
Chu-Công Tư-Mã-Pháp
Tư-Mã Binh-pháp của
Điền-Nhương-Tư (nuớc Tề)
Tôn-Tử Binh-pháp của triều-đình
Ngô
Ngô-Tử Binh-pháp của triều-đình
Ngụy
Uất-Liễu-Tử Binh-pháp của
Uất-liễu (học trò của Quỉ Cốc
Tử)
Trong đời Hán có:
Tố-thư của Huỳnh-thạch-công
Tâm-thư của Khổng-minh
Vào
đời Đường có:
Thái-Bạch Âm-Kinh của Lý Thuyên
Lý-Vệ-Công Vấn-Đối của
triều-đình Đường,…
Nếu chỉ xét riêng các binh-thư
còn thấy được ngày nay cũng có
tới 53 nhà:
-13 nhà về Quyền Mưu
-11 nhà về Hình Thế
-16 nhà về Âm-duơng
-13 nhà về Kỹ Xảo
Xem trên thì đủ hiểu rằng
binh-học sâu rộng như rừng, như
biển, làm sao các võ-quan có thể
đọc hềt các binh-thư được.
Bởi thế, các đời sau có soạn
những bộ binh thư tổng-hợp
thường được gọi là Võ Kinh.
Trong đời Tống có các bộ:
Võ Kinh Tổng-Yếu (40 quyển) của
nhóm Tăng-Công-Lượng
Hổ Kiềm-Kinh (20 quyển) của Hứa
Động
Bị-Luận (l quyển) của Hà-Khứ-Phi
Mỹ-Cần-Thập-Luận (l quyền) của
Tân-Khí-Tật
Võ-Kinh Thất-Thư gồm có 7 sách
tuyển-định là:
1.Thái-Công Binh-pháp
2.Lục-Thao
3.Tư-Mã pháp
4.Tôn-Tử
5.Ngô-Tử
6.Uất-Liễu-Tử
7.Lý-Vệ-Công Vấn-Đối
Trong đời Minh có các bộ :
Võ-Kinh Khai-Tông (14 quyển) của
Huỳnh-Hiến-Thần
Võ-Kinh Tá-Nghị (7 quyển) ;
Võ
Biên (12 quyển) của
Đường-Thuận-Chí
Võ-Bị Chí (240 quyển) của Mao-Nguyên-Nghi
Võ-Bị Tâm-Lược (7 quyển) của
Thi-Vĩnh-Đồ, vân vân.
Các
binh thư soạn ra thực là nhiều,
không kể xiết! Nhưng từ đời Minh
trở về sau binh-học của Trung
quốc có vẻ suy-đồi nên các
binh-thư soạn ra về sau ít được
người đời nhắc nhở.
Trong dĩ-vãng, nước Việt-nam đã
trải qua nhiều cuộc chiến tranh.
Các triều đại lớn như Đinh, Lê,
Lý, Trần, Lê, Nguyễn đều được
xây-dựng và giữ-gìn bằng
chiến-công nên không thể
xao-lãng nghề võ. Vì chịu ảnh
hưởng của văn-minh Trung-quốc,
các võ tướng Việt Nam ắt phải
đọc những binh thư của
Trung-quốc điều ấy cũng hợp lẽ,
vì các binh-thư ấy rất có
giá-trị, không phải riêng đối
với Á-Đông, mà còn đối với thế
giới nữa. Thử hỏi các binh-gia
Âu-tây ngày nay, ai mà không
biết uy-danh của SUN TZE tức là
Tôn-Tử?
Ngoài ra, các triều-đình Việt
Nam cũng có san-định võ-kinh
riêng để cho các tướng sĩ học
tập. Nếu chỉ kể những bộ nổi
tiếng nhất thì đời Trần có bộ
Vạn-Kiếp Tông Bí-Truyền và bộ
Binh-Thư Yếu-Lược của Hưng-Đạo
Vương Trần-Quốc-Tuấn, đời Nguyễn
có bộ Hổ-Trướng Xu-cơ của
Lộc-Khê Hầu Đào-Duy-Từ.
Vạn-Kiếp Tông Bí-Truyền là một
binh-thư rất quí, thuộc loại
âm-dương học, không thể
phổ-thông ra ngoài dân chúng,
vậy ta không thể bàn-luận điều
gì. Nhân-Huệ-Vương Trần-khánh-Dư
đề tựa sách ấy, viết như sau:
---
BINH THƯ YẾU LƯỢC - TRẦN HƯNG ĐẠO
(Ghi chú: cuốn
gốc bị thất truyền . Nay xem các nguyên tắc
trong binh thư do nhiều người biên soạn và
bổ túc.)
•THIÊN-TƯỢNG
•GIẢN-MỘ
•TUYỂN TƯỚNG
•MỆNH TUỚNG
•TƯỚNG-ĐẠO
•GIẢN-LUYỆN
•QUÂN-LỄ
•THUỞNG PHẠT
•MẠC-HẠ
•BINH-CỤ
•HIỆU-LỆNH
TƯỢNG TRỜI
1. PHÉP BÍ-MẬT XEM SẮC TRỜI VÀ SẮC MÂY
TRONG TIẾT NGUYÊN ĐÁN
Tiết Nguyên-đán, đúng tháng giêng, ngày mồng
một, giờ tý lên lầu bí mật xem bốn phương.
Nếu thấy khi mây màu vàng thi năm ấy thóc
lúa trúng mùa lớn.
Nếu thấy khí mây màu trắng thì có việc
binh-biến xảy ra, nếu chỉ có một vầng mây
hiện ra một mình ở hướng nào thì ở hướng ấy
có nạn đao-binh.
Nếu thìn bốn phương không thấy mây mà chỉ
thấy hai màu đỏ trắng liền nhau, thì màu đỏ
tượng trưng cho máu, màu trắng tượng-trưng
cho chất kim (gươm, đao) hai màu ấy hiện ra
ở hướng nào thì ở hướng ấy sẽ dấy loạn.
Màu xanh là điềm có nạn gió bão, mầu đen là
điềm có nạn mưa lụt ; nước nào có điềm ấy
thì phải phòng-bị
2. PHÉP XEM KHÍ HẬU BỐN MÙA :
NGÀY LẬP-XUÂN : Vào giờ dần, giờ mão, nếu ở
hướng đông có mây trắng hiện ra như là trời
thòng binh-khí xuống, xứ nào có điềm ấy thì
sẽ sinh loạn lớn.
Nếu mây có hình-đạng như thanh kiếm treo
ngược, đầu trên bằng, đầu dưới nhọn, thì xứ
ấy sẽ chết hết, đó là điềm xấu. Mây ấy ở cao
thì nạn còn chậm, mây ấy ở thấp thì nạn chết
mau đến. Trong mọi trường-họp đêu phải lấy
trăm phép toán thêm vào để biết chính-xác
hơn.
NGÀY LẬP-HẠ : Vào giờ tý, giờ ngọ, nếu thấy
ở hướng nam có mây đỏ như là binh trời bày
việc chiến-tranh, hoặc giống như chỉa dáo,
có hình dạng như khăn tay màu hồng thì ở
hướng ấy có việc đao-binh xảy ra trong năm
ấy, không đợi tới năm sau.
NGÀY LẬP THU : Vào giờ thân, giờ dậu, nếu
thấy ở hướng tây có mây trắng mọc thẳng ngay
lên, nếu ở tiết lập-thu thì trong năm ấy về
hướng tây có binh dấy loạn.
Nếu vào giờ ngọ mà có mây trắng chắn ngang
giữa trời như là tiến binh lập trận thì sẽ
có binh dấy loạn.
NGÀY LẬP ĐÔNG : Vào giờ tý, giờ sửu, nếu ở
hướng bắc có mây trắng hình dạng như chim
thì ở dưới hướng ấy trong năm tới, vào tháng
tư sẽ có việc đao-binh.
Nếu mây trắng có hình-dạng giống như Hồ-binh
bày trận tiến binh thì năm tới vào thắng bảy
xứ ấy sẻ nổi loạn. Hễ nghe có loạn thì phải
chuẩn-bị gấp rút việc binh-mã
3. PHÉP XEM MÂY BAY ĐỂ ĐOÁN THỜI TRỜI.
Mây là khí núi nhân vì gặp đá mà bốc lên,
nên gọi là mây. Sách Cấm-thư nói rằng : Ngày
Nguyên-đán vào giờ tốt bậc chủ-tướng nên đi
lên lầu xem-xét.
Bốn phương trong sáng mà chỉ có một đám mây
xanh hiện ra giữa. trời thì thiên-hạ sẽ đói
kém mất mùa.
Nếu lâ mây trắng, sẽ có quốc-tang.
Nếu là mây đỏ sẽ có đổ máu, thiên-hạ đều dấy
binh, các giống mọi rợ ở hướng đông và ở
hướng bắc sẽ xâm-phạm biên-giới.
Nếu là mây đen, sẽ có mưa lụt.
Nếu là mây vàng đó là điềm lành.
Nếu ở bốn phương trời có gió bụi màu đỏ bay
đầy núi sông thì sẽ có mưa.
4. PHÉP NGHE SẤM SÉT ĐỂ ĐOÁN THỜI TRỜI.
Sấrn là trống của trời, nổ ra thì làm cho
người ta sợ-hãi tới muôn dặm.
Nếu tiếng sấm phát ra hòa nhã khác thuờng
thì trong năm ấy ở hướng có tiếng sấm sẽ
được an-ổn.
Nếu sấm dội kinh-khủng thì bên chủ nên
chuẩn-bị việc binh vì sẽ có giặc gây loạn
lớn.
Nếu sấm động ở hướng chấn (đông), sẽ thấy
cây-cối tốt-tươi, năm lành, nhiều sương.
Nếu sấm động ở hướng ly (nam), sẽ có đại-hạn
(nắng lâu không mưa).
Nếu sấm động ở hưóng khôn (tây-nam), sẽ có
tai-nạn lớn.
Nếu sấm động ở hướng đoài (tây), sắt sẽ trở
nên quí-báu, nạn đao binh sẽ xảy ra.
Nếu sấm động ở hướng càn (tây-bắc), đó là
điềm xấu.
Nếu sấm động ở hướng cấn (đông-bắc), sẽ có
nhiều bệnh và nạn đao-binh.
Nếu sấm động ở hướng khảm (bắc), năm ấy sẽ
mưa nhiều.
Tại nơi đang hành-binh, nếu quân đang sợ-hãi
thì lúc nghe sấm sẽ thua lớn; nếu nghe sấm
trước rồi mới sợ hãi sau, quân sẽ bi
chấn-động và kiếm chỗ ẩn-núp.
5. PHÉP NGHE SẤM NGÀY NGUYÊN ĐÁN:
Tiếng sấm hòa-nhã thì thiên hạ an-ổn và được
mùa.
Nếu ánh chớp chói mắt, sấm nổ điếc tai thì
thiên-hạ sẽ rối-loạn, nên lo gấp việc
binh-bị, thấy điều ấy chẳng khá
khinh-thường.
Sấm-sét là do âm-dương biến-chuyển và
cảm-ứng nhau mà sinh ra.
Tướng đang hành binh, nếu sấm nổ đằng sau
lưng thì binh sẽ gặp nhiều điều tốt lợi ;
nếu sấm nổ ở trước mặt thì binh sẽ gặp điều
xấu lắm.
Nếu sấm nổ trước rồi mới thấy sét đánh thì
tiểu nhân thịnh mà quân-tử suy ; nếu thấy
sét đánh trước rồi mới nghe sấm thì quân tử
thịnh mà tiểu-nhơn suy.
Sấm thuộc âm, sét thuộc dương.
Tháng giữa xuân (tháng hai) sấm bèn phát,
tháng giữa thu (tháng tám) sấm bèn ẩn, nếu
nghịch thời sẽ có việc đao binh nổi lên.
6. PHÉP XEM HƯỚNG GIÓ THỔI LÊN TRỜI HAY
XUỐNG ĐẤT
Gió từ hướng khảm (bắc) – thổi lại gọi là
hắc-tuyền-phong (gió suối đen) : năm ấy
không có nạn đao-binh, nhân dân bị bệnh-tật
và giữa năm chết về bệnh ôn dịch.
Gió từ hướng cấn (đông-bắc) thổi lại gọi là
huỳnh-tuyền-phong (gió suối vàng) : năm ấy
không có việc binh, cọp beo xuống đòng nội
làm tổn hại nhân dân.
Gió từ hướng chấn (đông) thổi lại gọi là
vọng-nữ-phong (gió gái trông chồng) : năm ấy
không có việc binh, sinh~mạng của nhân dân
bị nguy-khốn.
Gió từ hướng đoài (tây) thổi lại gọi là
kim-liên-phong (gió sen vàng) : năm ấy không
cô việc binh, gái phạm vào tâm tư của trai,
dân.chúng bị chết về bệnh ngặt.
Gió từ hướng ly (nam) thổi lại gọi là
hỏa-huyết-phong (gió máu lửa) : năm ấy nắng
lâu không mưa, có nạn đao-binh.
Gió từ hướng khôn (tây-nam) thổi lại gọi là
thai-bệnh-phong (gió bệnh thai nghén) : năm
ấy không có việc binh, đàn-bà nhiều người
chết vì sinh-đẻ.
Gió từ hướng càn (tây bắc) thổi lại gọi là
tang-phục-phong (gió tang-phục) : năm ấy
người người chét gấp, có dân nổi loạn.
Nếu hành-quân tới trận, gặp năm tuổi của
tướng-súy, gió từ hướng sao Thái-tuế thổi
lại gọi là đại sát phong (gió giết nhiều)
thì tai-hoạ đang đến gấp.
7. PHÉP BÍ MẬT DẠY CÁCH XEM GIÓ TÁM HƯỚNG
* Thứ nhứt: Gió dữ sắc đỏ : Nếu trong nưởc
có hiền thần bị tù-tội, thì người ấy
thình-lình thấy sắc đỏ hiện lên khắp mặt.
Bỗng dưng trời đất biến ra hồng
Hiền-sĩ bất ngờ vuớng ngục gông
Kỳ-hạn không ngoài trăm ngày tới
Nước chia hai xứ quyết tranh hùng
* Thứ hai: Gió bắc sắc vàng : nhìn không
thấy người, ắt có trung-thần bị tội chết :
gió từ hướng bắc thình-lình thổi tới làm cát
bụi sắc vàng tung bay là đó vậy :
Bỗng dưng trời đất biến ra vàng,
Tất có trung thần phải chết oan,
Hạn tới không ngoài ba tuần nhật,
Bốn phương yêu quái khởi làm càn.
* Thứ ba: Gió sắc đen : Hoặc ban đêm hoặc
ban ngày, trời quang tạnh mà mặt trời, mặt
trăng và các sao vẫn không sáng, gió ấy bỗng
thổi đến làm cho trời đất u ám ; trong vòng
300 ngày (10 tháng) sẽ có mọi-rợ miền nam và
miền đông xâm-lấn biên giới.
Gió đen bỗng thổi giũa trời quang
Trời đất sao trăng phải tối-tăm
Trăm ngày chưa tới là kỳ-hạn
Man ải ắt khởi cuộc xâm lăng !
* Thứ tư: Gió giết giặc : (sát tặc phong) :
Hoặc tại bản-dinh hoặc ở giữa trận, gió làm
cho nhành reo, cây gãy, chốc chốc lại thổi,
phầng kè ngày đêm, mỗi ngày đi được ba mươi
dặm.
Giữa trận tùy thời ta hay theo
Nhành rung cây gãy, gió kêu gào
Ba quân gấp tiến theo chiều gió,
Gặp thời giao-chiến, lập công nhiều !
* Thứ năm: Gió dữ thừa lệnh quỷ-thần (thần
lệnh ác-phong) : Bỗng thấy gió ẩy
uyển~chuyển thồi tới luôn cả ngày đêm.
Giữa ngày bỗng nổi gió thần-phong,
Nhổ trại, cầm thương tất gặp hung,
Trước đường khòng quá muời dặm đất,
Phải phòng bên địch phục binh-hùng !
* Thứ sáu: Gió làm bại binh : (Bại
binh-phong) : Hoặc mau hoặc chậm, thồi ngược
tới trước mặt ta, chốc chốc lại thổi, trận
này kbó định :
Dàn binh bỗng thay gió bại binh,
Rát mặt bụi mù gió lớn kinh.
Ba quân truyền lệnh lui binh-mã
Giao-chiến thời này ắt hại mình !
* Thứ bảy: Gió nóng ác hại (ác-noãn-phong) :
Gió nóng như lửa xuyên qua người, đang
yên-ồn bỗng nổi lên, về mùa đông cũng chảy
mồ-hôi, trong bụng hơi nóng trong vòng trăm
ngày thiên-hạ sẽ đổ máu.
Bỗng trận cuồng-phong thổi nướng người
Nóng ran sĩ tốt đẫm mồ hôi
Trăm ngày chưa tói, phòng đánh lớn
Máu đổ xương rơi ắt loạn rồi !
* Thứ tám: Gió mưa ác hại (Thủy-ác-phong) :
Gió phá-hoại tới ruột xương người đang
yên-lặng bỗng gió thổi tới vùn vụt, lạnh
buốt như sương tuyết, sĩ-tốt không mở mắt ra
được Binh-mã phải giải-tán, chắc-chắn sẽ
thua.
Lạnh thấu ruột xương, ấy thủy-phong,
Thuyền, cầu thủy trận cũng toi công,
Ba quân truyện lệnh không nhìn rõ
Binh phục bên đường. phải khá phòng .
8. PHÉP XEM GIÓ LÀNH :
Khi có gió lành (báo điềm lành) thì ngày
trong sáng, hơi gió hòa-nhã ; theo phần ngày
nào, phần tháng nào, phần giờ nào, hoặc theo
phương sinh-khí nào mà tới thì lòng người
vui đẹp, nước được điều tốt lành.
Về ngày, âm đương là điều bí-yếu: các ngày
giáp, bính, mậu, canh, nhâm thuộc về hướng
phần dương ; các ngày ất, binh, kỷ tân, quí
thuộc về hướng phần âm. Hướng quí là hướng
dương.
9. PHÉP XEM GIÓ DỮ :
Khi có gió báo nạn dữ thổi tới, thì ngày đó
nặng nề u-ám, khí trời tối-tăm, bế-tắc,
tiếng gió gào thét như là giận-dữ, cát bay
lá rụng, gió theo phương dữ mà thổi đến. Nên
gấp lo việc binh-bị để giữ kỹ, thế nào cũng
có giặc tới.
10. PHÉP BÍ MẬT XEM CHÍN THỨC MÂY:
* Thứ nhất: Trời có sắc xanh biển : Trời
mờ-mit, hỗn-độn, xanh thẩm, thấy mặt người
cũng có màu xanh ắt là giặc tây nhung
xâm-phạm biên-giới, nước trung-ương chẳng
được yên-ổn :
Thứ nhút, trời xanh thẩm lạ-lùng
Đế Vương lên điện hỏi Chu-Công,
Hiện ra điềm ấy chừngh nủa tháng,
Biên-cương ắt phạm giặc Tây-Nhung.
* Thứ nhì: Trời có sắc hồng : Điềm này chủ
về việc đại-tướng, hiền-than bị tù hãm, đang
yên-ổn mà bỗng đựng sinh ra như vậy Khi sắc
hồng ấy hiện ra thì trung-thần bi chết oan.
Tự-nhiên trời đất biến ra hồng,
Hiền-sĩ không ngờ vướng ngục gông,
Ví bằng chẳng có cuồng-phong khởi
Trăm ngày hai nước cũng giao-phong
* Thứ ba: Trời có sắc vàng : Trung-thần,
mưu-sĩ bị chết oan. Nếu dùng chín người để
xem-xét sắc trời ấy thì mọi người đều nhận
ngay là màu vàng.
Đang yên, tròi đất biến ra vàng,
Ắt có trung-thần phải chết oan,
Máu lan đầy đất trong muời tháng,
Yên, Tần, yêu-quái khởi làm càn.
* Thứ tư : Trời có sắc đen : Điềm này chủ về
việc trong vòng ba trăm ngày sắp tới sẽ có
kẻ . âm-mưu làm loạn. Bấy giờ sắc trời u-ám.
Đang yên, trời đất biến đen sì
Ắt có kẻ nao mưu loạn chi
Một tháng mà thôi, cơn loạn lạc
Tự -nhiên dập tắt chớ hồ nghi .
* Thứ năm : Trời làm sợ hãi vô cớ (sợ hụt) :
Trời phát ra tiếng nổ như sấm, bay ra vang
dội tới ngàn dặm. Tự-nhiên trời đang
quang-đãng mà sinh ra như vậy.
Cây có điều hòa lặng-lẽ bao
Tiếng vang như sấm tự trời cao
Kinh-hoảng không quá ba tuần nhựt
Bốn phương cùng khởì việc binh-đao.
* Thứ sáu : Trời mở cửa : Nghe tiếng động
lan ra giống như tiếng trời mở cửa. Bậc
đế-vương đăng đàn bái tướng, trong một trăm
ngày lệnh chúa hưng vượng, bèn trước hết dấy
binh dẹp luạn. Nếu trong một tuần nhật, cửa
trời mở về phương Ngọc-nữ thì có tiếng nổ
như sấm nhưng không phải sấm.
Một tuần vang dội tiếng nghiêm thanh,
Ngọc-nữ phương trời cửa mở nhanh
Tiếng vọng xuống trần nghe ngỡ sấm.
Trăm ngày chưa tới ắt ra binh,
Bỗng dưng phá giặc ngoài biên-cảnh,
Hưng lệnh trời ban xuống nước mình, .
Để khiến ba quân tùy tướng lệnh,
Vua bèn bái tướng mới xuất-chinh.
* Thứ bảy : Trời thòng binh khí : Khí mây
thòng xuống ở chân trời, như là dao cưa. Nên
gấp tiến binh, đánh thì thắng lớn.
Mây trời hình:dạng giống cưa dao,
Thòng xuống chân trời, giặc bại mau
Hướng ấy tuớng binh cùng quyết chiến,
Bốn phuơng tám sớ tất hàng đầu.
* Thứ tám : Khí trời không điều hòa : Bốn
mùa đều trái thời-tiết :
Hè làm tiết đông, bắc-phiên phản,
Đông làm tiết hè, ắt chinh nam,
Thu làm tiết xuân, giặc đông dậy,
Xuân làm tiết rhu, giặc tây tràn.
* Thứ chín : Trời sinh biến ở hướng càn :
Chủ về việc hiền-thần khó trách luận để nhà
Vua nghe theo. Mặt trời và mặt trăng khi sắp
lặn còn cao một trượng thì có sắc đỏ.
Nhật nguyệt máu hườm, biến sắc đây
Âm dương có biến, chủ không hay
Tư-thiên rõ việc, bàn sai quấy,
Ngoài cuộc nói vào xét chẳng sai.
11. PHÉP XEM HAI MẶT TRỜI MỌC KỀ NHAU.
Hai mặt trời cùng mọc thì thiên-hạ sẽ động
binh, kẻ vô-đạo bị tiêu diệt, hai quân đánh
nhau có sức mạnh ngang nhau.
Hai mặt trời cùng mọc thì sẽ có đánh lớn,
thành-trì bị phá-hoại, đồng nội chia ra
nhiều phần mà đánh nhau.
Hai mặt trời mọc kề nhau ở nước nào thì nước
ấy gặp loạn lớn, nạn dữ .
Chất tinh trắng của mặt trời rơi xuống đất
xứ nào thì ở xứ ấy bên chủ (quốc-vương,
chánh-phủ) phải thất-bại.
Dưới mặt trời có ánh-sáng giống như chân
chim thì xứ bên phe chủ bị tai-ương, việc
binh thất-bại, quân-đội tiêu-diệt.
Trong mặt trời có vết đen thì vua tôi chống
đối nhau, trăm họ gặp việc xấu.
12. PHÉP XEM CÁC LOẠI NHẬT-THỰC:
Dùng phép Hà-Đồ mà xem mặt trời.
Các trường hợp nhật thực đều do ở ngày hối
(cuối tháng) và ngày sóc (đầu tháng) mà sinh
ra nhật thực ; âm dương xâm lấn nhau, đi lạc
đường tới ôm nhau, đô gọi là nhật-thực.
Nếu ở nơi có nhật-thực, có quan đại-thần
âm-mưu làm hại nhà Vua, ắt là mặt trăng đi
ngược án trước mặt trời : thiên-hạ sẽ dấy
loạn.
Mặt trời mới mọc hai sào rồi bỗng dưng không
sáng nữa đó gọi là mặt trời bệnh. Mặt trời
sắp lặn ở phương tây, còn cao hai sào, bỗng
dưng không sáng nữa, đó gọi là mặt trời
chết.Trong địa phận nước ấy, bậc vương hầu
gặp nạn lớn, các gian-thần đều nổi lên khuấy
rối.
Nếu mặt trờí đỏ như máu thì tbiên-hạ sẽ có
loạn lớn.
Mặt trời mới mọc mà bị ăn thì sẽ thua binh,
mất thành.
Từ giờ ngọ trở về sau mà mặt trời bị ăn thì
binh-gia nghỉ việc giao chiến.
Vào tháng tám mùa thu mà có nhật thực thì.
có việc đao-binh xảy ra và phe khách được
thắng.
Vào tháng mười hai mà có nhật-thực, điều ấy
chủ về việc có binh dấy loạn.
Khi nhật-thực mà mặt trời bị ăn hết thì rợ
man (phía nam) và rợ di (phía đông) nổii
loạn, nên gấp lo việc binh-bị
Nguyệt thực xảy ra vào những ngày giáp, ất,
bính, đinh, mậu, kỷ thì sẽ có việc đao-binh.
Nguyệt-thực xảy ra vào những ngày canh, tân,
nhâm, quí thì không nên tính tới việc binh.
13. BÀI THƠ MẶT TRĂNG LẠC ĐƯỜNG :
Trăng lạc giữa trời, chúa chẳng hay
Hậu-cung say đắm may nàng phi,
Ba tuần chưa tới binh liền dấy
Âm dương sai lạc khiến vong nguy.
14. PHÉP BÍ-MẬT XEM TRĂNG :
Mặt trăng mới mọc ma đi về hưởng bắc đó gọi
là “cung giương” thì có kẻ âm-mưu vào thành
khuấy rối.
Nếu mặt trăng mới mọc mà có đám mây đen chắn
ngang như chữ nhất thì trong ngày ấy có mưa.
Mặt trăng mới mọc mà có đám mây đen ở giữa
có dạng như cầm thú thì:
- nếu vào ngầy giáp ất sẽ có hại về hướng
đông;
- nếu vào ngày bính đinh, sẽ có hại về hướng
nam;
- nếu vào ngày mậu kỷ sẽ có hại về nước
trung-uơng;
- nếu vào ngày canh tân, sẽ có hại về hướng
tây ;
- nếu vào ngày nhâm quí sẽ có hại về hướng
bắc.
Trong mặt trăng có sao lọt vào sẽ thua quân,
chết tướng.
Có mây trắng như rắn rít xuyên qua mặt trăng
thì sẽ có tướng chết, quân thua.
15. PHÉP BÍ-MÂT XEM TRĂNG TRÒN KHUYẾT :
Mặt trăng giống như tròn nhưng chẳng phải
tròn, giống như khuyết nhưng chẳng phải
khuyết, lặn mà chẳng lặn, ắt có gian-thần
mưu phản.
Mặt trăng giống như tròn mà chẳng phải tròn,
bờ trên và bờ dưới đều bị khuyết, mọc tại
Phù-tang, lặn tại Phù-tang, đó là điềm
loạn-thần làm cho nước nhà bại-vong.
16. PHÉP XEM CÁC LOẠI NGUYỆT-THỰC :
Binh chưa đánh mà đã gặp nguyệt-thực thì đến
khi đánh, binh ấy sẽ được thắng lớn.
Binh đang ở trong mà đã gặp nguyệt thực,
điều ấy chủ về việc có tai ương.
Mặt trăng đang tròn đầy mà bi ăn, điều ấy
chủ về việc binh sẽ bị chết ở đồng nội.
Mặt trăng bị ăn một bên thì tướng súy và bề
tôi không còn giữ đạo.
Mặt trăng bị ăn ở phía dưới thì công việc
cửa tướng-quân mất phép-tắc, lề-lối.
Nguyệt-thực mà có màu xanh thì ngũ-cốc trở
nên quí-báu, híếm-hoi, thiên~hạ đói kém.
Nguyệt-thực mà có mầu đỏ thì lúc khởi đầu
lợi cho pbe khách.
Nguyệt-thực mà có màu vàng thì có việc lập
chư-hầu thành vương-quốc.
Mặt trăng bị ăn hết thì sẽ có quân thua
tướng chết.
Hai mặt trăng cùng mọc thì thiên-hạ có loạn
lớn.
Mùa xuân bi ăn về phía đông, mùa hè bị ăn về
phía nam,mùa thu bị ăn về phía tây, mùa đông
bị ăn về phía bắc thì xứ gặp nguyệt-thực sẽ
có điều lo buồn về việc binh.
Mặt trăng đang bị ăn mà mọc lên thì chỗ đóng
quân bi tổn hại, lại thêm nữa có sự mất mát
đồ-đạc, tướng chết, binh tan.
17. PHÉP XEM MẶT TRỜI VÀ MẶT TRĂNG ĂN NHAU :
Nguyệt-thực xảy ra vào ngày dần, ngày mão,
thì lúa rẻ, nhândân chiu thiệt-hại, nên khởi
binh trước, lợi chủ mà hại khách.
Nguyệt-thực xảy ra vào ngày ngọ, ngày mùi,
điều ấy chủ về việc có trâu ngựa chết, binh
dấy loạn tại phía tây đánh về phía đông.
Nguyệt-thực xảy ra vào ngày thân, ngày dậu,
trong năm này có khí độc gây ra nhiều bệnh.
Nguyệt-thực xảy ra trong ngày hợi, điều ấy
chủ về việc thiếu-thốn ngũ-cốc.
Nguyệt-thực xảy ra vào ngày tý, ngày sửu,
điều ấy chủ về việc đói-kém, loạn-lạc.
18. PHÉP BÍ MẬT XEM ÂM DƯƠNG XÂM PHẠM NHAU :
Đường mặt trăng mọc lên và đi theo là:
- thanh-đạo về mùa xuân;
- bạch-đạo về mùa thu;
- xích-đạo về mùa hạ;
- hắc-đạo về mùa đông ;
- huỳnh-đạo trong bốn tháng 3, 6, 9, 12.
Nếu đế-vưong trái đạo thì mặt trời và mặt
trăng chạy trái đường, lấn âm, ôm dương, nên
gọi là âm dương lấn nhau, thiên-hạ sẽ có
loạn lớn.
Nếu mặt trăng và mặt trời cùng đi ngang
nhau, tbì có quan đại-thần âm-mưu nổi loạn.
Nếu hai mặt trăng chọi nhau, điều ấy chủ về
việc có hai vua tranh thiên hạ.
Nếu mặt trời và mặt trăng chọi nhau điều ấy
chủ về việc trong nước có đổ máu, thiên-hạ
có loạn lớn.
19. PHÉP BÍ-MẬT XEM ÂM DUƠNG BỐN MÙA :
Mặt trời có sắc trắng thì trong vòng chín
ngày có rợ tây nhung xâm-phạm biên-giới.
Mặt trăng có sắc trắng thì hiền-thần bi lao
tù. Mặt trời có sắc đỏ thì có âm-mưu dấy
loạn trong. nước.
Mặt trăng có sắc đỏ thì loạn âm.
Đây là cách xem nhật nguyệt, âm-dương chậy
loạn :
Mặt trời hè không theo nam-đạo, mặt trời
đông không theo bắc-đạo thì trong vòng trăm
ngày rợ man. (phía nam), rợ di (phía đông)
sẽ xâm-phạm biên-giới.
Mặt trăng đi về hướng bắc gọi là mặt trăng
trương cung, thì có kẻ âm-mưu vào thành dấy
loạn, bên ngoài giặc phiên. sẽ dấy binh
xâm-đoạt nước trung-ương.
20. PHÉP BÍ-MẬT XEM SAO THÁI-BẠCH, THẦN-TINH
:
Sao mai gọi là Thần-tinh, sao hôm gọi là
Thái-Bạch đều là một sao.
Sao Thái-Bạch bi vầng sáng mặt trăng che
khuất, điều ấy chủ về việc tướng súy phải
chết.
Sao Thái Bạch được mặt trăng chở ở trên, thì
trong năm ngày sẽ có dấy binh.
Tháng tám ngày mồng ba, sao Thái.Bạch đi sai
đường về phía bắc thì sẽ có binh đánh nhau.
Sao Thái-Bạch đi về phía bắc thì nước nhỏ
rối loạn.
Sao Thái-Bạch đi về phía nam thl nước lớn
rối loạn.
Sao Thái Bạch ở trong mặt trăng cũng được
gọi là nguyệt-thực.
Sao Thái Bạch là điềm xấu của nhà Vua.
Sao Thái-Bạch mọc bên trái mặt trăng thì
nước âm rối loạn, mọc bên phải mặt trăng thì
nước dương rối loạn.
Sao Thái-Bạch dính liền với mặt trăng thì
trong ba năm có việc đao-binh, mất đất.
Sao Thái-Bạch chạy vào mặt trăng thì tướng –
quân phải chết.
Sao Thái-Bạch bảy ngày không mọc thí sẽ có
nạn đao-binh dữ-dội..
Nếu sao Thái-Bạch lên giữa trời mà sáng ra
thl ba quân tan-vỡ, loạn-lạc.
Nếu trên có một đế-tinh và dưới có một
cá-tinh thẳng hàng với nhau thì các quan
phản Vua.
Nếu sao Thái-Bạch xuất hiện không đúng lúc
thì Vua Tôi cùng khởi binh.
Sao Thái-Bạch mờ tối thì chủ-tướng gặp việc
xấu.
Sách Cấm-Thư chép rằng : Thái-Bạch Thần-Tinh
cùng một ngày mọc lên ở hướng đông, ắt có
dấy binh ở hướng đông ; nếu cùng mọc lên ở
hướng tây, ắt có binh dấy lên ở hướng tây.
Nếu cùng mọc ở hướng đông mà không gần nhau,
từ hai mươi tới ba mươi ngày không lặn vào
hướng đông-nam thì có điều binh nhưng không
đánh ; đến mùa xuân, mùa hạ sẽ có dấy binh.
Thần-Tinh và Thái-bạch mọc ở hướng đông, gần
nhau trong khoảng ba bốn thước thì từ bai
mươi tới ba mươi ngày có binh đánh lớn.
Thần-Tinh đi theo Thái-Bạch ở hướng đông thì
có dấy binh ở khắp nơi, từ đó đến sáu mươi
ngày sẽ có dấy binh ồ-ạt.
Thái-Bạch từ Thần-Tinh đi ra thì lợi chủ.
Nếu mọc ở hướng đông thì lợi cho việc đánh
hướng tây,binh ở phía đông được thắng lớn ;
nếu mọc ở hướng tây thì lợi cho việc đánh
hướng đông, binh ở phía tây được thắng lớn.
Thái-Bạch và Thần-Tinb cùng mọc ở hướng
đông; Thái-Bạch mọc trước, Thần-Tinb theo
sau rồi vượt qua Thái-Bạch mà đi trước thì
xứ ở dưới có binh làm phản, không tới một
năm sẽ thấy ứng-nghiệm.
Thần-tinh mọc ra như tờ giấy mà Thái-Bạch
chưa mọc thì tướng-quân phải chết; thấy mọc
ở nơi nào thì ở nơi ẩy có quân tan, tướng
chết.
Thái-Bạch mọc ở hướng đông, Thần-Tinh ở phía
trước mà không mọc thì trong vòng năm mươi
ngày có âm-binh dấy loạn trong nước.
Thái-Bạcb có vầng sáng thì trong thiên-hạ có
ân-xá cho kẻ phạm tội.
Thần-Tinh có vầng sáng thì sẽ có dấy binh và
mưa lụt.
Vầng sáng của Thái Bạch và Thần-Tinh mà có
ánh sáng màu vàng che khuất. thì sẽ có quân
tan, tướng chết.
22. PHÉP BÍ MẬT XEM SAO LÀNH :
Sao Cảnh Tinh là sao đức-tinh. Sao ấy lớn có
hình-đạng như nửa mặt trăng hiện ra vào ngày
ba mươi, mồng một. Nước nào thấy được sao ấy
thì gặp nhiều điều tốt lành.
Sao Chu Tinh có sắc vàng, ánh sáng rực rỡ,
nước nào thấy được thì gặp điều tốt lành, ai
thấy được thì người ẩy gặp điều tốt lành.
Sao Hàm-Dự sáng như sao Tuệ, nước nào thấy
được thì gặp điều vui mừng, rợ man phía nam
vào cống-hiến.
23. PHÉP BÍ MẬT XEM SAO BẮC-ĐẨU :
Bắc-đẩu có sao nhỏ thì thiên-hạ không yên,
mọi việc chiến tranh cùng dấy lên.
Bắc đẩu có khí đỏ xâm- nhập, điều ấy chủ về
việc quân phải thua lớn, nếu cử binb g~p thì
có hại.
Nếu có mây trắng xâm-nhập, điều ấy chỉ về
việc đổ máu nhiều.
Nếu có mây như xà-mâu ăn vào, điều ấy chủ về
việc có loạn lớn, nên ra ngoài.
Nếu có mây hình-dạmg giống như con heo, điều
ấy chủ về việc binh sợ-sệt vô cớ.
Nếu có khí vàng tản-mác ở đông, tây thì
không nên dấy binh động chúng.
Nếu có vết đỏ, đầu lợt, đuôi đậm, điều thấy
chủ về việc quân được thắng lớn.
Nếu có màu đỏ lạt thì đại thần làm loạn.
Nếu có mây ở phía đông và tây thì phe chủ cử
đại-binh, phe khách nên lui về mà giữ.
Nếu có mây đỏ xây thành bốn phía, điều ấy
chủ về việc dấy binh lớn.
Nếu hiện ra ban ngày thì xã-tắc không yên,
bậc vương*giả gặp tai-biến.
Nếu đang xoay trận mà đêm sau xem lại, thấy
sao Bắc-đẩu có mây xuyên vào thì ba mươi
ngày sau lại bị một lần lữa.
Nếu đêm mồng một đầu năm có sắc hồng bọc
quanh sao Bắc-đẩu, thì hai mươi ngày sau sẽ
có tướng chết quân bại.
4.- PHÉP BÍ MẬT XEM SAO KHÁCH :
Các sách Thiên-văn đều nói : Chẳng phải
thường được thấy mà tình-cờ mới thấy được
sao ấy trên trời, thì đó là sứ-giả của
Thiên- Tinh Đại-đế : sao ấy là then chốt của
bí thuật xem điềm tốt xấu.
Hoặc mọc ở hướng tây, hoặc nằm ở hướng đông.
Nếu thấy sao ấy trong nhiều ngày thì có vỉệc
to tát xảy ra mà lại có họa lớn; nếu chỉ
thấy sao ấy trong ít ngày thì có việc xảy ra
nhưng không quan-trọng lắm mà tai-họa chỉ
nhỏ nhẹ mà thôi.
Hoặc hình-dạng biến ra sừng nhọn ắt là có
âm-mưu gây loạn; nếu sắc của nó mờ lạt, ắt
là có binh nổi loạn.
Nếu có sao (nhỏ) mà thấy nó có sắc trắng thì
sẽ có việc binh-đao xảy ra trong địa-phận
của nó ; nếu sao ấy có ánh-sáng như gai nhọn
thi xứ ở đỉnh bị quân tan, tướng chết, bị
giặc lấn đất, đoạt ấp, thiên-hạ loạn lớn.
Hễ hằng ngày thấy sao ấy trên trời, không
đúng vào giờ khắc nào cả, thì sao ấy gọi là
sao khách.
25. PHÉP BÍ MẬT XEM SAO CHỔI :
Ngày xưa kinh của họ Sở nói rằng : Sao Tuệ
gọi là sao chổi, hoặc dài vài thước, hoặc
dài một trăm thước, sao ấy hiện ra ắt có dấy
binh.
Khi nhà Vua sắp gặp tai-họa mà sao chổi hiện
ra, nếu sao ấy chỉ về hướng nào thì đánh
thắng về hướng ẩy, chỉ vào ta thì ta gặp
điềm xấu, chỉ vào người thì người chịu
thất-bại, đều phải phân-biệt đia-phận mà
đoán.
Sao chổi dài ba trượng thì việc xấu kẻo dài
một năm, dài bốn trượng trở lên thì việc xấu
kéo dài ba năm, dài một trăm năm mươi trượng
trở lên thì việc xấu kéo dài bảy năm.
Sao chổi hiện ra ắt là nước địch chịu việc
binh-biến. Sao chổi lớn thì tai-họa lớn, sao
chổi nhỏ thì tai-họa nhỏ , đuôi sao chổi mà
cong giống như lá cờ thì nhà Vua đẹp giặc
bình-định bốn phương.
26. – PHÉP XEM CHUNG NĂM SAO :
1) Sao Tuế Tinh có ý nghĩa là hướng đông, là
mùa xuân, là hành mộc, là đức nhân trong năm
đức thường của con người (nhân, nghĩa, lễ
trí, tín), là vẻ mặt trong năm việc (mạo,
ngôn, thị, thính, tư). Đức nhân mà thiếu
sót, vẻ mặt mà hư hỏng, thời tiết mùa xuân
mà bị trái ngược, khí mộc mà bị tổn thương,
ắt sẽ thấy sự trừng phạt.
Sao Tuế-Tinh là chủ đầu tiên của phước may.
Về mùa xuân, được gọi là Nhiếp-Đề;
Về mùa hạ, được gọi là Trùng-Hoa;
Về mùa thu, được gọi là Ứng-Tinh;
Về mùa đông, được gọi là Kỷ-Tinh.
Sao Tuệ-Tinh tượng trưng cho bậc có đức,
muốn được thấm nhuần sự sáng suốt của người
ấy. Bậc Vua của loài người mà có đức ắt là
Tuế-Tinh tới lui cùng thời với nhà Vua, nước
ấy được phước may, không thể đánh nước ấy
được. Bậc chúa loài người mà không có đức,
ham thích việc chiến tranh, thì Tuế tinh
cũng theo đó mà mờ tối, đổi màu làm cho tước
vị bị tù hãm thất thường; nếu nhân đó tai
ương xảy ra thì nước nhà sẽ gặp việc xấu …
(*), điều ấy chủ về trong năm ấy, ngũ cốc và
người sinh ra nhiều, nhà Vua sẽ trông nom
đạo làm người ở khắp các nước chư hầu trong
thiên hạ.
Tuế Tinh ở vào nước nào, thì nước ấy được
đức dầy, ngũ cốc tươi tốt, bậc chúa loài
người sống lâu và gặp điều tốt lành.
Nếu phước may xung khắc với Tuế Tinh thì có
tai họa.
Tuế Tinh ở yên ở các trung độ thì tốt lành;
nếu mờ tỏ không chừng thì nước ấy có việc lo
buồn, không thể bày việc và dùng binh.
2) Sao Oanh-Cảm-Tinh có ý nghĩa là hướng
nam, là mùa hạ, là hành hỏa, là đức lễ
(trong ngũ thường), là sự thấy. Lễ nghi và
sự thấy mà thiếu sót, thời tiết mùa hạ mà bị
trái ngược, khí hỏa mà bị thương tổn, ắt là
sẽ thấy sự trừng phạt.
Sao ấy khiến cho công việc sai phép tắc, đi
ra thì mất lửa, đi vào thì binh tàn, tan rã
ở đất khách, nước nhà phải rối loạn. Sao ấy
gây ra giặc giã, bệnh tật, chết chóc, đói
kém, sao ấy ở đâu thì ở đó phải chịu tai
ương. Nếu vành bọc quanh sao dao động, đổi
màu và làm trở lại như thế, khi thì ở trước
ở sau, khi thì bên trái bên phải, nước ấy
càng chịu tai ương nhiều hơn.
(*) Không nhận ra chữ nên không dịch được.
3) Sao Trấn Tinh có ý nghĩa là trung-ương,
là bốn tháng 3, 6, 9, 12, là hành thổ, là
đức tín. Bốn đức nhân, nghĩa, lễ, trí đều
lấy đức tín làm chủ. Vẻ mặt, lời nói, sự
thấy, sự nghe đều lấy tư duy làm chủ. Bốn vị
sao kia (Tuế-Tinh, Oanh-Cảm-Tinh, Thái-Bạch,
Thần-Tinh) đều mất đức tín nên báo điềm nước
sẽ biến động, ắt bậc vương hầu không bình
yên.
Sao Trấn-Tinh mà lu mờ, ắt là việc binh bất
lợi.
Sao ấy ở nước nào thì ở nước ấy được điều
tốt lành.
Sao ấy nằm vào được chỗ tốt thì đàn bà con
gái được phước may, không thể đánh nước ấy
được. Sao ấy không nằm được chỗ tốt thì đàn
bà, con gái có điều lo buồn.
Sao ấy ở yên không dời chỗ thì nước ấy có
việc lo buồn.
4) Sao Thái Bạch có ý nghĩa là hướng tây, là
mùa thu, là hành kim, là đức nghĩa, là lời
nói. Trong năm việc (mạo, ngôn, thị, thính,
tư), lời nói mà bị sai lầm, thời tiết mùa
thu mà bị trái ngược, khí kim mà bị tổn
thương, ắt là sẽ thấy sự trừng phạt.
Nhìn cách sao Thái-Bạch lui tới để xem về
việc binh; sao ở cao hay thấp, đi chậm hay
mau, yên tịnh hay rối loạn, mọc hay lặn đều
tượng trưng cho phép dùng binh.
Nếu nói về điềm xấu, khi sao ấy mọc ở hướng
tây mà đi sai lạc thì rợ di (phía đông) và
rợ địch (phía bắc) sẽ bị thất bại; nếu mọc ở
hướng đông mà đi sai lạc thì nước trung ương
sẽ bị thất bại; nếu chạy dọc trên trời (theo
phương nam-bắc), đó gọi là rối loạn kỷ cương
thì bậc vua chúa loài người phải chịu lưu
vong; nếu ban ngày thấy sao ấy tranh sáng
với mặt trời thì nước nhỏ mạnh, nước lớn
yếu.
5) Sao Thần-Tinh có ý nghĩa là hướng bắc, là
mùa đông, là hành thủy, là đức trí, là sự
nghe. Đức trí và sự nghe mà thiếu sót, thời
tiết mùa đông mà bị trái ngược, khí thủy mà
bị tổn thương, ắt là sẽ thấy sự trừng phạt.
Sao Thần-Tinh chủ về sự giết chóc, là khí
sát phạt, là sao tượng trưng cho sự chiến
đấu, quân đội ắt là bị hãm ở đồng nội.
Sao Thân-Tinh tượng trưng cho sự phòng bị
của tướng súy; tướng tay không chẳng có quân
lữ, đó là hình phạt dành cho tướng súy.
27.- PHÉP BÍ MẬT XEM SAO BĂNG :
Sao băng là sứ giả của Trời, từ trên rơi
xuống gọi là lưu-tinh, từ dưới chạy lên gọi
là phi-tinh, sao lớn gọi là bôn-tinh, tất cả
cũng đều là lưu tinh cả.
Sao lớn thì có sứ mạng lớn, sao nhỏ thì có
sứ mạng nhỏ. Nếu có nghe tiếng kêu, đó là
tượng trưng cho sự giận dữ. Nếu chạy mau thì
kỳ hạn đến gấp rút, nếu đi chậm thì kỳ hạn
còn lâu.
Nếu sao lớn mà không sáng, đó là việc của
dân chúng; sao nhỏ mà sáng đó là việc của
người tôn quí. Nếu sao khi ẩn khi hiện đó là
công việc có thành có bại. Nếu sao trước lớn
mà sau nhỏ thì có điều lo sợ; nếu sao trước
nhỏ sau lớn thì có việc vui mừng.
Nếu sao chạy ngung ngăng như con rắn thì có
kẻ âm mưu làm việc gian tà. Nếu sao chạy
băng qua mau, băng qua mà không kịp tới
(rớt), đường băng dài thì việc lâu dài và
quan trọng; đường băng ngắn thì việc mau
chóng và không quan trọng. Sao băng rơi
xuống nơi nào thì dưới nơi ấy có việc binh
đao. Sao băng di chuyển mà bị ngăn trở thì
có mưu sự xảy ra.
Về sao băng, hãy xét ngày giờ, xem sao ở địa
phận nào để mà luận :
- Màu xanh tượng trưng việc lo buồn, đói
kém.
- Màu đỏ tượng trưng việc đao binh, khô hạn.
- Màu vàng tượng trưng việc vui mừng, việc
sửa sang đất nước.
- Màu trắng tượng trưng việc đao binh, hình
phạt.
- Màu đen tượng trưng bệnh tật, bệnh dịch,
chết chóc, hỏa tai.
Khi sao băng có ánh sáng giống như tấm vải,
nếu là màu xanh thì có sứ các nước tới
viếng, nếu là màu đỏ thì có việc đao binh,
nếu là màu đen thì có việc chết chóc.
Nếu sao băng rất lớn, ánh sáng chiếu xuống
đất, màu xanh và mào đỏ túa ra bốn bên thì
ngũ cốc mất mùa.
Sao băng phạm vào mặt trăng hay triền mặt
trăng mà ánh sáng đỏ hướng về phía mặt trăng
thì thiên hạ không yên ổn.
Khi gặp lưu tinh và bôn tinh, nếu dấy binh
sẽ thắng trận.
28.- PHÉP BÍ MẬT XEM SAO YÊU QUÁI :
1) Sao Thiên-Ngô : Cũng có tên là Giác-Tinh,
vốn thuộc về sao Tuệ-tinh (sao chổi) nhọn
dài bốn thước. Nếu mọc ở hướng đông-bắc, thì
chủ về việc tranh đoạt. Nếu sao tuệ (chổi)
mọc ở hướng đông thì có tên là Thiên-Cách
thì nước ấy không thể cử sự, nếu dùng binh
thì phải mất thành. Sao Thiên-Ngô dài hơn
bốn thước thì chủ về việc yêu quái nổi lên
khuấy phá.
2) Sao Xi-Vưu-Kỳ (giống cờ giặc Xi-Vưu đời
vua Huỳnh Đế). Giống loại sao Tuệ (chổi)
nhưng có đuôi cong như hình lá cờ. Hoặc hiện
ra một mình giống như một đám mây đỏ, sắc
của nó trên đỏ dưới trắng, sao ấy hiện ra ở
hướng nào thì ở hướng ấy có binh dấy loạn.
Sao Xi-Vưu-Kỳ mọc ra, chủ về việc đánh dẹp
bốn phương. Lại có nói sao Xi-Vưu-Kỳ thuộc
loại sao Oanh-Cảm, nhờ có khí đỏ bồi đắp mà
trở nên to lớn, sắc của nó chiếu ánh sáng
xuống đất, tên của nó là cờ Xi-Vưu, chủ về
việc binh dữ dấy loạn, rợ man (nam) và rợ di
(đông) xâm phạm biên giới.
3) Sao Nguyệt-Hoàng : Hình nó lớn và có sắc
đỏ, ở cách mặt đất chừng ba trượng giống như
bó đuốc, chủ về việc bên trong có giặc giã,
tai nạn, nơi nào thấy sao ấy thì có dấy
binh, trong và ngoài đều gặp nạn đao binh.
4) Sao Chiếu-Minh : Hình lớn mà không có
sừng nhọn, khi thì lên cao khi thì xuống
thấp, nước nào thấy sao ấy hiện ra thì chịu
nạn đao binh. Sao Chiếu-Minh có hình dài 3
thước, lại có thêm 3 sao ở trên, đó là loại
sao Oanh-Cảm.
5) Sao Tư-Nguy : Có hình dạng như sao
Thái-Bạch, có 2 mũi nhọn như hai cái đuôi,
mọc ở hướng tây, cách xa mặt đất sáu thước
và có sắc trắng, đó gọi là sao Tư-Nguy. Sao
mọc ở hướng nào thì ở nơi ấy việc hành binh
của phe chủ không được thuận lợi.
6) Sao Thiên-Sàm : Mọc ở hướng tây, giống
như một cây kiếm dài bốn, năm trượng, có tên
là Thiên-Sàm. Sao ấy mọc ở nơi nào thì ở nơi
ấy có dấy binh, nước nào thấy sao ấy thì có
loạn lớn.
7) Sao Ngũ-Tàn : Mọc ra ở hướng đông, cách
mặt đất chừng ba đến bảy thước, giống như
mũi thương chĩa ra nên gọi là tàn, như có
mũi nhọn dài ló ra. Ngũ-Tàn có nghĩa là chia
ra năm phần. Nơi nào có sao ấy thì phải chịu
nạn hủy hoại, bại vong. Lại có nói sao ấy
giống như lửa có màu đỏ hoặc màu xanh. Sao
Ngũ-Tàn xuất hiện ở nơi nào thì ở nơi ấy có
nạn binh đao, nhà tan nước mất.
8) Sao Trường-Canh : Giống như tấm vải dính
vào da trời, nơi nào thấy sao ấy thì có dấy
binh gây loạn.
9) Sao Thiên-Tặc : Mọc ra ở hướng nam, so ấy
lên cách mặt đất sáu thước và có màu đỏ, dao
động mà chiếu sáng, đó gọi là sao Thiên-Tặc.
Nó mọc ở hướng nào thì dưới hướng ấy có dấy
binh gây loạn, đất ấy phải bại vong.
10) Sao Cuồng-Thỉ : Giống như sao băng có
hình mũi tên, màu xanh đen, đi như con rắn,
trông như có sừng, dài chừng vài thước. Thấy
nó ắt là có binh mưu phản nhân cơn loạn mà
gây loạn. Lại có nói rằng khi gặp sao
Cuồng-Thỉ thì quân sĩ sinh ra nhát sợ, binh
Tần phải thua, Hạng Vũ chấp chánh. Nơi nào
thấy sao Cuồng-Thỉ xẹt xuống hướng tây thì
đó làm điềm diệt vong.
11) Sao Thiên-Cẩu : Hình dạng của nó giống
như chó chạy, có sắc đen vàng và có tiếng
kêu, phía trên giống như con chó. Sao ấy rơi
vào xứ nào thì xứ ấy trông như có ánh lửa
rực rỡ xông lên trời, trên nhọn, dưới tròn
mà nghiêng về một bên, giống như sao
Điền-Tinh mà có lông, một bên có sao chổi
ngắn, phía dưới có sao Cẩu-Tinh mọc ra có
ánh sáng màu đỏ, trắng, tức đó là sao
Thiên-Cẩu. Lại có nói rằng sao băng có ánh
sáng, thấy rơi xuống mà phát ra tiếng kêu,
có chưn (*) màu trắng, ở giữa màu vàng giống
như hình con chó, chủ về việc có dấy binh,
giặc tới phá quân giết tướng, đổ máu ngàn
dặm. Nó có một tên thứ nhất là Lưu-Tinh, một
tên thứ hai là Doanh-Đầu-Tinh, đó cũng là
sao Thiên-Cẩu.
(*) Nguyên văn.
29.- PHÉP BÍ MẬT LUẬN VỀ TÁM SAO YÊU QUÁI :
Sách Binh-Pháp nói rằng : Thần nhân ban cho
sách lạ về sao yêu quái, thế gian thường
chẳng được thấy. Nếu lại sao ấy hiện ra thì
không thể không xem xét; nước nào có sao ấy
hiện ra thì quan Tư Thiên Giám phải quan sát
kỹ. Theo phép này nếu sao đeo theo mây mà
xuất hiện thì rất khó mà đo lường.
- Thứ nhất : Mao-Đầu-Tinh : Hình của nó dài
như măng tre.
Giữa ngày so hiện giống đầu lông,
Nước chủ đang yên bỗng bận lòng
Sao hiện không đầy ba tuần nhật,
Nước sinh tai biến phải long đong!
- Thứ hai : Đới-Tinh : Sao ấy dài thẳng một
đường, trên dài ba phân, dưới dài một phân.
Treo kiếm bên trời, ấy tướng quân,
Đới ra nhất định dấy đao binh,
Ban ngày sao hiện, binh nên tiến,
Thấy ở nơi nào, ấy giặc sanh!
- Thứ ba : Thương-Ngân-Tinh : Khí của nó hợp
thành một đường đâm xuyên qua mình nó và
chui qua thẳng.
Sao cặp một đường ngó giống thương,
Xuyên hẳn qua sao thật lạ thường,
Hiện ra không quá ba tuần nhật,
Binh dấy đồng thời khắp bốn phương.
- Thứ tư : Trương-Cung-Tinh : Nó dài một
đường như hình cung giương.
Hình sao trông giống chiếc cung giương
Chủ tướng tới lui phải hiểu thông
Sao hiện trước nhà binh dấy động,
Hưng binh đánh trước mới thành công!
- Thứ năm : Thần-Xoa-Tinh : Trên có ba
đường, dưới có một đường.
Thấy được Thần-Xoa thật ít khi,
Gặp thời sao hiện, chủ thiên di,
Hiện ra không quá trăm ngày chẵn,
Máu chảy tràn trề, nước loạn ly!
- Thứ sáu : Trường-Canh-Tinh : Có hình như
sợi tơ thòng xuống, có khí trắng.
Một làn khí trắng giống đường thương,
Sao hiện nơi nào, đấy nhiễu nhương,
Giữa ngày sao hiện như mây lụa,
Nước phải kinh hoàng chịu họa ương.
- Thứ bảy : Phao-Giáng-Tinh : Có đám mây
giống như đầu người.
Hình mây trông chẳng khác đầu lâu,
Sao hiện nơi nào chúa phải sầu,
Hiện ra chẳng đợi qua hai tháng,
Ma quỷ hại người, đổ máu nhiều.
- Thứ tám : Đảm-Kỳ-Tinh : Giống như mây, dài
như lá cờ trương ra.
Sao yêu xuất hiện trải cờ ra,
Biên ải man di quấy nhiễu ta,
Hiện ra chẳng quá ba tuần nhật,
Thây chết đầy đồng, ngửi thối tha.
30.- PHÉP XEM SAO YÊU QUÁI HIỆN RA BAN NGÀY
:
Sao hiện ra ban ngày, hình giống như cây
cối, chủ về việc có đao binh và đổ máu.
Nếu ban ngày có hai sao hiện ra thì thiên hạ
sẽ đổi đời.
Nếu ba sao hiện ra thì rợ di (phía đông) và
rợ địch (phía bắc) xâm phạm biên giới.
Bốn sao hiện ra thì vua tôi âm mưu dấy loạn.
Năm sao hiện ra thì nước ngoài xâm đoạt nước
trung ương.
Một sao hiện ra vào tháng tám ban ngày thì
nên phòng ngừa kẻ gian tà mưu sự. Nếu sao
xẹt một bên thì chủ về việc có đánh lớn, đổ
máu. Nếu sao quay đuôi lại, xẹt xuống một
bên thì chủ về việc mất nước.
31. – PHÉP XEM TƯỢNG TRỜI KHI HÀNH QUÂN :
A. Một là khi gặp trời đất tối tăm, sương mù
mờ mịt, gió tung cát bụi, cờ xí không thấy
rõ, chiêng trống nghe không được, thì không
thể xuất binh. Nếu có giặc thừa lúc tối tăm
ấy kéo kỵ binh kiêu dũng, dời quân đến đánh
ta thì ta ắt phải dặn dò đôi ba phen, ước
thúc ba quân, giữ kỹ dinh trận, không cho
loạn động, chỉ dùng các vật ngăn chận, bia,
phên để đón đỡ tên và đá bắn tới, dùng cung
mạnh nỏ cứng ngồi nấp mà bắn giặc. Ta chờ
đến khi giặc giải đãi thì thừa dịp bên địch
tối tăm hỗn loạn, ta xua sĩ tốt mạnh dạn lén
đi ra mặt sau quân địch để chận ngang đường
rút lui cùng các chỗ hiểm yếu, bấy giờ ta
đánh thì có thể bắt được chúng.
B. Một là khi gặp trời đất mưa gió tối tăm,,
sương mù mờ mịt tất cả bốn phía, thì không
thể tiến binh, cũng không thể dời trại, vậy
nên giữ kỹ dinh trại, để phòng ngừa sĩ tốt
biến loạn hoặc giặc ở ngoài tới đánh.
C. Một là khi gặp gió to, mua lớn, lạnh
nhiều, nắng gắt, không thể ra binh đánh dẹp,
vậy nên vỗ về giúp đỡ quân sĩ, giữ vững dinh
trại, tất nhiên giặc cũng không thể ra binh.
Nếu binh ta đi đường mà thình lình gặp giặc
thì nên lập gấp dinh trận để chờ khi trời
tối và chờ lúc thế giặc suy giảm. Bấy giờ ta
gắng thìm phương sách hay, xét thời trời,
thăm dò chỗ sơ hở của địch.
D. Một là gặp khi tuyết đổ mờ mịt, trong
vòng trăm bước không thấy người ngựa, trong
trường hợp ấy thường thường giặc đặt kỳ binh
nấp ở nơi hiểm ải để chờ đánh ta vào lúc vô
ý. Nếu ta ra quân đối ứng với giặc thì chúng
sẽ giả vờ thua chạy mong rằng ta đuổi theo
để dẫn dụ ta vào chỗ chúng đang phục binh.
Theo cách tự nhiên, ta trước hết nên chọn
năm bẩy tỳ tướng, vài mươi đội tỉnh kỵ, chờ
khi giặc tới bốn phía tả hữu trước sau, cho
quân đến dẫn dụ ta, hoặc dùng quân tỉnh kỵ
bày trận thế xông vào đánh ta, tức thời từ
đằng sau quân ta, ta khiến hai viên tướng đi
ra, góp kế di chuyển và ứng biến với nhau,
đem người ngựa đi vòng quanh, tìm đường về
của ngựa giặc, rồi dò xem có phục binh hay
không tại các nơi hiểm ải trên đường về ấy.
Nếu ta có tức thời chia binh ra hai ba nhóm,
thay phiên nhau mà đánh thì giặc phải thua
chạy.
Nếu giặc đến đánh ta trước, bên ta đầu đuôi
chẳng thấy nhau, như thế quân ta phải rời
khỏi chỗ mà giặc đặt phục binh, rồi đem nhuệ
binh quay ngược lại đánh ngang vào hông
giặc. Bấy giờ đám giặc đến đánh ta không
biết rằng bên kia phục binh đã thua chạy, ta
bèn sai một toán tỉnh kỵ, vừa đánh vừa lui,
thay phiên nhau bọc đánh đích, chờ giặc đi
vào chỗ ta phục binh, ta liền đem đầu đuôi
giáp lại thì có thể cầm bắt toàn thể quân
địch. Đó là chỉ giảng sơ lược về trường hợp
toàn quân đang giao thông, phải biết tùy lúc
gấp hay hoãn mà ứng đối.
Đ. Gặp cơn tuyết lớn bay mịt mù như vậy, nếu
ta có cung cứng, ngựa hay, người mạnh thì
việc xảy ra tầm thường không quan-trọng.
Khi đi săn bắn chơi, còn phải xem trời mây
huống hồ là hai toán quân tranh nhau thắng
bại, muốn thâu lợi lớn về phía mình.
E. Sau cơn tuyết lớn, khi biết là bộ binh
của ta khó tiến, quân giặc bèn lập mưu lạ
đem nhiều tinh kỵ tới bốn phía chung quanh
dinh lũy của ta, khiêu chiẽn để dẫn dụ quân
ta, hoặc dùng tinh kỵ chạy qua chạy lại xung
phong vào quân ta. Nếu ta đem binh ra, tức
thi giặc phân binh tứ tán, đầu đuôi hiệp lại
để tới đánh ta, một là đánh dinh trại của
ta, một là chận đường lương thảo của ta,
ngăn cho hai đầu đuôi của ta không cứu ứng
nhau được. Nếu đúng như thế, quân ta ngăn
rào cho kỹ mà đừng đi ra, chờ giặc đem binh
mạnh tới đánh, ta bèn dùng cung nỏ cứng,
loại nỏ sàng tử, cái thì bắn ở trên, cái thì
bắn ở dưới. Khi thế giặc đã yếu, không còn
chí chiến đấu nữa, ta có thể đem toàn quân
ra bắt giặc.
G. Một là ngày mới ra quân, nếu có mưa nhỏ
gọi là mưa nhuận binh, ắt sẽ có thắng lớn.
Nếu có mưa lớn gọi là mưa mộc thi (thây gỗ)
thì phải chọn ngày khác để tiến binh. Việc
tuy gấp rút cũng không thế tiến binh được
bởi vì thời trời chưa thuận, chỉ tổn hại
nhân mạng và khí cụ mà sĩ tốt lại không đẹp
lòng.
H. Một là gặp cơn gió lớn thổi tung cát bụi
thì không thể tiến binh đánh dẹp. Nếu binh
đang đi đường thi nên tìm ngay tại đó có chỗ
nào tiện lợi để lập dinh trại, chỉnh đốn
binh mã. Nếu phía truớc bỗng gặp phục binh
đánh cắt đứt quân ta, hoặc có đánh lớn, đó
là điềm cho biết ý trời không thuận cho sự
ra binh. Nếu đóng dinh trại ở đồng ruộng thì
nên dặn dò quân sĩ hai ba lần hãy giữ vững
dinh trại để phòng ngừa giặc theo chiều gió
đến la ó mà đánh đinh trại của ta. Nếu ta
lập trận đã xong mà có gió ấy thì cũng không
đánh mà nên giữ vững.
I. Một là gặp mặt trời và mặt trăng hơi bị
ăn, thì không nên tiến binh đánh dẹp, mà chỉ
ra lệnh cho ba quân giữ gìn chắc chắn để
phòng ngừa giặc đến đánh.
K. Một là quân đang đi đường, gặp nhiều ngọn
gió lớn xáp nhau, đập vào nhau, khi thì thổi
khi thi nghỉ, bấy giờ phải sợ giữa đường có
phục binh đánh, vậy nên đề phòng.
L. Một là gió đập vào mặt người thì không
nên tấn binh. Nếu khi phát binh đi trên
đường thì gập gió thuận thổi, khi đi được
nửa đường hoặc trở về thì gặp gió nghịch
thổi, bấy giờ nên lập đinh trại ngay tại đó.
Nếu cứ tiến binh, ắt sẽ gặp phục binh. Nếu
gặp giặc phải đánh, mà có gió nghịch không
phân lớn nhỏ thì không nên giao chiến mà nên
giữ vững.Vì đạo trời chưa thuận nên phải
thế.
M. Một là khi mới phát binh, gió mưa chẳng
có, đi được nửa đường, bỗng có đánh lớn, và
có mưa to gió lớn, thì nên chọn gấp chỗ lập
dinh trại để giữ vững mà chớ nên tiến binh.
Nếu cứ đi tới ắt có huyết chiến.
N. Một là quân đang đi trên đường hay đang
đóng dinh trại ở đồng nội, mà gặp mưa to gió
lớn, tuyết rơi sương mù, tối tăm mờ mịt thì
không nên tiến binh dẹp giặc. Nên vỗ về sĩ
tốt để giữ vững là hơn hết.
O. Một là quân đang đóng dinh trại tại đồng
nội, chỉ có điềm trời là sắc mây, móng trời,
sao băng sa xuống, đất cát thay đổi, chim
bay, thú chạy, có giống vật lạ chạy vào dinh
trận cắn quân lính, thì nên bói đề tìm hiểu.
32.- PHÉP XEM SƯƠNG RƠI ĐỂ ĐOÁN THỜI TRỜI :
Hễ về tháng ba mùa hạ, dương-khí tới mà bỗng
nhiên sương rơi xuống lộp độp làm cho đầu
cành cây ẩm ướt, ắt sẽ có binh dấy lên từ
phương bắc, đến lấy nước, phá thành. Chủ nên
phòng bị vực binh. Ngày xưa, hiền thần Trâu
Diễn nước Yên bị giam trong ngục, trời bèn
giáng sương vào tháng ba thì không tới một
tuần, có binh dấy ở phương bắc.
33.- PHÉP XEM MƯA TUYẾT:
Tuyệt là tinh túy của mưa móc không phải do
trời mà khởi, không phải do đất mà sanh, mà
chính do việc binh của nước mà ứng.
Mùa đông sinh tuyết thì thuận, mùa hè sinh
tuyết thì nghịch. Vào tiết hạ chí mà tuyết
bay ngàn dặm thì có dấy binh ở biên giới
phía bắc. Chủ nên phòng bị.
34.- PHÉP XEM MÓC RƠI ĐỂ ĐOÁN THỜI TRỜI:
Móc là do âm khí kết lại mà thành, nó đông
lại như mỡ, trông đẹp đẽ như kẹo. Nếu được
như vậy, thì thuận lòng trời, binh sẽ gặp
điều tốt lành.
Nếu lạnh nhức xương, tê da, ắt sẽ nghịch
lòng trời, hành quân sẽ đại bại.
Móc cũng có tên là “rượu của trời”. Ngày
xưa, người ta tin rằng Vua Hán Võ Đế được
thần tiên dùng tay hứng cho mà uống, chắc
phải có lợi gì.
35.- PHÉP XEM MƯA GIÓ NGÀY MỒNG MỘT:
Ngày mồng một tháng giêng mưa to, gió lớ,
thổi cát bụi bay lên, làm tróc nóc nhà, chủ
về việc tơ lụa hiếm hoi, nghề tằm thất bại,
lúa mất mùa.
Ngày mồng một tháng hai có mưa thì tơ xấu,
mất mùa lúa. Ngày ba mươi mà mưa thì dân gặp
nhiều tật bệnh, chết chóc nhiều và gặp việc
dữ.
Ngày mồng một tháng ba có mưa gió thì có
nhiều bệnh, có sâu lúa sinh ra, hai thứ lúa
mì lớn nhỏ đều không chín, nhân dân chịu sầu
khổ.
Ngày mồng một tháng tư có mưa gió thi lúa mì
xấu, gạo trở nên đắt đỏ. Ngày ba mươi có mưa
lớn thì có bồ cào (sâu keo) gieo nạn dữ.
Ngày mồng một tháng năm có mưa gió thì trâu
bò trở nên đắt đỏ. Trong năm ấy nhân dân sẽ
đói kém, trở nên sầu oán và sẽ có dấy binh.
Ngày mồng một tháng sáu có mưa gió thì lúa
gạo trở nên hiếm hơi đắt đỏ.
Ngày mồng một tháng bảy có mưa gió thi lúa
gạo trở nên đắt đỏ, nhân dân không yên ổn,
thiên hạ loạn lớn.
Ngày mồng một tháng tám có mưa gió thi đất
âm có nhiều vải và lúa mì, khan hiếm gạo và
dầu mè.
Ngày mồng một tháng chín có gió mưa thì hột
mè khan hiếm cho đến xuân hạ năm sau.
Ngày mồng một tháng mười có gió mưa là chủ
về việc có khô hạm, hột mè khan hiếm.
Ngày mồng một tháng mười một có gió mưa thì
việc binh gặp nhiều tai nạn. .
Ngày mồng một tháng chạp có gió mưa thì mùa
xuân bị khô hạn, mùa hè bi lụt lội, gạo lúa
trở nên đắt đỏ.
MỘ BINH
36.- TUYỂN MỘ:
Đặt ra ba bậc đề tuyển mộ tráng sĩ. Từ quan
lại trở xuống, đều phải cử người mà mình
biết rõ.
Những kẻ giặc cướp thi để vào bậc trên,
những kẻ đả thương hoặc trộm cắp cho vào bậc
thứ hai, những kẻ không lo việc nhà thì cho
vào bậc dưới.
Khiến nhóm họp các tướng và để 300 cỗ xe
ngựa cho họ dùng, rồi tuyển mộ quân cảm tử
để hầu hạ họ: nếu không phá được địch, cũng
không đến nỗi mất nhuệ khí.
37.- BINH MẠNH:
Trong phép chiến thắng có 5 việc cốt yếu:
1) Sắp sẵn bào giáp, binh khí.
2) Lo kiếm người, ngựa. xe cho đủ.
3) Chứa trữ nhiều.
4) Huấn luyện sĩ tốt.
5) Chọn tướng giỏi.
Năm việc trên đã chuẩn bị xong rồi mới có
quân đội mạnh mẽ được.
38.- CHỌN BINH ĐỂ TẬP LUYỆN:
Binh cần tinh nhuệ chớ không cần nhiều.
Nên chọn những kẻ khoẻ mạnh mà dùng chớ chọn
những kẻ ốm yếu để khoe số đông.
Những hạng có thể thâu nạp để huấn luyện là
những kẻ:
1) Có nhiều anh em.
2) Không cha mẹ.
3) Tuy đơn độc nhưng có con nối dõi,
4) Nhà tuy nghèo nhưng có tài sức mạnh khoẻ.
CHỌN TƯỚNG
39.- XÉT TƯỚNG:
Muốn biết nguời nên xét tám chứng cớ sau
này:
1) Thứ nhất là hỏi họ, buộc họ phải trả lời
để dò xem kiến thức tường tận của họ.
2) Thứ hai là lấy lời gạn hỏi họ để xem tài
ứng biến của họ.
3) Thứ ba là dùng gián điệp dò xét họ để xem
lòng thành thực cửa họ.
4) Thứ tư là buộc họ giảng giải rõ ràng để
xem đức độ của họ.
5) Thứ năm là dùng tiền của mà sai khiến họ
để xem tánh liêm khiết của họ.
6) Thứ sáu là dùng sắc đẹp mà thử họ để xem
lòng trinh chính của họ.
7) Thứ bẩy là đem việc khó mà bảo họ để xem
lòng dũng cảm của họ.
8) Thứ tám là cho bọ uống rượu say để xem
thái độ của họ.
40.- DÙNG TƯỚNG:
Hỏi : Nếu có một viên tướng mạnh dạn, một
viên tướng cơ trí phải dùng họ như thế nào
mới được?
Đáp : Tướng mạnh dạn thì có tài đánh phá chỗ
kiên cố của địch, vây hãm trận địch, có
tướng mạnh thì có thể gây nên thế mạnh. Về
việc lo liệu đối phó với quân địch, sắp đặt
kế hay, tùy cơ ứng biến, nếu không có tướng
cơ trí thì không thể làm được.
Nếu tướng chỉ cậy dõng cảm mà thôi thì phải
thua mưu trí vậy. Cho nên ngày xưa, xây đàn,
lên đài, đẩy trục xe (*), ắt phải tìm mời
tướng súy có cơ trí để làm chỗ trông cậy cho
người tướng mạnh dạn. Do đó người làm chủ
tướng không cần phải biết phép thuật, đánh
gươm cưỡi ngựa, bắn cung, mà cần phải hiểu
biết thông suốt các việc xưa nay.
Vậy phải giao trách nhiệm chỉ huy cho ai?
Muốn biết một viên tướng là tài giỏi hay ngu
tối, ta phải thử thách họ để coi họ động
lòng hay không.
(*) Đó là phép đăng đàn bái tướng của vua
chúa đời xưa: Võ Vương phong tướng cho
Khương Tử Nha, Hán Cao Tổ phong tướng cho
Hàn Tín…vân vân...
41.- CÁCH ĐỐI PHÓ VỚI TƯỚNG NGU TỐI CỦA ĐỊCH
QUÂN :
Thử thách mà động lòng đó là hạng tướng ngu
tối. Tướng ngu tối thấy lợi thì động lòng,
khinh thường quân địch nên động lòng. Về
phương pháp đối phó, ta nên dùng hai cách
phỉnh gạt sau này để bắt tướng ấy :
- Đối với tướng tham lợi, ta dùng mồi nhử để
bắt họ.
- Đối với tướng coi thường đối phương, ta
giả vờ khiếp nhược để câu nhử thì có thể bắt
được họ.
42.- CÁCH ĐỐI PHÓ VỚI TƯỚNG GIỎI CỦA ĐỊCH
QUÂN :
Thử thách mà không động lòng, đó là hạng
tướng tài giỏi. Tướng tài giỏi, có mưu trí
đầy đủ nên không động lòng, có pháp thuật
đầy đủ nên không động lòng. Về phương pháp
đối phó, ta nên dùng hai cách giúp thêm sau
này để chống chọi.
- Khi hai bên dùng trí đấu nhau, mưu-trí của
ta không hơn được mưu trí của địch, thì ta
dùng pháp thuật giúp thêm vào, để che ngăn
chỗ sơ hở khi địch nhân lúc ta thua trí mà
đánh vào.
- Khi hai bên dụng phép thuật để đánh nhau,
mà phép thuật của ta không hơn được phép
thuật của địch, thì ta dùng mưu trí giúp
thêm vào, để ngăn ngừa sự biến loạn, khi
địch thừa dịp ta sơ hở về phép thuật mà đánh
vào.
43.- CHIẾN LƯỢC:
Đây là mưu đánh. Khi giao binh, nếu muốn
biết tình trạng hư thực của địch, ta hãy làm
cho người lộ hình tích mà giữ cho ta vô
hình. Ta làm cho người bộc lộ tình trạng hư
thực, đánh vào chỗ sơ hở của họ mà thành ra
đánh được chỗ vững bền của họ.
Nếu ta đánh vào chỗ vững mạnh của địch, ắt
là ta sai lầm, nếu ta đánh mạnh vào chỗ sở
hở của địch thì ta được vững mạnh, sai lầm ở
trên là bởi lẽ đó. Sâu kín đến nỗi trở nên
vô hình, giấu kỳ ở trong chính, giấu chính ở
trong kỳ, lấy kỳ làm chính, lấy chính làm
kỳ.
Phép đánh là dùng chính để hợp, dùng kỳ đề
thắng, phép chiến thắng không ra ngoài kỳ
chính, cách biến hóa của kỳ chính không bao
giờ hết được. Kỳ và chính sinh ra nhau như
vòng tròn không có đầu múi. Xét hư thực,
hiểu rõ đâu là vững chắc đâu là sơ hở, khéo
dùng phép kỳ chính, đó là ba vật báu của
binh pháp.
Biết mình biết người, trăm đánh trăm thắng.
Nuôi khí lực của dân, định tâm chí của quân,
đó gọi là biết mình. Xét tình hình quân
địch, đó gọi là biết người.Việc ấy có ba
điều trọng yếu, phát xuất từ ba căn bản, tại
sao thế?
Theo phép cầm binh thì “dụng” bên ngoài
khoan nghiêm không chừng, nhưng “thể” bên
trong phải nghiêm, cho nên binh gia và pháp
gia phụ giúp cho nhau; hình trạng bên ngoài
thì động tĩnh vô thường nhưng phải lấy tĩnh
làm chủ, cho nên binh gia và âm phù gia
(pháp sư) phải nhờ cậy nhau. Việc hình pháp
không cần phải kiêm thêm việc binh, nhưng
trái lại việc binh chưa bao giờ khỏi kiêm
thêm việc hình pháp; pháp thuật không cần
dùng binh mã, nhưng binh gia chưa bao giờ
khỏi dùng pháp thuật. Cho nên mới nói rằng:
ba điều trọng yếu do ba căn bản. Dùng sở
trường của các nhà rồi suy tính lợi hại, như
thế mưu lược sẽ được hoàn bị.
44.- CÁCH DÙNG TƯỚNG:
Hỏi : Phép dùng tướng như thế nào ?
Đáp : Tại một việc cơ quyền mà thôi. Tướng
nói có thể dùng dân thì phải dùng, tướng nói
không thể dùng dân thì không dùng. Tướng nói
có thể dùng binh thì phải dùng, tướng nói
không thể dùng binh thì chớ dùng. Tướng nói
có thể đuổi đánh quân địch thì phải đuổi
đánh, tướng nói không thể đuổi đánh thì chớ
đuổi đánh. Như thế quân pháp không rối loạn,
cơ quyền không bị cản trở.
Nhưng muốn biết dùng tướng, trước hết phải
biết chọn tướng. Muốn biết chọn tướng, trước
hết phải biết xét tướng. Ba việc hiểu biết
ấy đem lại quyền năng thần diệu cho tướng
súy, cho nên không thể không xem xét cẩn
thận. Phép khiển tướng, dùng binh như thế
đầy đủ rồi sao?
Tuy nhiên theo Tôn Ngô thì phải lo đánh
thành, còn theo lời Mạnh Tử, Tuân Tử thì
chưa được. Vì sao nói thế? Đáp rằng : Kế
hoạch căn bổn đã mất nên mới dùng Tôn Ngô,
đó chỉ là búa rìu dùng để đẽo gọt nước nhà.
Bên ngoài dữ ác, bên trong đẽo gọt hì cơ mất
nước chỉ còn kiễng chân mà mong chờ.
45.- CHIẾN LƯỢC :
Việc cốt yếu trong khi đánh giặc là trước
hết xem xét tài năng của tướng địch, tùy
theo hình thế mà dùng cơ quyền, ắt là không
mệt nhọc mà được thành công.
Tướng địch ngu ngốc mà lại tin người thì ta
có thể hứa hẹn để dẫn dụ.
Tướng địch tham lam mà không cầu danh thì ta
có thể dùng tiền mà hối lộ.
Nếu tướng địch nhẹ dạ vô mưu, thì ta có thể
làm cho phải vất vả, khốn đốn.
Bên địch trên giàu mà kiêu căng, dưới nghèo
mà oán hận thì ta dùng mẹo ly gián.
Bên địch tới lui ngờ vực, dân chúng không
biết trông cậy vào đâu, thì ta làm cho chúng
rúng động rồi đuổi đánh chúng.
Bên địch sĩ tốt khinh tướng súy mà có bụng
muốn trở về, thì ta ngăn chận lối đi dễ, mở
thông lối đi khó rồi đón đánh thì cầm bắt
được.
Bên địch đường tới dễ đường lui khó thì ta
vời chúng đến mà đánh, bên địch đường tới
khó đường lui dễ, thì ta đến gần chúng mà
đánh.
Địch đóng quân ở chỗ ẩm thấp, nước không có
chỗ chảy thông, trời mưa dầm lâu ngày thì ta
có thể khơi nước chảy vào để chúng bị chết
đuối.
Địch đóng quân ở chốn đồng hoang, lau cỏ um
tùm, khi có gió mạnh ta dùng lửa để đốt
chúng chết cháy.
Địch đóng quân lâu ngày ở một chỗ, tướng sĩ
biếng nhác, quân ấy không phòng bị, ta có
thể ẩn nấp mà đánh úp.
46.- CÁC HẠNG TƯỚNG SÚY :
Tướng súy có nhiều hạng :
- Có tướng nho nhã
- Có tướng mạnh dạn
- Có tướng khôn lanh
- Có tướng tài giỏi.
Tướng nho nhã thì có mưu trí
Tướng mạnh dạn thì đánh mạnh
Tướng khôn lanh thì biết ứng biến
Tướng tài giỏi thì có nhiều khả năng.
Nếu tướng gồm kiêm được hết thì không việc
gì mà không thần diệu, nếu tướng biết phòng
bị thì không có việc nào bất lợi.
47.- HÒA MỤC :
Hòa mục là giềng mối chính của sự trị an.
Trong nước hòa mục thì việc binh tốt đẹp.
Lính đồn thú ngoài biên cảnh hòa mục thì
không có việc kinh sợ. Nếu bất đắc dĩ mới
đặt giới cấm thì sự hòa mục càng được quí
trọng. Vua tôi hòa mục sau mới chuyên dùng.
Tướng văn tướng võ hòa mục sau mới thành
công. Tướng sĩ hoà mục sau mới nhắc nhở công
lao của nhau mà tưởng thưởng, khi gặp nguy
nan mới cứu viện nhau. Vậy sự hòa mục là
đường lối tốt đẹp bất đi bất dịch cửa phép
trị quốc hành binh.
48.- TRỌNG THƯỞNG TƯỚNG SÚY :
Tướng súy đánh trống, phất cờ, khi gặp nạn
thì quyết tử chiến, xông pha gươm dáo, chống
chọi nổi với địch thì được thưởng công, nêu
danh, thua địch thì binh chết nước mất. Như
thế vấn đề còn, mất, yên, nguy chỉ tùy thuộc
vào một mảy tơ hào, do đó không thể không
trọng thưởng tướng súy.
49.- TÀI DỨC CỦA TƯỚNG SÚY :
Tài đức của tướng súy kẻ ít người nhiều
chẳng giống nhau.
- Che giấu điều gian tà, chứa trữ tai họa,
chẳng biết dân chúng hờn oán, đó là tướng
coi 10 người.
- Siêng năng cần mẫn, nói năng kín đáo rõ
ràng, đó là tướng coi 100 người.
- Ngay thẳng mà biết lo âu, mạnh dạn mà biết
chiến đấu, đó là tướng coi 1000 người.
- Ngoài mặt mạnh mẽ, trong lòng hăng hái,
hiểu rõ điều lao khổ của người, thương xót
cảnh đói rét của người, đó là tướng coi muôn
người.
- Gần hiền, cử tài, được một ngày thì cẩn
thận một ngày, thành tín, rộng lượng, sửa
trị việc rối loạn mà vẫn thanh nhàn, đó là
tướng coi 100 ngàn người.
- Nhân ái đối với người dưới, dùng tín nghĩa
để hàng phục nước láng giềng, trên hiểu
thiên văn, dưới thông địa lý, giữa rõ nhân
sự, coi người trong bốn biển như trong một
nhà, đó là tướng-súy của tất cả thiên-hạ,
không ai có thể đối địch lại được.
49.- THỜI TIẾT :
Việc điều binh khiển tướng là việc lo sợ của
binh gia vậy nên cần chờ mặt trời, mặt trăng
(ngày, tháng thuận lợi) để được thành công.
50.- PHÉP LẬP ĐÀN :
Lập đàn 3 từng cao 3 trượng để tượng trưng
tam tài, rộng 24 trượng để tượng trưng 24
khí.
Giữa đàn có 25 người đứng, mặc áo vàng, tay
cầm cờ vàng, đuôi báo, trấn giữ ở giữa cung
mậu, kỷ, thổ đề tượng trưng việc chỉ huy
trận hình.
Phía đông đàn có 25 người, mặc áo xanh. tay
cầm cờ xanh, trấn giữ hướng đông, giáp, ất,
mộc để tượng trưng thanh long (rồng xanh).
Phía tây đàn có 25 người, mặc áo trắng, tay
cầm cờ trắng, trấn giữ hướng tây, canh, tân,
kim để tượng trưng bạch hổ (cọp trắng).
Phía nam đàn có 25 người, mặc áo đỏ, tay cầm
cờ đỏ, trấn giữ hướng nam, bính, đinh, hỏa
để tượng trưng chu tước (phượng đỏ).
Phía bắc đàn có 25 người, mặc áo đen, tay
cầm cờ đen, trấn giữ hướng bắc, nhâm, quý,
thủy để tượng trưng huyền võ (rùa đen).
Chung quanh đàn có 365 người cầm cờ đủ mầu
để tượng trưng vòng trời 365 độ Như thế là
đầy đủ.
Đại tướng theo phương sinh khí, lên đàn bái
tướng tế trời đất, đóng giữ sáu nhung(?),
sắp đặt mà dùng.
Bên trái và bên phải có các quan văn võ đứng
hầu, nếu có ai làm huyên náo hoặc đứng sai
hàng lối thì sẽ có quân pháp trừng phạt.
51- TRAO MỆNH CHO TƯỚNG SÚY:
Việc yên nguy của xã tắc đều tùy thuộc vào
một người chủ tướng nên mới khiến quan Thái
Sử giữ trai giới ba ngày, đến Thái Miếu bói
ở mu rùa để chọn ngày tốt trao rìu búa.
Vua đi vào cửa miếu, quay mặt về hướng tây
mà đứng, tướng quay mặt về hướng bắc mà
đứng.
Vua tự cầm đầu rìu đưa cán cho tướng mà nói
rằng: Từ đây cho tới trời, tướng quân hãy lo
chế ngự.
Rồi cầm cán búa đưa lưỡi búa cho tướng mà
nói rằng: Từ đây cho tới vực thẳm, tướng
quân hãy lo chế ngự.
Tướng nhận búa rìu lạy tạ mà trả lời Vua :
Hạ thần nghe rằng việc nước không thể theo
ngoài, trị quân không thể theo trong. Hai
lòng không thể thờ vua, chí khí chia lìa
không thể ứng phó với địch quân. Thần đã
chịu mệnh, cầm rìu búa, không dám sống mà
trở về. Mong Vua ban cho thần một lời nói
trao mệnh, nếu Vua không chịu thần không dám
làm tướng.
Làm như thế thì trên không có trời. dưới
không có đất, ở trước mặt không có địch, ở
sau lưng không có Vua.
52.- DÙNG TƯỚNG :
Đời sau dùng người không được như thế. Nghị
bàn một người mà phần thi hành về một người
khác. Như thế người nghị bàn không biết sự
khó khăn của người thi hành mà chỉ nói lý
thuyết cao siêu. Người thi hành muốn tuân
thụ ý của người nghị bàn nhưng không hợp với
thời cơ. Thậm chí có khi một người thi hành
mà có tới mấy chục người nghị bàn. Ở giữa kẻ
hiền và người gian lẫn lộn, kẻ thương và
người ghét đều theo ý riêng của mình mà nói.
Kẻ thương tuy ít mưu nhưng cũng phụ hội mong
cho thành. Kẻ ghét tuy mưu hay những tìm
nhiều cảnh để khuấy rối. Không biết liệu
lường địch yếu hay mạnh như thế nào mà cứ
cho rằng đánh ít thì thắng ít, đánh nhiếu
thì thắng lớn. Không hỏi thời thế khó dễ như
thế nào mà thấy quân nghỉ ngơi thì buộc tội
trì hoãn, thấy quân giữ vững thì buộc tội
biếng nhác. Kẻ thi hành liếc trái, nhìn
phải, muốn đánh hay giữ, tới hay lui, đều
không tự chủ được.
Đến khi có mười cỗ xe nguyên nhung chưa kịp
đi mà quan trên đã ban lệnh rối rít, mệnh
lệnh trong quân đã định mà bọn áo gấm ngồi
cao đã tới làm rộn, việc đem sĩ tốt ra mà
đánh hay đem tướng ra mà đánh đều do bọn
nghị bàn đề xướng tất cả. Các đời Đường,
Tống, Minh đều thất bại vì nạn nói trên, đời
Tống vấp nặng mà đời Minh lại càng nặng hơn
nữa.
Kẻ luận việc đời Tống nói rằng : Nếu chỉ bàn
suông mà thành công, thì ai bàn ít mà rõ
việc, đó là kẻ sáng suốt trong thiên hạ.
Không chết vì tay giặc cướp mà chết vì tay
người nhà, không chết ở nơi biên cương mà
chết vì kẻ can gián ngồi cao, điều tệ hại ấy
sinh ra do những người chỉ lo làm mà không
chịu luận bàn. Trái lại đối với những kẻ chỉ
bàn suông mà không làm thì họ cứ bàn luận
phân vân như tơ vò không thể gỡ rối. Xét lại
việc xưa nay, Hán Tuyên Đế sử dụng Triệu
Sung Quốc, là biết phép dùng tướng vậy.
ĐẠO LÀM TƯỚNG
53.- CẨN MẬT :
Biến động là nguồn gốc của kỳ chính, gặp
việc chẳng hé môi, dùng binh chẳng nói năng.
Cho nên khi có việc, không gì hơn được
trước, khi động không gì hơn kín lặng, khi
dùng không gì hơn bất ngờ, khi lập mưu không
gì bằng đừng cho ai biết.
54.- HƯ THỰC :
Kẻ thắng trước thì trước hết tỏ ra mình yếu
hơn địch cho nên sĩ số chỉ bằng nửa mà sức
đánh gấp bội địch.
Cho nên chưa thấy thắng mà đã đánh, dầu đông
quân cũng sẽ thất bại. Kẻ đánh giỏi ở yên
thì không lộn xộn, thấy thắng được thì dấy
binh đánh, thấy không thắng được thì dừng
lại.
Ngày xưa kẻ giỏi dùng binh trong lòng muốn
như thế nhưng tỏ ra ngoài rằng mình không
muốn như thế, khiến cho địch ngờ rằng mình
không muốn như thế, để thi hành ý muốn của
mình đúng như thế, đó là phép vi diệu, để
phá quân, bắt tướng, hàng thành, phục ấp.
Bây giờ nếu ý muốn chẳng phải thế, thì làm
ra vẻ muốn như thế, khiến cho địch ngờ rằng
mình muốn như thế, để mà thi hành ý muốn
riêng của mình, đó là phép vi diệu để phá
quân, bắt tướng, hàng thành, phục ấp. Cho
nên việc bày ra ngoài là ảnh. Cho nên làm ra
cho người thấy, nhưng không có ý ấy, thì
trong ảnh lại có ảnh hiện ra. Hai gương cùng
treo soi nhau, đã sâu kín lại càng sâu kín.
Địch sắp đặt mưu kế mà ta phá hoại được,
địch toan đoạt lợi ta mà ta ngăn chặn được,
ắt là cơ trí của địch phải thất bại. Chúng
giả vờ khêu chọc ta để đánh úp ta, ta phá
được. Chúng giả phô trương, ta phá được.
Chúng giả đánh, ta phá lực lượng của chúng.
Chúng dẫn dụ lừa dối ta, ta phá hỏng mưu mô
của chúng. Hoặc ta dùng cách giả trá để phá
chúng, hoặc ta dùng cách tín thực để phá
chúng. Hư thì không thực, giả trá thì không
tạo công. Thực thì không hư, thành việc thì
được kết quả. Vận hành ở đất không có, lay
chuyển ở mối đầu đứng yên. Sâu kín tối tăm.
Địch muốn làm nhưng chẳng lo toan được. Địch
muốn mưu đồ nhưng chẳng có tâm trí để làm
việc ấy, đó là sự thần diệu của cách biến
hóa hư không vậy.
55.- XỬ THẾ :
Bỏ mình để báo ơn Chúa mà không khiến được
sĩ tốt đồng lòng cùng chết, như thế chẳng
phải là tướng giỏi thành công. Cùng sĩ tốt
ăn uống mà về sau quên lúc đói khát trên
ngựa. Cùng sĩ tốt hưởng bổng lộc mà về sau
quên việc xông pha nguy hiểm. Cùng sĩ tốt
thức ngủ nhưng về sau quên việc đánh dẹp
gian lao. Lo điều lo của sĩ tốt, cùng chịu
điều khổ của sĩ tốt, những về sau quên vết
thương tên bắn. Việc đã xong thì tình phải
tròn. Cho nên chiến đấu là điều trọng yếu,
chịu thương tích chết chóc là phận sự, xông
pha gươm dáo, tranh đi trước người là nhiệm
vụ, nhưng nếu không biết đường lối thì đó là
việc nguy hiểm. Kẻ quên mình ở hoàn cảnh
nguy hiểm mà lại vui vẻ được, kẻ ấy sẽ ăn
vật độc như ăn kẹo.
56.- CHIẾN LƯỢC :
Đem binh uy hiếp chỗ mà thiên hạ không biết,
chế ngự chỗ mà thiên hạ không dám cựa, đánh
vào chỗ mà thiên hạ không thể giữ, trấn giữ
chỗ mà thiên hạ không dám đánh, chạy vào chỗ
mà thiên hạ không thể chống cự, rời bỏ chỗ
mà thiên hạ sẽ không đến. Ta trấn nhiếp chỗ
nào thì thị uy ở chỗ ấy khiến cho địch chưa
dùng binh mà đã sợ ta. Đến khi dùng binh mà
địch không chống nổi ta thì bởi chúng đã một
lần sợ ta rồi nên ngàn năm chúng cũng sẽ sợ
tài của ta.
57.- THẾ CHỦ ĐỘNG :
Tới lui đánh giữ đều do nơi ta, đó là có cơ
đánh thắng. Do ta thì ta chế ngự được địch,
do địch thì bị địch chế ngự. Ta muốn chế ngự
địch mà dầu địch không muốn cũng không cưỡng
lại được, đó là do ta sắp đặt khiến cho phải
được như thế.
58.- TÁNH TỰ NHIÊN :
Tự tánh thì chẳng có gì mà chẳng chứa đựng.
Quen làm một việc lâu ngày ắt là đem dùng
được tự nhiên. Cho nên kẻ giỏi dùng binh thì
chẳng thấy gì ngoài việc binh, chẳng luận
đàm gì ngoài mưu lược, chẳng trị chỗ nào mà
không biến hóa xen trộn. Đó là khi thấy việc
biến xẩy tới thì chẳng cần chờ an bài bèn
tính toán so đo để trong mọi việc kinh dinh
chẳng có điều gì mà không hoà hợp, ổn thỏa.
Trời tự nhiên mà vận hành, đất tự nhiên mà
ngưng tụ. Việc binh thi hành tự nhiên cho
nên chẳng bao giờ mà không thắng.
59.- THÁNH ĐẠO :
Dùng mưu trí để hàng phục thiên hạ mà thiên
hạ chịu khuất phục mưu trí của mình thì mưu
trí ấy cũng chưa phải là tối thắng. Dáng
hình pháp để chế ngự thiên hạ, mà thiên-hạ
chịu theo hình pháp thì hình pháp ấy cùng
chẳng có gì hay. Dưới mưu trí hay hình pháp
đều chẳng phải là điều hay nhứt trong những
điều hay. Ngày xưa Thánh Võ giữ thế mà chẳng
vây thành, chẳng đánh lũy chẳng bày trận, đó
là nhờ nương náu ở chỗ hư không và dựa vào
chỗ ít oi.
Un đúc trong thế không tranh mà được vậy.
Sâu xa trong sạch, tang tình tang... (*)
(*) Nguyên văn trong bản scan, có lẽ do
thiếu sót trong việc in ấn ...
60.- TIẾT CHẾ :
Ngày xưa, Vua Đường Thái Tôn hỏi Lý Tịnh
rằng:
- Hiện nay, về tướng súy chi có Lý Tích, Đạo
Tông và Tiết Vạn Triệt. Nhưng trừ Đạo Tông
là chỗ thân thuộc để riêng ra ngoài, thì ai
có thể kham được việc lớn?
Lý Tịnh đáp:
- Bệ hạ thường nói Lý Tích và Đạo Tông dùng
binh không thắng lớn mà cũng không thua to.
Còn Vạn Triệt nếu không thắng lớn thì phải
thua to. Nhân nghe thánh ngôn của Bệ Hạ,
thần cạn nghĩ rằng: Không cần thắng lớn mà
cũng không thua to đó là binh có tiết chế.
Nếu chỉ một là thắng lớn, hoặc một là thua
lớn, thì đó chỉ là may mắn mà được thành
công. Cho nên Tôn Võ nói rằng: Tướng đánh
giỏi luôn luôn đứng vào thế không thua nhưng
không bỏ lỡ cơ hội đánh bại quân địch. Đó là
nhờ sự tiết chế ở nơi ta vậy.
61.- CÁC ĐIỀU CHỦ YẾU TRONG BINH PHÁP:
Vua Đường Thái Tôn hỏi Lý Tịnh rằng:
- Trong binh pháp, những điều thâm yếu nhất
là gì?
Lý Tịnh đáp:
- Thần thường chia ra ba bậc để cho học giả
nghiên cứu dần dần.
Thứ nhất là đạo
Thứ hai là trời đất
Thứ ba là tướng pháp
Lý thuyết về đạo rất là tinh vi. Điều mà
dịch học gọi là thông minh, duệ trí, thần võ
nhưng không cần phải giết người, chính là
cái ấy.
Lý thuyết của trời là âm dương, lý thuyết
của đất là khó dễ. Kẻ dùng binh có thể lấy
âm, đoạt dương, lấy khó đánh dễ. Mạnh Tử gọi
thiên thời, địa lợi, chính là cái ấy.
Lý thuyết của tướng pháp là dùng người, dùng
vật cho có hiệu quả. Sách Tam Lưọc nói được
kẻ sĩ là tốt, Quản Trọng nói đồ sắc bén, bền
bĩ, chính là cái ấy.
62.- SÁCH LƯỢC:
Vua Đường Thái Tôn nói: Tuy nhiên, ta cho
rằng không đánh mà khuất phục được binh của
người, đó là thượng sách. Trăm đánh trăm
thắng là trung sách. Đào hào sâu, đắp lũy
cao để tự phòng thủ là là hạ sách. Lấy ba
bậc ấy cũng có thể so sánh với ba bậc trong
sách của Tôn Võ.
Lý Tịnh đáp: Xem văn và xét việc cũng thấy
có chỗ sai biệt. Trương Lương, Phạm Lãi, Tôn
Võ bỗng nhiên đi biệt tích, không biết là đi
đâu, nếu không phải là hạng người biết đạo,
thì sao có thể làm được như thế? Như Nhạc
Nghị, Quản Trọng, Gia Cát Lượng đánh thì
thắng, giữ thì vững, nếu không biết xét
thiên thời, địa lợi thì sao có thể làm được
như thế? Sau nữa Vương Mãnh giữ nhà Tần, Tạ
An giữ nhà Tần, nếu không biết dùng tướng
súy, chọn nhân tài đề giữ gìn hoàn bị, sao
có thế làm được như thế? Cho nên người học
tập về binh pháp, trước hết đi từ bậc dưới,
để tiến lên bậc giữa, rồi từ bậc giữa tiến
lên bậc trên, ắt là dần dần có thể đi tới
chỗ sâu xa. Nếu không làm như thế thì chỉ là
nói suông, dầu có chép và đọc tụng cũng vô
ích, không thể dùng được vậy.
Vua Thái Tôn nói: Các đạo gia rất kỵ việc ba
đời làm tướng, nên không dám truyền bừa bãi
mà cũng không dám truyền, khanh nên cẩn thận
về chỗ ấy.
Lý Tịnh lạy tạ mà lui về, truyền hết sách
binh pháp cho Lý Tích.
63.- ĐỨC TÍNH:
Binh ở chốn chiến trường, đứng vào nơi chết
chóc, quyết chết thì được sống, cầu sống thì
phải chết. Người tướng giỏi giống như đứng
trên thuyền thủng đáy, nằm dưới nhà đang
cháy, hoàn cảnh ấy khiến cho kẻ có cơ trí
cũng không kịp mưu tính được gì, kẻ dõng cảm
cũng không kịp nổi giận, như thế mới có thể
chống cự với quân địch. Cho nên trong các
điều hại của sự dụng binh, sự do dự là lớn
nhất, tai nạn của ba qua sinh ra do sự hồ
nghi.
Cho nên năm điều hay giỏi của tướng súy là:
Thứ nhất: sửa trị
Thứ hai: phòng bị
Thứ ba: quả cảm
Thứ tư: kỷ luật (giới cấm)
Thứ năm: giản ước.
Biết trị yên thì có thể trị nhiều người
giống như trị ít người.
Biết phòng bị thì đi ra cửa giống như đi gặp
địch.
Có tính quả cảm thì khi gặp địch, chẳng còn
cầu sống.
Biết khép vào kỷ luật thì khi gặp nguy nan,
cũng giống như lúc bắt đầu đánh.
Có tính giản ước thì ban pháp lệnh rõ ràng
mà không phiền phức.
Khi chịu mệnh rồi, nguời tướng không kịp từ
giã gia đình, phá địch xong rồi mới nói
chuyện trở về, đó là lễ nghi của tướng súy.
Cho nên ngày ra binh, chỉ mong chết vinh mà
không cầu sống nhục.
64.- THAM MƯU:
Việc binh có bốn quân cơ:
Thứ nhứt: khí cơ
Thứ nhì: đia cơ
Thứ ba: sự cơ
Thứ tư: lực cơ
Quân dầu có ba cánh, đông tới trăm vạn, mọi
việc sắp bày to hay nhỏ đều do ở một người:
đó là khí cơ.
Đường sá chật hẹp, hiểm trở, núi cao bít
nghẽn, một người trấn giữ có thể ngăn chận
một ngàn người không qua được, đó là địa cơ.
Khéo sắp đặt việc gián điệp khiến khinh binh
lui tới phân tán kắp nơi, khiến cho vua tôi
oán nhau, trên dưới đổ lỗi cho nhau, đó gọi
là sự cơ.
Biết rõ bốn điều ấy, có thể làm tướng súy
được.
(*)
65.- NGHIÊM CHỈNH:
Chiêng trống phải làm cho tai khiếp uy
Cờ xí phải làm cho mắt khiếp uy
Cấm lệnh, hình phạt phải làm cho tâm khiếp
uy
Âm thanh làm cho tai khiếp uy thì không thể
không trong trẻo.
Màu sắc làm cho mắt khiếp uy thì không thể
không sáng.
Hình pháp làm cho lòng khiếp uy thì không
thể không nghiêm.
Ba điều ấy mà không hẳn hoi đúng đắn thì dầu
được nước cũng sẽ bị địch đánh bại.
Cho nên mới nói rằng: Tướng vẫy tay về phía
nào, thì không thể không đi theo phía ấy,
tướng chỉ tay vào nơi nào thì không thể
không tới nơi ấy mà chết.
66.- UY QUYỀN VÀ TÀI ĐỨC:
Kẻ làm tướng, trời không chế ngự được, đất
không chế ngự được, người không chế ngự
được, không thể chọc giận, không thể dùng
của cải mua chuộc. Lòng nóng giận, tai điếc
mắt mù, lấy ba cái ấy để dẫn dắt người, điều
ấy thực là khó.
67.- XỬ THẾ:
Các điều gian lao của quân đội, tướng súy
phải nếm trải trước đã. Trời nắng không che
lọng, trời lạnh không mặc áo cầu dầy, gặp
chỗ đường khó thì xuống đi chưn; giếng nước
trong quân đào xong, tướng mới được uống
nước; cơm của lính nấu chín rồi, tướng mới
được ăn; lũy trong quân xây xong rồi tướng
mới được nghỉ; khi cực nhọc hoặc khi nhàn
hạ, tướng phải cùng sống với quân lính: như
thế tuy dùng binh lâu ngày mà quân đội vẫn
mạnh mẽ, hăng hái.
68.- KHINH VÀ SỢ:
Dân không thể có hai ý. Sợ ta thì khinh
địch, sợ địch thì khinh ta. Thấy bị khinh
thì bại, giữ được uy thì thắng. Nếu một
tướng súy hiểu rõ nguyên tắc ấy thì các lại
sĩ sợ tướng ấy lắm.
Lại sĩ sợ tướng, thì sĩ tốt sợ lại sĩ và
quân địch sẽ sợ sĩ tốt của ta.
Cho nên muốn biết phép thắng bại thì trước
hết phải biết cân nhắc hai viêc khinh sợ.
69.- UY NGHIÊM VÀ ÂN HUỆ:
Nếu lòng người chẳng vui thuận thì ta không
thể sai khiến họ, nếu lòng người chẳng uy
nghiêm thì ta không thể thành công. Dưới
thương yêu thì thuận, trên uy nghiêm thì
ngay thẳng. Thương yêu thì không ngay thẳng,
uy nghiêm thì không xúc phạm. Cho nên bậc
tướng giỏi chỉ lo hai việc thương yêu mà lập
uy mà thôi.
Uy nghiêm nhờ không đổi,
Ân huệ bởi kịp thời
Cơ trí nhờ ứng biến
Đánh được nhờ trị khí
Công hãm nhờ ý bày
Giữ kỹ nhờ sắp ngoài
Không lầm nhờ tính số
Không nguy nhờ dự bị
Cẩn thận do sợ nhỏ
Trí dũng nhờ coi lớn
Trừ hại do dám giết
Được người nhờ người dưới
Khinh lờn bởi dùng ngờ
Ác nghiệt tại hay giết
Thiên lệch bởi lo riêng
Chẳng lành vì nghe ác
Quá độ vì lấy hết của dân
Không sáng vì nghe can gián
Không đủ vì dấy bừa
Cạn hẹp vì xa hiền
Mang họa bởi tham lợi
Mang hại vì gần người thấp
Mất vì không có chỗ giữ
Nguy khốn bởi không hiệu lệnh
0.- NHÂN NGHĨA:
Khi dùng binh, không được đánh thành không
lỗi, không được giết người vô tội.
Giết cha mẹ, anh em của người, bắt con cái
của người làm tôi tớ hầu thiếp, đó là cướp
bóc. Cho nên việc binh chỉ là trừ bạo dẹp
loạn, ngăn chận điều bất nghĩa. Tại nơi dùng
binh, nhà nông không bỏ ruộng, kẻ mua bán
không rời chợ, kẻ sĩ đại phu không rời nơi
quan phủ. Sở dĩ các điều ấy được thực hiện,
đó là nhờ việc điều binh chỉ do tay một
người. Nhờ đó dùng binh không đổ máu mà lại
được thiên hạ thương yêu.
71.- GIẾT VÀ THƯỞNG:
Giết là để làm sáng tỏ võ đức. Giết một
người mà làm ba quân chấn động, giết một
người để muôn người làm điều lành thì nên
giết.
Khi giết nên giết người lớn, khi thưởng nên
thưởng người nhỏ, nếu đáng giết dầu là người
cao quý cũng giết, đó là phép tra xét người
trên của hình pháp. Thưởng cho đến kẻ chăn
trâu cắt cỏ, đó là cách thưởng kẻ hạ lưu. Có
thể tra xét người trên, tưởng thưởng kẻ
dưới, đó là võ đức của tướng súy, cho nên
bậc chúa loài người thường trọng tướng.
72.- UY QUYỀN:
Kẻ làm tướng, trên chẳng bị ngăn bởi trời,
dưới chẳng bị ngăn bởi đất, giữa chẳng bị
ngăn bởi người. Cho nên việc binh là việc
dữ, kẻ nào tranh giành thì hại đức. Tướng là
hạng quen giết người cho nên bất đắc dĩ mới
dùng tướng.
Trên chẳng có trời, dưới chẳng có đất, sau
lưng chẳng có vua, trước mặt chẳng có địch.
Binh của một người như cọp như sói, âm thầm,
rung chuyển, thiên hạ đều phải sợ sệt.
73.- BIẾN HÓA:
Binh thắng giống như nước. Nước là vật rất
mềm yếu, nhưng ở trên chỗ gò núi hóa thành
băng đá chẳng khác khi chuyên nhất thì sắc
bén như gươm Mạc Tà, cứng nhọn như sừng tê.
Hình tượng của ba quân nếu biết biến hóa
theo phép kỳ chính thì thiên hạ không thể
chống cự lại.
74.- NHÂN HÒA:
Cho nên mới nói rằng: Dùng kẻ hiền thì không
cần chọn ngày giờ mà chỉ cần lợi ích. Pháp
luật sáng suốt, hiệu lệnh đắn đo thì không
cần bói toán, công việc cũng sẽ tốt lành.
Biết quí trọng công lao thì không cần cầu
đảo cũng được phước may.
Lại có nói: Thời trời chẳng bằng đất lợi,
đất lợi chẳng bằng người hòa. Các thánh xưa
chỉ biết thận trọng nhân sự mà thôi.
75.- TỔ QUỐC TRÊN HẾT:
Ngày chịu mệnh tướng liền quên nhà, kéo quân
đóng trại thì quên người thân, cầm dùi đánh
trống thì quên mình.
76.- PHÒNG NGỪA:
Khi Ngô Khởi ra trận, hai bên tả hữu dâng
kiếm. Khởi nói rằng: Tướng chỉ trông coi cờ
trống, gập nguy nan thì quyết đánh, lo điều
khiển ba quân, đó là việc của tướng. Chỉ cầm
một thanh kiếm, đâu phải là việc của tướng.
Cho nên kẻ biết đạo ắt trước hết phải lo
liệu, chẳng chịu thất bại về sự không biết
ngăn ngừa. Điều xấu là ở chỗ kẻ có công nhẹ
dạ tiến lên cầu đánh. Quân địch lo liệu ngăn
ngừa ta, ta tới thì bị địch chế ngự. Cho nên
binh pháp nói rằng: Cầu có mà theo, thấy có
thì giúp vào nên chủ nhân chẳng dám chống
cự, nếu xúc phạm thì bị đánh tan.
77.- MƯU TRÍ:
Lời nói bừa bãi, không cẩn thận thì sự phạm
thượng không thể ngăn ngừa. Nước lụt, sấm
sét có thể làm cho ba quân loạn lạc. Bấy giờ
phải dùng mưu trí để trị yên, dẹp loạn. Thảo
luận tại miếu đường để tìm kế hay. Luận việc
trao mệnh để thêm long trọng. Luận cách khắc
phục gian nan để thêm sắc bén. Như thế có
thể đánh thắng nước địch và hàng phục họ.
78.- CHÂM NGÔN:
Việc binh có năm điểu cần nhớ:
- Làm tướng thì quên nhà
- Xông pha nguy hiểm thì quên người thân
- Đánh địch thì quên mình
- Quyết chết thì được sống
- Thắng gấp là hạ sách
*
* *
Trăm người mang đủ khí giới có thể hãm trận;
Ngàn người mang đủ khí giới có thể bắt địch
giết tướng;
Muôn người mang đủ khí giới có thể hoành
hành giữa thiên hạ.
*
* *
Chuyên nhất ắt thắng;
Ly tán ắt bại;
Trận dày kín thì vững chắc;
Tiên phong thưa thì thông suốt;
Lính sợ địch hơn sợ tướng mình thì bại.
Sở dĩ biết thắng bại là nhờ so sánh tướng
nhà với quân địch. Tướng nhà và quân địch
cũng giống như cân và quả cân vậy.
Yên tĩnh thì trị.
Dĩ gấp thì loạn.
79.- SÁU ĐỨC:
Người xưa đuổi giặc không quá trăm bước,
treo cờ xí không quá hai xá (*), đó là bày
tỏ đức lễ. Không dồn kẻ yếu vào thế cùng và
thương xót người kẻ bị thương tích và bệnh
tật, đó là bày tỏ đức nhân. Thành thực tỏ
bày ra, đó là làm sáng tỏ đức tín. Giành
nhau điều nghĩa mà chẳng giành nhau điều
lợi, đó là bày tỏ đức nghĩa. Lại có thể cởi
áo ra, đó là bày tỏ lòng dũng cảm. Biết đầu
biết đuôi, đó là bày tỏ trí tuệ. Đem sáu đức
ra mà khuyên dạy cho hợp thời để làm giềng
mối cho dân chúng, đó là phép chánh trị của
người xưa.
(*) Xá: ba mươi dặm.
80.- TRIỀU ĐÌNH VÀ QUÂN NGŨ:
Thời xưa những kẻ dung túng trong triều đình
không được vào quân ngũ, những kẻ dung túng
trong quân ngũ không được vào triều đình.
Những kẻ dung túng trong quân ngũ được vào
triều đình thì đức hạnh của nhân dân bị hư
hoại. Nếu những kẻ dung túng trong triều
đình được vào quân ngũ thì quân ngũ sẽ yếu
ớt.
Cho nên trong nước, ngôn ngữ văn nhã và ôn
hòa, tại triều mọi người đều cung kính khiêm
tốn, lo sửa mình để đối xử với mọi người.
Mọi người không được triệu thì không tới,
không được hỏi thì không nói, khó tới dễ
lui.
Trong quân lữ kháng chiến vững vàng, trong
hàng ngũ thi đua hăng hái. Mặc quân phục,
mang giáp trụ thì không lạy, ngồi trên binh
xa thì không làm lễ, canh giữ ở trên thành
thì không bỏ chạy, gặp cảnh nguy nan thì
không tỏ ra yếu hèn.
Cho nên nghi lễ và quân pháp là bề ngoài và
bề trong, văn và võ là tay mặt và tay trái.
81.- LÒNG NGƯỜI, SỨC MẠNH, TẬP LUYỆN, CHIẾN
ĐẤU:
Lòng của tướng và lòng của quân sĩ là lòng
của ta. Lính, xe, trâu, ngựa khỏe khoắn no
đủ đó là sức mạnh. Việc răng dạy cốt là dự
phòng, việc chiến đấu cốt là tiết độ. Tướng
quân là thân mình, sĩ tốt là tay chưn, hàng
ngũ là các ngón.
82.- THỜI TRỜI, TÀI SẢN, TÀI NĂNG:
Muốn chiến đấu phải được thời trời, phải có
tài sản, phải thực khéo giỏi.
Ngày giờ chẳng sai chệch, bói được quẻ tốt
và hành động kín nhẹm, đó là được thời trời.
Dân chúng có đủ, nhờ có đủ mà làm điều tốt
lành, đó là có tài sản.
Người được luyện tập, trận bày sắc bén, sắp
đặt các việc hết mức để dự bị, đó là khéo
giỏi.
83.- GÁI TƠ VÀ THỎ:
Lúc đầu binh giống như gái tơ, nhưng về sau
khi địch mở cửa thì chạy lẹ như thỏ, địch
không kịp chống cự.
84.- TINH THẦN:
Người người đều ngay thẳng, lời lời đều nóng
bỏng như lửa.
85.- PHƯƠNG CHÂM DÙNG BINH:
Chiến xa lấy sự dày kín làm kiên cố, lính bộ
lấy sự ngồi giữ làm vững chắc; giáp trụ lấy
sự nặng nề làm bền bỉ; binh lấy sự nhẹ nhàng
làm ưu thắng.
Gửi thư từ để kết thân giao hay tuyệt giao,
đó gọi là lo tính đến cùng cực (dứt lo
nghĩ); chọn binh tốt hay xấu, đó gọi là làm
người thêm mạnh; bỏ hay dùng, cho ăn hay bắt
nhịn, đó gọi là dò ý người: đó là phép chánh
trị của thời xưa.
86.- NĂM ĐIỀU KIỆN:
Phép dùng binh buộc năm điều kiện: nhân ái,
tín thực, trí mưu, dõng cảm, uy nghiêm,
thiếu một điều cũng không thể được.
87.- BA THẾ:
Việc hành binh có ba thế lớn: một là trời,
hai là đất, ba là người.
Thế trời là trời trăng trong sáng, năm sao
đúng độ, sao chổi không sinh, thời tiết điều
hòa.
Thế đất thuận lợi là thành cao, bờ dốc, nước
rộng ngàn dặm, cửa đá, động hẹp, đường đi
khúc khuỷu như ruột dê.
Thế người là chúa thánh, tướng hiền, ba quân
giữ lễ, sĩ tốt tuân mệnh, lương thực và giáp
trụ đầy đủ, chắc chắn.
Tướng giỏi thì nhân thời trời, dùng thế đất,
dựa vào lợi người, cho nên hướng vào nơi nào
địch cũng không đánh lại được, đó là nhờ
hoàn toàn vậy.
88.- NĂM TÀI VÀ MƯỜI LỖI:
Tướng có năm tài và mười lỗi.
- Năm tài ấy là dũng, trí, nhân, tín, trung.
Dũng thì không để cho ai xúc phạm mình.
Trí thì không rối loạn.
Nhân thì thương dân.
Tín thì không lừa dối.
Trung thì không hai lòng.
- Mười lỗi là:
Dõng cảm mà khinh chết.
Làm gấp rút mà lòng nôn nóng.
Tham lam mà mong lợi.
Nhân ái mà bất nhẫn.
Có mưu trí nhưng lòng khiếp sợ.
Tín thực nhưng hay tin người.
Có tánh liêm khiết nhưng chẳng thương người.
Có mưu trí nhưng lòng trễ biếng.
Có tánh cương nghị nhưng cậy mình.
Có tánh nhu nhược mà thích dùng người.
Dõng cảm mà khinh chết thì có trở nên hung
dữ.
Làm gấp mà lòng nôn nóng thì có thể bị làm
chậm trễ.
Tham lam mà mong lợi thì có thể hối lộ (đút
lót).
Nhân ái mà bất nhẫn thì có thể khuấy nhọc.
Có mưu trí nhưng lòng khiếp sợ thì có thể
dồn vào chỗ cùng quẫn.
Tín thực mà hay tin người thì có thể bị lừa
dối.
Liêm khiết mà không thương người thì có thể
bị khinh lờn.
Có mưu trí nhưng lòng trễ biếng thì có thể
bị đánh úp.
Cương nghị nhưng cậy mình thì có thể thờ
người.
Nhu nhược mà thích dùng người thì có thì có
thể bị lấn hiếp.
89.- DÙNG NGƯỜI:
Phải biết sử dụng những kẻ có mưu trí, những
kẻ dõng cảm, những kẻ tham lam, những kẻ ngu
ngốc.
Những kẻ mưu trí thì thích lập công.
Những kẻ dõng cảm thích thực hành chí hướng
của mình.
Những kẻ tham lam thích chạy theo lợi lộc.
Những kẻ ngu ngốc không nhìn thấy cái chết.
Tùy theo tánh tình của mỗi người mà dùng họ,
đó là phép dùng người vi diệu của quân lữ.
90.- TÁM ĐIỀU TỆ HẠI:
Trong nghề làm tướng có tám điều tệ hại:
Thứ nhứt: Tham lam cầu mong không biết chán
Thứ hai: Ghen ghét kẻ hiền tài
Thứ ba: Tin kẻ dèm pha, ưa kẻ nịnh hót
Thứ tư: Liệu lường về người mà chẳng liệu
lường về mình
Thứ năm: Do dự mà không quyết định được
Thứ sáu: Mê say rượu ngon, sắc đẹp
Thứ bảy: Thích việc dối trá nhưng lòng hãi
sợ
Thứ tám: Nói năng bừa bãi mà chẳng giữ lễ
nghi.
91.- PHẨM CÁCH CỦA TƯỚNG SÚY:
Người tướng có nhiệm vụ nguy hiểm, bởi vì
nhiệm vụ quan trọng ắt phải nguy hiểm. Cho
nên người tướng giỏi không ỷ mạnh, không cậy
thế, được thương yêu mà không mừng, bị lăng
nhục mà không sợ hãi, thấy lợi mà không ham,
thấy rượu ngon sắc đẹp mà không mê say, một
lòng liều thân vì nước mà thôi.
92.- ĐIỀU MONG ƯỚC:
Bốn điều mong ước là:
- Đánh thì mong dùng được kế lạ.
- Mưu đồ thì mong được kín nhẹm.
- Quân lính thì mong được yên tĩnh.
- Lòng người thì mong được chuyên nhất.
93.- TƯỚNG GIỎI:
Đức tánh của người tướng giỏi là: cứng rắn
mà không bị bẻ gẫy, mềm mỏng mà không bị vày
vò. Cho nên có thể dùng yếu để chống mạnh,
dùng mềm để chống cứng. Mềm mãi, yếu mãi thì
sẽ bị tước đoạt. Cứng mãi mạnh mãi thì sẽ bị
thất bại. Không cứng, không mềm, đó là lẽ
thường của đạo.
94.- HAI TÁNH XẤU: KIÊU CĂNG VÀ BIẾNG NHÁC:
Người tướng không thể kiêu căng. Kiêu căng
thì thất lễ. Thất lễ bị người rời bỏ. Bị
người rời bỏ thì quân lính sẽ phản loạn.
Người tướng không thể biếng nhác, nếu biếng
nhác thì việc tưởng thưởng không được thi
hành chu đáo, sĩ tốt sẽ không hết lòng vâng
mệnh, quân đội sẽ không lập công, nước nhà
sẽ bị hư hoại, giặc cướp sẽ đầy rẫy.
Khổng Tử nói: Nếu có người tài giỏi như ông
Chu Công, nhưng kiêu căng và biển lận thì kẻ
ấy không dùng được, không cần xét tới các
đức tánh khác.
95.- NĂM ĐỨC TÍNH:
- Cao quý, trong sạch để khuyên đời
- Hiếu kính để nêu danh
- Tín nghĩa để giao du với bạn bè
- Nhân ái để dung người
- Hết sức để lập công.
Đó là năm đức tính của người tướng.
96.- TÁM VIỆC XẤU:
- Có mưu trí mà không phân biệt được phải
trái.
- Biết lễ nghi mà không dùng được bậc hiền
lương.
- Làm chính trị mà không chỉnh đốn được hình
pháp.
- Giàu mà không cứu giúp được kẻ nghèo.
- Có trí thức mà chẳng có thể chuẩn bị khi
việc chưa thành hình.
- Lo toan mà không phòng bị được việc nhỏ
kín.
- Khi thành đạt mà không thể tiến cử kẻ mà
mình biết khả năng.
- Thua mà không thể tự mình ngăn mình đừng
hủy báng.
Đó là tám việc xấu.
97.- KHINH NGƯỜI:
Kinh thư nói rằng: Khinh lờn người quân tử
thì không thể được lòng hết mọi người, khinh
lờn kẻ tiểu nhân thì không thể dùng hết
người.
98.- PHÉP DÙNG BINH:
Điều cốt yếu trong việc dùng binh là: cầm
nắm lòng dạ của mọi anh hùng, thi hành
nghiêm chỉnh việc thưởng phạt, bao gồm nghề
văn nghiệp võ, kiêm cả hai thuật cứng mềm,
xem hết các thuyết lễ nghĩa, trước dùng đức
rồi sau mới dùng võ lực, yên tĩnh như cá
lặn, di chuyển mau lẹ như con rái cá, phá
tan chỗ kín liền của giặc, bẻ gãy chỗ mạnh
của giặc, dùng cờ xí rực rỡ, ban hiệu lệnh
bằng chiên trống, lui như núi dời, tiến như
gió mưa, dấy binh như xuống dốc, đánh mạnh
như cọp dữ, bức bách nhưng dung nạp địch,
lấy lợi để dụ địch, dùng lễ để giữ địch, tự
hạ mình để địch sinh kiêu căng, kết thân để
ly gián địch, làm cho ta thêm mạnh, mà trái
lại làm cho địch suy yếu.
99.- CHÁNH TRỊ CỦA TƯỚNG SÚY:
Ai bị nguy khốn thì làm cho họ yên ổn, ai sợ
sệt thì làm cho họ vui lòng, ai phản nghịch
thì đem họ trở về, ai bị oan ức thì giải cứu
họ, ai cường thắng thì đè nén họ, ai yếu
đuối thì nâng đỡ họ, ai nhiều mưu kế thì gần
gũi họ, ai dèm pha thì lật tẩy họ, ai được
của cải thì cho họ, không ỷ sức mạnh mà
khinh địch, không cậy giầu có để tỏ vẻ kiêu
ngạo đối với người, không cậy được yêu mến
để thị uy, tính toán trước rồi sau mới dấy
binh, biết chắc thắng rồi sau mới đánh, được
ngọc lụa không được dùng làm của riêng, được
con trai, con gái không được tự sai dùng.
Như thế, khi sửa trị và ban bố mệnh lệnh mọi
người đều tình nguyện chiến đấu, dùng binh
không đổ máu nhiều mà địch tự thất bại vậy.
100.- TAY CHÂN CỦA TƯỚNG SÚY:
Bậc tướng súy ắt phải có kẻ tay chân làm tim
bụng, có kẻ tay chân làm tai mắt, có kẻ tay
chân làm móng răng. Nếu không có người làm
tim bụng thì cũng giống như người đi đêm
không đuốc, không có người làm tai mắt cũng
giống như ở chỗ tối tăm không biết cách vận
động, không có người làm móng răng cũng
giống như người đói ăn vật độc không thể nào
khỏi chết. Cho nên người tướng giỏi phải có
những kẻ nghe rộng, nhiều mưu trí làm tim
bụng, phải có những kẻ trầm lặng, dò xét kỹ
càng, cẩn thận, kín đáo làm tai mắt, phải có
những kẻ gan dạ, mạnh dạn làm móng răng.
101.- TRÍ VÀ NGU:
Dùng ngu để chống trí là nghịch, dùng trí để
chống ngu là thuận, dùng trí để chống trí là
có cơ mưu.
102.- BA CƠ HỘI:
Có ba đường lối:
- Thứ nhất là công việc;
- Thứ hai là thế lực;
- Thứ ba là tình cảm.
Cơ hội của công việc đã xẩy tới mà không ứng
biến được, là không có trí thức.
Cơ hội của thế lực đã chuyển tới mà không
mưu đồ được là không có tài năng.
Cơ hội của tình cảm đã phát sinh mà không
thi hành được là không mạnh dạn.
Người tướng giỏi ắt nhân cơ hội mà xếp đặt
để thắng trận.
103.- LỀ LỐI:
Khi ra quân, phải có lề lối. Mất lề lối thì
phải gặp việc bất lợi. Lề lối có 15 thứ là:
Thứ nhứt: Biết lo liệu, nghĩa là rành rẽ về
việc gián điệp
Thứ hai: Biết nói, nghĩa là giữ gìn lời nói
Thứ ba: Mạnh dạn, nghĩa là đánh với số đông
mà không nhiễu loạn
Thứ tư: Liêm khiết, nghĩa là thấy lợi mà vẫn
nghĩ đến điều nghĩa
Thứ năm: Công bằng, nghĩa là thưởng phạt đều
nhau
Thứ sáu: Nhẫn nhịn, nghĩa là giỏi chịu điều
xấu
Thứ bảy: Khoan hồng, nghĩa là dung nạp người
Thứ tám: Tín thực, nghĩa là nhận lời một
cách khó khăn
Thứ chín: Cung kính, nghĩa là giữ lễ đối với
các bậc hiền tài
Thứ mười: Sáng suốt, nghĩa là không dung nạp
các điều sai lầm
Thứ mười một: Cẩn thận, nghĩa là không làm
điều trái lẽ
Thứ mười hai: Nhân ái, nghĩa là giỏi nuôi
dưỡng sĩ tốt
Thứ mười ba: Trung nghĩa, nghĩa là liều thân
vì nước
Thứ mười bốn: Giữ phận, nghĩa là biết dừng,
biết đủ
Thứ mười lăm: Có mưu trí, nghĩa là tự lo cho
mình rồi sau lo cho người
104.- TƯỚNG LÀ GỐC:
Vả lại nước lấy binh làm gốc, binh lấy tướng
là gốc, sĩ tốt lấy tướng làm chủ. Bởi thế
muốn có binh mạnh để đánh thắng hoặc giữ
vững thì trước hết phải biết dùng tướng, tìm
được người phò tá rồi sau mới có thể thị uy
giữa thiên hạ, làm cho mọi rợ bốn phương
phải tới hàng phục, đó là gốc lớn của kẻ
được nước.
105.- PHÒNG THỦ VÀ TẤN CÔNG:
Tướng chỉ biết dùng phép chính mà không dùng
phép kỳ, đó là tướng phòng thủ.
Tướng chỉ biết dùng phép kỳ mà không dùng
phép chính, đó là tướng chuyên về chiến đấu
(tấn công).
Tướng chuyên về kỳ hay chuyên về chính đều
có thể giúp nước được cả.
106.- QUAN SÁT:
Khi dấy binh, lập dinh, đánh trận, hãy xem
cờ xí lay động thế nào, lắng nghe tiếng
chiêng trống, tính toán ngày giờ để xem điềm
tốt xấu, tùy theo cách chuyển vận của năm
hành, tùy theo sự ra vào của thần vị, để tùy
cơ ứng biến mà dùng binh.
107.- THIÊN TƯỚNG:
Nếu có bậc thiên tướng thì quân địch không
biết quân ta từ đâu mà tới, thực giống như
thần linh dùng binh. Quân ta không biết
tướng ấy làm gì. Tướng ấy động hay tĩnh đều
có tiết độ phương hướng, nắm sự thắng bại
trong tay, thấy trước lòng dạ của trời đất
quỷ thần nên có thể làm cho binh sĩ yên
lòng.
108.- TƯỚNG CẦM NẮM HẾT THẢY:
Trong biên giới, việc của trăm họ đều giao
cho tướng.
Ngoài biên giới, việc của nước ngoài cũng
giao cho tướng.
109.- KHÔNG CẦN DÙNG BINH:
Ngạn ngữ nói rằng:
Tướng văn, tướng võ hiểu rành việc nước thì
không cần dùng binh.
110.- ĐẠI TƯỚNG:
Biết mềm, biết cứng; tài hoa mà mạnh dạn;
dõng cảm mà mưu cao; tròn nên có thể vận
chuyển; quay về mà ngay thẳng; thông hiểu
khắp muôn loài mà lòng muốn giúp thiên hạ;
người thông thạo các điều trên có thể gọi là
bậc đại tướng.
111.- NƯỚC MẠNH HAY YẾU TUỲ THUỘC VÀO TƯỚNG
SUÝ:
Cho nên nói rằng: tướng súy là người giúp
nước, giúp chu đáo thì nước mạnh, giúp sơ hở
thì nước yếu. Dùng tướng ắt phải xem dáng
mạo, xét thần khí để biết lòng dạ như thế
nào.
Đặt làm vua cũng do nơi tướng, chọn người
hiền tài để trao quyền bính, cất nhắc mà
chẳng nghi ngờ, tướng súy ắt bên trong phải
ứng biến cho ngay thẳng, bên ngoài phải xử
sự phải thuận mệnh. Ứng biến ngay thẳng thì
quân kỷ nghiêm minh, xử sự thuận mệnh thì bề
tôi giữ tròn trinh tiết, dấy binh chống địch
há chả là nạn chết chóc hay sao?
112.- TÀI NĂNG CỦA TƯỚNG SÚY:
Việc thành bại của quân lữ đều có thể trông
thấy ở người tướng, há là hành vi của người
tướng hay sao? Hành vi của người tướng là
việc dùng. Trí ngang với muôn người mà nếu
không dùng được muôn người thì cũng giống
như kẻ ngu. Võ dũng hơn ba quân thì cũng
giống như kẻ yếu đuối. Kẻ giỏi làm tướng thì
đường đường chính chính nhưng cũng biết biến
hóa, cứng cỏi nhưng biết thương người, nhân
từ nhưng có thể chém giết, mạnh dạnh nhưng
hiểu biết rành rẽ, có đầy đủ kế sách để chế
ngự bọn lại sĩ, có thể lay chuyển mọi trở
lực, lập được công lao to tát để trừ họa,
dẹp loạn.
113.- CHỌN TƯỚNG:
Quốc gia dùng binh, ban bố luật pháp, quyền
sinh sát đều ở trong tay đại tướng. Người
tâm phúc của nước nắm giữ vận mệnh của ba
quân, đâu có thể tuyển dụng bừa bãi được?
Nếu muốn trao mệnh cho tướng thì phải xem
trước thử người tướng có được chân thành hay
không. Muốn biết có được hay không, phải
quan sát bốn điều:
Thứ nhứt là vẻ mặt.
Thứ hai là lời nói.
Thứ ba là cử động.
Thứ tư là việc làm.
Sách Vạn Cơ Chi nói rằng: Tuy có quân đội
trăm vạn, cũng phải kiếm cho được bậc tướng
súy nuốt địch rồi đem tất cả lợi khí của
quốc gia mà trao cho tướng ấy. Nếu không
được người như thế, thì dùng tướng cũng vô
ích.
114.- TÁM LOẠI TƯỚNG SÚY:
Tướng súy có hai hạng lớn nhỏ, mỗi hạng có
bốn thứ. Nếu không thuộc vào tám loại ấy,
sao đáng gọi là tướng?
Bốn loại tướng bậc cao là:
- Thứ nhứt: Thiên tướng
- Thứ hai: Địa tướng.
- Thứ ba: Nhân tướng.
- Thứ tư: Thần tướng.
Bốn loại tướng bậc thấp là:
- Thứ nhứt: Uy tướng.
- Thứ hai: Cường tướng.
- Thứ ba: Mãnh tướng.
- Thứ tư: Lương tướng.
115.- ĐỊA TƯỚNG:
Hạng địa tướng có các đặc điểm sau này: Đến
nơi nào thì quan sát địa lý kỹ càng, núi đầm
xa gần, rộng hẹp, khó dễ như thế nào, rừng
rú thưa dày như thế nào, khe lạch sâu cạn
như thế nào. Nếu xem tướng ấy chỉ huy, thì
khi chiến thắng, trước và sau không trở
ngại, trái và phải không ngưng trệ, lính bộ
và lính kỵ đi lại tiện lợi, qua và kích dùng
rất thích hợp, quân lính tới lui rất thuận
tình, người và ngựa không bao giờ bị cùng
khốn, công hay thủ đều được tiện lợi, hành
quân thì kiếm được vùng nhiều cỏ nước, người
và ngựa khỏi bị đói khát, dầu có rơi vào đất
chết cũng sống sót, gặp đất nghịch thì dùng
thuận, gặp đất thuận thì dùng nghịch, không
cần chọn đất khó hay đất dễ đều có thể yên
ổn để hành động về sau, hành động rồi thì
quyết thắng đó là hạng địa tướng.
116.- NHÂN TƯỚNG:
Hạng nhân tướng có các đặc điểm sau này:
Không tham tiền của, làm việc có tiết độ,
chẳng mê tửu sắc, giữ mình theo lễ, đem lòng
trung thờ bề trên, cùng chia xẻ vui buồn với
sĩ tốt, đoạt của cải của địch mà không dành
riêng, bắt được đàn bà con gái mà không giữ
riêng, dùng mưu mà biết dung hòa, nghi ngờ
mà quyết đoán, dõng cảm mà không xúc phạm
ai, nhân ái mà không bỏ luật, trừng phạt tội
nhỏ, tha thứ lỗi lớn, khi phạt tội không
chừa kẻ thân thuộc, khi thưởng công không
chừa kẻ thù địch, giúp đỡ người già nua, vỗ
về trẻ thơ ấu, an ủi kẻ sợ sệt, làm vui lòng
kẻ lo buồn, phán xét kẻ thưa kiện, tố cáo kẻ
nhũng lạm, trừ dẹp bọn giặc cướp, ức chế kẻ
cường hào, che chở kẻ yếu đuối, sai khiến kẻ
dõng cảm, trừ giết kẻ ngang dọc, có kẻ đến
hàng phục thì cho làm lại chức cũ, ai mất
thì trả lại cho họ, đuổi bỏ kẻ vong bản, ban
tước cho kẻ theo mình, kiềm chế kẻ hung bạo,
gần gũi kẻ mưu trí, lìa xa kẻ dèm pha, được
thành mà không cần đánh, được đất mà không
cần giữ, gặp địch cạn hẹp thì chờ xem cách
chúng biến hóa, gặp địch dối trá thì theo
mệnh mà hành động, gặp cảnh nghịch thì xem
xét, gặp cảnh thuận thì tiến đánh, đó là
hạng nhân tướng.
117.- THẦN TƯỚNG:
Hạng thần tướng có các đặc điểm sau này: Lấy
trời để tỏ bày, lấy đất để biến hóa, lấy
người để sử dụng, lấy ba tướng để kiêm các
việc ấy, đó gọi là thần tướng.
118.- CƯỜNG TƯỚNG:
Hạng cường tướng có các đặc điểm sau này:
Khi hành binh không cần xét thiên thời địa
lợi, dùng người không cần biết là mạnh dạn
hay nhát sợ, nghe có địch thì đi ngay ắt
không ngờ lo, khi có ai trái lệnh, không cần
biết là tội to hay tội nhỏ, đều dùng hình
pháp để xét xử, ai nghe tướng ấy đều sợ hãi,
ai chống lại thì quyết phá, đó là hạng cường
tướng.
119.- MÃNH TƯỚNG
Hạng mãnh tướng có các đặc điểm sau này:
Không cần biết quân đội nhiều hay ít, không
cần biết địch mạnh hay yếu, ba quân đều tuân
lệnh răm rắp, quân có thể biến hóa hàng muôn
ngàn cách khác nhau theo ngón tay chỉ huy,
ra quân bất ngờ, cử động thần diệu, một ngựa
một kiếm có thể xung phong đi trước, khiến
quân địch không kịp xoay trở, phải sợ mà
tránh xa, đó là hạng mãnh tướng.
120.- LƯƠNG TƯỚNG
Hạng lương tướng có các đặc điểm sau này:
Bên ngoài thì uy nghiêm, bên trong thì dữ
tợn, ở giữa thì mạnh mẽ, gồm kiêm tất cả ba
tướng mạo ấy, đó là hạng lương tướng.
121.- CÁCH DÙNG CÁC LOẠI TƯỚNG
Tướng là người mà nước nhà sai dùng.
Nước được thiên tướng, thì có thể chống cự
với quân địch làm trái đạo trời.
Nước được địa tướng, thì có thể chống cự với
quân địch làm trái đạo đất.
Nước được nhân tướng, thì có thể chống cự
với quân địch làm trái đạo người.
Nước được thần tướng, thì có thể chống cự
với mọi địch thù trong thiên hạ, mỗi lần dấy
binh không hề tính toán sai lầm.
Uy tướng có thể giúp thiên tướng, cường
tướng có thể giúp địa tướng, mãnh tướng có
thể giúp nhân tướng, lương tướng có thể che
chở cho bốn phương.
Tuy nói là mãnh tướng, cường tướng nhưng có
thể hành động mau lẹ, được việc. Nên các
hạng tướng súy không thể dùng riêng một mặt.
Như trên là thể của tướng.
122.- ĐỨC HẠNH CỦA TƯỚNG SÚY
Hạnh của người tướng là không lưu luyến vợ
con để tỏ rằng mình liều thân vì nước. Về
mệnh của Vua, tướng không dám khinh lễ nghi
để tỏ rằng mình tha thiết được trọng dụng.
Khi tướng ở ngoài, có thể có lúc không tuân
lệnh Vua, mà chỉ ráng làm lợi cho nước nhà,
đối với mình thì trong sạch, đối với kẻ sĩ
thí quí trọng.
Bởi thế cho nên nếu tướng súy không nghe lời
khuyên can thì các anh hùng sẽ lẩn tránh,
tướng không theo kế sách hay thì mưu sĩ sẽ
bỏ đi, coi thiện ác như nhau thì kẻ hiền và
người ngu ở lẫn lộn, thưởng phạt lộn xộn thì
giềng mối sẽ tan rã, thường mừng thì thiếu
uy nghiêm, thường giận thì lòng người xa
lìa, nói nhiều thì việc cơ mật phải tiết
lậu, ham thích nhiều việc thì tâm trí nghi
ngờ, mê loạn; khoan dung thì làm cho quân sĩ
cảm kích, hung bạo thì làm cho quân sĩ tức
giận.
Tướng chuyên quyền thì kẻ dưới quy lỗi về
tướng, tướng tự cho mình là tài giỏi thì kẻ
dưới không có công trạng, tướng nghe lời dèm
pha thì kẻ ngay thẳng sẽ xa lìa, tướng làm
việc tư tà thì kẻ dưới trộm cắp, tướng lưu
luyến chốn nội phòng thì sĩ tốt sinh ra dâm
đãng.
123.- PHƯƠNG CHÂM CỦA TƯỚNG SÚY
Khinh rẻ tiền của, sắc đẹp để giữ mình trong
sạch;
Tránh xa các việc hiềm nghi để vượt lên;
Lặng lẽ lo xa để khỏi thất bại;
Tùy theo thời cơ mà biến hóa cho thuận tiện
để lập công;
Rộng rãi với người, dốc lòng làm việc để qui
tụ tình thương;
Nghe điều lành, đuổi bỏ kẻ dèm pha để tiến
xa;
Trước đo lường, sau hành động để mà ứng
biến;
Trước tin sau nói để hàng phục kẻ dưới;
Trừng phạt tội lỗi, tưởng thưởng công lao để
sửa người;
Xét xưa rõ nay để soi sáng cho người;
Coi rẻ sắc đẹp, quý trọng người để được
người;
Lìa bỏ việc tư, liều thân vì việc công để
giữ nước;
Thần sắc phải ngay thẳng, hình dung phải
đoan trang;
Cử động nhanh như gió, ngừng nghỉ lặng lẽ
như gò núi;
Đánh trận như sấm sét, sắp đặt khéo léo như
quỷ thần;
Suy tư như ảnh chiếu, mệnh lệnh như sương
tuyết;
Nếu được như thế, tướng súy có thể đảm đương
việc lớn của quốc gia.
124.- LÒNG NHÂN ÁI CỦA TƯỚNG SÚY
Trong quân có bệnh tật, tướng phải thân hành
chữa trị. Trong quân có việc chết chóc,
tướng phải khóc thương. Quân đóng giữ ở nơi
xa thì cho phép vợ đến thăm viếng. Khi làm
lễ khao quân thì phải chia đều cho quân lính
và lại sĩ. Khi muốn dấy binh hoặc sắp đặt
việc gì thì phải nhóm họp tất cả tướng tá để
bàn luận, mưu kế phải sắp đặt xong rồi sau
mới đánh. Cho nên tướng súy đối với quân
lính phải có ban huệ “đổ rượu” ban ân “hút
máu”. Ngày xưa Huỳnh Thạch Công kể rằng: Có
một lương tướng khi ai biếu bầu rượu lao thì
ném xuống sông rồi khiến tướng sĩ đón giòng
nước mà uống. Một bầu rượu lao không thể làm
cho nước sông có mùi vị rượu thế mà ba quân
cảm kích bởi ân huệ bèn đồng lòng quyết
chết. Lại kể chuyện Ngô Khởi cầm binh, có
một lính tốt bị mụt nhọt, Khởi thân hành
điều trị và mút mụt nhọt, khiến cho ba quân
cảm kích mà hết lòng đánh giặc.
Cho nên sĩ tốt được cái vui vật trâu nấu
rượu, chiến đấu hăng say, thương yêu giúp đỡ
chủ tướng như con em theo cha anh, như tay
chân che chở cho đầu mắt, không ai có thể
chống cự lại được.
Nếu bóc lột làm cho sĩ tốt phải đau khổ, bắt
chúng làm việc nhọc nhằn, buông ra lời nói
oán thù khó nghe, như thế là tướng súy xem
sĩ tốt như cỏ rác, thì sĩ tốt sẽ xem tướng
súy như cừu thù, đến tình trạng ấy chỉ mong
cho hàng ngũ được đầy đủ cũng là việc rất
khó, làm sao có thể trông mong quân sĩ sẽ
liều chết xông đến đánh địch? Đó là nói sơ
lược về phép tướng súy an ủy vỗ về quân sĩ.
125.- KIÊU CĂNG VÀ NHỤT KHÍ
Kẻ làm tướng không bao giờ thấy quân mình
nhiều mà kiêu căng, không bao giờ thấy quân
mình ít mà nhụt chí. Không có con vật nào
mạnh như con hổ nhưng khi bắt heo chuồng mà
bị dân cư đuổi thì cũng phải cong đuôi mà
chạy chẳng dám quay lui, như thế đủ hiểu
rằng có thể lấy việc nghĩa để sai khiến
người.
Tướng kiêu căng thì phải thất bại. Kẻ làm
tướng không thể cậy rằng mình trí dũng mà
khinh người. Tống Nghĩa sở dĩ đánh được Hạng
Lương, Bạch Khởi sở dĩ giết được Triệu Quát
cũng vì lẽ ấy.
(Lê
Xuân Mai phiên dịch)