|

Hồ Động Đình ở đâu ?
Ở miền Nam sông Dương Tử.
Hồ Động Đình (Dòngtíng hú) họp thành
bởi nhiều hồ lớn.
Mỗi năm vào mùa lũ nước sông Dương Tử
chảy vào hồ,
làm tăng diện tích hồ từ 2.800 km² đến
20.000 km².
Quân Sơn, một đảo nằm giữa hồ có 72
đỉnh núi, rộng 1 km nổi tiếng với các
loại trà thơm, hoa lá quí hiếm tươi
tốt quanh năm.
Cảnh đẹp thần tiên, nhiều truyện tích
rất u linh chích quái, liêu trai chí
dị. Từ hàng ngàn năm, nhắc đến Tiêu
Tương Hồ Nam, là nhắc đến tiên cảnh
Động Đình Hồ, đến “Bát cảnh Tiêu Tương”
của vùng Giang Nam.
Từ miền Hoa Bắc sa mạc, người thuộc
chủng Hoa Hạ ào ào lưng ngựa triền
miên chinh phục hết miền đất này đến
miền đất khác. Người Hoa Bắc nổi tiếng
với nhiều lý thuyết gia,
nhưng văn chương rất khô khan. Trái
lại, miền Nam sông Dương Tử,
nhất là miệt Động Đình sông nước mây
khói mơ màng, nổi tiếng nhất với hai
con sông Tiêu và Tương chảy vào lòng
hồ, đã là nguồn cảm hứng bất tận cho
thơ văn, hội hoạ, âm nhạc…
“Ai có về bên bến sông Tương. Nhắn
người duyên dáng tôi thương. Bao ngày
ôm mối tơ vương” của nhạc sĩ Thông
Đạt, hay Kiều của Nguyễn Du, “Sông
Tương một giải nông sờ. Bên trông đầu
nọ bên chờ cuối kia”cũng là sông
Tương này. Chữ Tương, tiếng Hẹ (Hakka)
phát âm là “siong”, tiếng Quảng Đông
là “seong”, tiếng quan thoại là
“Xiāng”.
Trong Chinh Phụ Ngâm những vần thơ hết
sức đẹp, cũng lấy cảnh sông nước Hồ
Động Đình:
Chốn Hàm Dương chàng còn ngảnh lại
Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang
Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương
Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy
trùng

Hồ Động Đình trong truyền thuyết Hồng
Bàng
Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư:
“Cứ theo tục truyền thì vua Đế Minh,
cháu ba đời vua Thần Nông, đi tuần thú
phương Nam đến Ngũ Lĩnh (thuộc tỉnh
Hồ Nam bây giờ) gặp một nàng tiên, lấy
nhau đẻ ra người con tên Lộc Tục.
Sau Đế Minh truyền ngôi lại cho con
trưởng là Đế Nghi làm vua phương Bắc,
và phong Lộc Tục làm vua phương Nam
, xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu
là Xích Quỷ.
Bờ cõi nước Xích Quỷ bấy giờ phía Bắc
giáp Động Đình Hồ (Hồ Nam), phía Nam
giáp nước Hồ Tôn (Chiêm thành),
phía Tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), phía
Đông giáp bể Nam Hải….”
Nước Sở có mặt từ bao giờ?
Khi truyền thuyết xuất hiện trong Lĩnh
Nam Chích Quái thế kỷ 14, tất cả những
địa danh, nhân danh từ Đế Minh, Lộc
Tục, Xích Quỷ, … đến Hồ Tôn, Hồ Bắc,
Hồ Nam, Hồ Động Đình… là tên thuần Hán.
Vương đầu tiên cuả người Việt là Kinh
Dương Vương, có thể hiểu đó là “vương
của châu Kinh và châu Dương”.
Đất Kinh, mang tên loại cỏ Kinh mọc
thành bụi cao, đa số dân thuộc chi Âu,
đại diện là Âu Cơ, đọc theo phát âm
Mường và Quảng Đông là Ngu Kơ, ưa sống
miền núi rừng. Bây giờ, địa bàn của
châu Kinh là tỉnh Hồ Bắc.
Đất Dương có dân thuộc chi Lạc, đại
diện là Lạc Long Quân, ưa sống miền
biển. Địa bàn châu Dương gồm các tỉnh
ven biển: Giang Tây, An Huy, Chiết
Giang, và Giang Tô.
Cả hai đại chi Âu và Lạc, thuộc chủng
Yueh/Việt. Mỗi đại chi lại có hàng
trăm tiểu chi. Khoa nhân chủng học
ngày nay
gọi đám này là Austro-Asiatic = người
châu Á phương Nam, khác với Mongoloid,
người châu Á phương Bắc, chỉnh là
chủng Hoa Hạ.
Theo chính sử Trung Hoa, Châu Thành
Vương (1042-1021 TCN)
phong cho Hùng Dịch tước tử ở nước Sở,
còn gọi là nước Kinh, để cai trị và
ngăn chặn quấy phá của dân “man di”
Yueh/Việt ở địa phương.
Đây là lần đầu tiên người Trung Hoa
thiết lập chế độ phong kiến (phong đất
cho thuộc hạ, họ hàng). Đây cũng là
lần đầu tiên người Hoa Bắc chính thức
chinh phục miền đất phía Nam sông
Dương Tử.
Trong 800 năm, từ đầu thế kỷ 11 TCN
đến khi bị
Tần Thuỷ Hoàng diệt năm 223 TCN, nhà
họ Hùng đưa nước Sở từ một miền phên
dậu thành một chư hầu hùng mạnh có lúc
lấn cả thiên tử nhà Châu, và suýt trở
thành “thủ lãnh đại ca” của Xuân Thu
Ngũ Bá.
Năm 740-689 TCN, khoảng đầu thời Xuân
Thu,
nhà Châu bắt đầu suy, nước Sở cường
thịnh dù vẫn bị người Hoa Hạ chế diễu
“Vua Sở như con khỉ biết đội mũ”. Lãnh
tụ của Sở là Hùng Thông tự ý xưng
Vương, tức Sở Vũ Vương. Từ đó trở đi,
tiếp theo hàng chục đời, lãnh tụ nước
Sở bao giờ cũng có họ Hùng và tước
Vương.
Hùng Dịch, Hùng Thông, Hùng Sì, Hùng
Cừ…
chữ Hùng 雄 viết y hệt như trong “Hùng
Vương” của Việt Nam
Sau khi diệt các nước Việt nho nhỏ
chung quanh,
năm 333 TCN nước Sở thôn tính thêm hai
nước Việt rất lớn cũng thuộc chi Lạc ở
ven biển: nước Ngô Việt (Câu Tiễn) và
U Việt (Phù Sai).
Tuy rất văn minh, đã đúc thuyền đồng,
trống đồng,
luyện thép (như hai nhà luyện kiếm nổi
tiếng là Mạc Tà và Can Tương), nhưng
chỉ lo đánh đấm và trả thù nhau nên bị
Sở diệt.
“Quốc tịch” dân Sở
Đại thần/thuộc hạ của Châu Thành Vương
đều là người chủng Hoa Hạ. Hai người
Sở nổi tiếng, thi sĩ Khuất Nguyên, tác
giả Ly Tao, và Hạng Võ, mà người Việt
giới bình dân đều rành nhờ… tuồng cải
lương Hồ Quảng Hạng Võ biệt Ngu Cơ –
“Tấm thân lấp biển vá trời/ Thanh gươm
yên ngựa một đời dọc ngang”.
Tây Sở Bá Vương Hạng Võ người chủng
Hoa Hạ, Ngu Cơ chủng Việt, chi Âu.
Không riêng gì Sở, dân “man di” miệt
Nam Dương Tử đa số là Yueh/Việt.
Nên khi hai nước Trịnh, nước Vệ có
chiến tranh, quân dân hai bên leo lên
mặt thành nói chuyện thả dàn, không
cần thông dịch viên toà án. Sử không
thèm ghi xem bọn dân đen nói chuyện
chi. Mời nhau ăn một miếng trầu, rủ rê
xuống ruộng dâu (1), đánh trống đồng
hay hát bài “Việt nhân ca” (2) ?
Chi tiết trên chứng tỏ đánh nhau là
chuyện của lãnh chúa Hoa Hạ, còn dân
Việt tỉnh bơ ví dầu nói chuyện trời
trăng. Điều này rất quan trọng nhưng
độc giả lướt qua vù vù như cưỡi máy
bay,
yên chí mình đang đọc truyện về dân
Tàu. In hệt hồi Tần Thuỷ Hoàng sai
Triệu Đà, người Hoa thứ thiệt, đi
“bình định” vùng Lĩnh Nam. Khi nhà Tần
yếu, Triệu Đà xưng làm vua Nam Việt,
nhưng dân vẫn cứ là giống Việt “man di”.
Tiếng nước Sở ngày nay đã bị Hoa hóa
nhưng giọng nói của dân Hồ Bắc, Hồ Nam
vẫn còn giữ thổ âm của tiếng Sở ngày
xưa. Người Hoa gọi đó là giọng Hồ
Quảng (nơi phát xuất… cải lương Hồ
Quảng). Hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây
gọi là tỉnh Việt. Tiếng Quảng Đông còn
gọi là Việt ngữ.
Kịch nghệ ở Quảng Đông và Hương Cảng
gọi là Việt kịch. Thức ăn của Quảng
Đông là Việt thái (tsai).
Xin để ý: dân tộc Việt Nam là một
thành phần trong khối Yueh/Việt. Nhưng
không bao giờ là toàn khối chủng Yueh/Việt
cả.
Vì vậy những thành tích/khám phá có
dính líu đến “người Việt” về phương
diện nhân chủng/khảo cổ/văn hoá/… đào
bới được ở khắp vùng châu Á không luôn
luôn có nghĩa thuộc về người Việt Nam
ở Việt Nam. Ngay cả nền văn hoá Hoà
Bình thuộc thời đồ đá mới
(được định tuổi vào khoảng 34,000 năm
đến 2.000 năm TCN) tuy tìm thấy ở tỉnh
Hoà Bình, nhưng giới khoa học rất thận
trọng, họ không coi nền văn hoá này là
của người Việt Nam vì thời đó chưa có
nước Việt Nam và người Việt Nam. Ai là
chủ nhân thực sự của văn hóa Hoà Bình
vẫn là một câu hỏi.
Chiến tranh
Sử Tàu không ghi chép đời sống của dân
bản địa. Bộ Đông Châu liệt quốc toàn
tả lãnh tụ xưng hùng xưng bá. Chỉ biết
từ đời Xuân Thu Chiến Quốc 722 TCN đến
khi Sở bị Tần diệt năm 223TCN là một
thời kỳ hỗn loạn. Dân ở phía Nam sông
Dương Tử chịu cảnh binh đao, tàn sát,
cướp bóc…không biết bao nhiêu mà kể.
Chính biến, đảo chánh, giành ngôi, phế
lập, âm mưu, cướp bóc, lãnh chúa…khiến
biên giới các “nước” thay đổi. Có nước
bị giải thể. Hàng ngàn nước bị chia
cắt, sát nhập lúc vào nước này, lúc
vào nước kia.
Khi Tần Thuỷ Hoàng, “gồm thâu lục quốc”
(Hàn, Nguỵ, Sở, Triệu, Tề, Yên) một
cuộc chiến khủng khiếp kéo dài 9 năm
biến giải đất mênh mông từ trung
nguyên (3) xuống nam Dương tử thành
một lò sát sinh khổng lồ.
Gia đình lãnh chúa bị tận diệt đã đành,
dân chúng lớp bị giết hàng khối, lớp
chạy tan tác trước sức đồng hoá của
chủng Hoa Hạ, của chiến tranh, hạn hán,
mất mùa... Miền đất chưa bị vó ngựa
chủng Hoa rớ tới, chính là vùng mênh
mông phía Nam và Tây nước Sở. Bây giờ
là vùng Quảng Đông, Quảng Tây, Quế
Châu, đồng bằng sông Hồng… Lúc đó chưa
miền nào có tên như bây giờ.
Muốn đi tới miền này phải vượt qua dãy
Đại Ngũ Lĩnh hiểm trở, khí hậu khắc
nghiệt, hoàn toàn không hợp với người
Hoa Hạ chỉ quen chinh chiến và sống
vùng sa mạc. Trong Đường về Trùng
Khánh, dù đã là năm 1942, tác giả Hàn
Tố Âm (Han Suyin) vẫn tả Quế Châu như
một vùng rừng núi hoang vu gần như
không có ai tới, cách biệt hoàn toàn
với thế giới bên ngoài, chỉ có một số
người miền núi sinh sống. Thật ra
trong quá khứ ngàn năm trước, nơi đây
đã đón nhận hoặc là miền chuyển tiếp
rất nhiều đợt chạy loạn.
Bộ mặt của lịch sử Trung Hoa, không
phải chỉ ngon lành nào Hồng lâu mộng,
nào Tây du ký, tứ đại giai nhân, thi
thánh thi bá… Bộ Đông Châu liệt quốc
ghi lại 400 năm loạn lạc, cho thấy
mạng dân đen (Hoa cũng như Việt) như
bèo: Tề Hiếu Công chôn sống hơn hai
trăm nội thị và cung nhân trong mồ của
cha mình. Mồ của Tần Mục Công táng
theo 177 người.
Ngô vương Hạp Lư đánh bẫy hơn một vạn
nam nữ để tuẫn táng cho con gái. Không
hiếm những người tỉnh táo, lệnh doãn
Tôn Thúc Ngao di chúc “Dân nước Sở ta
khổ vì việc chiến tranh đã lâu, chúa
công nên nghĩ lại mà khiến cho dân
được an nghỉ”. Nếu chúa công nghe lời
can gián, nước Sở chắc không bị Tần
diệt, và bộ mặt địa lý/chính trị của
nước Trung Hoa có thể đã khác.
Chiến tranh/nạn đói thời An Lộc Sơn
cũng được ghi lại trong 1.500 bài thơ
của Đỗ Phủ, nổi tiếng thi hào mà không
cần chạy theo chéo áo giai nhân (4).
An Lộc Sơn đánh vào Trường An, Đường
Huyền Tông chạy trốn, Dương Quí Phi
thắt cổ. Trong 8 năm, dân số nhà Đường,
kiểm kê năm 754 từ 52.8 triệu người
chỉ còn 16.9 triệu.
Lăng mộ của Tần Thuỷ Hoàng cần tới 70
ngàn người xây cất, con số chôn sống
không rõ. Nhà văn Hàn Tố Âm, dù gia
đình khá giả ở Bắc Kinh (cha người Bỉ,
mẹ người Hoa) cũng nhắc lại điều khủng
khiếp ám ảnh bất cứ đứa trẻ Trung Hoa
nào: chiến tranh và thiên tai, “ba năm
liền không có một giọt mưa”. Dân chết
đủ kiểu. Kể cả chết đói. Vỏ cây cũng
không còn. Ai còn đi được, đều cố đứng
dậy hay lết bằng đầu gối.
Dân Sở thuộc chủng gì?
Dù Kinh Dương Vương là một người thật,
hay chỉ là một biểu tượng trong truyền
thuyết Hồng Bàng, cũng đều là một pha
trộn hai giòng máu Âu và Lạc (5). Đây
là mật mã cốt lõi của truyền thuyết:
hai chi Âu-Lạc sống chung ở vùng Động
Đình Hồ,
cùng dắt díu nhau di tản, và đoạn cuối
buồn hơn bất cứ chuyện tình nào:
Âu-Lạc phân ly. Thế kỷ 14, tác giả
Lĩnh Nam Chích Quái ghi tất cả biến cố
bi tráng trên vào mươi hàng đặt tên
“Truyền thuyết Hồng Bàng”. Thời bây
giờ, không chắc có cây bút nào có thể
viết ngắn/nhiều ý nghĩa đến vậy.
Độc giả có thể kiểm chứng bằng nghiên
cứu hay đọc những nghiên cứu ngôn ngữ
và lịch sử, thì thấy từng chi tiết của
truyền thuyết vẫn còn in dấu trên tình
trạng đa sắc tộc và sự hoà huyết, hỗn
hợp ngôn ngữ của cư dân có mặt trên
mảnh đất Việt Nam. Lịch sử dựng nước
của các quốc gia châu Á: Đài Loan, Phi
Luật Tân, Nhật, Triều Tiên, Miến Điện,
Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam,…
đều có những điểm giông giống nhau:
hỗn loạn, chia cắt, đánh chiếm, tận
diệt, lấn đất, di cư, hoà huyết…
“Nước” Xích Quỷ biến đi đâu?
Không biến đi đâu hết. Ở đâu còn
nguyên đó. Đất cũ người cũ. Thêm người
mới khoác áo văn hoá mới. Nhìn trên
bản đồ, bờ cõi nước Xích Quỷ hầu như
phân nửa bờ phía Nam sông Dương Tử:
Bắc giáp Động Đình Hồ vĩ tuyến 29 Bắc,
phía Nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành)
vĩ tuyến 11 Nam, phía Tây giáp Ba Thục
(Tứ Xuyên) kinh tuyến 105 Đông, phía
Đông giáp bể Nam Hải, kinh tuyến 118
Đông. Tổng cộng diện tích của Xích Quỷ
khoảng 2.900.000 cây số vuông. Diện
tích Việt Nam bây giờ là 331,688 cây
số vuông.
Tại sao thình lình không gian của Lạc
Long Quân tức Hùng Vương thứ nhất rộng
lớn đến thế, đời Hùng Vương thứ 18 khi
bị Thục Phán diệt, chỉ còn lại đồng
bằng sông Hồng?
Di cư
Như trên đã nói, một cuộc di tản rất
lớn xảy ra, kéo dài hàng mấy trăm năm,
trước/sau khi nước Sở bị diệt vong.
Đám chi Âu, chi Lạc chạy khỏi địa bàn
nước Sở. Khi đi, mang theo tất cả
những truyền thuyết tổ tiên đến địa
bàn mới. Ngay như tên người Việt bây
giờ vẫn tự gọi: người Kinh - để phân
biệt với người Thượng - có thể tên
châu Kinh đất cũ còn trong ký ức.
Có lẽ nên hiểu truyền thuyết Hồng Bàng
là cổ sử của chủng Yueh/Việt, hơn là
cổ sử riêng của Việt Nam. Biên cương
rộng lớn của Xích Quỷ hé mở đôi điều,
nếu hiểu theo quan sát và quan niệm
của tác giả truyền thuyết Hồng Bàng về
thời lưu cư ở Động Đình Hồ:
Chủng Việt, khác với chủng Hoa Hạ
Hễ đồng chủng, là cùng một “nước”
Có rất nhiều bộ tộc Việt sống xen kẽ
trên cùng địa bàn Xích Quỷ
Vì xen kẽ, nên mượn qua mượn lại
truyền thuyết/cổ tích của nhau
Người/tiếng Việt đi tới đâu, biên giới
Xích Quỷ đi đến đó
Người Trung Hoa bây giờ cũng là một
pha trộn = Hoa Hạ + Việt, cả DNA và
tiếng nói.
Lãnh tụ đầu tiên Lạc Long Quân hoàn
toàn thuộc chủng Việt, mang hai giòng
máu Âu và Lạc, không lai một chút Hoa
Hạ nào hết.
Có “nước” Xích Quỷ không?
Không. Bởi vì:
Xích Quỷ: chỉ là địa bàn lớn chứa
chủng Việt, gồm hàng trăm (hay ngàn)
bộ lạc/thị tộc, tình trạng “văn minh”
tuỳ vùng.
Nước Sở: nhỏ hơn, chứa các nhóm Âu-Lạc.
Đồng bằng sông Hồng: nhỏ hơn nữa, là
một trong những nơi dừng chân cuối
cùng của của đám Âu/Lạc di tản. Nơi đó
cũng đã có người ở từ trước.
Nước Thái Lan, nước Lào, chi Âu, tình
cảnh rất giống Việt Nam. Thái chỉ mới
thành lập quốc gia từ thế kỷ 13. Lào
lập nước trễ hơn Thái chừng nửa thế kỷ.
Cả hai chạy ngược chạy xuôi tìm đất và
choảng nhau với dân bản địa. Có những
bộ tộc rất oai hùng, nhưng lại không
thành lập nổi một quốc gia, ví dụ sắc
tộc Karen, sắc tộc H’Mong, và hàng
ngàn bộ tộc hiện diện trên đất Trung
Hoa, bị Hán hoá hoặc có danh nghĩa
“khu tự trị”, nhưng mức độ độc lập
luôn là câu hỏi.
“Con Rồng cháu Tiên”
Xin thú thật, là một học trò yêu môn
lịch sử, nghe “con rồng cháu tiên, dân
Việt mình… siêu hơn dân tộc khác” rất
êm tai. Nhưng hôm nay ôn lại những
trang sử, bàng hoàng nhận ra một bài
học khác: nước Việt sinh ra trong ly
loạn, những đoàn người đầu tiên đã cố
gắng phi thường mới hội được nước Việt
như ngày nay. Cảm xúc trước sự huyền
bí của lịch sử là một cảm xúc đẹp. Tuy
vậy, kiểu hãnh diện mơ màng “con Rồng
cháu Tiên” nhưng không biết rằng nước
Việt được tạo dựng trong điêu linh, có
thể làm biến dạng suy tư của người
Việt: làm đứt đoạn, xa rời hẳn với quá
khứ. Nếu có đôi điều đặc biệt đáng
hãnh diện, đó là trong số hậu duệ của
chủng Việt, không có quốc gia nào nắm
níu tên “Việt” ngoại trừ dân tộc Việt
Nam; và sau gần 3000 năm thăng trầm,
sức sống bền bỉ, chấp nhận hoà huyết,
sáng tạo tiếng nói, dũng mãnh chống
ngoại xâm, mềm dẻo giữ độc lập… mỗi
ngày là mỗi cố gắng gượng dậy từ những
tang thương dù không hề biết cuối con
đường cay đắng hay vinh quang: đó mới
là kho báu đích thực và bài học vô
cùng quí giá tổ tiên để lại.
“Tổ quốc chúng ta từ Động Đình Hồ!”
Đó là chút sát na lãng mạn nơi hoà
thượng Thích Chơn Thành, một ngoái
nhìn tiền kiếp, một công trình nghiên
cứu nghiêm trang, hay một sửa soạn
quẩy kinh khai độ tìm lại cội nguồn
dân tộc?
Động Đình Hồ! Quần sơn xanh biếc đột
khởi giữa lớp lớp ba đào. Đầu nguồn là
chinh chiến! Cuối nguồn là chiến chinh.
Trong dư hương mùa ngát hương sen,
biết đâu cơ duyên nhà Phật vực huyền
sử hồi sinh? Vết chân tổ tiên, nhân
gian hồ dễ lãng quên trong lòng trang
sách như nước mắt tiểu ni cô nhỏ ướt
trang kinh cho một giấc chiêm bao
không trở lại?
Vĩnh-Tường
|