| |
A. Đặt vấn đề
Ở phần Ngu thư – Nghiêu điển sách Thượng Thư [1] có câu:
申命羲叔,宅南交。平秩南为,敬致。日永,星火,以正仲夏。厥民因,鸟兽希革
Âm Hán Việt: Thân mệnh Hy Thúc, trạch Nam Giao. Bình trật nam ngoa, kính trí.
Nhật vĩnh, tinh Hỏa, dĩ chánh trọng hạ.
Quyết dân nhân, điểu thú hy cách.
Dịch nghĩa: “(Vua Nghiêu) sai Hy Thúc đến Nam Giao, quan sát mặt trời di
chuyển về phương nam, ghi ngày Hạ chí. Lúc ngày dài nhất, sao Hỏa đầu hôm ở
đỉnh đầu sẽ là ngày trọng Hạ (giữa mùa Hạ).
Dân ăn mặc quần áo mỏng, chim thú thay
lông”.
Ở góc độ nào đó, Nam Giao là một trạm quan trắc thiên văn. Theo công bố của
giáo sư Hà Nỗ [2] , nhóm khảo cổ của Sở khảo cổ thuộc Viện khoa học xã hội
Trung Quốc (IACASS) đã kết luận di tích đàn tế tự kiêm đài quan sát thiên
văn tại làng Đào Tự, huyện Tương Phần, tỉnh Sơn Tây Trung Quốc nhiều khả
năng chính là đàn Nam Giao thời Nghiêu – Thuấn.
Như vậy, có chăng một truyền thống quan sát và định vị vùng đất phương nam
trên cơ sở một hệ qui chiếu thiên văn cổ điển của người Hoa Hạ?
Tham khảo các sách sử hoặc địa lí chí xưa khi nói đến một vùng đất nào đó
đều có mục “phân dã” hoặc “tinh dã”. Ví như một đoạn trong sách Việt sử tiêu
án của Ngô Thì Sĩ (1775): Xét theo thiên Vũ Cống, nước Việt ở về phía nam
đất Dương Châu. Theo sách Thiên Quan, từ sao Đẩu mười một độ qua sao Khiên
Ngưu đến sao Chức Nữ bảy độ là tinh kỷ. Kể về sao thì ở về ngôi sửu, cùng
một phận dã tinh truyện với nước Ngô. Cõi nam là Việt môn, có rất nhiều nước
như Âu Việt, Mân Việt, Lạc Việt, cho nên gọi là Bách Việt. Bởi vì miền này ở
phía nam Dương Châu, nên lại gọi là Nam Việt. Vùng đất từ núi Ngũ Lĩnh xuống
phía nam thuộc về Nam Việt. An Nam là miền đất ở phía nam nước Việt nay là
quốc hiệu thường gọi [3] .
Các thuật ngữ Nam Giao, Giao Chỉ, Tượng Quận có trước thời Tư Mã Thiên
(145-87 TCN) và Ban Cố (32-92 SCN). Ngoài vai trò sử quan đã trước tác Sử kí
và Hán thư, hai ông còn là hai nhà thiên văn có nhiều thành tựu [4] . Có thể
hai ông, theo truyền thống thiên văn cổ xưa ở Hoa Hạ, đã xác nhận những vùng
đất phương nam trên bản đồ thiên văn đương thời và đề ra những tên gọi mang
tính khái niệm như Cửu Chân, Nhật Nam.
Ta nhận thấy, từ những quyển hiến sử đầu tiên của văn minh Việt Nam đến nay,
chưa một tác giả nào dựa trên thiên văn nhằm kiến giải ngữ nghĩa các thuật
ngữ thuộc về cổ sử Việt Nam. Bằng kiến thức thiên văn thực hành ít ỏi của
một người đi biển, tôi xin sơ lược tìm hiểu các thuật ngữ ấy.
B. Nam Giao, Giao Chỉ
1. Chữ Chỉ
Trong tiếng Hán có nhiều chữ Chỉ. Thuở xưa người Trung Quốc có qui tắc “Đồng
âm thông giả”, những chữ đồng âm có thể dùng lẫn lộn. Sau đây xin liệt kê
những chữ Chỉ [5] (đồng âm) có liên quan:
止 : Ngừng, giới hạn, cắt đứt, chấm dứt, kết thúc.
Chữ triện: Chữ trên giáp cốt Kim văn (khắc trên kim loại)
Thuyết văn [6] ghi chú: 下基也, 象艸木出有址, 故以止為足, 凡止之屬皆從止 (Hạ cơ dã, tượng thảo
mộc xuất hữu chỉ, cố dĩ chỉ vi túc, phàm chỉ chi thuộc giai tòng chỉ). Nghĩa:
Là căn bản nền tảng, như cỏ cây mọc lên thì phải có nền đất, vậy nên CHỈ là
chân, thuộc về bộ CHỈ.
址 : Địa chỉ, nền tảng, địa điểm.
Không có chữ giáp cốt và kim văn.
趾 : Bàn chân, ngón chân.
Không có chữ giáp cốt và kim văn.
阯 : Dùng giống chữ thứ 2, còn có nghĩa vùng đất, khu vực.
Không có chữ giáp cốt và kim văn.
沚 : Cái cồn nhỏ giữa vùng nước.
Có chữ triện , không có kim văn, chỉ có giáp cốt văn .
軹 : Nghĩa cổ là đoạn cuối của trục xe.
Qua liệt kê trên có thể nhấn mạnh: Chữ Chỉ thứ 1 止 xuất hiện chậm nhất là ở
đời Thương, thiên niên kỉ thứ 2 trước công nguyên. Các chữ Chỉ còn lại xuất
hiện sau. Chữ Chỉ thứ 5沚 về tự dạng giáp cốt chưa rõ ràng, tuy nhiên nó sẽ
bổ sung cho chữ gốc thứ 1止. Nhận thấy chữ thứ 6軹 không liên quan đến từ
nguyên Chỉ thứ 1止 nhưng nó ít nhiều thông nghĩa với Chỉ thứ 1止 nên xem như
lưu í .
2. Chữ Giao
Các văn bản cũ đều thống nhất dùng chữ Giao 交 với nghĩa là Tiếp giáp, đưa,
xen kẽ, quan hệ… Thuyết văn: 交脛也從大象交形凡交之屬皆從交 (Giao hĩnh dã tòng đại tượng
giao hình phàm giao chi thuộc giai tòng giao): Giao là cẳng chân, trông như
đôi chân bắt chéo, bộ giao.
Ảnh giáp cốt, kim văn và triện của chữ Giao
Có thể tham khảo thêm chữ Giao 郊, Thuyết văn 距國百里為郊從邑交聲 (Cự quốc bách lí vi
Giao, tòng ấp Giao thanh): Cách (tường) thành [7] 100 dặm là vùng Giao郊, chữ
Giao郊này bộ Ấp, đọc như Giao交.
3. Nam Giao南交
Với thành tựu của ngành khảo cổ Trung Quốc đã dẫn, có thể tin rằng Nam Giao
cách đây hơn 4000 năm là một địa danh. Nam Giao cũng là một đài quan sát
thiên văn kiêm đàn cúng tế nằm ở cực nam của vương quốc Trung Hoa cổ, nay là
di tích Đào Tự, huyện Tương Phần, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc.

Hình 1: Vị trí tỉnh Sơn Tây (xanh đậm) nằm hoàn toàn ở bờ bắc sông Hoàng Hà.

Hình 2: Vị trí thành phố Lâm Phần (Gần cuối bản đồ, đầu mũi tên xanh, cạnh
dòng chữ Temple of King Yao – Đền thờ vua Nghiêu).

Hình 3 : Toàn cảnh di tích đàn tế tự (chụp từ đông sang tây)
4. Giao Chỉ
Xưa nay người Việt Nam gần như đã đi đến chỗ thống nhất cho rằng tổ tiên họ
ngón chân cái bè ra, nếu đứng thẳng chụm hai bàn chân gần nhau thì hai ngón
chân cái có xu hướng giao nhau. Thực ra cách lí giải này là của sách Thông
Điển thời Đường, căn cứ trên dạng chữ tượng hình Trung Quốc.
Khảo rất nhiều tài liệu cũ, tôi thấy Abel des Michels (một học giả Pháp
nghiên cứu Trung Quốc) có ý kiến khác người nhất: “Giao Chỉ là chỗ các biên
giới tiếp giáp nhau” [8] . Không rõ Abel des Michels lí giải thế nào. Tuy
nhiên theo tôi, đế xác định Giao Chỉ là gì, phải cố gắng xem từ Giao Chỉ
mang nghĩa nào.
Trong một hệ thống ngữ nghĩa phức tạp như liệt kê ở trên, việc lấy nghĩa thứ
3趾 để giải thích thuật ngữ Giao Chỉ của sách Thông Điển là hoàn toàn khó
thuyết phục. Hơn nữa về sinh học mà nói, không có chủng người nào có hai
ngón chân cái mọc chĩa ra ngoài bàn chân, ngoại trừ ít nhiều nhóm cá thể
riêng lẻ thiếu tính đại diện.
Những quyển sách xưa có ghi nhận Giao Chỉ gồm Thượng Thư, Mặc Tử, Thi Tử,
Hàn Phi Tử, Sử Kí. Văn bản hiện có không thể cho chúng ta khẳng định nhóm
sách ấy dùng chữ Chỉ nào, vì đã qua rất nhiều đời, nhiều lần sao chép… Trong
khi chờ đợi các kí tự phát lộ từ những mộ táng cùng thời, với dữ liệu đã dẫn
ở trên, tôi tin chắc rằng mỗi độc giả quan tâm đến vấn đề Giao Chỉ đều có
thể hiểu Giao Chỉ là gì theo cách riêng của mình.
Ý kiến của tác giả bài này là: Giao Chỉ là khái niệm nói về vùng đất tiếp
giáp phía nam của vương quốc Trung Hoa cổ đại. Nếu hình dung khái niệm quốc
gia cũ của người Hoa Hạ như cơ thể con người, vùng Giao sẽ là cẳng chân (từ
đầu gối đến bàn chân), vùng Chỉ là bàn chân. Nửa trước thời Tây Hán, Giao
Chỉ mang tính khái niệm nhiều hơn địa danh vì :
Không có bất cứ tài liệu nào ghi nhận có quan lại trấn nhậm ở Giao Chỉ.
Sách Mặc tử, Thi tử, Sử kí có nhắc đến Nghiêu – Thuấn phủ dụ, vỗ về Giao Chỉ.
Hành động này không thể xem là cai trị. Nó không khác gì phương châm “Hòa
tập Bách Việt” mà Hán Cao tổ khuyên Triệu Đà sau này.
Sau thời Đông Hán có ít nhất hai quyển sách ghi nhận Giao Chỉ với nghĩa “cơ
sở, nền tảng” của đế quốc Trung Hoa: An Nam Chí Lược của Lê Tắc dẫn Hán Quan
Nghi của Ứng Thiện nói “Trung Quốc tiến tới phương nam lấy làm Cơ Chỉ”. Lịch
Đạo Nguyên viết trong Thủy Kinh Chú (hoàn thành năm 515): “…thời hựu kiến
Sóc Phương minh dĩ thủy khai bắc thùy toại tịch Giao Chỉ vu nam vị tử tôn Cơ
Chỉ dã”, tức: “Vua (Hán Vũ Đế) vừa khai phá biên thùy Sóc Phương phía bắc,
vừa mở Giao Chỉ phương nam làm nền móng cho con cháu”.
Lãnh thổ Hoa Hạ cách đây 4000 năm nằm phía bắc dòng Hoàng Hà. Trong quá
trình nam tiến, mở mang vương quốc, lãnh thổ ấy ngày một bành trướng theo
gót chân đế quốc. Như vậy nếu Giao Chỉ là một khái niệm thì chắc chắn khái
niệm ấy sẽ liên tục di chuyển về phương nam. Tôi tìm ra một căn cứ, tuy rằng
chưa chắc chắn lắm nhưng khá bất ngờ: Nước Sở thời Xuân Thu – Chiến Quốc có
thể được hình thành trên vùng Giao Chỉ của nhà Chu. Thật vậy:
Cơ Chỉ có hai từ có thể thay thế nhau: 基 阯 , 基 址
Cơ Sở: 基 礎
Chữ Sở (tên đất, nước): 楚
Chữ Sở礎trong Cơ Sở基 礎chỉ khác chữ Sở楚 (tên nước) với bộ Thạch石bên trái. Với
nguyên tắc “đồng âm thông giả” thì nước Sở hoàn toàn có thể xem là Cơ sở của
nhà Chu, Giao Chỉ của vương quốc Tây Chu.
Chu Thành Vương đã phong cho Hùng Dịch đất Sở [9] . Vùng Đan Dương mà Hùng
Dịch lập nên quốc gia Sở hôm nay thuộc tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc. Hùng Dịch
không thuộc dòng dõi hoàng gia triều Chu, nhưng vì có công nên được ưu ái.
Mảnh đất ấy chắc chắn là một vùng hoang sơ, xa xôi nên suốt thời Xuân Thu
các quốc gia trung tâm (Trung Quốc) luôn coi Sở là nước không chính thống,
man di, mọi rợ…
Đến năm 111 trước công nguyên, sau khi chiếm Nam Việt, nhà Tây Hán đặt chín
quận dưới tên gọi chung là Giao Chỉ Bộ, trong đó lại có một quận tên là Giao
Chỉ.
Như vậy, nếu lấy mốc thời gian của đàn Nam Giao đã dẫn ở trên, sau 1000 năm
(đến thời Chu) Giao Chỉ vượt sông Hoàng Hà, xuống bình nguyên kẹp giữa Hoàng
Hà và Trường Giang, tiếp theo 1000 năm nữa (thời Hán Võ Đế) Giao Chỉ đã tịnh
tiến rất xa về phương nam, tại khu vực Bắc Việt Nam, Quảng Đông và Quảng Tây
Trung Quốc.
C. Tượng Quận 象 郡
Khi Tần diệt Sở, nước Sở bị gộp vào Trung Nguyên, khái niệm Giao Chỉ không
thấy xuất hiện. Sử Ký, Nam Việt úy Đà liệt truyện, viết: Năm 214 TCN quân
Tần cướp Dương Việt đặt 3 quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng. Quế Lâm và Nam Hải
khá rõ ràng, duy Tượng Quận đã tốn không biết bao nhiêu giấy mực mà hai ngàn
năm nay người ta chưa rõ nó ở đâu. Cũng vì nhà Tần quá ngắn ngủi, chiến
tranh sau đó làm sách vở tiêu tán gần hết.
Một khi khái niệm Giao Chỉ bị xếp lại, hẳn nhiên phải có một khái niệm khác
thay thế. Phải chăng đó là Tượng? Để mô tả thứ nào đó trừu tượng người ta
hay dùng phép tượng trưng. Giai thoại “Thầy bói mù xem voi” đã mượn con voi
nhằm nói về sự trừu tượng. Nghĩa của chữ Tượng rõ nhất trong môn cờ tướng,
người Trung Hoa đã sáng tạo ra Tượng Kỳ chậm nhất là vào thời Chiến Quốc,
khi chiến xa còn được coi như “ông kẹ” của chiến trường. Hơn nữa voi đánh
trận không hề có trong thư tịch Trung Quốc trước công nguyên. Trò giải trí
siêu đẳng này hình tượng hóa một trận đánh thời cổ đại vào 64 ô vuông chia
đôi bởi một dòng sông. Bàn cờ có hai quân Tượng. Đây không phải loài voi như
nhiều người lầm tưởng. Quân Tượng không bao giờ qua sông tham dự trực tiếp
vào cuộc công thành đối phương. Nó biểu trưng cho những yếu tố trừu tượng có
ảnh hưởng nhất định đến toàn cuộc như công tác tâm lý chiến, dân vận, ý chí
của con người, tinh thần xả thân hy sinh… Bình Nguyên Lộc trong quyển “Nguồn
gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam” cho biết sách Lễ Ký, chương Vương Chế ghi
nhận thời Hạ, Thương, Chu, người Trung Hoa gọi phương nam là Tượng. Triều
Chu đã đặt chức quan “Tượng tư” có nhiệm vụ trông nom việc bang giao với các
man di phương nam.
Tượng Quận có thể hiểu là một vùng đất phương nam tạm để đó, chưa đến lúc
xâm lăng, chưa có dịp “khai phá” và “khai thác” theo đúng ngôn ngữ Xuân Thu
– Chiến Quốc. Tượng Quận là tên gọi tượng trưng mang tính khái niệm theo
cách của nhà Tần và nó tương đương với Giao Chỉ của nhà Chu. Giao Chỉ của
Tần Thủy Hoàng là Tượng Quận, tiếp theo Tượng Quận là Cửu Chân và Nhật Nam
sẽ hoàn toàn hợp lý với tư duy ngôn ngữ trong giới hạn kiến thức địa lý
thiên văn xưa kia.
D. Cửu Chân 九真 , Nhật Nam 日南
Thời Hán Vũ đế, việc đặt tên 9 quận mới nằm trong Giao Chỉ bộ đã chính thức
biến thuật ngữ Giao Chỉ nửa mang yếu tố địa danh, nửa vẫn chứa tính khái
niệm. Như vậy thì quận Giao Chỉ là địa danh hay khái niệm? Có nhiều lí do
cho rằng quận Giao Chỉ vẫn còn là khái niệm:
Các cánh quân Hán dừng lại ở Phiên Ngung, không vượt biển xuống đồng bằng
sông Hồng.
Đến đầu công nguyên mới có chức Thái thú quận Cửu Chân và quận Giao Chỉ
Hiển nhiên nếu khi ấy quận Giao Chỉ mang tính khái niệm, tức một quận ảo, vẽ
vào bản đồ tham vọng Đại Hán cho có, thì hai quận ở xa hơn là Cửu Chân và
Nhật Nam cũng sẽ hoàn toàn mang tính khái niệm.
Cửu Chân, chữ Hán là 九真. Có thể hiểu Chân là gốc (như qui chân là trở về gốc)
và Cửu tượng trưng cho trời. Nghĩa “gốc” phải lấy trong từ “qui chân” nhưng
nghĩa “trời” của Cửu hiện diện khá rõ trong sách Thuyết Văn của Hứa Thận đời
Hán: 九: 陽之變也 [10] (Cửu : Dương chi biến dã / Là dương (mặt trời) biến hình
vậy).
Chiếu theo hàm nghĩa thiên văn xuyên suốt bài viết này, Cửu Chân có thể hiểu
là vùng đất hai bên gốc mặt trời. Gốc mặt trời tức là vị trí biểu kiến của
mặt trời trên thiên cầu trong ngày xuân phân và thu phân. Vùng Cửu Chân
tương đương với thuật ngữ hiện đại là vùng Xích Đạo, hoặc cụ thể hơn là vùng
đất có khí hậu Xích Đạo và Nhiệt đới.
Quận Nhật Nam tiếp nối Cửu Chân, vậy Nhật Nam có phải tương đương với Bán
Cầu Nam trong thiên văn?
Nhật Nam nghĩa là phía nam mặt trời. Sử ký viết: … 南至北乡户 (Nam chí bắc hương
hộ). Tạm dịch: “(Đất đai nước Tần)… phía nam đến miền cửa nhà quay mặt về
hướng bắc” [11] . (集解吴都赋曰:“开北户以向日”): Sách tập giải Ngô Đô Phú chú: “Khai bắc
hộ dĩ hướng nhật – Mở cửa hướng bắc để đón ánh mặt trời."
(刘逵曰:“日南之北户,犹日北之南户也”). Lưu Quỳ chú: "Nhật nam chi bắc hộ , do nhật bắc chi
nam hộ dã - Phía nam mặt trời thì làm cửa quay mặt về hướng bắc, cũng như
phía bắc mặt trời thì cửa nhà quay mặt về hướng nam vậy”.
Tư Mã Thiên viết câu trên chứng tỏ ngành thiên văn biết vậy nhưng sự thực
người Trung Quốc chưa bao giờ đặt chân đến vùng Nhật Nam. Nghĩa Nhật Nam với
triều Tây Hán là khu vực nằm dưới Nam chí tuyến (vĩ độ 23 độ 27 phút), đi
qua thành phố Rockhamton Bang Queensland Australia. Trong khi đó Nam Bán Cầu
phải được tính từ vĩ độ 0 độ, từ mép phía nam của eo Malacca trở xuống.
Xin lưu í, phần lớn đất nước Trung Quốc ở trên Bắc Chí Tuyến (vĩ độ 23 độ 27
phút, ngang qua thành phố Quảng Châu), do đó mặt trời với họ luôn ở về phía
nam, mọc phương đông nam và lặn phương tây nam. Rõ nhất trong ngày Đông Chí
đêm dài ngày ngắn, mặt trời lẩn quẩn hẳn về phía nam. Vì vậy khi tế trời (cúng
mặt trời) thiên tử - con trời phải quay mặt về phương nam. Có lẽ muộn nhất
là thời Tần [12] , người Trung Quốc đã chế tạo được Hỗn Nghi, một bộ máy đo
đạc thiên văn khá đơn giản nhưng thể hiện đầy đủ vòng tròn xích đạo, hoàng
đạo (quĩ đạo biểu kiến của mặt trời trên thiên cầu). Về cơ bản đường xích
đạo trên Hỗn Nghi và đường xích đạo của con người thế kỉ 21 tương đồng về
bản chất.
Nếu hiểu Cửu Chân là vùng chứa đường “gốc trời – xích đạo” chứ không phải
đường “gốc trời – xích đạo” trên thiên cầu, sẽ dẫn đến sự chồng lấn hai khái
niệm Cửu Chân và Nhật Nam ở khu vực Nam Chí Tuyến (Vĩ độ từ 0 độ đến vĩ độ
23 độ 27 phút nam). Tuy vậy sai số trong khái niệm Cửu Chân và Nhật Nam rất
đơn giản và dễ hiểu: sự hạn chế hiển nhiên của thiên văn Trung Quốc cách nay
hơn 2000 năm. Một lần nữa ta thấy sách vở Trung Quốc thời ấy thiếu hẳn kiểm
nghiệm thực tế. Hay nói cách khác, Cửu Chân và Nhật Nam khởi đi là hai khái
niệm trong thư phòng của những sử quan Tây Hán.
E. Kết luận
Bằng thiên văn kiến giải Nam Giao, Giao Chỉ, Tượng Quận, Cửu Chân, Nhật Nam
ta hẳn thấy tính hệ thống xuyên suốt trong việc tiếp cận phương nam của văn
minh Hoa Hạ: đầu tiên là những quan sát lí thuyết trên gốc tọa độ là đài
quan sát thiên văn Nam Giao. Giao Chỉ, Tượng Quận, Cửu Chân, Nhật Nam sinh
ra là những khái niệm. Các đoàn quân đế quốc nam tiến trong hàng ngàn năm đã
dần dần chuyển những khái niệm mơ hồ ấy thành những địa danh xác thực.
Những ngữ nghĩa trên đây rất cần được những chuyên gia lịch sử chuyên nghiệp
và am hiểu về thiên văn làm sáng tỏ thêm. Cổ sử Việt Nam có thể sẽ được hiểu
rất khác với sách vở hiện tại nếu những tồn nghi ngữ nghĩa này ngày càng trở
nên minh bạch.
Ghi chú với độc giả talawas: Những bài viết về lịch sử đã giới thiệu trên
talawas của tôi đã được bổ chú và in tại NXB Lao Động, tháng 1.2007, dưới
nhan đề: “Cổ sử Việt Nam – Một cách tiếp cận vấn đề”. Quyển sách ấy, dù sao
cũng mang hơi hướm văn chương hơn là lịch sử. Tôi hi vọng sẽ viết lại toàn
bộ nội dung đã khai thác như cách tôi vừa viết bài khảo cứu trên đây. Rất
mong được đón nhận, trao đổi, chỉ dẫn và luận bàn.
Thảo Điền, tháng 3.2007
© 2007 talawas
--------------------------------------------------------------------------------
[1]http://www.guoxue.com/jinbu/13jing/shangshu/ss_001.htm
[2]http://www.kaogu.cn/en_kaogu/show_News.asp?id=124
[3]Việt sử tiêu án, bản điện tử tại trang web viethoc.com
[4]http://www.thienvanvietnam.com/KienThuc.htm
[5]http://www.chineseetymology.org/CharacterASP/CharacterEtymology.aspx?characterInput=%E6%AD%A2&submitButton1=Etymology
[6]Thuyết văn, viết tắt từ Thuyết văn giải tự của Hứa Thận, thời Đông Hán.
Trong sách này tác giả đã thu thập 9 ngàn chữ Hán, chú giải, phân tích
nguyên nghĩa, chiết tự…
[7]Xin lưu í, tôi dịch chữ Quốc là (tường) thành nhằm chú trọng thực nghĩa.
[8]Dẫn theo Đào Duy Anh, Lịch sử cổ đại Việt Nam, NXB VH-TT 2005, trang 22.
[9]Theo bản dịch Chiến Quốc sách, chương Sở sách. NXB Trẻ Tp. HCM 1989
[10](http://www.chineseetymology.org/CharacterASP/CharacterEtymology.aspx?characterInput=%E4%B9%9D&submitButton1=Etymology)
[11]http://www.guoxue.com/shibu/24shi/shiji/sj_006.htm
[12]Theo Đại cương lịch sử văn hóa Trung Quốc, NXB VH-TT 1994, trang 345
|
|