Thoi-Nay - Giai Tri va Doi Song

Trang chính
Tài liệu và biên khảo

Mục lục

Nhật Bản:

Do Thái:

TL&BK:

Tài liệu và biên khảo- Phụ trách TN. 9/2008.

Với người Việt đang bơ vơ trước 12 bến nước, với tất cả con người hiện đại đang đói khác tinh thần vì những niềm tin cũ đóng hộp đã quá hạn, đã cạn hết chất dưỡng nuôi. Tất cả đang cần một bản đồ linh thiêng với một đối tượng phụng sự. Vậy sự tìm hiểu văn hóa Việt tạo nhiều cơ may giúp ta tìm thấy được hai điều đó hơn đâu hết. Và xin nhắc rằng tìm hiểu văn hóa Việt nho không còn là để thỏa tính hiếu tri để mà tưởng nhớ như một kỷ niệm, mà chính là những giá trị nhân bản tinh tuyền cần được phục hoạt ngay trong bản thân mình, cho nước mình, cuối cùng cho cả nhân loại trên khắp cõi đất.

 

GỐC RỄ TRIẾT VIỆT

 
DI SẢN VĂN HÓA VIỆT NAM
ÐỐI VỚI ÐỜI SỐNG HIỆN ÐẠI

(KIM ĐỊNH)

Nếu Ấn Ðộ nghiêng về Thiên Viên, Âu Tây thiên về địa phương thì Việt theo cả hai: thiên 3 địa 2 (tham thiên lưỡng địa nhi ỷ số) và cả hai vuông tròn hợp lại làm nên nét cong.

Vì nét cong là dấu định tính văn hóa nên tiền nhân đã hiện thực vào các vật dụng nhất là nhà ở và thuyền, cả hai đều mang nét cong lớn để nhắc nhở con cháu phải lấy sự hòa dịu làm lối sống ở đời.

Ðời sống không được điều động bằng pháp luật cứng đơ như sự vật mà phải bằng lễ bằng nhạc mềm dẻo nho nhã. Nhờ sự mềm dịu nho nhã đó mà nó hòa được cả hai bên đen bên trắng, bên tròn bên vuông.

Về sau Nho giáo gọi vòng tròn chia đôi nọ là vòng thái cực viên đồ. Ðó chính là vòng chu tri hay vòng Thái hòa. Hòa đây phải gọi là Thái hòa vì nó là nguồn gốc mọi cái hòa lẻ tẻ khác.
Trong con người là hòa tình với lý, hòa tâm với vật.
Trong gia đình là hòa vợ với chồng hoặc cha với mẹ, hoặc chị anh với các em.

 

Di sản văn hóa Việt Nam nằm gọn trong chữ Việt với ý nghĩa siêu việt, là nhảy từ hai thái cực vào một: từ trời cao đất thấp nhảy vào Người. Các nhà nghiên cứu về Ðông Nam Á thấy nét đặc trưng của miền này là lưỡng hợp tĩnh (dual-unit) thì chính là nó: nét đó là kết quả của cái nhìn riêng biệt không xem hai đối cực như hai thực thể chống đối nhau, tiêu diệt nhau mà như là hai chiều bổ túc hỗ tương của một thực thể. Và đó cũng chính là Minh Triết, vì Minh Triết là gì nếu không là khả năng hội nhập hai thái cực.


Nói theo thực hành thì Minh Triết là nghệ thuật tối cao xếp đặt việc nhà việc nước thế nào để đem lại hạnh phúc cho mọi người. Vậy văn hóa Việt Nam đã làm được như thế xuyên qua gần năm ngàn năm lịch sử. Trong quãng dài lâu vô địch đó nó đã không hề mắc một mâu thuẫn nào: không đẳng cấp, không giai cấp, không có chủ nô, vì toàn dân đều được tham dự vào tài sản quốc gia, cũng như mọi người được tự do tư tưởng, tự do tôn giáo. Cả đến hơn 50 sắc dân thiểu số với những tin tưởng rất khác nhau mà không hề xảy ra xích mích về đàng tôn giáo. Ðó là di sản văn hóa Việt Nam, có thể gọi di sản đó là nền triết lý Thái Hòa.


Di sản nọ đã được thăng hoa vào trang huyền sử diễm lệ của Âu Cơ Tổ Mẫu. Mẹ Âu Cơ lấy bố Lạc Long đẻ ra cái bọc trăm trứng, nở ra trăm con. Ðến lúc chia tay thì 50 con theo mẹ lên núi, 50 con theo cha xuống biển. Bọc trứng trăm con chia ra 2 đoàn con đã được thăng hoa thành hình tròn chia đôi bằng nét cong chữ S như ở sau. Ðây là cái vòng tuyệt diệu trên đời không thể vẽ đẹp hơn, sâu xa hơn, bao trùm hơn được nữa. Chữ S cong lượn hai đầu để chỉ trong âm có chút dương, trong dương có chút âm: tránh mọi tuyệt đối, tuyệt đối âm hay tuyệt đối dương.


Người ta quen nói có hai loại văn hóa: một nghiêng về khoa học của Tây Âu, một nghiêng về huyền niệm của Ấn Ðộ, vậy là quên mất loại thứ ba nghiêng về thẩm mỹ của Ðông Á thuộc Việt tộc mà Việt Nam có thể gọi là miêu duệ thừa tự. Nếu ta biểu thị óc khoa học bằng hình vuông màu trắng chỉ sự phân chia rõ rệt phân minh: có hay không dứt khoát. Còn óc huyền niệm bằng vòng tròn màu đen chỉ cái không, cái vô thể âm u, thì người ta sẽ biểu thị óc thẩm mỹ bằng vòng tròn gồm cả đen lẫn trắng, cả có lẫn không, yes and no. vì tính chất của thẩm mỹ là Hòa hợp là mềm dẻo.

Bởi vậy cái lằn chia đôi vòng tròn ra bên đen bên trắng không chạy thẳng chữ I mà cong lượn theo hình chữ S. Chữ S này đã xuất hiện lu bù trong trống Ðông Sơn như sau:... được các học giả gọi là dấu Ðông Sơn, nó chỉ trỏ tính cách hòa hợp mềm dịu của thẩm mỹ và cũng là đức tính nổi vượt của văn hóa Việt tộc.


Nếu Ấn Ðộ nghiêng về Thiên Viên, Âu Tây thiên về địa phương thì Việt theo cả hai: thiên 3 địa 2 (tham thiên lưỡng địa nhi ỷ số) và cả hai vuông tròn hợp lại làm nên nét cong. Vì nét cong là dấu định tính văn hóa nên tiền nhân đã hiện thực vào các vật dụng nhất là nhà ở và thuyền, cả hai đều mang nét cong lớn để nhắc nhở con cháu phải lấy sự hòa dịu làm lối sống ở đời. Ðời sống không được điều động bằng pháp luật cứng đơ như sự vật mà phải bằng lễ bằng nhạc mềm dẻo nho nhã. Nhờ sự mềm dịu nho nhã đó mà nó hòa được cả hai bên đen bên trắng, bên tròn bên vuông. Về sau Nho giáo gọi vòng tròn chia đôi nọ là vòng thái cực viên đồ. Ðó chính là vòng chu tri hay vòng Thái hòa. Hòa đây phải gọi là Thái hòa vì nó là nguồn gốc mọi cái hòa lẻ tẻ khác.
Trong con người là hòa tình với lý, hòa tâm với vật.
Trong gia đình là hòa vợ với chồng hoặc cha với mẹ, hoặc chị anh với các em.


Trong xã hội là hoà nhân dân với chính quyền, nên không có hai nền văn hóa: một cho chính quyền, một cho dân như ở các nơi.
Trong nhân loại là hoà giữa các nước để làm nên cuộc Thái bình đưa đến mối tình huynh đệ phổ biến.
Trên cấp siêu hình là hòa có với không, Vô với Hữu, chứ không duy hữu kiểu Hữu thể học ontology của Âu Tây, hay duy vô kiểu Vô Nhi advaita của Ấn Ðộ. Những biểu hiệu đợt uyên nguyên này đã kết tinh vào quyển Kinh Dịch thành bởi hai nét âm dương, khôn càn, mẹ cha.


Những biểu hiện trên luôn luôn hòa hợp với nhau để sinh ra rất nhiều biểu hiệu kép để chỉ việc làm theo sau lời nói, hay là Hành đối với đợt trước là Học để hai chữ Học Hành đi đôi. Hai biểu hiệu âm dương cũng được diễn bằng số chẵn số lẻ. Chẵn chỉ âm, lẻ chỉ dương, rồi các số lại được đặt vào khung chữ Tỉnh để làm ra cơ cấu Ngũ hành và các đồ án kép khác như Hồng Phạm Cửu Trù, Hà Ðồ, Lạc Thư sẽ được quảng diễn trong tập sách nhỏ kèm theo.

Mới coi tưởng rất phiền toái nhưng tựu trung cũng chỉ là diễn tả sự hội nhập hai mảnh đen trắng lại một cách rất tài tình, nên đó chẳng qua là những phát triển từ cái bọc Âu Cơ tổ mẫu. Tất cả đều chứng minh rằng văn hóa Việt đã đạt Ðạo, hay đạt Minh Triết tức là nó đã thực sự hội nhập được hai đầu thái cực để tạo ra nếp sống hạnh phúc cho dân Việt như được ghi lại trong sử ký suốt nhiều ngàn năm qua: cả của Tàu hay Việt Nam hoặc các chi khác của Việt tộc từ Hàn, Nhật, Ðài Loan xuống đến Phi, Mã, Ấn Nê, Miến, Lào v.v.

ÐỜI SỐNG HIỆN TẠI
Ðời sống hiện tại là cuộc sống vô hướng vô hồn, vì được như con tàu giữa biển khơi mà thiếu bàn la kinh để hướng dẫn, thiếu bến bờ để tới lui. Nói khác là thiếu Minh triết. Sự thiếu đó được biểu lộ bằng sự thiếu vắng các đồ án chỉ tỏ nền thống nhất cách bao trùm như nét lưỡng hợp mà chỉ có những triết lý duy lý bất lực nên cuộc sống phải nhờ đến sự hướng dẫn của tôn giáo, của pháp hình và luân lý. Trên cấp siêu hình thì vẫn không sao hàn gắn được nhát chẻ đôi luôn luôn dỉ máu (bleeding dichotomy).

Trong thực tế không sao xóa bỏ nổi giai cấp đấu tranh. Như vậy thì đời sống nay cần một số điểm như sau:
a. Trứơc hết một nền triết lý Thài hòa để làm nền tảng cho cuộc thống nhất hòa âm giữa đông tây, giữa kim cổ, thống nhất cả về đạo lý lẫn chính trị và kinh tế.
b. Cần một nền chu tri toàn diện gồm cả Hữu cả Vô thay cho cái học nay một chiều hoặc duy Hữu hoặc duy Vô không đủ rộng để hội nhập được cả hai bên thành một. Thành thử giáo dục toàn sản ra những con người tản mát fragmentary, split personality. Nước chỉ có đến Hiến pháp trên không có Ðạo nào hết.
c. Một nền triết lý thiết thực cụ thể, dẫn tới tác hành thay cho những triết lý trừu tượng: nói nhiều làm ít.
d. Một hướng sống hay một chủ Ðạo để đem lại ý nghĩa cho đời sống đặng có được một cuộc sống tươi vui thay cho triết học khắc nghị buồn thảm từ trước tới nay.
e. Một tình huynh đệ phổ biến để con người xử với nhau như anh em cùng một nhà: yêu thương tương trợ thay vì tranh đấu căm hờn.
Tất cả mấy điều vừa kể trên đây đều tìm được sự đóng góp trong di sản văn hóa Việt Nam. Tây phương quá khoa học nên mất nội tâm. Ðông phương duy huyền niệm nên quá nghèo. Ðã đến lúc phải cộng vuông khoa học với tròn huyền niệm lại một. Và con đường hội nhập phải chăng là nét cong thẫm mỹ trong nghệ thuật sống?
(Tóm bài diễn văn viết cho hội nghị hoàn cầu triết học tại Brighton (Anh) 21-27/8/1988)

Tựa

Việt có nghĩa là siêu việt. Ðồng thời Việt cũng là tên đại tộc đã tạo dựng nên văn hóa siêu việt mà tự nó đã nảy sinh ra văn minh Tàu cũng gọi là Khổng giáo. Trước đời Thanh, Khổng giáo thường được gọi là Nho. Nho đã được biết đến nhiều, nhưng còn gốc rễ Nho là do Việt thì chưa.
Tập sách này sẽ trình bày sơ lược về năm đợt gốc rễ của Nho, cũng là chính nền văn hóa của Việt tộc. Trong khi tìm về nguồn văn hóa dân tộc, chúng tôi mới nhận ra đó cũng là nguồn gốc của Ðại tộc Việt.
Nhân đấy chúng tôi cũng gọi nền triết lý An Vi mới xây lên của Việt Nam là Việt Nho để nhớ nguồn gốc chung. Việt vừa là Việt tộc vừa là Việt Nam mà cũng là siêu Việt, còn như là Khổng giáo hay văn minh Tàu. Cả ba là một Việt = Nho giáo = Việt Nam.
Cuối cùng chúng tôi nhận ra tính cách nhân tộc của nền triết lý Việt Nho, nên chương chót nêu ra câu hỏi xem Việt Nho có thể đóng góp được gì cho nền văn hóa ngày mai của loài nguời.
Sách được trình bày bằng những đồ án kiểu cơ cấu Việt Nho, một phương pháp đặc trưng giúp cho những câu nói tế vi và siêu hình đến đâu cũng có thể minh họa.


DẪN NHẬP VỀ VĂN HÓA VIỆT

Văn hóa Việt Nam cho tới nay thường bị coi như cái gì không đáng kể, nhưng nếu nghiên cứu thấu triệt sẽ thấy nó là một trung tâm văn hóa không những cao siêu và thực tiễn của Ðông Á mà còn kiêm luôn cả Thái Bình Dương ăn sang tận Mỹ Châu từ Alaska qua Vancouver xuyên qua Mexico (Astec, Maya) cho tới Peru. Về phía Tây bao Ấn Ðộ và xem ra cả Sumer rồi từ đó đi vào Ai Cập và Âu Châu. Cuối cùng với Tàu hay Khổng giáo thì quá rõ ràng, nhưng không ai ngờ đến liên hệ từ Việt tới Nho đó. Chính vì sự thiếu sót này mà cho tới nay các học giả về nho cả Tàu lẫn Tây Âu chưa sao dựng nên được một nền chủ đạo để đáp ứng cho lời đề nghị của hội nghị triết ở Honolulu 1949 tính đưa Khổng Triết ra làm nhạc trưởng để hướng dẫn cuộc thống nhất hòa âm giữa Ðông Tây kim cổ.


Tình trạng bế tắc đó một phần tại các học giả còn giam mình trong biên giới nứơc Tàu, lấy từ đời Tần Hán mà gán cho những thời đầu: ít ai nhận thức rằng Tàu mới manh nha từ tộc Thương quãng thế kỷ 15 trước tây lịch. Ðang khi Nho đã thành lập xong ít ra từ vài ba ngàn năm trước ở Việt tộc. Tàu cũng là miêu duệ của Việt tộc nhưng xét như dân tộc thì chỉ làm chủ Nho ở đợt văn minh tức Nho đã thành tựu đầy đủ chứ không trong giai đoạn văn hóa dùng nhiều biểu tượng và huyền thoại, chưa hẳn thành văn, nhưng lại giàu khả năng sáng tạo.


Vì thế muốn hiểu Nho thấu đáo, hiểu đến độ có thể rút ra từ đó những nguyên lý hợp thời để dựng nên một nền triết mới, một đạo sống khả dĩ chỉ dẫn đời sống hiện đại, thì phải tìm hiểu Nho ở đợt đầu mà tôi gọi là Việt Nho. Xin nhắc lại chữ Việt đây có 3 nghĩa, một nghĩa ch1inh nổi bật và chi phối toàn bộ văn hóa là siêu việt, còn hai nghĩa sau chỉ là tuỳ thì một là Việt Nam, hai là Việt tộc là tên đại chủng. Chữ Việt này có lâu trước cả chữ Bách Việt gặp thấy ở sách Cổ Tàu như Kinh Thư, Ngô Việt Xuân Thu. Hiện người ta còn tìm được một di vật quen gọi là để biểu lộ căn tính nền văn hóa Việt cách rất việt nghĩa là cách sâu xa đầy đủ. Theo hình vẽ trong đó thì có thể tả người Cổ Việt là "dân có cánh và ưa dùng số 5". Hai điểm này vừa là dấu để nhận diện người Cổ Việt, đồng thời cũng là dấu chỉ đường cho biết tinh hoa văn hóa Việt ở đâu, nó sẽ giúp hiểu được mấy điểm mà các nhà khảo cứu từ trước tới nay vẫn cho là "bí nhiệm" như:
. Hai gạch Bắc Sơn.
. Dấu Ðông Sơn
. Văn Thao thiết
. Quy củ.
Ðiều làm cho văn hóa Việt bị quên là tại nó đã thể hiện đúng ý nghĩa cái tên của nó là Việt theo nghĩa siêu việt. Vì vậy tinh hoa của nó chỉ tìm ra được ở chỗ siêu việt chứ không trong những di vật thù lù hay những nghệ thuật đồ sộ, ở đây phải tìm trong dăm ba biểu tượng thí dụ "có cánh" vài ba "lược đồ bằng số độ" rồi phải tự đó suy luận ra kiểu triết siêu hình, cơ cấu, uyên tâm v.v. chứ chỉ đi theo kiểu khảo cổ: rìu có vai với rìu chữ nhật, rồi đo sọ, đo xương, đầu tròn với đầu dài. thì không thể nào thấu tới cốt tuỷ của nền văn hóa này được. May thay hầu hết các học giả nay đã theo lối ông Groslier bỏ đường lối vụ mắt đó. Lối vụ mắt khiến người ta không tìm ra được những cái tế vi siêu hình.


Có nhiều học giả đã định nghĩa văn hóa Việt là văn hóa biểu tượng (emblématique). Chữ này theo nguyên nghĩa thì không những biểu thị, mà còn là hiện thực. Trong loạt bài này tôi sẽ thử đi theo lối đó và xin nói lại là embleme không có tính cách biểu thị trang trí mặc dầu có rất nhiều hình, nhưng các hình đó phải là những bàn nhún khác nhau để siêu lên, để vươn tới thực thể u linh không hiện hình. Có thể kể ra đến 5 loại biểu tượng hay đồ án như sau:
. Tiên rồng
. Cây Việt
. Sách Ước
. Gậy thần
. Trống Ðồng
Chúng tôi gọi là loại vì mỗi loại mỗi tầng bao gồm nhiều tượng hình như sẽ xem sau.
Vì thế đây không là những trang cổ sử hay khảo cứu chỉ đọc cho biết như những kỷ niệm mà là những giá trị cần được phục hoạt. Ðây không là sử ký để đi tìm những niên kỷ hay những địa danh đích xác, nhưng là những trang huyền sử mà giá trị của nó là khơi lên những ý niệm, những cảm xúc, càng gợi lên cách thấm thía nồng nhiệt thì càng có giá trị. Vì nó sẽ giúp vào việc quang phục lại được một đạo sống đã tỏ ra rất hữu hiệu vì đã trường tồn suốt thời gian dài dằng dặc quen gọi là bốn ngàn năm văn hiến mà sự thực có thể là vài ba chục ngàn năm vì những ấn tích đầu tiên như mang cánh chim, thờ tiên tổ, kính mến mẹ đã gặp thấy từ văn hóa Hòa Bình, mà Hòa Bình quãng muộn nhất cũng là 12 ngàn năm, còn sớm thì phải từ 50 ngàn năm.

Các nhà nghiên cứu cho rằng phải có từ vài ba trăm năm trở lên mới đủ cho một ý lực lắng đọng thành biểu tượng rồi biểu tượng thành đồ án (diagrams). Vậy mà văn hóa Việt đã để lại đến 5 tầng phát triển của một thực thể. Ðây là những ấn tích hết sức cao đẹp phải được gọi là bấy nhiêu lâu đài của một nền văn hóa cổ kính nhất của loài người đã một thời lan rộng khắp hoàn vũ.


Với người Việt đang bơ vơ trước 12 bến nước, với tất cả con người hiện đại đang đói khác tinh thần vì những niềm tin cũ đóng hộp đã quá hạn, đã cạn hết chất dưỡng nuôi. Tất cả đang cần một bản đồ linh thiêng với một đối tượng phụng sự. Vậy sự tìm hiểu văn hóa Việt tạo nhiều cơ may giúp ta tìm thấy được hai điều đó hơn đâu hết. Và xin nhắc rằng tìm hiểu văn hóa Việt nho không còn là để thỏa tính hiếu tri để mà tưởng nhớ như một kỷ niệm, mà chính là những giá trị nhân bản tinh tuyền cần được phục hoạt ngay trong bản thân mình, cho nước mình, cuối cùng cho cả nhân loại trên khắp cõi đất.

(
Trích TÁC PHẨM GỐC RỄ TRIẾT VIỆT -
TÁC GIẢ  KIM ĐỊNH)

Tiểu sử KIM ĐỊNH:
. Kim Định tên đầy đủ là Lương Kim Định
. Sinh ngày 15 tháng 6, 1914 tại Trung Thành, Nam Định
. Giáo Sư, Triết Gia, Linh Mục Thiên Chú Giáo .
. Tốt nghiệp triết học tại chủng viện Saint Albert Le Grand Pháp.
. Năm 1943 đến 1946 ông dạy triết học tại Chủng Viện Bùi Chu.
. Năm 1947, ông lại sang Pháp nghiên cứu về triết học 10 năm tại Institut des Hautes Etudes Chinoise.
. Năm 1958 ông dạy triết học phương Đông tại Học Viện Lê Bảo Tịnh- Đại Học Văn Khoa Sài Gòn-Đại Học Vạn Hạnh và Đại Học Đà Lạt.
. Mất ngày 25 tháng 3, 1997 tại Carthage, tiểu bang Missouri Hoa Kỳ. Hưởng thọ 83 tuổi.

. Ông để lại ít nhất 30 cuốn sách như :

HIẾN CHƯƠNG GIÁO DỤC - HƯNG VIỆT - NHỮNG DỊ BIỆT GIỮA HAI NỀN TRIẾT LÝ ĐÔNG TÂY - HỒN NƯỚC VỚI LỄ GIA TIÊN - NHÂN CHỦ - KINH HÙNG KHẢI TRIẾT - - LẠC THƯ MINH TRIẾT - TÂM TƯ HAY LÀ KHOA SIÊU LÝ CỦA VIỄN ĐÔNG - TINH HOA NGŨ ĐIỂN - THÁI BÌNH MINH TRIẾT I và II - CẨM NANG TRIẾT VIỆT - VŨ TRỤ NHÂN LINH - VĂN LANG VŨ BỘ - ĐỊNH HƯỚNG VĂN HỌC - CỬA KHỔNG - CHỮ THỜI - DỊCH KINH LINH THỂ - VIỆT TRIẾT NHẬP MÔN - GỐC RỄ TRIẾT VIỆT ...

 
 
          Thoi Nay Montreal - Giai Tri va Doi Song

Mục lục

Thời Hùng Vương:

Ôn cố tri tân:

TL&BK:

       
 

Copyright © 2011 | TN InfoWay