|
Di
sản văn hóa Việt Nam nằm gọn
trong chữ Việt với ý nghĩa siêu
việt, là nhảy từ hai thái cực
vào một: từ trời cao đất thấp
nhảy vào Người. Các nhà nghiên
cứu về Ðông Nam Á thấy nét đặc
trưng của miền này là lưỡng hợp
tĩnh (dual-unit) thì chính là nó:
nét đó là kết quả của cái nhìn
riêng biệt không xem hai đối cực
như hai thực thể chống đối nhau,
tiêu diệt nhau mà như là hai
chiều bổ túc hỗ tương của một
thực thể. Và đó cũng chính là
Minh Triết, vì Minh Triết là gì
nếu không là khả năng hội nhập
hai thái cực.
Nói theo thực hành thì Minh
Triết là nghệ thuật tối cao xếp
đặt việc nhà việc nước thế nào
để đem lại hạnh phúc cho mọi
người. Vậy văn hóa Việt Nam đã
làm được như thế xuyên qua gần
năm ngàn năm lịch sử. Trong
quãng dài lâu vô địch đó nó đã
không hề mắc một mâu thuẫn nào:
không đẳng cấp, không giai cấp,
không có chủ nô, vì toàn dân đều
được tham dự vào tài sản quốc
gia, cũng như mọi người được tự
do tư tưởng, tự do tôn giáo. Cả
đến hơn 50 sắc dân thiểu số với
những tin tưởng rất khác nhau mà
không hề xảy ra xích mích về
đàng tôn giáo. Ðó là di sản văn
hóa Việt Nam, có thể gọi di sản
đó là nền triết lý Thái Hòa.
Di sản nọ đã được thăng hoa vào
trang huyền sử diễm lệ của Âu Cơ
Tổ Mẫu. Mẹ Âu Cơ lấy bố Lạc Long
đẻ ra cái bọc trăm trứng, nở ra
trăm con. Ðến lúc chia tay thì
50 con theo mẹ lên núi, 50 con
theo cha xuống biển. Bọc trứng
trăm con chia ra 2 đoàn con đã
được thăng hoa thành hình tròn
chia đôi bằng nét cong chữ S như
ở sau. Ðây là cái vòng tuyệt
diệu trên đời không thể vẽ đẹp
hơn, sâu xa hơn, bao trùm hơn
được nữa. Chữ S cong lượn hai
đầu để chỉ trong âm có chút
dương, trong dương có chút âm:
tránh mọi tuyệt đối, tuyệt đối
âm hay tuyệt đối dương.
Người ta quen nói có hai loại
văn hóa: một nghiêng về khoa học
của Tây Âu, một nghiêng về huyền
niệm của Ấn Ðộ, vậy là quên mất
loại thứ ba nghiêng về thẩm mỹ
của Ðông Á thuộc Việt tộc mà
Việt Nam có thể gọi là miêu duệ
thừa tự. Nếu ta biểu thị óc khoa
học bằng hình vuông màu trắng
chỉ sự phân chia rõ rệt phân
minh: có hay không dứt khoát.
Còn óc huyền niệm bằng vòng tròn
màu đen chỉ cái không, cái vô
thể âm u, thì người ta sẽ biểu
thị óc thẩm mỹ bằng vòng tròn
gồm cả đen lẫn trắng, cả có lẫn
không, yes and no. vì tính chất
của thẩm mỹ là Hòa hợp là mềm
dẻo.
Bởi vậy cái lằn
chia đôi vòng tròn ra bên đen
bên trắng không chạy thẳng chữ I
mà cong lượn theo hình chữ S.
Chữ S này đã xuất hiện lu bù
trong trống Ðông Sơn như sau:...
được các học giả gọi là dấu Ðông
Sơn, nó chỉ trỏ tính cách hòa
hợp mềm dịu của thẩm mỹ và cũng
là đức tính nổi vượt của văn hóa
Việt tộc.
Nếu Ấn Ðộ nghiêng về Thiên Viên,
Âu Tây thiên về địa phương thì
Việt theo cả hai: thiên 3 địa 2
(tham thiên lưỡng địa nhi ỷ số)
và cả hai vuông tròn hợp lại làm
nên nét cong. Vì nét cong là dấu
định tính văn hóa nên tiền nhân
đã hiện thực vào các vật dụng
nhất là nhà ở và thuyền, cả hai
đều mang nét cong lớn để nhắc
nhở con cháu phải lấy sự hòa dịu
làm lối sống ở đời. Ðời sống
không được điều động bằng pháp
luật cứng đơ như sự vật mà phải
bằng lễ bằng nhạc mềm dẻo nho
nhã. Nhờ sự mềm dịu nho nhã đó
mà nó hòa được cả hai bên đen
bên trắng, bên tròn bên vuông.
Về sau Nho giáo gọi vòng tròn
chia đôi nọ là vòng thái cực
viên đồ. Ðó chính là vòng chu
tri hay vòng Thái hòa. Hòa đây
phải gọi là Thái hòa vì nó là
nguồn gốc mọi cái hòa lẻ tẻ khác.
Trong con người là hòa tình với
lý, hòa tâm với vật.
Trong gia đình là hòa vợ với
chồng hoặc cha với mẹ, hoặc chị
anh với các em.
Trong xã hội là hoà nhân dân với
chính quyền, nên không có hai
nền văn hóa: một cho chính quyền,
một cho dân như ở các nơi.
Trong nhân loại là hoà giữa các
nước để làm nên cuộc Thái bình
đưa đến mối tình huynh đệ phổ
biến.
Trên cấp siêu hình là hòa có với
không, Vô với Hữu, chứ không duy
hữu kiểu Hữu thể học ontology
của Âu Tây, hay duy vô kiểu Vô
Nhi advaita của Ấn Ðộ. Những
biểu hiệu đợt uyên nguyên này đã
kết tinh vào quyển Kinh Dịch
thành bởi hai nét âm dương, khôn
càn, mẹ cha.
Những biểu hiện trên luôn luôn
hòa hợp với nhau để sinh ra rất
nhiều biểu hiệu kép để chỉ việc
làm theo sau lời nói, hay là
Hành đối với đợt trước là Học để
hai chữ Học Hành đi đôi. Hai
biểu hiệu âm dương cũng được
diễn bằng số chẵn số lẻ. Chẵn
chỉ âm, lẻ chỉ dương, rồi các số
lại được đặt vào khung chữ Tỉnh
để làm ra cơ cấu Ngũ hành và các
đồ án kép khác như Hồng Phạm Cửu
Trù, Hà Ðồ, Lạc Thư sẽ được
quảng diễn trong tập sách nhỏ
kèm theo.
Mới coi tưởng rất
phiền toái nhưng tựu trung cũng
chỉ là diễn tả sự hội nhập hai
mảnh đen trắng lại một cách rất
tài tình, nên đó chẳng qua là
những phát triển từ cái bọc Âu
Cơ tổ mẫu. Tất cả đều chứng minh
rằng văn hóa Việt đã đạt Ðạo,
hay đạt Minh Triết tức là nó đã
thực sự hội nhập được hai đầu
thái cực để tạo ra nếp sống hạnh
phúc cho dân Việt như được ghi
lại trong sử ký suốt nhiều ngàn
năm qua: cả của Tàu hay Việt Nam
hoặc các chi khác của Việt tộc
từ Hàn, Nhật, Ðài Loan xuống đến
Phi, Mã, Ấn Nê, Miến, Lào v.v.
ÐỜI SỐNG HIỆN TẠI
Ðời sống hiện tại là cuộc sống
vô hướng vô hồn, vì được như con
tàu giữa biển khơi mà thiếu bàn
la kinh để hướng dẫn, thiếu bến
bờ để tới lui. Nói khác là thiếu
Minh triết. Sự thiếu đó được
biểu lộ bằng sự thiếu vắng các
đồ án chỉ tỏ nền thống nhất cách
bao trùm như nét lưỡng hợp mà
chỉ có những triết lý duy lý bất
lực nên cuộc sống phải nhờ đến
sự hướng dẫn của tôn giáo, của
pháp hình và luân lý. Trên cấp
siêu hình thì vẫn không sao hàn
gắn được nhát chẻ đôi luôn luôn
dỉ máu (bleeding dichotomy).
Trong thực tế
không sao xóa bỏ nổi giai cấp
đấu tranh. Như vậy thì đời sống
nay cần một số điểm như sau:
a. Trứơc hết một nền triết lý
Thài hòa để làm nền tảng cho
cuộc thống nhất hòa âm giữa đông
tây, giữa kim cổ, thống nhất cả
về đạo lý lẫn chính trị và kinh
tế.
b. Cần một nền chu tri toàn diện
gồm cả Hữu cả Vô thay cho cái
học nay một chiều hoặc duy Hữu
hoặc duy Vô không đủ rộng để hội
nhập được cả hai bên thành một.
Thành thử giáo dục toàn sản ra
những con người tản mát
fragmentary, split personality.
Nước chỉ có đến Hiến pháp trên
không có Ðạo nào hết.
c. Một nền triết lý thiết thực
cụ thể, dẫn tới tác hành thay
cho những triết lý trừu tượng:
nói nhiều làm ít.
d. Một hướng sống hay một chủ
Ðạo để đem lại ý nghĩa cho đời
sống đặng có được một cuộc sống
tươi vui thay cho triết học khắc
nghị buồn thảm từ trước tới nay.
e. Một tình huynh đệ phổ biến để
con người xử với nhau như anh em
cùng một nhà: yêu thương tương
trợ thay vì tranh đấu căm hờn.
Tất cả mấy điều vừa kể trên đây
đều tìm được sự đóng góp trong
di sản văn hóa Việt Nam. Tây
phương quá khoa học nên mất nội
tâm. Ðông phương duy huyền niệm
nên quá nghèo. Ðã đến lúc phải
cộng vuông khoa học với tròn
huyền niệm lại một. Và con đường
hội nhập phải chăng là nét cong
thẫm mỹ trong nghệ thuật sống?
(Tóm bài diễn văn viết cho hội
nghị hoàn cầu triết học tại
Brighton (Anh) 21-27/8/1988)
Tựa
Việt có nghĩa là siêu việt. Ðồng
thời Việt cũng là tên đại tộc đã
tạo dựng nên văn hóa siêu việt
mà tự nó đã nảy sinh ra văn minh
Tàu cũng gọi là Khổng giáo.
Trước đời Thanh, Khổng giáo
thường được gọi là Nho. Nho đã
được biết đến nhiều, nhưng còn
gốc rễ Nho là do Việt thì chưa.
Tập sách này sẽ trình bày sơ
lược về năm đợt gốc rễ của Nho,
cũng là chính nền văn hóa của
Việt tộc. Trong khi tìm về nguồn
văn hóa dân tộc, chúng tôi mới
nhận ra đó cũng là nguồn gốc của
Ðại tộc Việt.
Nhân đấy chúng tôi cũng gọi nền
triết lý An Vi mới xây lên của
Việt Nam là Việt Nho để nhớ
nguồn gốc chung. Việt vừa là
Việt tộc vừa là Việt Nam mà cũng
là siêu Việt, còn như là Khổng
giáo hay văn minh Tàu. Cả ba là
một Việt = Nho giáo = Việt Nam.
Cuối cùng chúng tôi nhận ra tính
cách nhân tộc của nền triết lý
Việt Nho, nên chương chót nêu ra
câu hỏi xem Việt Nho có thể đóng
góp được gì cho nền văn hóa ngày
mai của loài nguời.
Sách được trình bày bằng những
đồ án kiểu cơ cấu Việt Nho, một
phương pháp đặc trưng giúp cho
những câu nói tế vi và siêu hình
đến đâu cũng có thể minh họa.
DẪN NHẬP VỀ VĂN HÓA VIỆT
Văn hóa Việt Nam cho tới nay
thường bị coi như cái gì không
đáng kể, nhưng nếu nghiên cứu
thấu triệt sẽ thấy nó là một
trung tâm văn hóa không những
cao siêu và thực tiễn của Ðông Á
mà còn kiêm luôn cả Thái Bình
Dương ăn sang tận Mỹ Châu từ
Alaska qua Vancouver xuyên qua
Mexico (Astec, Maya) cho tới
Peru. Về phía Tây bao Ấn Ðộ và
xem ra cả Sumer rồi từ đó đi vào
Ai Cập và Âu Châu. Cuối cùng với
Tàu hay Khổng giáo thì quá rõ
ràng, nhưng không ai ngờ đến
liên hệ từ Việt tới Nho đó.
Chính vì sự thiếu sót này mà cho
tới nay các học giả về nho cả
Tàu lẫn Tây Âu chưa sao dựng nên
được một nền chủ đạo để đáp ứng
cho lời đề nghị của hội nghị
triết ở Honolulu 1949 tính đưa
Khổng Triết ra làm nhạc trưởng
để hướng dẫn cuộc thống nhất hòa
âm giữa Ðông Tây kim cổ.
Tình trạng bế tắc đó một phần
tại các học giả còn giam mình
trong biên giới nứơc Tàu, lấy từ
đời Tần Hán mà gán cho những
thời đầu: ít ai nhận thức rằng
Tàu mới manh nha từ tộc Thương
quãng thế kỷ 15 trước tây lịch.
Ðang khi Nho đã thành lập xong
ít ra từ vài ba ngàn năm trước ở
Việt tộc. Tàu cũng là miêu duệ
của Việt tộc nhưng xét như dân
tộc thì chỉ làm chủ Nho ở đợt
văn minh tức Nho đã thành tựu
đầy đủ chứ không trong giai đoạn
văn hóa dùng nhiều biểu tượng và
huyền thoại, chưa hẳn thành văn,
nhưng lại giàu khả năng sáng tạo.
Vì thế muốn hiểu Nho thấu đáo,
hiểu đến độ có thể rút ra từ đó
những nguyên lý hợp thời để dựng
nên một nền triết mới, một đạo
sống khả dĩ chỉ dẫn đời sống
hiện đại, thì phải tìm hiểu Nho
ở đợt đầu mà tôi gọi là Việt Nho.
Xin nhắc lại chữ Việt đây có 3
nghĩa, một nghĩa ch1inh nổi bật
và chi phối toàn bộ văn hóa là
siêu việt, còn hai nghĩa sau chỉ
là tuỳ thì một là Việt Nam, hai
là Việt tộc là tên đại chủng.
Chữ Việt này có lâu trước cả chữ
Bách Việt gặp thấy ở sách Cổ Tàu
như Kinh Thư, Ngô Việt Xuân Thu.
Hiện người ta còn tìm được một
di vật quen gọi là để biểu lộ
căn tính nền văn hóa Việt cách
rất việt nghĩa là cách sâu xa
đầy đủ. Theo hình vẽ trong đó
thì có thể tả người Cổ Việt là "dân
có cánh và ưa dùng số 5". Hai
điểm này vừa là dấu để nhận diện
người Cổ Việt, đồng thời cũng là
dấu chỉ đường cho biết tinh hoa
văn hóa Việt ở đâu, nó sẽ giúp
hiểu được mấy điểm mà các nhà
khảo cứu từ trước tới nay vẫn
cho là "bí nhiệm" như:
. Hai gạch Bắc Sơn.
. Dấu Ðông Sơn
. Văn Thao thiết
. Quy củ.
Ðiều làm cho văn hóa Việt bị
quên là tại nó đã thể hiện đúng
ý nghĩa cái tên của nó là Việt
theo nghĩa siêu việt. Vì vậy
tinh hoa của nó chỉ tìm ra được
ở chỗ siêu việt chứ không trong
những di vật thù lù hay những
nghệ thuật đồ sộ, ở đây phải tìm
trong dăm ba biểu tượng thí dụ "có
cánh" vài ba "lược đồ bằng số độ"
rồi phải tự đó suy luận ra kiểu
triết siêu hình, cơ cấu, uyên
tâm v.v. chứ chỉ đi theo kiểu
khảo cổ: rìu có vai với rìu chữ
nhật, rồi đo sọ, đo xương, đầu
tròn với đầu dài. thì không thể
nào thấu tới cốt tuỷ của nền văn
hóa này được. May thay hầu hết
các học giả nay đã theo lối ông
Groslier bỏ đường lối vụ mắt đó.
Lối vụ mắt khiến người ta không
tìm ra được những cái tế vi siêu
hình.
Có nhiều học giả đã định nghĩa
văn hóa Việt là văn hóa biểu
tượng (emblématique). Chữ này
theo nguyên nghĩa thì không
những biểu thị, mà còn là hiện
thực. Trong loạt bài này tôi sẽ
thử đi theo lối đó và xin nói
lại là embleme không có tính
cách biểu thị trang trí mặc dầu
có rất nhiều hình, nhưng các
hình đó phải là những bàn nhún
khác nhau để siêu lên, để vươn
tới thực thể u linh không hiện
hình. Có thể kể ra đến 5 loại
biểu tượng hay đồ án như sau:
. Tiên rồng
. Cây Việt
. Sách Ước
. Gậy thần
. Trống Ðồng
Chúng tôi gọi là loại vì mỗi
loại mỗi tầng bao gồm nhiều
tượng hình như sẽ xem sau.
Vì thế đây không là những trang
cổ sử hay khảo cứu chỉ đọc cho
biết như những kỷ niệm mà là
những giá trị cần được phục hoạt.
Ðây không là sử ký để đi tìm
những niên kỷ hay những địa danh
đích xác, nhưng là những trang
huyền sử mà giá trị của nó là
khơi lên những ý niệm, những cảm
xúc, càng gợi lên cách thấm thía
nồng nhiệt thì càng có giá trị.
Vì nó sẽ giúp vào việc quang
phục lại được một đạo sống đã tỏ
ra rất hữu hiệu vì đã trường tồn
suốt thời gian dài dằng dặc quen
gọi là bốn ngàn năm văn hiến mà
sự thực có thể là vài ba chục
ngàn năm vì những ấn tích đầu
tiên như mang cánh chim, thờ
tiên tổ, kính mến mẹ đã gặp thấy
từ văn hóa Hòa Bình, mà Hòa Bình
quãng muộn nhất cũng là 12 ngàn
năm, còn sớm thì phải từ 50 ngàn
năm.
Các nhà nghiên
cứu cho rằng phải có từ vài ba
trăm năm trở lên mới đủ cho một
ý lực lắng đọng thành biểu tượng
rồi biểu tượng thành đồ án
(diagrams). Vậy mà văn hóa Việt
đã để lại đến 5 tầng phát triển
của một thực thể. Ðây là những
ấn tích hết sức cao đẹp phải
được gọi là bấy nhiêu lâu đài
của một nền văn hóa cổ kính nhất
của loài người đã một thời lan
rộng khắp hoàn vũ.
Với người Việt đang bơ vơ trước
12 bến nước, với tất cả con
người hiện đại đang đói khác
tinh thần vì những niềm tin cũ
đóng hộp đã quá hạn, đã cạn hết
chất dưỡng nuôi. Tất cả đang cần
một bản đồ linh thiêng với một
đối tượng phụng sự. Vậy sự tìm
hiểu văn hóa Việt tạo nhiều cơ
may giúp ta tìm thấy được hai
điều đó hơn đâu hết. Và xin nhắc
rằng tìm hiểu văn hóa Việt nho
không còn là để thỏa tính hiếu
tri để mà tưởng nhớ như một kỷ
niệm, mà chính là những giá trị
nhân bản tinh tuyền cần được
phục hoạt ngay trong bản thân
mình, cho nước mình, cuối cùng
cho cả nhân loại trên khắp cõi
đất.
(Trích
TÁC PHẨM
GỐC RỄ TRIẾT VIỆT
-
TÁC GIẢ
KIM ĐỊNH)
Tiểu sử KIM ĐỊNH:
. Kim Định tên đầy đủ là Lương
Kim Định
. Sinh ngày 15 tháng 6, 1914 tại
Trung Thành, Nam Định
. Giáo Sư, Triết Gia, Linh Mục
Thiên Chú Giáo .
. Tốt nghiệp triết học tại chủng
viện Saint Albert Le Grand Pháp.
. Năm 1943 đến 1946 ông dạy
triết học tại Chủng Viện Bùi Chu.
. Năm 1947, ông lại sang Pháp
nghiên cứu về triết học 10 năm
tại Institut des Hautes Etudes
Chinoise.
. Năm 1958 ông dạy triết học
phương Đông tại Học Viện Lê Bảo
Tịnh- Đại Học Văn Khoa Sài
Gòn-Đại Học Vạn Hạnh và Đại Học
Đà Lạt.
. Mất ngày 25 tháng 3, 1997 tại
Carthage, tiểu bang Missouri Hoa
Kỳ. Hưởng thọ 83 tuổi.
. Ông để
lại ít nhất 30 cuốn sách như :
HIẾN CHƯƠNG GIÁO DỤC - HƯNG VIỆT
- NHỮNG DỊ BIỆT GIỮA HAI NỀN
TRIẾT LÝ ĐÔNG TÂY - HỒN NƯỚC VỚI
LỄ GIA TIÊN - NHÂN CHỦ - KINH
HÙNG KHẢI TRIẾT - - LẠC THƯ MINH
TRIẾT - TÂM TƯ HAY LÀ KHOA SIÊU
LÝ CỦA VIỄN ĐÔNG - TINH HOA NGŨ
ĐIỂN - THÁI BÌNH MINH TRIẾT I và
II - CẨM NANG TRIẾT VIỆT - VŨ
TRỤ NHÂN LINH - VĂN LANG VŨ BỘ -
ĐỊNH HƯỚNG VĂN HỌC - CỬA KHỔNG -
CHỮ THỜI - DỊCH KINH LINH THỂ -
VIỆT TRIẾT NHẬP MÔN - GỐC RỄ
TRIẾT VIỆT ...
|