̣Kính
Dâng Quốc Tổ HÙNG VƯƠNG, vị ANH HÙNG VĂN HÓA
của Dân Tộc VIỆT, bản VIỆT CA về cuộc LINH
PHỐI tại Cánh Đồng TƯƠNG giữa MẸ TIÊN và CHA
RỒNG, với tất cả LÒNG THÀNH của con.
NHẬP ĐỀ
Lịch Sử Văn hóa Tây Phương cận đại chứng
kiến sự đối đầu giữa một bên là CÁ NHÂN chủ
nghĩa (Tư Bản) và bên kia là ĐOÀN LŨ chủ
nghĩa (Cộng Sản) đưa tới chiến tranh Ý Thức
Hệ. Trong khi đó, cái HẰNG TÍNH nền tảng
nhất của Văn hóa VIỆT là đi theo con đường
DÂN TỘC nhằm dung HÒA hai CỰC ĐOAN nêu trên.
Phương pháp áp dụng là TÔI LUYỆN con người
khỏi những ích kỷ, hẹp hòi nhỏ nhen của Cá
Nhân chủ nghĩa để đặt vào môi trường những
CÔNG THỂ nhỏ đầy ắp TÌNH NGƯỜI như Gia Đình,
Làng Xã, Đất Nước, trước khi bàn đến NHÂN
LOẠI hầu cho ý niệm này một nội dung HUYNH
ĐỆ phổ biến chân thực, đồng thời TRÁNH những
ÁC QUẢ của chủ nghĩa TAM VÔ của Cộng Sản
được che dấu dưới những chiêu bài hoa mỹ về
hình thức nhưng rỗng tuyếch về nội dung của
một thế giới đại đồng KHÔNG TƯỞNG.Câu hỏi
được đặt ra ở đây là tuyên dương Hằng Tính
của DÂN TỘC có đi ngược lại với xu hướng
TOÀN CẦU HÓA ngày nay hay không?
Phần Một:
CĂN BẢN TRIẾT LÝ CỦA SỰ TRỞ VỀ HẰNG TÍNH CỦA
DÂN TỘC VIỆT
I ) DÂN TỘC TÍNH VA HIỆN TƯỢNG TOÀN CẦU HÓA
Thật ra, Toàn Cầu hóa (Globalization) là
hiện tượng mà trình độ kỹ thuật ngày nay cho
phép hiện thực giấc mơ con người đã lâu đời
ấp ủ: đó là thống nhất nhân loại, thống nhất
thế giới thành cảnh tượng “Bốn bể một Nhà”.
Vì nhu cầu thống nhất là một xu hướng tự
nhiên, nên khuynh hướng này được bành trướng
rộng rãi khắp mọi lãnh vực từ tôn giáo,
triết học, chính trị….đến các sinh hoạt
thường ngày.
Tuy nhiên, các mưu định “Thống Nhất Thiên
Hạ” đến nay hầu hết đều gặp Thất Bại, mà
nguyên nhân có lẽ bắt nguồn từ sự kiện là
những người chủ xướng, khi áp dụng nguyên
tắc “thống nhất ý chí của toàn dân, mọi
người”, thay vì theo ý chí chung hay ít nhất
ý chí của đa số, họ lại áp đặt ý chí của một
cá nhân, một tập đoàn, một ý thức hệ, “trên
đầu trên cổ” của toàn dân, của mọi người.(1)
II) THỐNG NHẤT GIẢ TẠO
Đó là lối Thống Nhất Giả Tạo và là nét đặc
trưng của các chế độ Chuyên Chế Độc Tài,
luôn luôn muốn san bằng, Đồng Điệu hóa con
người, mà tình trạng nguy hại hơn hết là khi
nhà chuyên chế, độc tài bắt tay với Ý Thức
Hệ. Lý do là ý thức hệ dựa trên Ý Niệm, mà ý
niệm là hình ảnh của sự vật được trừu tượng
hóa, nên vẫn giữ tính cách tư riêng của sự
vật, mà lại độc hữu, nên khước từ những dị
biệt khác. Chế độ độc tài, chuyên chế dễ
dàng bắt tay với một ý thức hệ nào đó, vì cả
hai đều đặt trên nguyên lý ĐỒNG NHẤT, đánh
mất chữ TƯƠNG là chữ nối các dị biệt lại với
nhau, chỉ biết A = A, A là A một cách trọn
vẹn, không còn một mối liên hệ nào với B,C,
D cũng như không còn một biến chuyển nào tự
A sang A’.
Điều được hiện thực trọn vẹn ở thế giới ý
niệm, nhà độc tài cũng áp dụng vào con
người, mọi người phải đồng đều y hệt như
nhau: tự tâm trí, óc tưởng tượng cho đến cả
tiếng cười, tiếng khóc, các bản năng như ăn
uống, tình dục….đến cách thức cắt tóc, mặc
áo quần, đi đứng, cái gì cũng phải đồng đều,
y hệt nhau, như đống gạch, đống gỗ cùng một
kích thước cân đo. Tất cả tạo thành một
đoàn, một lũ, một thứ người đánh đống (mass
man), như thứ người dưới phố, mà ta chỉ thấy
môt cách hời hợt ở bên ngoài, không cần biết
đến tâm tình, cảm nghĩ của họ bên trong như
thế nào. Loại chế độ chuyên chế , độc tài
trên cầm giữ con người lại ở đợt THÚ VẬT,
không cho thoát lên đợt trên là NHÂN CÁCH,
(vì gọi là Nhân Cách thì phải có tính cách
Tư Riêng, Tư Cách), do đó “sản phẩm” được
khai sinh ra là từng loại người đồng đều,
không phẩm tính, không nhân cách. Chế độ
trên cũng chống đối mạnh mẽ những con người
trổi vượt, lấy tư cách làm tôn chỉ, thường
biểu lộ bằng sáng tạo, sáng kiến, vì Sáng
Kiến bao giờ cũng phải xuất phát từ Cá Nhân.
III) DỊ BIỆT TRONG THỐNG NHẤT
Tóm lại, các chế độ chuyên chế, độc tài,
cũng như ý thức hệ, vì chỉ nhắm tới việc san
bằng, đồng điệu hóa, ĐỒNG NHẤT hóa con người
theo tiêu chuẩn của thế giới sự vật hay loài
vật, nên mục tiêu họ nhắm tới chỉ là một
loại Thống Nhất Giả Tạo. Lý do là một sự
Thống Nhất Chân Thực đòi hỏi phải có PHỔ
BIẾN tính giống như MINH TRIẾT, tức khả năng
thâu tóm mọi DỊ BIỆT trong một nền THỐNG
NHẤT bao la. Nếu khuynh hướng nhắm tới cái
Chung, sự thống nhất là một xu hướng Tự
Nhiên, thì nhu cầu nhắm tới sắc thái Tư
Riêng, dị biệt, độc đáo, cũng là một xu
hướng Tự Nhiên khác. Thật vậy, nếu quan sát
kỹ vũ trụ, vạn vật, ta có thể thấy Tạo Hóa
trọng cá thể, sự dị biệt biết bao: ngay một
hột gạo ta ăn, đã thấy có trên trăm thứ, cá
biển thì phải kể tự triệu giống trở lên,
chim trời cũng có cả hàng trăm ngàn thứ,
không hề đồng đều. Có những cái mới coi
tưởng như đồng đều như cá thể trong cùng một
loại, thí dụ cả triệu con chim sẻ, nhưng nếu
xét cho cùng cực sẽ thấy mỗi con có cái khác
với con kia, mỗi con là một cá thể không
trộn lẫn được. Ấy là con vật mà còn thế,
phương chi con người là giống có mầm linh
thiêng đã phát triển hơn. Mà linh thiêng là
đi vào đường cá thể, dị biệt cho đến cùng
cực.
Vì thế ta có thể kết luận được rằng cá thể
hóa, DỊ BIỆT hóa nằm ngay trong BẢN TÍNH con
người. Chương trình làm nên người (Vi Nhân)
phải dồn vào việc làm triển nở cùng cực cái
khả năng riêng biệt mà Trời đã phú cho mình,
cần được hiện thực cá thể đó trong sự hòa
hợp với hoàn cảnh. Hoàn cảnh là cái dấu của
cá thể. Hoàn cảnh thành bởi không gian và
thời gian, vì không bao giờ có một thời điểm
và không điểm lập lại y như nhau, nên hoàn
cảnh chính là cái khung dị biệt cùng cực để
giúp khám phá cá thể, đến nổi không có hai
hoàn cảnh y hệt nhau, chỉ có hoàn cảnh dị
biệt đến độ không thể thay thế.(2)
Đấy là lý do sâu xa giải thích tại sao Đạo
Làm Người tuy là Một, mà lại không thể có
một nền văn hóa đồng đều cho hết mọi dân,
mọi đời….Chỉ có môt nền văn hóa đặc thù cho
một nhóm người, nhóm dân, với các sắc thái
đổi thay theo dòng thời gian. Và chỗ đứng
của con đường trở về Hằng Tính của Dân Tộc
VIỆT nằm ở đây.
IV) MẪU SỐ CHUNG
Tuy nhiên, trở về Hằng Tính của Dân Tộc bằng
cách học hiểu những nét đặc trưng, độc đáo
của nhóm mình, dân tộc mình là nhằm tiến đến
một cuộc ĐỐI THOẠI với các nhóm người khác,
dân tộc khác, hầu tìm ra MẪU SỐ CHUNG để tạo
nên sự THỐNG NHẤT CHÂN THỰC trong sự PHONG
PHÚ và DỊ BIỆT, trong niềm thông cảm và
tương kính, chứ không nhắm tới chỗ “duy ngã
độc tôn” có nguy cơ sa đọa thành cá nhân chủ
nghĩa hay chủ nghĩa quốc gia, dân tộc quá
khích. Hiểm họa mà Cá Nhân Chủ Nghĩa có thể
gây ra là biến những cá nhân thành những ốc
đảo cô đơn, trơ trọi, dễ trở thành mồi ngon
cho âm mưu đồng nhất hóa của các chính quyền
độc tài, chuyên chế. Nguy cơ mà chủ nghĩa
Quốc Gia, Dân Tộc QUÁ KHÍCH có thể đem tới
là Cô Lập hóa và Nghèo Nàn hóa quốc gia, dân
tộc mình, dễ trở thành mồi ngon cho âm mưu
đồng hóa của một đế quốc xâm lăng.
Tuyên dương con đường trở về Hằng Tính của
Dân Tộc VIỆT qua việc cổ động hai bộ môn DÂN
TỘC học và VIỆT HỌC đích thực giúp tránh
khỏi các nguy cơ, hiểm họa nêu trên vì những
lý do sau đây: Các bộ môn này đề cao dân tộc
và những công thể cỡ nhỏ nhằm giúp duy trì
cá tính như gia đình, hội đoàn, làng xã, là
những môi trường giúp cá nhân học hỏi những
bài học cụ thể về hy sinh, yêu thương, và
dung HÒA cái RIÊNG với cái CHUNG. Chẳng hạn,
môi trường GIA ĐÌNH có thể giúp học cách
Dung Hòa quyền lợi, hạnh phúc của Cá Nhân
với danh dự của Gia Dình và người gia
trưởng. Môi trường LÀNG XÃ giúp dung hòa
hạnh phúc của cá nhân, danh dự của gia đình
với sự sống còn của làng xã. Và mối liên hệ
LÀNG – NƯỚC nhằm dung hòa Lệ Làng vơí Phép
Nước, nét đặc trưng của làng xã với sự
trường tồn của đất nước. Đó là những bài học
cụ thể, sống động, được thực hiện từ từ,
từng bước một, nên có nôi dung chân thực
giống như bốn bước “Tu, Tề, Trị, Bình” của
Nho Giáo. Những con người sống trong những
công thể đầy ắp tình người như trên, khó bị
dẫn dụ đi vào con đường đoàn lũ hóa của các
chế độ độc tài, chuyên chế. Trái lại, các
chế độ chuyên chế thường coi thường gia
đình, quốc gia, tôn giáo, và chỉ chú trọng
đến nhân loại hay quốc tế. Lý do là nhân
loại, quốc tế là những danh xưng hổ lốn vắng
bóng mọi dị biệt nên rất trừu tượng, trống
rỗng, rất thuận lợi để gói ghém ý đồ chuyên
chế nhằm ĐỒNG NHẤT HÓA con người.
V) PHONG PHÚ HÓA, ĐA DẠNG HÓA
Tóm lại, nhu cầu trở về HẰNG TÍNH của Dân
Tộc VIỆT qua việc học hỏi về DÂN TỘC TÍNH và
VIỆT TÍNH tỏ ra cần thiết nhằm GIÚP nhân
loại và tiến trình TOÀN CẦU HÓA tránh khỏi
các nguy cơ, hiểm họa vừa nêu trên. DÂN TỘC
HỌC là bộ môn nghiên cứu về đất nước và con
người, về nguồn gốc cùng quá trình hình
thành ra đất nước, cũng như về bản sắc và
nội lực của một dân tộc, nên giúp con người
ý thức những nét dị biệt, đặc trưng, độc đáo
của mỗi dân tộc, hầu đem lại sự phong phú,
đa dạng cho văn hóa nhân loại, cũng như cung
cấp nội dung, chất liệu CỤ THỂ, SỐNG ĐỘNG
cho các danh xưng như TOÀN CẦU, THẾ GIỚI,
NHÂN LOẠI….
VI) THỐNG NHẤT BẰNG CON ĐƯỜNG VĂN HÓA
VIỆT HỌC cũng là môt bộ môn Dân Tộc Học nên
cũng đóng góp vào tính chất phong phú, độc
đáo, đa dạng nêu trên. Ngoài ra, VIỆT TRIẾT
là một nền NHÂN BẢN TÂM LINH Tinh Tuyền
nhất, nên Việt Triết không chỉ dành riêng
cho người Việt, mà còn có thể thích hợp CHO
MỌI NGƯỜI ở mọi nơi và mọi thời. Do đó, VIỆT
HỌC không chỉ làm phong phú hóa, đa dạng hóa
văn hóa nhân loại và tiến trình toàn cầu
hóa, mà còn chứa đựng khả thể giúp nhân loại
THỐNG NHẤT BẰNG CON ĐƯỜNG VĂN HÓA với SỨ
ĐIỆP HÒA BÌNH đã được ghi khắc từ muôn đời
trên các TRỐNG ĐỒNG của Dân Tộc LẠC VIỆT.(3)
Phần Hai:
BÀI HỌC VỀ HẰNG TÍNH CỦA DÂN TỘC VIỆT
Phần trình bày trên cho thấy sự tối cần
thiết của việc học biết về HẰNG TÍNH của DÂN
TỘC để GIÚP dự án TOÀN CẦU HÓA tránh được sự
Thất Bại Não Nề của biết bao mưu định “Thống
Nhất Thiên Hạ” từ xưa đến nay, hầu đạt được
mục tiêu tối hậu là phục vụ cho HẠNH PHÚC
của con người và nền HÒA BÌNH thế giới.
I ) NỘI DUNG BÀI HỌC
Về Nội Dung, VIỆT TÍNH
(hay Dân Tộc Tính của ngưới VIỆT) gồm hai
yếu tố chính cấu thành:
_ Yếu tố Dân Tộc: VIỆT
_ Yếu tố Văn Hóa, Văn Minh: TÍNH
Cả hai yếu tố trên bao gồm các đặc tính
khiến cả hai:
_ vừa là BẨM SINH (Innate)
_ vừa là THỦ ĐẮC (Acquired)
dẫu ở yếu tố DÂN TỘC, tính BẨM SINH giữ vai
trò căn bản, còn ở yếu tố VĂN HÓA VĂN MINH,
xem ra tính THỦ ĐẮC lại có vai trò chủ yếu.
II) HẰNG TÍNH CỦA DÂN TỘC VIỆT
A) YẾU TỐ DÂN TỘC
Trong yếu tố DÂN TỘC, thành tố quan trọng
nhất phải tiến hành khảo sát đầu tiên là
1) CẤU TRÚC DI TRUYỀN
Chúng ta biết: “ Những tế bào của mọi động
vật cũng như thực vật đều chứa yếu tố DNA,
ví như một bảng thiết kế, giúp cuộc sống
được lưu truyền từ đời nọ đến đời kia. DNA
tạo nên “gene” và chính các “gene” đã mang
tín hiệu làm cho muôn loài, từ thực vật,
động vật đến con người có được cái sắc thái
đặc biệt như mắt xanh, da nâu…..”
“Các nhiễm sắc thể DNA trong “gene” của mỗi
giống người như trên là một HẰNG TÍNH. Một
khi đã cấu thành, nó tồn tại vĩnh viễn trong
con người hay mọi chủng loại động vật, thực
vật và di truyền mãi mãi cho các thế hệ về
sau”.
Vậy nhiễm sắc thể (DNA) là một Hằng Tính, là
cái Căn Cước Tính bẩm sinh của một dân tộc.
Cái căn cước tính này sẽ bất biến, sẽ không
thay đổi cho đến khi có sự gặp gỡ đưa vào cơ
thể con người các yếu tố đặc biệt ( như một
vài vi khuẩn, tia cực tím do ánh mặt trời
đến một mức nhất định hoặc vài loại chất độc
hay khoáng sản và phóng xạ nguyên tử!) khiến
con người hội đủ yếu tố để tạo thành một đột
biến di truyền tự nhiên mà khoa học gọi là
“spontaneous point of mutation”.” Trong
trường hợp đó, nhiễm sắc thể thay đổi sẽ làm
con người cũng thay đổi theo có thể về hình
dạng, về màu da, về râu tóc, về sức khoẻ,
bệnh tật…, cả về sự thông minh, về tác phong
thiên hướng như thiện hay ác, nghiện rượu,
đa sát hay hiền lương, quân tử! Và nhiễm sắc
thể đổi mới này, một khi đã lập thành lại
trở thành một HẰNG TÍNH, một Căn Cước Tính
MỚI, như trên đã nói, tồn tại vĩnh viễn
trong con người và lưu truyền mãi mãi cho
các thế hệ mai sau…cho đến khi gặp được kỳ
duyên có sự đột biến di truyền mới”.
Bản chất sinh học của một dân tộc có một
lịch sử lâu dài nhiều ngàn năm, trải qua
nhiều thăng trầm như dân tộc Việt Nam thì
không chỉ BẨM SINH mà chắc chắn còn có sự
đóng góp của những THỦ ĐẮC là kết quả của sự
Đột Biến Di truyền của các Di Thể với Môi
Sinh trong con đường Tiến Hóa nữa.
2) SỰ HÌNH THÀNH DÂN TỘC
Về Hằng Tính, sau yếu tố Di Truyền, sự HÌNH
THÀNH Dân Tộc cũng đóng một vai trò rất quan
trọng. Thật vậy, tùy theo từng lý thuyết về
sự cấu thành dân tộc, ta sẽ có một Căn Cước
Tính của dân tộc đó khác biệt. Từ trước đến
nay đã có nhiều lý thuyết về nguồn gốc dân
tộc Việt Nam. Tựu trung ta có thể quy về 3
mô thức:
_ Mô Thức I: Cho người Việt là hậu duệ của
người từ phương Bắc: Đại Việt Sử Ký Toàn
Thư, L’Aurousseau, Trần Trọng Kim, Đào Duy
Anh.
_ Mô Thức II: Cho người Hắc chủng ở hải đảo
vào đất liền, lai giống với người Mongoloid
vốn từ phương Bắc đi xuống, là tổ tiên của
người Việt. Mô thức này được nhiều Giáo sư
Đại học Hà Nội như Phạm Huy Thông chủ
trương. Gs Nguyễn Khắc Ngữ ở miền Nam trước
kia cũng có ý kiến tương tự.
_ Mô Thức III: Nhưng có lẽ phải đảo ngược
lại kết luận của hai mô thức vừa nêu trên
thì mới đi sát lại Sự Thật theo Khoa học
Ngày nay. Thực ra, nếu chấp nhận con người
Hiện Đại (Homo Sapiens) trên địa cầu này đều
cùng một nguồn gốc duy nhất như khoa học đã
chứng minh gần đây, thì người Đông Phi Châu
trên đường di chuyển về phương Đông đã đến
Đông Nam Á trước khi lên Đông Bắc Á và ra
Hải Đảo Thái Bình Dương.
Nói cho sát sự thực thì mô thức I không phải
hoàn toàn sai. Nhưng mô thức này chỉ nói lên
được cái giai đoạn sau từ khi có sự bành
trướng của các đế quốc Tần Hán, những người
thuộc Văn Hóa Hòa Bình mà Sử học gọi là Đại
Tộc Bách Việt (thường là những thủ lãnh hay
những ai không chịu sự đồng hóa của nòi Hoa
Hán) mới di cư về phương Nam hòa nhập với
những dân đã có sẵn ở đó trước. Cao điểm của
sự di cư này xảy ra nhiều lắm chỉ khoảng nửa
thế kỷ trước và sau Công nguyên.
Nhưng nhiều chục ngàn năm trước đó, khi chưa
có đế quốc Tần Hán, khi đại lục Trung Nguyên
mới vừa qua thời kỳ Băng hà, dân cư còn thưa
thớt, thì đã bắt đầu có sự di chuyển từ Nam
lên Bắc của dòng người thuộc Văn Hóa Hòa
Bình của Đại Chủng Bách Việt. Như vậy, người
miền BẮC là HẬU DUỆ, người HẢI ĐẢO cũng là
HẬU DUỆ của người ĐÔNG NAM Á, chứ không phải
người Đông Nam Á là hậu duệ của người từ
miền Bắc đi xuống hay người Hải Đảo vào đất
liền rồi lai giống với người Mongoloid thuộc
miền Bắc di cư xuống mà thành.
Với mô thức III này, ta sẽ có một CĂN CƯỚC
TÍNH của người VIỆT có những đặc tính BẨM
SINH khác hẳn với Căn Cước Tính của những
người tưởng là người Việt do các lý thuyết
từ các mô thức I và II tạo nên.
Thật vậy, đã là giống người TIỀN PHONG, thì
họ phải là người có:
_ ÓC KHAI PHÁ để tiến bộ chứ không phải óc ỷ
lại
_ ÓC SÁNG TẠO để sống chứ không phải óc bắt
chước
_ DÁM ĐƯƠNG ĐẦU nhận trách nhiệm, chứ không
trốn tránh, nhát chết
_ DŨNG MÃNH KIÊN CƯỜNG chứ không bệnh hoạn,
yếu hèn (4)
B) VAI TRÒ CỦA VĂN HÓA VĂN MINH
Yếu tố thứ hai tạo nên HẰNG TÍNH của một dân
tộc là VĂN HÓA VĂN MINH. Ở đây, vấn đề là
TÌM RA TRONG NHỮNG YẾU TỐ KHÔNG ĐẶC THÙ, tức
ở đâu cũng có, NHỮNG NÉT ĐẶC THÙ làm nên Căn
Cước Tính của môt dân tộc là những gì mà Dân
Tộc liên hệ THỦ ĐẮC được trong quá trình
tiến hóa qua các tác động của con người với
môi sinh được thấy chẳng hạn với
1) VĂN MINH VIỆT qua bốn phạm trù : TỪ,
TƯỢNG, SỐ, CHẾ
“_ TỪ: có nghĩa là từ ngữ, lời văn , lời
nói. Thí dụ như những truyện tích cổ xưa,
các vần ca dao, các câu tục ngữ, những lời
nói truyền miệng trong dân gian…
_ TƯỢNG: như hình ảnh, nét vẽ, dấu vết ghi
lại cảm xúc, ý thức, cuộc sống, ước vọng tâm
linh….qua các hoa văn trên các di vật đồ sứ,
đồ gốm, đồ đồng cổ xưa. Hoặc ngay trong các
vật dụng thường ngày như cán dao, hòn
sỏi…v…v… mà khảo cổ đã tìm được.
_ SỐ: Các số 2,3,5 có đầy khắp trong khảo cổ
hay ngay trong ca dao như:
“Ai về đường ấy hôm mai
Gửi dăm (5) điều nhớ, gửi vài (2) điều
thương.”
Hay:
“Cưới em quan tám tiền cheo,
Quan NĂM tiền cưới lại đèo buồng cau…”
_ CHẾ: là nề nếp sinh hoạt, thói tục, thể
chế nơi đời sống gia đình, làng xóm, xã hội.
Chế còn là thuần phong, là mỹ tục, là lễ
nghĩa ràng buộc mỗi cá nhân trong xã hội với
nhau.(5)
2) VĂN HÓA VIỆT qua Ý NGHĨA ẨN TÀNG
Tuy nhiên, qua bốn phạm trù nêu trên, nếu
chỉ dừng ở đợt VĂN MINH Hiện Tượng Hữu Hình,
thì khó nắm bắt được HẰNG TÍNH hay các NÉT
ĐẶC THÙ của dân tộc VIỆT. Lý do là dân tộc
nào cũng có suýt soát như nhau các yếu tố
TỪ, TƯỢNG, SỐ, CHẾ. Muốn nắm bắt được các
Nét Đặc Thù của VIỆT TÍNH, theo tinh thần Cơ
Cấu Luận (Structuralism), phải biết vượt qua
đợt VĂN MINH Hiện tượng, Vật lý, Lý trí, Ý
thức bên ngoài để đào sâu vấn đề đến tận đợt
VĂN HÓA Siêu trần, Vi thể, cõi Tiềm thức, Vô
thức nhằm nắm bắt CƠ CẤU (Structures) nằm
sâu trong lòng sự vật gồm những mối LIÊN HỆ,
TƯƠNG QUAN có tính cách VÔ HÌNH ẩn tàng
trong các yếu tố VĂN MINH Hữu Hình nêu trên.
Phần Ba:
CÁC NÉT ĐẶC THÙ CỦA VIỆT TÍNH
Như đã đề cập ở trên, về khía cạnh SỐ chẳng
hạn, ta có thể tìm thấy các số 2,3,5 “lu bù”
trong nền Khảo Cổ VIỆT và nhiều địa hạt khác
nữa. Mà các số 2,3,5 cũng là nét ĐẶC TRƯNG
của KINH DỊCH với các thuyết Âm Dương (2),
Tam Tài (3), Ngũ Hành (5). Điều này cũng phù
hợp với Chủ thuyết VIỆT NHO của Cố Triết Gia
KIM ĐỊNH được kiện chứng với những khám phá
mới nhất của Khoa học ngày nay là:
_ Bách Việt vào đất Trung Hoa trước Hoa tộc,
và do đó
_ Đặt nền móng đầu tiên cho Nho Giáo
Hệ quả là nếu người phương BẮC là HẬU DUỆ
của người VIỆT, thì KINH DỊCH, cuốn Kinh Nền
Tảng của Nho Giáo, trước tiên là của người
VIỆT với các nét:
I ) SONG TRÙNG LƯỠNG HỢP
Nét SONG TRÙNG (số 2) nói đây là hai gạch
song song gặp thấy khắc vào những viên đá
cuội tìm được ở Bắc Sơn (tỉnh Thái Nguyên)
phổ cập đến độ đã được coi như dấu chỉ của
nền văn hóa Đông Nam Á xưa, cũng như của cả
nền văn hóa Việt Nho sau này. Tới di chỉ
Phùng Nguyên thì nét trên thành hoa văn chỉ
đạo, rồi đến Đông Sơn thì càng trở nên nổi
bật với vô số vòng song song chạy quanh đồ
vật và nhất là cả quanh tượng người nữa,
cũng như với các cặp đôi tràn ngập cả vật
lẫn người.
Thế là đã đủ lý do khiến nét SONG TRÙNG trở
thành một HẰNG TÍNH của dân tộc VIỆT được
móc nối với một HẰNG TÍNH khác là nét LƯỠNG
HỢP của biết bao TRUYỀN THUYẾT và HUYỀN
THOẠI thường đi cặp đôi như giữa:
_ ĐẤT với NƯỚC, CHIM với RỒNG, CÁI với
ĐỰC,ông ĐÙNG với bà ĐÀ…
Đó là nét vừa xuất hiện rất nhiều vừa thâm
sâu đến độ trở thành VẬT BIỂU của Nước, của
Người dưới danh hiệu TIÊN RỒNG.
Điểm đặc sắc ở đây là không có một nước nào
khác trên thế giới có Vật Biểu đi đôi như
thế, mà tất cả chỉ là một: Ấn Độ là con Voi,
Pháp là con Gà, Đức là Chim Ưng, Anh là Sư
Tử, Tàu trước Hổ sau Rồng……
Ở nền văn hóa LƯỠNG HÀ mà Perse là đại diện
cuối cùng, thì không thấy Lưỡng Hợp, mà chỉ
có ĐỘC TRỤ hay CẶP ĐÔI ĐỐI CHỌI: Sáng chọi
Tối, Thần Lành Thần Dữ tranh đấu liên tục.
Nét MÔT CHIỀU là nguyên nhân của sự sụp đổ
của Lưỡng Hà.
Sang đến HY LẠP cổ đại thì nét Một Chiều
được công thức thành NHỊ KHÁNG THUYẾT
(Dualism) theo nghĩa CHỌN MỘT BỎ MỘT, chọn
Nước bỏ Lửa, chọn Hữu bỏ Vô, chọn Tâm bỏ Vật
hay ngược lại….
Bên Ấn Độ cũng đấu tranh theo kiểu đó như
hiện lên rõ trong việc chim Đại Bàng
(Garuda) ăn thịt loài RẮN (Naggi), chứ không
có chuyện Chim Trời giao thoa với Thủy Tộc
như ở Lạc Việt.
Nét SONG TRÙNG LƯỠNG HỢP, một HẰNG TÍNH của
Việt Tộc đã được Khoa học ngày nay kiện
chứng ban đầu là với hai giây Nóng Lạnh của
Điện lực, rồi hai cực Tiêu Tích của Từ Khí,
sau là Proton-Electron trong Nguyên tử. Và
cuối cùng bắc cầu qua Triết là thuyết Tương
Đối của Einstein mà tinh hoa là Không-Thời-
Nhất-Phiến, tức Đúc Không gian và Thời gian
thành Một (Space-Time-Continuum) (6)
Con dân VIỆT nhờ được tô tạo lâu ngày trong
tinh thần KINH DỊCH với thuyết TIÊN-RỒNG,
ÂM-DƯƠNG nên đem đức tính THÍCH NGHI lên
hàng đầu để đặt thành một KINH, do đó có
được sự MỀM DẺO, UYỂN CHUYỂN giúp THÂU HÓA
được các nền Văn Hóa Tôn Giáo khác nhau như
Nho-Lão-Phật, rồi Thiên Chúa Giáo…Và các đức
tính THÍCH NGHI, MỀM DẺO, UYỂN CHUYỂN, THÂU
HÓA …đã trở thành những HẰNG TÍNH của Văn
Hóa VIỆT.
II) NHÂN CHỦ TÍNH
Ngoài đức tính Thích Nghi, với thuyết TAM
TÀI (số 3), Dịch Lý còn đặt con NGƯỜI như
một TÀI ngang hàng với TRỜI cùng ĐẤT, nên
cũng gọi là “Tham Thông” tức cả ba TÀI đều
tham dự: nếu TRỜI làm, ĐẤT làm thì NGƯỜI
cũng làm nên gọi là NHÂN CHỦ, được biểu thị
qua những câu như :
“Có Trời thì cũng có Ta” hay
“Xưa nay Nhân định thắng Thiên cũng nhiều”.
Nhờ tinh thần NHÂN CHỦ nêu trên, ở thời xa
xưa, nếu các dân tộc khác chỉ có THẦN THOẠI
ở trong đó Thần làm Chủ, thì Việt Tộc lại có
NHÂN THOẠI ở đây con NGƯỜI làm CHỦ, như
chuyện Ông BÀN CỔ biểu hiểu con người ĐẠI
NGÃ TÂM LINH với việc Ông giữa vai trò CHỦ
ĐỘNG bằng cách tham gia vào việc KIẾN TẠO ra
VŨ TRỤ. Không phải kiến tạo ra vũ trụ từ
KHÔNG đến CÓ, vì trước Ông Bàn Cổ đã có cảnh
Thái Hoang rồi. Nhưng theo nghĩa NHÂN CHỦ
trong VĂN HÓA, tức con người nắm phần XẾP
ĐẶT vũ trụ thế nào để con NGƯỜI LÀM CHỦ
NHỮNG Ý NGHĨA TRONG VŨ TRỤ.
Về NGUỒN GỐC số 3 trong TAM TÀI, thì chúng
ta thấy bằng chứng tràn ngập trong Khảo Cổ
VIỆT. Trước hết là con “thiềm thừ” cóc trời
chỉ có 3 chân. Rồi ta lại gặp chim 3 chân,
cả chim 3 mình nữa. Tới những cái chạc tìm
được trong các mộ ở Phùng Nguyên bao giờ
cũng thấy đi bộ 3. Người ta suy đoán rằng
tục lệ vái 3 cái, đốt 3 nén hương, bàn thờ
có 3 bậc, đánh 3 hồi trống…v…v… đã có mãi từ
thời đó.(7)
Các chứng cớ nêu trên trong các địa hạt khác
nhau như trong Triết lý qua thuyết TAM TÀI
với vai trò của tài NHÂN như gạch nối giữa
hai tài THIÊN và ĐỊA, như trong ca dao, tục
ngữ vơí vai trò CHỦ ĐỘNG của con người, như
trong sự kiện Việt Tộc là dân tộc duy nhất
có NHÂN THOẠI nơi đây con NGƯỜI làm CHỦ,
trong Khảo cổ VIỆT với “lu bù” số 3, tất cả
điều trên đều xác nhận rằng NHÂN CHỦ TÍNH
được biểu bằng số 3 là một HẰNG TÍNH của
Việt Tộc .
Về phương diện XÃ HỘI, truyền thống KÍNH
TRỌNG TUỔI GIÀ cũng là hậu quả của số 3.
Muốn hiểu liên hệ nêu trên, phải trở về câu
đố mà chúng ta thường nghe hồi nhỏ: “Sớm đi
4 chân, Trưa đi 2 chân, Chiều đi 3 chân, Đêm
đi 8 chân. Đố biết là gì?”. Trong câu đố
trên, số 3 chỉ lúc TUỔI GIÀ phải chống gậy
làm thành chân thứ 3, nên các cụ xưa thường
được gọi là LÃO TRƯỢNG (“Trượng” là “gậy”).
Nhưng theo TÂM LINH SỬ QUAN, thì GẬY trở nên
tiêu biểu cho MINH TRIẾT hay nói nôm na là
KINH NGHIỆM SỐNG mà nơi quy tụ là người sống
trước quen gọi là TIỀN NHÂN hay TIÊN NHƠN
hoặc TIÊN. Đó cũng là nền tảng cho truyền
thuyết GẬY THẦN của HÙNG VƯƠNG. Ngoài ra,
các TIÊN cũng thường xuất hiện với cây GẬY
trong tay là nằm trong bầu khí đề cao KINH
NGHIỆM SỐNG, KÍNH TUỔI GIÀ . (8)
Như vậy số 3 được móc nối bằng hình ảnh cây
GẬY biểu hiệu cho MINH TRIẾT và KINH NGHIỆM
SỐNG, với truyền thống KÍNH TRỌNG TUỔI GIÀ
cũng đã trở thành một HẰNG TÍNH của văn hóa
VIỆT.
III) THÁI HÒA
Tuy đề cao NHÂN CHỦ TÍNH nhưng Triết VIỆT
không có tính chất DUY NHÂN
(Anthropocentrism) như một trường phái Triết
học Tây Phương thời xưa chủ trương. Lý do là
Văn Hóa VIỆT không dừng ở con người Cá Nhân,
Tiểu Ngã, mà vươn lên tới con người ĐẠI NGÃ
TÂM LINH nên có khả năng “Hòa Trời, Hòa Đất,
Hòa Người”, do đó đạt được Đạo THÁI HÒA.
Môt khi nói đến chữ HÒA thì phải hiểu là có
HAI BÊN.Vì có HAI mới có thể HÒA HỢP ĐỐI
ĐÁP. Khi nói HÒA đạt đến độ cùng tột, tức
THÁI HÒA, thì phải có khả năng đi vào hết
mọi tác động, mọi sự vật, nên quen biểu thị
bằng hai chữ TRỜI ĐẤT dùng để chỉ HAI ĐỐI
CỰC của tất cả mọi hiện tượng từ lớn như
Trời-Đất, Sáng-Tối, Cứng-Mềm đến nhỏ như
Đực-Cái, Nam-Nữ, rồi đến mọi sự việc ở Đời
phải giàn hòa được hai đối cực.
Trong truyện HÙNG VƯƠNG, hai đối cực xuất
hiện trong hình thái TIÊN-RỒNG, NON-NƯỚC
hoặc NÚI-SÔNG. TIÊN ở trên TRỜI biểu thị
bằng NON, RỒNG ở dưới NƯỚC biểu thị cho ĐẤT.
Huyền Sử VIỆT có nói đến chuyện ÂU CƠ (hay
TIÊN) và LẠC LONG QUÂN (hay RỒNG) gặp nhau ở
Cánh Đồng TƯƠNG là nói đến hai lực ngược
chiều ÂM-DƯƠNG nằm ở trong thế HÒA HỢP LINH
PHỐI đó để sinh ra được HÙNG VƯƠNG, tức con
Người đúng cỡ NGƯỜI, TỰ CƯỜNG TỰ LỰC.
Bản chất THÁI HÒA, một HẰNG TÍNH của Văn Hóa
VIỆT còn được thể hiện qua quan niệm sống DĨ
HÒA VI QUÝ, “qua nếp sống trọng tình nghĩa
nơi chốn làng quê, nơi sự tương nhượng trong
quan hệ gia đình, thân tộc, xóm làng. Câu
tục ngữ “ HÒA CẢ LÀNG” mới thấm đượm cai
tình quê, người quê hòa ái biết bao! Bản
Chất Thái Hòa của dân tộc dấu chỉ rõ nơi sự
kính ngưỡng các niềm tin tôn giáo thiêng
liêng, để Hòa Hữu Hạn với Vô Biên, để Hợp
Tương Đối cùng Tuyệt Đối. Đó cũng là lý do
tinh thần “ Tam giáo Đồng Nguyên” trổi vượt
thời Lý Trần thanh bình. Cũng như Văn Hiến
Nguyễn Trãi đã trải lòng viết nên Hồn Dân
Tộc sau buổi “ Bình Ngô” “ Lấy Đại Nghĩa
thắng hung tàn, mang Chí Nhân thay cường
bạo”(9)
IV) TÂM LINH
Ngoài các HẰNG TÍNH vừa nêu trên như: Song
Trùng Lưỡng Cực, Nhân Chủ, Thái Hòa, một nét
ĐẶC TRƯNG khác của Văn Hóa VIỆT là tính chất
TÂM LINH được biểu hiệu bằng số 5, mà ta có
thể tìm thấy chẳng hạn trong cách đặt BÀI VỊ
trong tục Thờ Cúng Tổ Tiên.
A) TRIẾT LÝ GIA TIÊN
Thật ra, trong các xã hội xa xưa, đâu đâu
cũng có việc thờ cúng tổ tiên, chứ không
riêng gì bên Viễn Đông hay Việt Nam. Thế
nhưng nếu chúng ta chịu quan sát học hỏi
nghiêm túc thì sẽ thấy một sự khác biệt quan
trọng, quan trọng đến độ khiến cho LỄ GIA
TIÊN trở thành một HẰNG TÍNH của dân tộc
VIỆT để được duy trì cho đến ngày nay và do
đó duy trì luôn nền văn minh Việt Nam vàViễn
Đông suốt trên 50 thế kỷ, trong khi nền văn
minh cổ đại La-Hy cũng như rất nhiều nền văn
hóa khác đã sụp đổ, kéo lôi theo cả sự thờ
cúng tổ tiên vào nấm mồ đô thị cổ xưa (cité
antique).
Sự tồn tại hay sụp đổ của một nền văn minh
là chuyện lớn lao. Nó không hệ tại nơi sự
thờ cúng tổ tiên, nhưng ở chỗ THỜ CÁCH NÀO?
Và chính ở điểm này mà có sự khác biệt căn
bản giữa một bên Việt Nam vàViễn Đông và bên
kia các nền văn minh khác. Điều khác căn bản
là bên Viễn Đông có một Bài Vị gọi là VĂN TỔ
để giữa 4 Bài Vị của Cao, Tằng, Tổ, Nỉ, xếp
theo khung NGŨ HÀNH, nghĩa là đặt ở 4
phương, còn Trung Cung dành cho VĂN TỔ.
Chính sự xếp đặt này nói lên một cuộc Cách
Mạng vĩ đại vì đã biến đổi Thờ Cúng Ông Bà
theo kiểu Ma Thuật (như tin ông bà về ăn của
dâng) để vươn lên đợt TÂM LINH gọi là LỄ GIA
TIÊN mà ý nghĩa cao nhất là THỜ NHÂN TÍNH,
và chỉ ở đợt này mới có lối xếp Bài Vị theo
cơ cấu NGŨ HÀNH.
Triết lý NGŨ HÀNH hệ tại mỗi HÀNH được móc
nối với Trung Cung Hành THỔ mới có đủ LINH
ỨNG: Thủy, Hỏa, Mộc, Kim đều phải đi qua
Hành THỔ mơí trở thành LINH NGHIỆM.
Trong việc Thờ Cúng Tổ Tiên cũng thế, không
được chỉ biết có Cha, Ông, Tằng, Tổ của
mình, nhưng phải vươn tới TỔ TRÊN HẾT CÁC
TỔ, cực Tinh Ròng gọi là VĂN TỔ (The Perfect
Ancestor) rất Linh Thiêng nên có tính cách
PHỔ BIẾN như TRỜI cùng ĐẤT.(10)
B) CÁCH MẠNG HIỆN THỰC
Việc Thờ Cúng Tổ Tiên có ảnh hưởng như thế
nào trên phương diện XÃ HỘI và CHÍNH TRỊ?
Xưa kia bên La-Hy cũng như bên Trung Hoa cổ
đại chỉ hàng Quý Tộc mới có quyền Thờ Cúng
Tổ tiên, (vì theo họ chỉ có tổ tiên họ mới
đáng được thờ, bởi thuộc máu Thần Linh).
Điều này rất quan trọng, vì có quyền cúng tế
tổ tiên, tức là cũng có quyền công dân với
các quyền lợi theo sau như được hưởng đất,
mua sắm, đi học, làm quan…vì thế phái quyền
quý không chịu mở rộng việc tế Gia Tiên. Số
người được cúng chỉ suýt soát hai mươi phần
trăm. Tuy chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ, nhưng nhờ
vào sự ăn học, sự khôn khéo của họ cũng như
trình độ vô học của đại chúng mà họ nắm được
điều khiển trong nước.Nhưng đến một lúc nào
đó khi tâm thức con người đã được khai mở đủ
thì dần dần nhận chân ra sức mạnh của mình ,
cũng như những đặc ân của phái quyền quý,và
rõ ràng những đặc ân này chỉ dựa trên những
lý lẽ huyền hoặc. Đã thế, giới cai trị lại
bị yếu dần do sự phân tán vì ý hệ giằng co
giữa Hữu với Vô, nên sự nhất trí yếu đi và
dần dần ảnh hưởng lan sang phạm vi xã hội,
để rồi cuối cùng gây nên sự sụp đổ của xã
hội như Ai cập, Babylon, Assyrie,
Mesopotamie, Khmer…. Theo Gs Creel cả thảy
hơn 20 nền văn minh đã sụp đổ như thế, còn
lại nền văn minh Viễn Đông là duy nhất tồn
tại.
Vì không có cách mạng (révolution) nên bên
Việt Nam và Viễn Đông, lễ GIA TIÊN vẫn còn,
nhưng đã biến hóa (évolution), nghĩa là thay
đổi nền tảng: thay vì đặt ở sự tin có linh
hồn tồn tại vẫn gắn liền với huyết thống,
thì đặt sang nền mới là VĂN TỔ, tức TỔ của
Nhân Loại, của mọi người. Do đó, hễ ai là
NGƯỜI thì đương nhiên có đủ quyền đứng ra TẾ
GIA TIÊN. Vì nhờ quan niệm rộng rãi đó nên
ai cũng như ai, đều có quyền làm người, bất
cứ gia đình nào cũng có quyền lập bàn thờ tổ
tiên. Lễ Gia Tiên từ đấy hết còn là đặc ân
dành riêng cho Quý tộc như xưa,mà mở rộng
cho khắp mọi tầng lớp vơí các quyền lợi đi
kèm theo như quyền được đặt tên tự, và do đó
quyền được hưởng công điền, quyền được đi
học, đi thi làm quan.(11)
Tóm lại, nhờ thực hiện được cuộc CÁCH MẠNG
TÂM LINH đích thực mà Văn Hóa VIỆT đã nâng
tục thờ cúng Ông Bà có tính chất “mê tín dị
đoan” (cái PHỔ QUÁT vì ở thời xa xưa nơi nào
cũng có) thành LỄ GIA TIÊN là Đạo Thờ NHÂN
TÍNH (là nét ĐẶC THÙ của VIỆT TÍNH).
V) THỜ NHÂN TÍNH
CON NGƯỜI được tôn trọng, trân quý trong
đồng văn của nền Văn Hóa VIỆT, đến độ được
PHỤNG THỜ, là điều mà các nền Văn Hóa khác
chỉ dành cho THẦN LINH. Và chính quan niệm
trên làm nên nét ĐẶC TRƯNG của Văn Hóa VIỆT
qua Tục THỜ CÚNG TỔ TIÊN.
Tục Thờ Cúng TỔ TIÊN còn được nới rộng ra
các tục khác như tục Thờ các vị ANH HÙNG DÂN
TỘC, Thờ QUỐC TỔ, cũng là những nét ĐẶC
TRƯNG khác của Văn Hóa VIỆT , vì không có
nơi nào khác có những tập tục kể trên.
Quốc Tổ VIỆT có danh hiệu là HÙNG VƯƠNG hay
là Vua HÙNG, trong khi vào cùng thời ở các
nơi khác, người ta có Vua THẦN ( God King).
Ý niệm “Vua Thần” phát xuất từ miền Lưỡng Hà
ở giai đoạn của các nền văn minh Assyria,
Perse…Người Ai Cập xưa chẳng hạn tin chỉ một
mình VUA có LINH HỒN nên có thể thay thế cho
THẦN để mà nắm cả Quyền ĐỜI lẫn Quyền ĐẠO.
Tuy nhiên, đó chỉ là trường hợp thái thậm,
còn thông thường hơn như ở bên Tây Phương
thời Trung Cổ, nhà VUA chỉ còn đại diện cho
Quyền ĐỜI, còn giới TƯ TẾ thì nắm giữ Quyền
ĐẠO. VUA dựa trên QUÂN ĐỘI, còn TƯ TẾ thì
dựa trên THẦN QUYỀN, cả hai giồn lại một thì
thành nhà CHUYÊN CHẾ có đủ quyền lực để NÔ
LỆ HÓA người DÂN cả THÂN lẫn TÂM.
Tuy nhiên, bên cạnh QUYỀN bính võ LỰC của
Vua THẦN, lại có một loại UY QUYỀN khác dựa
trên TÀI ĐỨC của các vị ANH HÙNG như Vua
HÙNG của đất VIỆT. Đây là những VỊ có khả
năng làm những việc VĨ ĐẠI bằng một thứ
Quyền Uy SIÊU VƯỢT rất MẦU NHIỆM , tương
đương với Thần Quyền nhưng không đặt nơi
Thần Linh mà nơi chính CON NGƯỜI.
Nếu Vua THẦN dùng QUYỀN LỰC để THỐNG TRỊ và
Nô Lệ hóa Con Người trong các nền văn minh
DU MỤC như Tây Phương và Ấn Độ,thì Vua HÙNG
trái lại dựa trên TÀI ĐỨC để CAI TRỊ nhằm
điều hợp công tác chung và nhất là xuất hiện
như GƯƠNG MẪU cho mọi con dân trong nền văn
minh NÔNG NGHIỆP của Lạc Việt.
Để đối chọi với tính chất VÕ BIỀN của Vua
THẦN, Vua HÙNG có thể được xem là các Vị ANH
HÙNG VĂN HÓA của dân tộc VIỆT, vì CÔNG
NGHIỆP của các Ngài toàn là những việc thuộc
Văn Hóa TÂM LINH Cao Cả, mà nói một cách
bóng bảy là của Con NGƯỜI Đại Ngã nối được
TRỜI cùng ĐẤT như trong truyện Bánh Giầy
TRÒN, Bánh Chưng VUÔNG, hay truyện Thánh
Dóng, truyện Trầu Cau….(12)
Do đó, nói theo ngôn ngữ NHO, HÙNG VƯƠNG
xứng đáng là QUÝ TỬ của LONG PHỤ TIÊN MẪU,
còn nói theo VIỆT, Vua HÙNG là CON CƯNG của
MẸ TIÊN CHA RỒNG!
Tóm lại, từ Hằng Tính THỜ CÚNG TỔ TIÊN, Văn
Hóa VIỆT nới rộng ra các Hằng Tính khác như
THỜ ANH HÙNG DÂN TỘC, THỜ QUỐC TỔ.
Nhưng như đã nói ở trên, nhờ áp dụng Triết
Lý NGŨ HÀNH vào việc sắp xếp BÀI VỊ trong
việc Thờ Cúng TỔ TIÊN, nên Văn Hóa VIỆT đã
thực hiện được cuộc Cách Mạng TÂM LINH nhằm
biến đổi tục thờ cúng Ông Bà kiểu Ma Thuật
thành LỄ GIA TIÊN, tức đạo THỜ NHÂN TÍNH qua
sự hiện diện của Bài Vị thứ Năm nằm ở Trung
Cung hành THỔ gọi là VĂN TỔ. Do đó, Văn
HóaVIỆT không dừng lại ở Cha, Ông. Tằng, Tổ
của mình mà còn vươn tới VĂN TỔ tức TỔ Chung
của cả Nhân Loại.
Hệ quả là từ Hằng Tính THỜ CÚNG TỔ TIÊN, Văn
Hóa VIỆT không chỉ nới rộng ra các Hằng Tính
khác như THỜ ANH HÙNG DÂN TỘC, THỜ QUỐC TỔ,
mà còn nhắm đến Hằng Tính Tối Hậu qua việc
THỜ VĂN TỔ, tức TỔ của Văn Hóa, TỔ của Nhân
Loại, TỔ TRÊN HẾT CÁC TỔ.
Lê Việt Thường
CHÚ THÍCH
(1)& (3)Lê Việt Thường, “Việt Học trong Xu
Hướng Toàn Cầu Hóa”, Tư Tưởng Việt,2003,
tr.10 - 13
(2) Kim Định,”Phong Thái An Vi”, An Việt
Houston, 2000, tr.86-90
(4) Cung Đình Thanh,”Góp Ý Xây Dựng Căn Cước
Tính VN”, Tư Tưởng 27-28, th.9/2004, tr.2 –
10
(5) Đông Lan,“Huyền Sử Hồng Bàng với Tâm
Thức Lưỡng Hợp”, Chương Trình Phát Thanh
“Tìm Hiểu Triết Việt”, tại Houston,Little
Saigon Radio, 09-2006.
(6) Kim Định, “Kinh Hùng Khải Triết”, Thanh
Niên Quốc Gia, USA, tr.17 - 21
(7) Idem, tr.39 – 48
(8) Idem, tr. 49– 50
(9) Đông Lan, Tìm Hiểu Triết Việt, Tập I.
(10) Kim Định, “Hồn Nước Với Lễ Gia Tiên”
Nam Cung,HK, 1979, tr.27 – 31
(11) Idem, tr. 41 - 43
(12) Kim Định, “Hùng Việt Sử Ca”, Thằng Mõ,
1984, tr.188 – 198.