|
Quân
Nguyên rút về Tàu chia thành nhiều hướng khác nhau.
Ngày 3 tháng 3 năm Mậu Tý (1288), Hữu Thừa Trình
Bằng Phi, Thiên Tỉnh Đạt Mộc thống lĩnh kỵ binh đi
rước các cánh quân di chuyển bằng đường thủy, có
lẽ đi đón đoàn thuyền của Trương Văn Hổ hay chăng,
một hy vọng chót trước khi rút về nước? Tuy nhiên
khi qua chợ Đông-Hồ thì bị cản trở bởi dòng sông
phải lui trở về đường cũ thì cầu cống đã bị quân
nhà Trần bám theo sau phá hủy. Túng thế, trước mặt
thì bị quân ta chận đường, sau lưng là chướng ngại
thiên nhiên, đoàn quân thiện chiến của chúng đã bị
dồn vào khoảng giữa. Tiếc rằng vì không đủ lực lượng
để bao vây và tiêu diệt kẻ thù, nếu không cánh
quân này khó lọt được vòng vây của ta.
Chúng đã
gian manh dọ hỏi những người dân của ta bị bắt làm
tù binh về lối thoát thân, cho nên vào nửa đêm hôm
đó đám quân này đã lẻn đột phá vòng vây chạy trốn
theo con đường khác phối hợp với một cánh quân
Nguyên đang rút lui để cùng nhau ra khỏi ải
Nội-Bàng. Tuy bị bất ngờ bởi sự thay đổi lộ trình
của chúng, quân đội nhà Trần đuổi theo đánh rất
sát vào cánh quân đi sau của chúng. Tướng Nguyên
là Vạn-Hộ Đáp-Thứ-Xích và Lưu-Thế-Anh phải dẫn
quân lính quay trở lại phía sau đối phó với quân
ta. Không may các vị tướng nhà Trần chỉ huy đoàn
quân tập kích vào quân thù là Tướng quân Phạm-Trù
và Nguyễn-Kỵ đã bị chúng bắt được và đem giết đi.
Ngày 7
tháng 3 năm 1288, cánh quân Mông-cổ rút bằng đường
biển đi tới Trúc-Đông, tại đây quân nhà Trần đã
chận đánh chúng, nhưng không thành công. Tướng
Nguyên là Lư-Khuê chỉ huy cánh quân này đánh bật
sự tấn công của quân ta và tịch thu được 20 chiến
thuyền.
Ngày 8
tháng 3 năm 1288, Ô Mã Nhi chỉ huy quân lính không
rút về bằng đường biển mà chúng xử dụng con sông
Bạch Đằng để di chuyển, chúng lạc quan nghĩ rằng,
đường biển đã bị chu-sư (hải quân) nhà Trần vây chặt
còn đường sông thì ta không phòng hờ nếu chúng rút
lui như thế và một nguyên do khác đó là, với con
sông Bạch Đằng này chúng ta thể rút lui được là vì
nó nối liền với nội địa Tàu bằng thủy lộ.
Theo
kế hoạch đã bàn trước, quân dân ta dưới sự đốc
thúc của Hưng Ðạo Vương đã chuẩn bị một trận địa
mai phục kỹ càng trên sông Bạch Ðằng, là nơi đoàn
thuyền của giặc Nguyên sẽ băng qua trên đường rút
chạy. Các loại gỗ lim, gỗ tàu đã được đốn ngã trên
rừng kéo về bờ sông và được đẽo nhọn cắm xuống
lòng sông (xem họa đồ hình thức bao vây quân giặc
trên sông Bạch Ðằng) ở các cửa dẫn ra biển như
sông Rút, sông Chanh, sông Kênh làm thành những
bãi chông ngầm lớn, kín đáo dưới mặt nước.
Ghềnh
Cốc là một dải đá ngầm nằm bắt ngang qua sông Bạch
Ðằng nhưng phía dưới sông Chanh, đầu sông Kênh, có
thể sử dụng làm nơi mai phục quân lính phối hợp
với bãi chông ngầm nhằm ngăn chận thuyền địch khi
nước rút xuống thấp. Chu-sư (thủy quân) của ta kín
đáo mai phục phía sau Ghềnh Cốc, Ðồng Cốc, Phong
Cốc, sông Khoái, sông Thái, sông Gia Ðước, Ðiền
Công; còn bộ binh bố trí ở Yên Hưng, dọc theo bờ
bên trái sông Bạch Ðằng, Tràng Kênh ở bờ bên phải
sông Bạch Ðằng, núi Ðá Vôi v.v…ngoại trừ sông Ðá
Bạc là để trống cho quân Ô Mã Nhi kéo vào. Ðại
quân của hai vua đóng quân ở Hiệp Môn (Kinh Môn,
Hải Dương) trong tư thế sẳn sàng lâm trận cho
chiến trường quyết liệt sắp xảy ra.
Đại
Cương Lịch Sử Việt Nam tập I ghi rất chi tiết sông
về sông Bạch Đằng: «Sông Bạch Đằng hiểm yếu mà
hùng vĩ chảy giữa hai huyện Yên Hưng (Quảng Ninh)
và Thủy Nguyên (Hải Phòng), cách vịnh Hạ Long, cửa
Lục khoảng 40 km, cách Vạn Kiếp nơi đóng quân của
Thoát Hoan hơn 30 km, theo ngược dòng sông Kinh
Thầy.
Nước
Bạch Đằng theo thủy triều lên xuống, khi triều lên
cao, mặt sông ở vùng Tràng Kênh trải rộng hơn 1200
mét. Dòng sông đã rộng lại sâu. Khi triều nước
xuống rặc, nơi sâu nhất đến 16 mét, trung bình
giữa dòng cũng sâu từ 8 đến 11 mét. Theo sông Đá
Bạc chảy xuống đến đầu bắc dãy núi Tràng Kênh,
sông Bạch Đằng phình to hẳn ra. Đó là nơi tập
trung dòng nước của các sông Khoai, sông Xinh bên
tả ngạn và sông Gia Đước, sông Thải, sông Giá bên
hữu ngạn đổ về.
Sông
Chanh, sông Kênh (cửa sông này ngày nay đã bị lấp)
và sông Rút (còn gọi là sông Nam) là chi lưu bên
tả ngạn Bạch Đằng chia nước chảy ra vịnh Hạ Long.
Một khúc sông không dài quá 5 km mà có năm dòng nước
đổ về và có ba nhánh sông phụ đưa nước ra biển. Đó
là hình thức của thượng lưu Bạch Đằng.
Ở lòng
sông Bạch Đằng từ bên hữu ngạn (thuộc xã Phục Lễ,
Thủy Nguyên) có một dải còng đá ngầm chạy qua vào
quãng giữa sông Chanh và sông Rút, nhân dân địa phương
gọi đó là Ghềnh Cốc. Ghềnh Cốc có năm cồn đá chắn
ngang ba phần tư sông Bạch Đằng. Khi triều xuống
thấp nhất, nơi cạn là 0,40 mét, nơi sâu là 3,70
mét, thuyền nhẹ đi trên sông có thể thấy được cồn
đá. Ghềnh Cốc là dải đá gốc của chân núi Tràng
Kênh kéo dài ra. Khi chuẩn bị chiến trường, Ghềnh
Cốc đã khiến Trần Quốc Tuấn chú ý. Ông đã lợi dụng
địa hình thiên nhiên này sử dụng nó như là chiến
lũy làm chỗ dựa cho thuyền ta lao nhanh ra ngay
sông chặn địch.
Đặc điểm
địa hình nổi bật của vùng thượng lưu Bạch Đằng là
sông núi tiếp liệu nhau. Từng ngọn núi nhấp nhô ở
vùng núi đá Tràng Kênh ở phía đông huyện Thủy
Nguyên kéo nhau chạy sát tới bờ sông. Ở đây có
nhiều thung lũng nhỏ nằm gọn giữa những ngọn núi
đá vôi liền với lạch nước ra tận bờ sông mà dân địa
phương gọi là áng núi như Áng Hồng, Áng Lác, Áng
Chậu, Áng Táu …
Các
sông Khoai, sông Xinh bên tả ngạn và sông Thái,
sông Giá, sông Gia Đước bên hữu ngạn Bạch Đằng chạy
theo các áng, len qua các dãy núi, là đường giao
thông thuận lợi cho quân thủy. Những ngọn núi chắn
tầm mắt địch. Áng núi và lạch sông là nơi có thể
tập trung quân thủy bộ với khối lượng lớn, giấu
quân kín đáo, xuất kích bí mật và dễ dàng, từng đội
thuyền ra vào nhẹ nhàng, nhanh chóng. Có thể nói đây
là trận địa mai phục lý tưởng của quân ta. Thủy
quân địch rút lui theo đường Bạch Đằng buộc phải
qua đây. Dù có đề phòng cẩn thận, chuẩn bị sẳng
sàng, binh thuyền của chúng cũng tự nhiên phải dàn
hàng qua khúc sông hiểm yếu này. Đối với ta, thủy
binh và bộ binh mai phục từ các nhánh sông đổ ra
phối hợp chiến đấu dễ dàng, thuận lợi.
Để bảo
đảm cho thế trận bao vây địch thật hoàn chỉnh,
ngoài việc dựa vào địa thế thiên nhiên hiểm yếu và
lợi dụng Ghềnh Cốc như một chướng ngại thiên nhiên,
Trần Quốc Tuấn còn xây dựng ở các cửa sông những
trận địa cọc vững vàng, quy mô lớn. Đại Việt Sử Ký
Toàn Thư chép: trước đây Vương đã đóng cọc ở sông
Bạch Đằng phủ cỏ lên trên.
Lòng
sông Bạch Đằng rất rộng và sâu, khó có thể dựng được
những hàng cọc chắn ngang sông. Ở Ghềnh Cốc cạn
hơn nhiều nhưng là đá gốc kéo dài từ Tràng Kênh
nên cũng không thế nào cắm cọc được. Mặt khác nước
triều lên xuống mạnh, độ chênh lệch khá lớn. Lưu
tốc nước là 0,26 mét. Những số liệu trên đây cũng
cho ta thấy một ý niệm về sông nước Bạch Đằng đời
Trần.
Ba cửa
sông Chanh, sông Kênh, sông Rút cạnh nhau dẫn
thuyền từ Bạch Đằng xuôi biển. Những tài liệu gần
đây đã xác định trận địa cọc của Trần Quốc Tuấn được
cắm ngang qua các cửa sông này. Đó là những bãi
cửa sông Chanh cửa sông Kênh.
Bãi
cọc chính nằm ở cửa sông Chanh sát liền với sông
Bạch Đằng ngày nay ta quen gọi là bãi cọc Yên
Giang. Hàng cọc đóng ngang qua sông, theo hướng
nam bắc. Hầu hết các cọc đều bằng kim hoặc gỗ cứng
to và vững chắc có đường kính từ 20 cm đến 30 cm
và dài từ 1,50 cm trở lên, phổ biến là 2 mét,
những cọc trung bình từ 0,9 mét đến 1,2 mét. Phần
cọc phía dưới được đẽo vát nhọn với độ dài 0,80
mét đến 1 mét. Đa số được cắm thẳng đứng, đóng sâu
xuống đất đáy từ 1 mét đến 1,50 mét, giữa các hàng
cọc có nhiều khúc gỗ nằm ngang, có lẽ là khúc gỗ
cài để chận thuyền giặc».
Ngày 8
tháng 4 năm 1288, một đội thuyền của địch đi trước
dò đường tiến theo sông Giá. Đến Trúc Động (Thụy
Nguyên, Hải Phòng), đội thuyền này bị quân ta chận
đánh phải rút lui. Nhiệm vụ của trận này là bịt đường
sông Giá để bảo đảm bí mật cho trận địa mai phục
và buộc toàn bộ đoàn thuyền của quân Mông-cổ phải
hành quân theo sông Đá Bạc vào sông Bạch Đằng, nghĩa
là phải dẫn quân vào trận địa do ta chọn sẵn. Gần
đây phát giác được bãi cọc ở gần cửa sông Chanh và
một số cọc bên tả ngạn sông Bạch Đằng phía dưới
sông Chanh. Một số nhà nghiên cứu cho đó là di
tích của bãi cọc trong trận Bạch Đằng nằm 1288.
Niên đại của bãi cọc đó đang được nghiên cứu để
xác minh thêm.
Theo
Toàn Thư «Sông Bạch Đằng từ sông Lục Đầu, tỉnh Bắc
Ninh chia dòng chảy vào Hải Dương. Một nghành theo
sông Mỹ, một nghành theo sông Cốc…». Địa Lý Chí
của Nguyễn Trãi chép: «Sông Bạch Đằng biệt hiệu là
sông Vân Cừ, rộng hơn hai dậm. Muôn sông đứng sắp,
các nước giao dòng, sóng nổi lên trời! Cây tre rợp
bãi! Thật là nơi hiểm yếu của đường biển» (bản
dịch của Nhượng Tống).
Theo
nghiên cứu địa lý thì sông Chanh, sông Kênh, sông
Rút xưa kia là lạch thoát của nước sông Bạch Đằng.
Hiện nay vùng này phù sa đang bồi thêm. Vì thế nên
sông Kênh chảy qua vùng Đồng Cốc (thuộc Yên Hưng)
đang bị lấp cạn, cửa sông hiện nay chỉ còn vết
trũng sâu mà dân địa phương gọi là lũng Mắt Rồng
sát bờ đê sông Bạch Đằng (Đại Cương Lịch Sử Việt
Nam tập I trang 239).
Khi Ô
Mã Nhi dẫn đoàn thuyền tiến vào sông Bạch Đằng
nhân lúc nước lớn, thủy quân nhà Trần tràn ra
khiêu chiến, sau đó giả thua chạy vào sâu bên
trong. Hắn trúng kế khích tướng nên thúc quân vận
tải lương thực ra nghinh chiến, các tướng
Phàn-Tham-Chính, Hoạch Phong cùng ra tiếp ứng. Khi
thuyền giặc đã vào sâu bên trong sông Bạch Đằng,
nghĩa là thuyền của chúng đang đi trên những cọc
gỗ mà quân ta cắm sẳn dưới lòng sông. Tướng quân
Nguyễn Khoái (người tỉnh Đông, lập được công lớn
trong những trận phá quân Nguyên sau này được
phong tưóc Hầu và được ăn lộc một làng Khoái Lộ, ở
phủ Khoái Châu bây giờ) dẫn các quân lính Thánh
Dực ra khiêu chiến và nhử giặc Mông-cổ tiến sâu
vào khúc sông đã đóng cọc, trong thời gian đó quân
ta đợi cho thủy triều xuống mới trở đầu thuyền lại
và tấn công thẳng vào đội hình của quân giặc.
Thủy
quân Đại Việt từ Hải Đông-Vân Trà từ các phía Điền
Công, Gia Đước, sông Thái, sông Giá nhanh chóng tiến
ra sông Bạch Đằng. Với hàng trăm chiến thuyền cùng
quân lính các lộ khác căng tay chèo thật nhanh ra
sông và dựa vào Ghềnh Cốc lập thành một dãy thuyền
chặn đầu thuyền địch trong thế chấn chiến hạm ở
ngang sông. Trong lúc thủy chiến dữ dội thì đoàn
chiến thuyền của hai vua đóng ở vùng Hiệp Sơn (Kinh
Môn, Hải Dương). Cũng có nơi nói Đức Hoàng đế Trần
đóng quân ở Hiệp Môn (Kinh Môn, Hải Dương) đã xông
ra tấn công giặc theo kế hoạch đã dự trù trước.
Trước đó, đạo quân của hai vua chỉ huy đóng ở vùng
Hiệp Môn bên bờ sông Giáp (sông kinh Thần, vùng
Kinh Môn, Hải Dương) làm nhiệm vụ đánh cầm chừng
và cản bước tiến của giặc.
Đạo quân của hai vua
tấn công từ phía sau của quân giặc khiến chúng
càng bị lúng túng và tổn thất rất nặng. Bị tấn
công tới tấp trên sông, một số cánh quân khác của
địch bỏ thuyền chạy lên bờ sông bên trái của Yên
Hưng để tìm đường trốn thoát. Nhưng vừa lên tới bờ
chúng lại rơi vào ổ phục kích của quân ta, và một
trận đánh ác liệt đã xảy ra. Trời về chiều khi
chiến trường sắp kết thúc, cánh quân của Thoát
Hoan đóng gần đó vẫn án binh bất động không tới tiếp
ứng, hắn đã bỏ rơi Ô Mã Nhi cùng với thuộc hạ
chống đỡ thụ động trước sự tấn công của quân ta và
đạo quân này hoàn toàn bị quân ta tiêu diệt. Theo
Nguyên sử, truyện của Phàn Tiếp chép rằng kịch
chiến xảy ra từ giờ mão đến giờ dần, tức là từ
sáng ròng rã kéo dài đến chiều.
Đặc điểm
của sông Bạch Đằng là khi nước lớn rất nhanh mà nước
rút cũng khá lẹ. Cho nên khi nước rút quá lẹ như
thế thuyền của giặc Nguyên bị cọc gỗ đâm trúng,
lật đỗ cả, quân giặc chết đuối vô số kể, máu đã
chan hòa cả dòng sông. Quân ta tịch thu được hơn
400 chiến thuyền, Tước Nội Linh Tự Đỗ Hành bắt
sống được Ô Mã Nhi và Tích Lệ Cơ Ngọc (Nhiều tài
liệu khác ghi là Tích Lê Cơ hay Tích Lê Cơ Đại Vương.
Viên tướng Mông-cổ này tên là Tích Lê Cơ, còn Vương
là tước hiệu. Chữ Ngọc? chép lầm từ chữ chữ Vương?
Chú thích Toàn Thư) và đem dâng cho Thượng hoàng
Thánh Tông.
An-Nam
Chí-Lược (sử của giặc Nguyên do phản thần triều đình
nhà Trần ghi lại) có ghi các tướng Nguyên là Phàn
Tiếp và Hoạch Phong đến tiếp ứng cho Ô Mã Nhi, nhưng
không ghi rõ sống chết. Tuy nhiên, trong Nguyên Sử
có chép về Phàn Tiếp như sau (tờ 10 b 2-3): «Tiếp
cùng Ô Mã Nhi đem quân thủy trở về, bị giặc đón
chận. Triều sông Bạch Đằng xuống, thuyền Tiếp mắc
cạn. Thuyền giặc dồn về nhiều, tên bắn như mưa. tiếp
hết sức đánh từ giờ mão đến giờ dậu. Tiếp bị súng
bắn, rớt xuống nước. Giặc móc lên bắt, dùng thuốc
độc giết».
Chiến
thắng Bạch Đằng có một ý nghĩa quan trọng đó là
quân dân Đại Việt đánh tan toàn bộ đoàn quân triệt
thoái của giặc triệt thoái bằng đường thủy do Ô Mã
Nhi đích thân chỉ huy. Từ bấy lâu nay mỗi khi nhắc
tới chiến thắng này chúng ta thường đề cập tới Hưng
Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là người đã có công tạo
nên nó. Các quyển sử xưa như Cương Mục, Toàn Thơ
thường nhắc tới người lãnh đạo tối cao của quân
dân nhà Trần vào lúc đó là Đức Hoàng Đế Trần Nhân
Tông (tức Hoàng đế Kim Phật) đã lãnh đạo thành
công hai lần kháng Nguyên 1285 và 1288.
Khi đề cập
tới Hưng Đạo Vương về trận Bạch Đằng chúng ta cần
đặc biệt nhắc tới Đức Hoàng đế Trần Nhân Tông. Đức
Hoàng đế Trần Nhân Tông vừa là bậc lãnh đạo chính
trị kiêm chỉ huy tối cao về quân sự (mặc dù Hưng
Đạo Vương là Tiết chế được xem như là tổng tham
mưu trưởng, nhưng Đức Hoàng đế Trần lại là vị tổng
tư lịnh tối cao), và là người đã đề ra mọi đối
sách từ ngoại giao đến quân sự nội trị với kết quả
là Đại Việt đã thành công đánh bại giặc Nguyên qua
hai cuộc xâm lăng của chúng. Khi quân Mông-cổ tràn
qua xâm lăng đất nước chúng ta lần thứ hai, lần
thứ ba, nếu không có trí tuệ sáng suốt, tài ngoại
giao khéo léo, nghệ thuật lãnh đạo cuộc chiến một
cách đầy mưu lược, cũng như lòng can đảm để đương
đầu trước mọi tình hình và nhân từ trong việc đối
xử với người trong gia tộc, dân chúng, binh lính
cho đến kẻ thù thì Đức Hoàng Đế Kim Phật làm sao
có thể hội tụ được sức mạnh của toàn dân tộc để
chống lại quân thù. Ngài là bậc Thánh Quân có một
không hai trong lịch sử dân tộc nên đã được các
danh tướng như Trần Hưng Đạo, Trần Khánh Dư, Trần
Bình Trọng, Trần Quốc Tảng v.v… hết lòng phù trợ.
Đó là những sự thực lịch sử mà mỗi người trong
chúng ta cần ghi khắc và lấy tấm gương sáng ngời
của Ngài truyền lại cho thế hệ con cháu chúng ta
sau này.
Quan điểm
của giáo sư tiến sĩ Lê Mạnh Thát (tức Thượng tọa
Thích Trí Siêu) về trận chiến ở sông Bạch Đằng được
ghi như sau trong Toàn Tập Trần Nhân Tông-Lê Mạnh
Thát các trang 148-149:
«Phàn
Tiếp truyện, như vậy, ghi nhận trận đánh xảy ra từ
giờ Mão đến giờ Dậu, tức từ sáng tới chiều thì chấm
dứt. Thuyền của Đại Việt tập trung rất đông, “tên
bắn như mưa”. Và việc Phàn Tiếp, khi bị thương nhảy
xuống nước, quân ta đã dùng câu liêm móc lên, bắt
được, rồi sau đó hơn 10 ngày mới giết đi, vì ngày
17 khi vua Trần Nhân Tông hiến tiệp ở Long Hưng,
thì Phàn Tiếp còn có mặt cùng với đám Tích Lệ Cơ
(Ơirôgi), Ô Mã Nhi, Đường Ngột Đãi, Sầm Đoạn, Mai
Thế Anh, Điền nguyên soái.v.v.
Bãi
cọc đã treo thuyền cả đám tướng tá giặc vào ngày
mồng 8 tháng 3 năm Mậu Tý (1288) ấy, ngày nay chưa
xác định được rõ ràng. Tuy nhiên, ta biết việc đóng
cọc trên sông Bạch Đằng phải xảy ra trong thời
gian chưa đầy 3 tuần kể từ khi Ô Mã Nhi tấn công
trại Yên Hưng vào ngày 19 tháng 2 và đến ngày mồng
8 tháng 3 quân Ô Mã Nhi đã có mặt ở sông Bạch Đằng.
Trong tình hình chiến tranh thời bấy giờ, việc đưa
một đoàn thủy quân địch vào đúng ổ phục kích do ta
thiết kế quả là một thành công rực rỡ của khoa học
và nghệ thuật chỉ đạo quân sự của bộ chỉ huy tối
cao của đất nước lúc ấy, mà đứng đầu là vua Trần
Nhân Tông.
Sự có
mặt của vua Trần Nhân Tông cùng Thượng hoàng cũng
như Trần Hưng Đạo và Nguyễn Khoái chứng tỏ trận đánh
này trên hết nếu không do chính vua Trần Nhân Tông
chỉ đạo và vạch kế hoạch, thì cũng phải do chính
nhà vua phê chuẩn và đồng ý thực hiện. Thực tế,
chỉ việc vua Trần Nhân Tông hiện diện tại mặt trận
này biểu thị một quyết tâm cao của người lãnh đạo
đất nước phải thực hiện cho được chủ trương và kế
hoạch đã đề ra, coi đây là một nhiệm vụ xung yếu
phải hoàn thành để đạt mục đích của cuộc chiến
tranh. Sự kiện tiêu diệt toàn bộ đội thủy quân do
Ô Mã Nhi chỉ huy ngày nay thường được nhiều người
nghiên cứu gắn vào cho tên tuổi Trần Hưng Đạo, mà
quên đi sự hiện diện của vua Trần Nhân Tông tại
trận đánh quyết chiến tiêu diệt này. Trong mọi
cuộc chiến tranh, lãnh đạo chính trị bao giờ cũng
là thống soái. Chỉ có sự lãnh đạo chính trị mới
tập hợp hết được mọi lực lượng của dân tộc cho
cuộc chiến tranh. Không có cuộc tập hợp này thì dù
có tướng tài tới bao nhiêu, dù có kế hoạch tác
chiến tốt tới đâu, và dù nhân dân yêu nước và quyết
tâm chiến đấu cao tới mức nào đi nữa, thì cuộc
chiến tranh vẫn thất bại» (*)
Lịch
Sử Việt Nam tập I ghi ở trang 212 một chi tiết nhỏ
về trận Bạch Đằng: «…Bà hàng nước ở bến đò Rừng
(Bạch Đằng) đã chỉ dẫn cho Trần Quốc Tuấn biết con
nước sông Bạch Đằng để bố trí trận địa mai phục».
Đây là một chi tiết khá đặc biệt. Một bà hàng nước
mà lại có cái nhìn của một vị tướng lãnh cầm quân
đánh giặc, nên đã chỉ dẫn cho Hưng Đạo Vương cách
thức bày binh bố trận để chận đánh quân thù. Có
một điều đáng tiếc là chúng ta không biết gì về
danh tánh cũng như gia phả của bà. Nhưng một điều
có thể nói rằng, bà hàng nước ở bến đò Rừng bên bờ
sông Bạch Đằng của năm nào xứng đáng được ghi vào
danh sách của những người có công đánh đuổi giặc
Nguyên (**).
Trương
Hán Siêu đã ca ngợi chiến thắng ở sông Bạch Ðằng
qua
Bài
Phú Sông Bạch Ðằng
Khách
có kẻ: Chèo bể bơi trăng, buồm mây giang, gió. Sớm
ngọn Tương kia, chiều hang Vũ nọ. Vùng vẫy Giang,
Hồ: tiêu dao Ngô, Sở. Ði cho biết đây, đi cho biết
đó. Chằm Vân-mộng chứa ở trong kho tư-tưởng, đã
biết bao nhiêu, mà cái trí khí tứ phương, vẫn còn
hăm hở!
Mới
học thói Tử-trương: bốn bể ngao du. Qua cửa Ðại-than
sang bến Ðông-triều, đến sông Bạch-Ðằng, đứng đỉnh
phiến-chu. Trắng xóa sông kềnh muôn dặm, xanh rì
dặng ác một màu. Nước trời lộn sắc, phong cảnh vừa
thu. Ngàn lau quạnh cõi, bến lách đìu-hiu. Giáo
gậy đầu sông, cốt khô đầy gò. Ngậm ngùi đứng lắng
ngắm cuộc sống phù du. Thương kẻ anh hùng đâu vắng
tá, mà đây dấu vết hãy còn lưu.
Kia
kìa, bến sông, phu lão người đâu. Lượng trong bụng
ta, chứng có sở cầu. Hoặc gậy trống trước, hoặc
thuyền bơi sau. Vái tạ mà thưa rằng: Đây là chỗ
chiến địa vua Trần bắt giặc Nguyên, và là nơi
cố-châu của vua Ngô phá quân Lưu đây.
Đương
khi: muôn đội thuyền bày, hai quân giáo chỉ. Gươm
tuốt sáng lòe, cờ bay đỏ khí! Tướng Bắc quân Nam đôi
bên đối lũy. Đã nổi gió mà bay mây, lại kinh thiên
mà động địa. Kìa quân Nam-Hán nó mưu sâu, nọ
Hồ-Nguyên có sức khỏe. Nó bảo rằng: phen này đạp
đổ nước Nam, tưởng chừng có dễ.
May
sao: Trời giúp quân ta, mây tan trận nó, khác nào
như quân Tào Tháo bị vỡ ở sông Xích-bích khi xưa,
giặc Bồ Kiên bị tan ở bến Hợp-phù thuở nọ. Ấy cái
nhục tày trời của họ, há những một thời, mà cái
công tái tạo của ta lưu danh thiên cổ.
Tuy
vậy, từ thuở có trời có đất, vẫn có giang-san.
Trời đặt ra nơi hiểm-trở, người tính lấy cuộc
tồn-an. Hội này bằng hội Mạnh-tân, như vương-sự họ
Lã; trận nào bằng trận Dung-thủy, như quốc sĩ họ
Hàn. Kìa trận Bạch-Đằng này mà đại-thắng, bởi chưng
Đại-vương coi thế giặc nhàn. Tiếng thơm còn mãi,
bia miệng hao mòn. Nhớ ai sa giọt lệ, hổ mình với
nước non!
Rồi
vừa đi vừa hát rằng:
Sông
Đằng một dải dài ghê!
Cuồng
to sóng lớn dồn về biển Đông.
Trời
Nam sinh kẻ anh hùng.
Tăm
kềnh yên lặng, non sông vững-vàng
Khách
vừa đi vừa hát rằng:
Vua
Trần hai vị Thánh-quân.
Sông
kia còn dấu tẩy trần giáp-binh
Nghìn
xưa gẫm cuộc thăng-bình.
Tài đâu
đất hiểm, bởi mình đức cao.
Nguyên
văn chữ Nho của Trương Hán Siêu, Đông Châu dịch.
Khảo
về địa-dư và lịch-sử tỉnh Quảng-Yên (Nam-phong tạp-chí,
tập XIV số 8, tháng 6-1924).
Thơ
của Phan Lập Trai thì ghi
Biển
Châu hiển phát Chương Dương độ
Dãn kiến
sa âu phù chân chử
Dục
mịch Trần Nguyên cổ chiến trường
Tưởng
tại trung lưu soan khích xứ.
Dịch
nghĩa:
Buổi
sáng cưỡi thuyền nhỏ ra bến Chương Dương,
Chỉ
trông thấy đàn chim âu bơi trên sóng nước.
Muốn
tìm cảnh chiến trường xưa giữa quân Trần và quân
Mông-cổ
Tưởng
tượng ở chốn nước xoáy giữa dòng.
(Việt
Nam Văn Học Sử Yếu tập I, giáo sư Dương Quảng Hàm,
trang 152)
Ở đền
Kiếp Bạc còn ghi lại câu đối bằng quốc âm để tưởng
nhớ các bậc anh hùng dân tộc như sau:
Uy tan
giặc Bắc, trận Sát Thát quân reo, một tay chống
lại sơn hà: quét bụi Tống, rửa thù Nguyên, nòi
giống vẻ vang hồn lịch sử ;
Ơn khắp
miền Đông, đền Đại Vương quốc tế, mảnh đã in còn
sự nghiệp: tiếng sóng Bạch Đằng, vầng mây kiếp,
khói hương phảng phất bóng anh hùng.
Năm
1984 tại viện khoa học Hoàng Gia Anh Quốc, Hưng
đạo Vương là vị tướng duy nhất được đa số bầu chọn
làm một trong mười vị tướng lãnh giỏi nhất nhân loại
thời trung cổ. Ðây là một sự hãnh diện lớn lao cho
dân tộc chúng ta. Tuy nhiên nếu có dịp chúng ta
cần nhắc thêm cho viện khoa học này biết thêm về
Hoàng đế Kim Phật tức Hoàng đế Trần Nhân Tông là
một nhân vật lãnh đạo lỗi lạc của thời nhà Trần
trong 2 lần đại phá quân Nguyên (1285-1288).
Trúc
Lâm Lê An Bình
-------------------
XPH
st:
Bản
dịch Bạch Đằng giang phú của Nguyễn Hữu Tiến, Bùi
Văn Nguyên.
Khách
có kẻ:
Giương
buồm giong gió chơi vơi
Lướt
bể chơi trăng mải miết
Sớm gõ
thuyền chừ Nguyên Tương
Chiều
lần thăm chừ Vũ Huyệt
Cửu
Giang, Ngũ Hồ
Tam
ngô, Bách Việt
Nơi có
người đi
Ðâu mà
chẳng biết
Ðầm
Vân Mộng chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều
Mà
tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết.
Bèn
giữa dòng chừ buông chèo
Học Tử
Trường chừ thú tiêu diêu
Qua
cửa Ðại Than
Ngược
bến Ðông Triều
Ðến
sông Bạch đằng
Rong
chơi mái chèo
Bát
ngát sóng kình muôn dặm
Bập
bềnh đuôi trĩ liền nhau
Nước
trời: một sắc
Phong
cảnh: ba thu
Ngàn
lau xào xạc
Bến
lách đìu hiu
Sông
chìm giáo gãy
Gò đầy
xương khô
Buồn
vì cảnh thảm
Ðứng
lặng giờ lâu
Thương
nỗi anh hùng đâu vắng tá?
Tiếc
thay dấu vết luống còn lưu!
Bên
sông, bô lão hỏi ta sở cầu
Có kẻ
gậy lê chống trước
Có người
thuyền nhẹ bơi sau
Vái ta
mà thưa rằng:
- Ðây
là chiến địa buổi Trùng hưng Nhị thánh bắt Ô Mã
Cũng
là bãi đất xưa Ngô chúa phá Hoằng Thao
Ðương
khi ấy:
Thuyền
bè muôn đội
Tinh
kỳ phấp phới
Tì hổ
ba quân
Gíao
gươm sáng chói
Trận đánh
thư hùng chửa phân
Chiến
lũy Bắc Nam chống đối
ánh
nhật nguyệt chừ phải mờ
Bầu
trời đất chừ sắp đổi
Kìa!
Tất Liệt thế cường
Lưu
Cung chước dối
Những
tưởng gieo roi một lần
Quét
sạch Nam bang bốn cõi
Thế nhưng:
Trời
cũng chiều người
Hung
đồ hết lối
Khác
nào như khi xưa :
Trận
Xích Bích, quân Tào Tháo tan tác tro bay
Trận
Hợp Phì, giặc Bồ Kiên hòan tòan chết rụi
Ðến
nay nước sông tuy chảy hòai
Mà
nhục quân thù khôn rửa nổi
Tái
tạo công lao
Nghìn
thu ca ngợi
Tuy
nhiên;
Từ có
vũ trụ
Ðã có
giang sanh
Qủa là
trời đất cho nơi hiểm trở
Cũng
nhờ nhân tài giữ được điện an
Hội
nào bằng Hội Mạnh Tân, có vương sư họ Lã
Trận
nào bằng trận Duy Thủy, có quốc sĩ họ Hàn
Kìa
trận Bạch đằng mà đại thắng
Bởi
Ðại vương coi thế giặc nhàn
Tiếng
thơm đồn mãi
Bia
miệng không mòn
Khách
chơi sông chừ ủ mặt
Người
hòai cổ chừ lệ chan
Rồi
vừa đi vừa ca rằng:
Sông
Ðằng một dãi dài ghê
Luồng
to sóng lớn tuôn về bể Ðông
Những
người bất nghĩa tiêu vong
Nghìn
thu chỉ có anh hùng lưu danh
Khách
cũng nối tiếp mà ca rằng:
Anh
minh hai vị thánh quân
Sông đây
rửa sạch mấy lần giáp binh
Giặc
tan, muôn thuở thanh bình
Bởi đâu
đất hiểm, cốt mình đức cao.
========
Xem thêm :
TRẦN NHÂN TÔNG
(1247-1308)
Minh quân và đạo sĩ
"Nhà ta vốn là dân hạ bạn,
đời đời ưa chuộng việc hùng dũng..”
(Trần Nhân Tông)
Nguyễn Đức Hiệp
- Theo
Khoa Học
Trong lịch sử Việt Nam, có những vị vua giỏi
giang cáng đáng và lãnh đạo nước trong những
tình huống khó khăn. Trần Nhân Tông là một
trong những vị vua đầu khai triều và xây
dựng nhà Trần. Triều ông là giai đoạn cực
thịnh nhất của nhà Trần. Ông lãnh đạo nước
trong những thời kỳ gay cấn nhất của lịch sử
Việt Nam: chiến tranh xâm lược của đạo quân
Mông Cổ reo rắc kinh hoàng ở khắp lục địa
Á-Âu.
Trong hai cuộc xâm lăng của Mông Cổ lần hai
và lần ba, ông đã cùng tướng sĩ và nhân dân
đối phó và đánh bại giặc. Ông là người mở ra
Hội nghị Diên Hồng hỏi ý kiến toàn dân và
cùng nhân dân đối kháng địch. Trần Nhân Tông
không những là vị vua cương chính và gần dân
mà còn là một đạo sĩ Phật giáo hiền tài, một
trong ba sư tổ sáng lập ra trường phái Trúc
Lâm duy nhất ở Việt Nam.
1- Con người và sự nghiệp
(a) Bản chất con người
Thái tử Trần Khâm tức Trần Nhân Tông lên
ngôi vua thay thế Thượng Hoàng Thanh Tông
năm 1279. Ông là một vị vua có cốt ở dân và
có một târn hồn Việt cội rễ. Ẩn tàng trong
ông là ý thức về nguồn, gợi nhớ gốc tổ Rồng
Tiên, như lời ông từng nói với con Trần Anh
Tông và Quốc Công Trần Quốc Tuấn: "Nhà ta
vốn là dân hạ bạn, đời đời ưa chuộng việc
hùng dũng... thích hình rồng vào đùi để tỏ
ra không quên gốc." Tục xâm hình rất phổ
biến trong dân gian Việt Nam từ thời Hùng
Vương, đến đời Trần Nhân Tông thì phát triển
mạnh mẽ. Từ vua quan đến quân dân đều vẽ xâm
hình rồng trước bụng, sau lưng và hai vế đùi.
Lúc này người ta chẵng những quan niệm xâm
hình rồng để khi xuống nước không bị giao
long làm hại mà còn ngầm nhắc nhở nhau về
một nguồn gốc như lời vua nhắn nhủ.
Tục này thịnh hành đến nổi người Trung Hoa
trông thấy gọi là "thái long" tức rồng vẽ.
Theo sứ nhà Nguyên Trần Phụ, thì mỗi người
dân Đại Việt còn thích chữ "Nghĩa di quyền
phụ, hình vu báo quốc" (Vì việc nghĩa mà
liều thân, vì ơn nước mà báo đền). Điều này
cho thấy dưới đời vua Trần Nhân Tông, quân
dân đều một lòng và tụ tập quanh một ông vua
có căn cơ là gốc dân.
(b) Tư cách lãnh đạo
Nhân Tông là một vị vua anh minh, biết dùng
và trọng dụng nhân tài. Đời ông, nhân tài,
anh hùng, tuấn kiệt lũ luợt kéo ra giúp nước,
lòng người như một. Bên ông, về quốc triều
có Thái sư Trần Quang Khải, về binh sự có
các danh tướng Trần Quốc Tuấn, Trần Quốc
Toản, Phạm Ngũ Lão, Trần Khánh Dư, Trần Nhật
Duật .., về văn học có các văn thi sĩ uyên
bác như Nguyễn Thuyên, Trương Hán Siêu, Mạc
Đĩnh Chi. Riêng Nguyễn Thuyên là người khởi
đầu dùng chữ Nôm làm thơ phú, văn hay như
Hàn Dũ bên Trung Quốc ngày xưa nên Nhân Tông
cho đổi tên là họ Hàn.
Sự hiểu người và dùng người của ông được thể
hiện qua một câu chuyện tiêu biểu sau. Trong
không khí khẩn trương, khi con trai của Hốt
Tất Liệt là Thái tử Thoát Hoan đang sôi sục
căm hờn điều động binh mã ở biên thùy để sửa
soạn tràn vào Đại Việt. Vào một ngày cuối
năm Nhâm Ngọ (1282), tại bến Bình Than có
một cuộc họp lịch sử giữa vua Trần Nhân Tông
và các tướng sĩ. Giữa lúc vua Nhân Tông và
mọi người đang bàn bạc sôi nổi, vua chợt
nhìn ra ngoài sông và thoáng thấy một chiếc
thuyền lớn chở đầy than theo dòng đổ về xuôi.
Nhác thấy trên thuyền có một người đội nón
lá, mặc áo ngắn, ngộ ngộ trông như người
quen, vua bèn chỉ và hỏi quan thi thần:
- Người kia có phải là Nhân Huệ Vương không?
Rồi lập tức sai quân cheo thuyền nhỏ đuổi
theo. Nhưng lát sau chỉ thấy quân trở về
không, tâu với vua là ông lái ngang bướng ấy
không chịu đến mà chỉ trả lời rằng:
- Lão già này là người bán than, có việc gì
mà vua gọi đến!
Nghe thấy thế, các quan rất đổi ngạc nhiên
và lo cho người bán than, cái tội khi quân
mạn thượng này dù xử nhẹ cũng phải dăm chục
trượng là ít. Nhưng Nhân Tông vẫn tươi cười
mà rằng:
- Thế thì đúng là Nhân Huệ Vương rồi, người
thường không dám trả lời ta như thế!
Rồi sai nội thị đi gọi: lần này "lão ta"
chịu đến. Vua quan nhìn ra thì đích thị
không sai. Người lái thuyền bán than đó
chính là Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư. Đội
chiếc nón lá và bận tấrn áo nâu ngắn bạc
phếch, quần sắn tới đầu gối, trông ông ta
thật phong trần. Nhưng lạ thay, cuộc sống
lam lũ vẫn không làm mất được cái vẽ tinh
anh quắc thước và dáng dấp hiên ngang ở
người tướng vũ dũng của cuộc kháng chiến
chống Mông Cổ năm xưa, vì nóng tính và trót
phạm lỗi với triều đình nên bị cách chức và
tịch thu gia sản. Chuyến đi hôrn nay của ông
tình cờ lại hóa hay
- Thế nào, liệu khanh còn đủ sức đánh giặc
hay không? – Nhân Tông ướm hỏi.
Nghe thấy hai chữ "đánh giặc", mắt Trần
Khánh Dư vụt sáng:
- Dạ, thần còn đủ sức. Mấy năm nay vung rìu
đẵn gỗ, cánh tay thần xern ra còn rắng rỏi
hơn xưa.
Nhân Tông cười vui vẽ và ngợi khen:
- Quả là gan Trần Khánh Dư còn bền hơn sắt
đá. Được rồi còn phải xem khanh lập công
chuộc tội ra sao?
Đoạn xuống chiếu tha tội cho Trần Khánh Dư,
ban mũ áo, phong làm phó tướng quân rồi cho
ngồi ở ghế cuối hàng vương để bàn việc nước.
Thế là triều đình lại có thêm được một người
tài giỏi đứng ra phò vua giúp nước.
Sự dùng người của Nhân Tông như thế xứng
đáng phong cách của một người lãnh đạo: hiểu
và dùng người đúng chỗ.
(c) Cách cư xử người
Trần Nhân Tông là một vị vua khí khái và
nhân đức. Đối diện với bao phong ba bão táp,
ông lãnh đạo tướng sĩ và nhân dân chống đỡ
những cơn hiểrn nguy. Nhưng không lúc nào là
ông không để ý đến tình trạng của quân dân.
Khi quân Mông Cổ với khí thế hung tàn tràn
vào Đại Việt, Hưng Đạo Vương Trần Quoc Tuấn
vì kém thế thua chạy rút về Vạn Kiếp. Nhân
Tông nghe Hưng Đạo Vương thua, liền ngự một
chiếc thuyền nhỏ xuống Hải Dương rồi cho vời
Hưng Đạo Vương đến bàn việc, nhân thấy quân
mình thua, trong bụng không yên, mới bảo
Hưng Đạo Vương rằng:
- Thế giặc to như vậy, mà chống nó thì dân
sự tàn hại, hay là trẫm hãy chịu hàng đi để
cứu muôn dân?
Hưng Đạo Vương tâu rằng:
- Bệ hạ nói câu ấy thì thật là nhân đức,
nhưng mà tôn miếu xã tắc thì sao? Nếu bệ
hạ muốn hàng, xin trước hãy chém đầu tôi đi
đã, rồi sau sẽ hàng.
Nhân Tông nghe lời nói trung liệt như vậy,
trong bụng mới yên.
Cũng vậy, đối với quân thù, trong trận chiến
thắng lịch sử của quân ta ở Tây Kết (Khoái
Châu, Hải Hưng), tướng giặc là Toa Đô bị
trúng tên chết và Ô Mã Nhi phải chốn chui
xuống thuyền vượt biển chạy về Trung Quốc.
Khi các tướng thắng trận đưa đầu Toa Đô về
nộp, Nhân Tông thấy người dũng kiện mà lại
hết lòng với chúa, nên xúc động mới than
rằng: "Làm bầy tôi nên như người này" rồi
cởi áo ngự bào đắp vào đầu Toa Đô, sai quân
dùng lễ mai táng cho tử tế.
Khi bóng quân Mông Cổ không còn trên đất
Nam, triều đình bắt được một tráp chứa các
biểu hàng của một số quan. Số là khi quân
giặc đang cường thịnh, triều thần lắm kẻ hai
lòng, có giấy má đi lại với chúng. Đình thần
muốn lục tráp ra để trị tội, nhưng Nhân Tông
và Thánh Tông Thượng Hoàng nghĩ xa đến sự
hoà giãi dân tộc nên sai đem đốt cả tráp đi
cho yên lòng mọi người và cùng nhau xây dựng
lại cố đô. Duy chỉ những người thực sự hàng
và hợp tác với giặc mới bị trị tội.
(d) Trị nước
Trách nhiệm giữ nước đã xong, Nhân Tông còn
phải lo việc ngoại giao với giặc và xây dựng
lại đất nước và con người. Với nhà Nguyên,
Mông Cổ, vua không kiêu căng khi thắng, mà
hoà khí, khiêm nhượng nhưng nhân chính. Sự
tàn phá của quân Mông Cổ thật nặng nề đến
nổi, lúc chiến thắng trở về Thăng Long, vua
không còn cung điện để ở mà phải tạm trú ở
Lăng thị vệ. Trong tờ biểu gởi Hốt Tất Liêt,
Nhân Tông đã phải viết: "đốt phá hết chùa
miếu trong nước, khai quật phần mộ tổ tiên,
cướp bóc dân gian, phá phách sản nghiệp trăm
họ, mọi tàn ác không việc nào trừ ...".
Hậu quả của chiến tranh tan khốc như vậy cho
nên phải có chính sách an dân và ủy lạo dân.
Sau cuộc chiến, Nhân Tông xuống chiếu đại xá
cho thiên hạ. Nơi nào bị địch đốt phá thì
tha tô ruộng và tạp dịch toàn phần, các chổ
khác thì xét miễn giảm theo thứ bậc khác
nhau. Chinh sách khéo léo và có tầm nhìn xa
này, thể hiện một tinh thần thương dân và ở
một đầu óc có tư tưởng đầu tư xây dựng lâu
dài, đã được kể lại trong quyển "Long thành
dật sự" như sau:
Sau chiến tranh, thành Thăng Long nhiều đoạn
bị san bằng, vua Nhân Tông định hạ chỉ gấp
rút xây lại thành trì. Hưng Đạo vương Trần
Quốc Tuấn can rằng: "Việc sửa lại thành trì
không cần kíp lắm. Việc cần kíp của triều
đình phải làm ngay không thể chậm trễ được
là việcc ủy lạo nhân dân. Hơn 4 năm, quân
giặc hai lần tràn sang quấy rối, từ nơi núi
rừng đến nơi đồng ruộng, đều bị tàn phá hầu
hết. Vậy mà nhân dân vẫn một lòng hướng về
triều đình, xuất tài, xuết lộc, đi lính và
đóng thuế, làm nên một lực lượng mạnh cho
triều đình chống nhau với giặc. Nay nhà vua
được trở về yên ổn. Việc làm trước hết là
chú ý ngay đến dân, những nơi nào bị tàn phá,
tuỳ tình trạng nặng nhẹ mà cứu tế; nơi nào
bị tàn phá quá nặng, có thể miễn tô thuế mấy
năm. Có như thế dân mới nức lòng càng quy
hướng về triều đình hơn nữa. Người xưa đã
nói: "chúng chí thành thành" nghĩa là ý chí
của dân là một bức thành kiên cố. Đó mới là
cái thành cần sửa chữa ngay, xin nhà vua xử
lý."
Vua Nhân Tông vui vẽ nghe theo lời khuyên
của Trần Quốc Tuấn. Đây cũng là một bài học
quan trọng mà gần đây chúng ta đã không nắm
mà nguy hơn nữa là đã làm ngược lại.
Cũng vậy để cải tổ bộ máy hành chánh, và
thúc đẩy nền kinh tế giúp dân giàu mạnh.
Trần Nhân Tông quyết định giảm thủ tục, các
quan lộc và quan liêu trong nước. Trước một
bộ máy quá lớn và quá nặng nề từ Thượng thư
sảnh, Môn hạ sảnh, Nội mật viện, đến các
quan, cac lục bộ, các cục (Nội thư hoả cục,
Chi hậu cục..), các đài (Ngự sử đài), các
viện (Khu mật viện, Hàn lâm viện, Thẩm hình
viện, Quốc sử viện, Thái y viện,..), các ty
.. khiến Trần Nhân Tông phải thốt lên :
" Sao một nước bé bằng bàn tay mà phong
nhiều quan thế! "
Lại một lần nữa, vấn đề này cũng là vấn đề
mà hiện nay chúng ta đang trực tiếp đối diện
(e) Trung hiếu và gia huấn
Trần Nhân Tông coi việc trung hiếu là quan
trọng hàng đầu. Đối với thượng hoàng và các
bề trên ông đều hết lòng đáp nghĩa. Ông
thường lễ long trọng hàng năm trước các lăng
tiền bối. Bài thơ của ông làm lúc về bái yết
lăng ông nội Trần Thái Tông vẫn còn để lại
trong sử sách.
Trượng vệ thiên môn túc
Y quan thất phẩm thông ..
(Qua nghìn cửa chào nghiêm túc,
Đủ áo mũ các quan của bảy chức ..)
Khi ông là Thượng hoàng, đối với con ông là
Trần Anh Tông, ông để tự do nhưng đều khuyên
bảo những điều nhân đức về phép trị dân. Sử
sách chép rằng, Anh Tông là người có hiếu
nhưng thường uống rượu và lẽn đi chơi đêm
khắp kinh thành, đến gà gáy mới về. Vì thế
có lúc Nhân Tông phải có thái độ cứng rắn.
Tháng năm năm Kỷ Hợi (1299), vua Anh Tông
uống rượu xương bồ say quá. Thượng hoàng
Nhân Tông từ phủ Thiên Trường (Nam Định),
nơi các Thượng hoàng thường ở an dưỡng, về
kinh sư, quan trong triều không ai biết cả.
Nhân Tông thong thả xem khắp các cung điện,
từ sáng đến trưa. Người trong cung dâng cơm,
Nhân Tông ngoãnh trông, không thấy vua, ngạc
nhiên hỏi ở đâu?
Cung nhân vào đánh thức nhưng vua say quá
không tỉnh. Ông giận lắm, trở về Thiên
Trường ngay, xuống chiếu cho các quan ngày
mai đến họp ở phủ Thiên Trường. Đến chiều,
vua Anh Tông mới tỉnh, biết Thượng Hoàng về
kinh, sợ hải quá, vội vàng chạy ra ngoài
cung gặp một người học trò tên Đoàn Nhữ Hài,
mượn thảo bài biểu để dâng lên tạ tội, rồi
cùng với Nhữ Hài xuống thuyền đi suốt đêm
đến phủ Thiên Trường. Nhân Tông xem biểu rồi
quở mắng một lúc, và tha lỗi cho Anh Tông.
Từ đó vua Anh Tông không uống rượu nữa.
2- Xuất thế và thơ văn
Sau khi quân xâm lăng Mông Cổ không còn dám
có tham vọng chiếm Đại Việt, năm năm sau
(1293) Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con ở
Thăng Long rồi rút về Thiên Trường đi ngao
du và bắt đầu xuất thế. Trước lúc đó, ông đã
là một nhà đạo sĩ và thi văn nổi tiếng đời
Trần. Đời của ông lúc này chuyển qua một
giai đoạn khác, việc nước và gia đình đã
xong giờ đến việc mình và đời sống tinh thần
của bản thân.
Ông cùng các đệ tử của mình lên núi Yên Tử (Quảng
Ninh) xây dựng các chùa. Một trong những
chùa nổi tiếng nhất là chùa Hoa Yên. Ông là
vị "tổ" đã có công lớn trong việc xây dựng
nên phái Phật giáo ở vùng Yên Tử Sơn này.
Trần Nhân Tông, cùng sư Pháp Hoa và sư Huyền
Quang là tam tổ của trường phái Trúc Lâm và
thường được goi là phái Trúc Lâm Tam Tổ vì
chỉ riêng ở Việt Nam mới có.
Sự nhập thiền của Trần Nhân Tông không phải
là một tiêu cực yếm thế. Thiền Trúc Lâm mang
một hình thái nữa có nữa không, nữa thực
nữa hư và có một tinh thần biện chứng tích
cực. Một thiền Phật giáo nhập thế mà tất cả
mọi người dân đều có thể áp dụng theo đuổi ở
mọi nơi, mọi lúc trong đời sống không phải
chỉ ở cửa chùa. Bắt nguồn từ thiền Vô Ngôn
thông, quan điểm cơ bản của thiền Trúc lâm
là “tức tâm tức Phật”, Phật ở tâm, ở trong
ta, khi đốn ngộ thì ta là Phật và Phật là ta.
Từ Yên Tử Sơn, lâu lâu Nhân Tông đi ngao du
các nơi, thăm thắng cảnh thanh bình của quê
hương mình. Lúc qua Thiên Trường vào một
buổi chiều, trong cảnh tranh tối tranh sáng
của đồng quê Việt Nam, dưới con mắt Thiền
của mình, ông đã xúc cảm làm một bài thơ tựa
đề "Thiên Trường vãn vọng"
Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên
Bán vô bán hữu tịch dương biên
Mục đồng địch lý quy ngưu tận
Bạch lộ song song phi hạ điền
(Xóm trước thôn sau tựa khói lồng
Bóng chiều dường có lại dường không
Mục đồng sáo vẵng trâu về hết
Cò trắng từng đôi hạ xuống đồng)
Những buổi chiều của đồng quê Việt Nam đẹp
đẽ và yên tỉnh như kia là một hiện thực, đã
có từ nghìn năm nay trong đời sống nhân dân,
và đã tác động mạnh mẽ vào một tam hồn Việt
cội rễ của đạo sĩ Trần Nhân Tông.
Danh tiếng của đạo sĩ Trần Nhân Tông vang
lừng khắp Đại Việt đến tận đất Chiêm Thành.
Trong cuộc thăm viếng lịch sử chưa từng có
của một Thượng hoàng nước Đại Việt, cả Chiêm
Thành từ vua quan đến nhân dân một lòng tôn
kính một hiền sĩ từ phương xa ghé vào. Nhân
Tông cũng xúc động và học hỏi nhiều từ một
nền văn minh khác. Đối với ông, con người
đâu đâu cũng vậy. Biên giới chỉ là một hàng
rào giã tạo đặt ra bởi sự không thông hiểu
giữa con người. Ông đã nhìn xa và muốn thắt
chặt tình thân hữu anh em của hai dân tộc
Việt-Chiêm. Ông đề nghị với vua Trần Anh
Tông kết hợp con gái Nhân Tông (tức em gái
Trần Anh Tông) là công chúa Huyền Trân với
vua Chiêm Thành. Cả Chiêm Thành, từ sự kính
trọng đối với một đạo sĩ hiền tài này, đã
hoan hỷ chấp nhận. Vua Chiêm là Chế Mân (Jaya
Sinhavarman III mà trước đây là thái tử
Harijit đã cùng đồng minh Đại Việt chống
quân Nguyên đổ bộ ở Chiêm Thành) đã tặng Đại
Việt hai châu Ô và châu Rí trong cuộc hôn
nhân lịch sử này. Nhưng tiếc thay sau khi
Chế Mân và Trần Nhân Tông mất, chiến tranh
lại tái diễn giữa hai dân tộc.
Năm 1308, Thượng hoàng Trần Nhân Tông băng
hà ở am Ngọa Vân, núi Yên Tử. Sư Pháp Hoa
thiêu xác ông, nhặt hỏa cốt và hơn ba ngàn
hạt xá lị để vào hộp, mang về chùa Từ Phúc ở
kinh sư.
Mùa thu năm 1310, linh cửu chứa hỏa cốt
Thượng hoàng được rước về chôn ở làng Quý
Đức, Phủ Long Hưng (Thái Bình). Khi nghe tin
ấy, cả nước đều muốn tiễn linh cửu người
Việt hiền tài này lần cuối cùng. Trước hết,
tạm quàn Nhân Tông ở điện Diên Hiền, khi sắp
phát dãn, đã đến giờ rồi mà quan liêu dân
chúng đứng xem đầy khắp cung điện, ngay cả
tể tướng cầm roi xua đuổi mà cũng không thể
giản ra được. Vua cho gọi Trịnh Trọng Tử đến
bảo rằng: "Linh cửu sắp phát dẫn mà dân
chúng đầy nghẽn như thế này thì làm thế nào
?". Trọng Tử là người có tiếng là nhiều tài
năng trí xảo nhất Thăng Long và cũng rất
giỏi về âm nhạc. Trọng Tử lập tức đến thềm
Thiên Trì gọi quan Hải khấu và quan Hổ dực
do Trọng Tử trông coi đến ngồi la liệt ở
thềm, sai hát mấy câu hát Long Ngâm. Mọi
người đều ngạc nhiên, kéo nhau đến xem, cung
điện mới giãn người, linh cửu mới rước đi
được. Long Ngâm khúc là một lối hát vãn,
giọng bi ai, nghe rất cảm động ... Suốt mấy
ngày ấy từ Thăng Long đến Thái Bình, Long
Ngâm khúc của cả nước theo linh cửu của ngài
đến nơi an nghĩ cuối cùng.
Một ngôi sao sáng đã vụt tắt trên bầu trời
nước Đại Việt. Mặc dầu thể xác ông không còn
và đã tan thành tro bụi như ông muốn, nhưng
hồn ông vẫn còn trong lòng dân tộc Việt.
Lời bạt:
Trong lịch sử trên thế giới rất hiếm người
tài vừa là vua trị vì vừa là một hiền triết.
Văn minh La Mã có Marcus Aurelus, hoàng đế
triết gia, vừa minh trị an độ nhân dân, độ
lượng với mọi người và để lại tác phẩm triết
học nổi tiếng “Meditations”. Ở phương đông
hơn mười hai thế kỷ sau có Trần Nhân Tông,
cũng một minh quân, sáng lập trường phái
thiền Trúc Lâm Việt Nam với tác phẩm thiền
“Khoá Hư lục”(1) không kém sâu sa.
Thiền Trúc Lâm Yên tử tuy không còn, nhưng
dư âm vẫn còn vọng: cuối thế kỷ 18, Ngô Thì
Nhậm mong tái lập lại dòng thiền này với tác
phẩm “Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh”, gần
đây chùa Trúc Lâm ở Đà Lạt là một cố gắng
mong muốn khôi phục dòng thiền Trúc Lâm Yên
Tử. Hoàng thành cổ Thăng Long nay đã được
khám phá, một ngày nào đó tôi hy vọng là
điện Diên Hiền sẽ được hồi phục. Nguời người
sẽ được đến tận nơi vua làm việc, đãi yến,
nơi linh cửu vua tạm quàn, hình dung cảnh
quan và tưởng nhớ mùi hương thiền toả ngát
sáu trăm năm mươi năm trước và tưởng tượng
trở lại thời vàng son của thiền Việt Nam với
minh quân Trần Nhân Tông. Núi Yên Tử giờ đã
có cáp treo, nhưng đi hành hương đường dốc
bộ vẫn là tốt nhất theo dấu chân của Thượng
hoàng Nhân Tông.
(1) Theo Thiều Chửu và một số nhà nghiên cứu
cho là Trần Nhân Tông là tác giả “Khóa hư
lục” chứ không phải Trần Thái Tông
Tham khảo
(1) Đại Việt Sử Ký toàn thư, Quyển 5 và 6,
Kỷ Nhà Trần, Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam,
1993
(2) Khuyết danh, Thiền uyển tập anh, Nhà
xuất bản Văn học, Hà Nội, 1990
(3) Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận,
http://www.quangduc.com/lichsu/17vnpgsuluan.html
|