̣Tuần
lễ vừa qua chính phủ Việt Nam chính thức cho
phép thiết lập Học Viện Khổng Tử tại Việt
Nam theo lời yêu cầu của Trung Quốc. Việc
thiết lập Học Viện Khổng Tử tại Việt Nam
theo ý nghĩ thông thường của người dân hiện
nay là nhằm thống trị văn hoá. Nhưng Văn Hoá
Trung Hoa và Văn Hoá Việt Nam cũng như toàn
khối Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản cũng là
nền văn hoá nhân bản khởi đầu bằng Bách Việt
trên 5 ngàn năm trước, lúc đó chưa có Hán
Tộc và lãnh thổ Trung Hoa như hiện nay. Nhất
là với ông tổ của cộng sản Tàu là Mao Trạch
Đông đã nói một câu bất hủ “Cái học Khổng Tử
là cái học ăn cứt”. Bây giờ tình thế thay
đổi, giới lãnh đạo Tàu hiện nay, hậu duệ của
Mao, muốn hiện đại hoá đất nước, nhưng vẫn
độc quyền chính trị, cai trị dân như chó
ngựa, ngược hẳn với chủ trương nhân trị của
Khổng Tử thì việc khôi phục văn hoá Khổng Tử
và bành trướng các Học Viện Khổng Tử chỉ là
bôi son trét phấn cho tư tưởng bá đạo của
nhà nước “Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa”để lòe
bịp dư luận chứ không thay đổi được gì. Cái
học “ăn cứt” Mao đã tận diệt để thay thế
bằng học thuyết Mác Lê với đấu tranh giai
cấp và đạo đức cách mạng là con tố cha, vợ
tố chồng, bạn bè phản nhau, giết hại lương
tri con người đến muôn thế hệ mà nay cổ võ
cho “cái học ăn cứt” kia bằng việc liếm láp
chút đỉnh cục cứt mà Mao đã nguyền rủa tận
diệt thì còn có ý nghĩa gì chăng ?
Chưa kể nói tới Đạo Học mà Khổng đã chủ
trương ngay thời của Ngài rằng “Tìm Đạo ở
phương Nam”. Phương Nam là phương nào ? Là
miền Nam sông Hoàng Hà Dương Tử, là vùng văn
hoá nông nghiệp đầu tiên của nhân loại, bắt
đầu từ Bách Việt. Trong lúc đó phuơng Bắc
còn sống bằng du mục, trọng võ nghệ, gỏi
cung đao, nay đây mai đó làm gì đã có văn
minh. Phương Nam Bách Việt, nhờ nông nghiệp
nên văn minh trước, nhìn trăng sao mây nước
để định gieo gặt cày cấy, thấy sự chuyển
biến của vũ trụ làm nến tảng cho dịch, có
làng xã, có chữ viết tượng hình, có thi,
thơ, lễ, nhạc mà sau này Khổng Tử đã san
định những sinh hoạt văn hoá truyền khẩu
phương Nam thành Lục Kinh: KINH DỊCH, KINH
THI, KINH THƯ, KINH LỄ, KINH NHẠC, KINH XUÂN
THU (Kinh Nhạc đã thất truyền, nay chỉ còn
NGŨ KINH). Đến thời nhà Hán, Hán Vũ Đế đã
hoàn thiện chữ tượng hình của Bách Việt, chữ
con quăng (chữ chân chim, chữ nòng nọc - chữ
của những dân đã nhận vật biểu Xà Long và
Giao Long) thành chữ Hán ngày nay. Về văn
hoá thì tiếp tục chính sách của Tần Thủy
Hoàng đốt Sách chôn Nho, lập ra gác Thạch Cừ
lấy các văn nô nô thay đổi lời dạy về Đạo
Học của Khổng Tử để phục vụ chế độ quân chủ
chuyên chế, gán những lời đã thay đổi kia
thành lời của Khổng Tử mà mãi cho tới tận
ngày nay thiên hạ vẫn lầm tưởng là Khổng Tử
dạy như vậy. Khổng là bậc Thánh Nhân không
thể bất nhất trong đạo học được. Người học
phải có cái nhìn nhất quán mới nhìn ra những
chỗ sai của những điểu “Tử viết” kia đâu là
chính thực của ngài, đâu là đã bị bẻ quặt
đi.
Trong Ngũ kinh, Kinh Lễ chứa đựng nhiều điều
tai dị ngược với tinh thần Khổng Tử. Kinh Lễ
là một thí dụ Khổng giáo che lấp Khổng Tử.
Hai chương trong Kinh Lễ được coi là tinh
túy nhất, người đời sau đã tách ra làm thành
một trong TỨ THƯ là: Đại Học, Trung Dung,
Luận Ngữ, Mạnh Tử. Luận Ngữ được coi là phản
chiếu khá trung thành hình ảnh Nho Giáo
chính truyền.
Nhà Hán đã kế tiếp nhà Tần không những trong
di sản chính trị là trung ương tập quyền và
luôn cả óc chuyên chế y như chế độ cộng sản
Trung Quốc và Việt Nam ngày nay. Nho Giáo
trong bản chất chống đối óc độc tài chuyên
chế, đề cao “ý dân là ý trời”, đề cao người
hiền đức, trọng dụng người tài, không kể gì
đến dòng tộc (ngày nay là đảng viên v.v…).
Ngày xưa sách vở chính truyền đã bị đốt
sạch, nho sĩ đã bị giết cũng như ngày nay
tại Trung Quốc và Việt Nam sách vở của miền
Nam Việt Nam trước kia đã bị đốt phá hết
bằng các chiến dịch gọi là “văn hoá phản
động đồi trụy”, còn ít nào ở thư viện thì
muốn được vào thư viện đọc sách cũ phải có
giấy phép tham khảo dành cho các cán bộ đảng
thì còn đâu là tư tưởng chân thực. Cái trò
khôi phục văn hoá dân tộc hay mở các học
viện Khổng Tử cũng không khác gì việc lập
lại hành động đốt sách chôn nho, bẻ quẹo Nho
giáo để phục vụ chế độ quân chủ chuyên chế
của thời nhà Tần, nhà Hán xưa kia vậy.
Một mưu đồ đen tối ghê gớm khác của Mao
Trạch Đông nhằm tận diệt Nho Giáo và tư
tưởng Khổng Tử là chữ viết. Mao đã bắt buộc
học chữ quan thoại với lối viết giản tiện
ngày nay, thoạt nhìn là tốt vì dễ học, dễ
viết nhưng mưu đồ bên trong là cắt đứt việc
trở về nghiên cứu sách vở đạo lý, lịch sử,
phong tục xưa viết bằng chữ chân phương. Thế
hệ sau sẽ không đọc được sách vở, chữ cổ
nữa. Vì lý do này mà Đài Loan, Hồng Kông vẫn
học chữ chân phương.
Lược qua mấy điểm nêu trên ta thấy Nho Giáo
đã thực hiện những điều sau đây cho các xã
hội Viễn Đông :
Sớm bỏ được chế độ nô lệ trước Tây Phương
vài chục thế kỷ,
Đã có nhiều cố gắng thực hiện sự quân phân
tài sản như các kiểu công điền,
Đặt chức Gián Quan để dòm ngó chính quyền ,
kể cả Vua,
Đặt phép thi cử để tuyển người tài đức trong
cả nước, không phân biệt dòng họ.
Đấy là về tổ chức còn về Đạo Học, Nho Giáo
chủ trương con người ngang hàng với trời
cùng đất, sống hoà với trời và người, lấy
tâm của mình là thước đo của mọi hành vi
(Nhân Chủ, Thái Hoà, Tâm Linh). Mọi hành vị
y cứ trên 3 đức nền tảng Trí, Nhân, Dũng. Cư
xử thì trọng phép nước, kính thầy, hiếu với
cha mẹ, đễ với anh em, tín với bạn bè. Những
nguyên tắc ấy không bao giờ lỗi thời, thay
đổi.
Nói tóm
lại Học Viện Khổng Tử đáng trao vào tay ĐÀI
LOAN, NAM HÀN hay NHẬT BẢN được coi như
người anh cả trong đại gia đình văn hoá Đông
Á. để khởi xướng lên một ĐẠO TRƯỜNG CHUNG
cho Đông Á bên cạnh thị trường chung về Kinh
Tế, như Giáo Sư Triết Gia Kim Định đã kêu
gọi tại Hội Nghị Quốc Tế Nho Học tổ chức tại
Đài Bắc tháng 11 năm 1987:
“Sở dĩ đề nghị lập Đạo Trường là cốt để Đông
Á có thể đáp ứng sự mong đợi của triết học
Tây Âu đang ngóng chờ sự đóng góp của triết
lý Á Đông giúp lập lại thế quân bình giữa
tâm và vật. Vì hiện nay con người quá thiên
về vật chất mà nhãng bỏ tâm linh, cần phải
đưa tâm linh vào cho cân đối. Điều đó một
mình triết tây không làm được vì đã quá
thiên về lý trí nên chỉ có lý thuyết suông,
trừu tượng, xa đời và hóc búa không thể dẫn
đưa nhân loại đến quân bình mà còn bị kinh
tế chỉ huy. Lẽ ra triết lý phải chỉ huy hạ
tầng kinh tế thế mà nay phải để cho hạ tầng
kinh tế chỉ huy thì đủ biết văn hoá thiếu
hồn, quá yếu. Các triết gia Tây Âu đã ý thức
điều đó nên mới chờ mong cái gì khác hơn ở
triết lý Á Đông”.
Học Viện Khổng Tử Trung Quốc đang muốn thiết
lập tại nhiều nơi, nhất là lập tại Việt Nam
thì nên chú trọng vào mấy điểm sau:
Bách Việt làm chủ nước Tàu, văn hóa Tàu
trước người Tàu. Người Hán đến sau làm đã
làm sa đoạ ra Hán Nho như thế nào.
Hãy tìm hiểu xem tại sao Việt còn giữ được
mấy điểm hơn Tàu như: địa vị đàn bà Việt cao
hơn Tàu. Chế độ bình sản giữ được nhiều hơn
(quá bán ruộng là công điền công thổ). Chỉ
có thời thực dân Pháp gom ruộng vào mây tên
chủ điền, tạo nên chênh lệch xã hội. Không
có vụ chôn người sống theo người chết. (Tần
Thủy Hoàng chết, chôn theo 3 ngàn cung phi
!)
Tự trị xã thôn bên Việt cao hơn. Tàu thường
bị một dòng họ độc chiếm. Ở Việt Nam bất kỳ
ai đến 60 tuổi đều được vào Hội Đồng Kỳ Mục.
Hãy nghiên cứu bãi bỏ chế độ toàn trị,
chuyên chế của đảng cộng sản hiện nay, trả
lại quyền làm người cho người dân. Thực hiện
ý dân là ý trời như Khổng Tử đề cao trong
Nho Giáo chính thực.
Bài đọc thêm:
Hội nghị Nho Học tại Việt Nam
Ngày 17.12.2004 tại Hà Nội một cuộc hội thảo
quốc tế về Nho giáo đã được Viện nghiên cứu
Hán Nôm Việt Nam và viện Harvard Yenching
Hoa Kỳ tổ chức. Trong cuộc hội thảo này có
37 tham luận của các giáo sư, tiến sĩ, các
nhà khoa học thuộc các quốc gia khu vực và
vùng lãnh thổ gởi về như Mỹ, Trung Quốc,
Singapore, Ðài Loan và Việt Nam .
Hội An Việt hết sức vui mừng, ngỡ đây là sự
đáp ứng lời mời gọi của hội nghị triết học
thế giới vào mùa hè năm1939 ở Honolulu, tìm
cho nhân loại một nền triết lý chủ đạo, hội
nghị đã đề cử Khổng Tử làm nhạc trưởng cho
cuộc hoà hợp Ðông Tây, vì ông có chân đứng
trên cả hai tàu : vừa chấp nhận cải thiện
đời sống trần gian nhất là những mối giao
liên của con người - đàng khác tuy không
chấp nhận lập trường Lão giáo độc chú vào
đời sống tâm linh, nhưng cũng dọn phòng đón
nhận mọi giá trị tâm linh (Essay in East
West philosophy, by Charles Moore , page
447, University of Hawaii , 1951) .
Nhưng khi đọc qua những đề tài các bài tham
luận , thì chúng tôi mới biết là mình tưởng
vậy , chứ không phải vậy , mà hội nghị chỉ
bàn về quá trình du nhập Nho giáo ở Việt Nam
( Tống Nho với thời đại chúng ta ), ảnh
hưởng của Nho giáo trong đời sống xã hội
Việt Nam, Nho giáo thời phong kiến . . .
Chúng tôi không nghĩ là hội nghị đi tìm một
triết lý chủ đạo, mà lại đi vào con đường
tầm chương trích cú cuả Hán Nho, công việc
có tính cách hàn lâm này đã đánh rơi đại đạo
.
Vì thế cho nên khi chủ nghĩa CS tràn qua
phương Ðông với duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử , các hậu duệ của Hán Nho , Tống
Nho được xem như là thành phần quê mùa lạc
hậu , không thể đem cái lối chú sớ , tầm
chương trích cú ra mà chống trả lại cái làn
sóng đỏ được .
Cái chủ thuyết CS như ta đã thấy không dung
dưỡng con người cả về phần vật chất lẫn tâm
linh .
Nhà Tần đốt sách chôn Nho là đốt triết lý
nông nghiệp, nhà Hán thì khôn ngoan hơn hơn
lập ra gác Thạch Cừ, không tiêu diệt Nho
bằng cách trắng trợn, mà tìm cách bẻ quẹo,
xen dặm để đánh lạc hướng và nhất là bẻ quặt
Nho giáo (Nguyên Nho) bằng những yếu tố pháp
gia , âm dương gia và óc chuyên chế của nhà
Tần. Nhà Nguyên thì gạt hạng Nho sĩ xuống
bên dưới hạng ăn mày. Nhà Thanh khi mới vào
được Trung nguyên cũng giết Nho sĩ. (Tuy
rằng có một số những tổng hợp của Ðổng Trọng
Thư với thuyết Tam tài, Tống Nho với lý khí
. . . ) .Ðến thời Mao Trạch Ðông thì lại cho
Nho học là cái học ăn cứt.
Ta thử hỏi tại sao Nho giáo lại bị các vua
chúa từ đời Tần trở đi dày xéo như vậy, là
vì các vua chúa thì muốn đi theo con đường
bá đạo, mà Nho giáo lại cổ võ cho con đường
vương đạo, họ phải tìm cách giải thích cho
con đường bá đạo của họ .
Nhà Tần, nhà Hán, nhà Tấn, nhà Nguyên, nhà
Minh, nhà Thanh, đều không đi theo con đường
vương đạo, còn Trung Cộng với Mao Trạch đông
thì lại dùng Nho giáo như là phương tiện vận
động quần chúng nông dân vùng lên làm cách
mạng vô sản , để rồi khi cách mạng vô sản
giả sử thành công, thì ảnh hưởng của Nho
giáo sẽ bị quét sạch .Trung Hoa, Singapore,
Ðài Loan, nhất là Việt Nam ngày nay, nếu
chưa vượt qua khỏi Tần Hán tìm để về đại đạo
thì chẳng qua chỉ là tìm đường hâm nóng lại
chủ trương của pháp gia ( như Thượng Ưởng .
. . ) mà thôi .
Nhân Hội Nghị quan trọng này, đài BBC đã
phỏng vấn Giáo Sư Phan Văn Các, Viện Trưởng
Viện Hán Nôm tại Hà Nội và ông Vũ Khánh
Thành, Giám Đốc Hội An Việt tại Vương Quốc
Anh phát thanh trong 2 ngày Chủ Nhật 16 / 1
/ 05 và Chủ Nhật 23 / 1 / 05. Sau đây là tóm
lược bài phỏng vấn.
1. Người ta trông đợi gì trong việc phục
hưng Nho Giáo?
Nho Giáo là của Việt Tộc, là của tổ tiên
chúng ta đã hình thành, bảo vệ và gìn giữ nó
để giáo dục con cái LÀM NGƯỜI, làm con trong
gia đình, làm công dân của đất nước.
Nó cần thiết như hơi thở nên còn sống mãi đã
bao ngàn năm tuy dù đã gặp bao thử thách.
Phục hồi Nho Giáo sẽ có lợi liền trước mắt
là người người được yên, nhà nhà đều yên.
Lấy một thí dụ:
Nhân chủ: Con người được đưa lên ngang hàng
với Thiên Địa nên sống an nhiên tự tại,
không còn sợ trời đánh thánh vật, không còn
coi vật chất (địa) làm cứu cánh ở đời. Trong
văn minh Việt Nam Vua phong thần thánh cho
người làm thành hoàng cho làng xã. Thần nào
không thiêng, làng xã có thể truất đi, rước
thần khác về. Khổng Tử chủ trương “kính quỉ
thần nhi viễn chi” (Kính thần thánh xa xa
vậy thôi) bằng một năm cúng tế một lần. Vua
cũng chỉ một năm tế TRỜI một lần. Sau lễ tế
ở làng xã, mọi người cũng được nhờ ngay là
ăn uống vui vẻ. Các cô cậu cũng có dịp làm
quen nhau hay những lúc hát hò (hát trống
quân) những mối tình nở rộ rồi đi đến hôn
nhân. Khác với các tôn giáo bày ra đủ mọi lễ
tục để trói buộc con người, nào bịt mặt, nào
chay tịnh, nào đi cúng lễ mỗi ngày, nào chết
cho các chủ truơng chính trị, tôn giáo để
được lên thiên đàng . . . không làm thi phải
tội, biến con người thành nô lệ tinh thần.
Phải làm điều nọ điều kia vì sợ hay vì lợi
(để được lên thiên đàng) chứ không làm vì
thấy cần phải làm, không cần lợi lộc nào
hết.
Nói Thiên Địa có vẻ xa xôi nhưng cứ nhìn
ngay trước mắt, các tôn giáo hay các nền văn
hóa lấy Thiên làm nền tảng ngày nay với máu
đổ thịt rơi mỗi ngày do ôm bon tự sát để tử
vì đạo thì đủ rõ không xa xôi tí nào hay
cộng sản lấy Địa với thuyết “duy vật” đã
giết hàng chục triệu con người theo chủ
nghĩa cộng sản, thống trị hơn một phần nhân
loại trong thế kỷ 20 với thuyết “trọng lao
động” làm nền tảng thì chẳng những không làm
cho họ kiếm đủ ăn mà còn làm con người đến
đói nghèo cùng tột. Thế mới biết sai lầm do
thầy thuốc chỉ chết một người, lầm lẫn về
văn hóa sẽ giết muôn thế hệ.
Thái Hòa: Trong triết lý Nho Giáo, Chữ Hòa
là nền tảng hơn hết, lớn lao hơn hết. Các cụ
ta biểu lộ bằng Vuông Tròn cộng một, bánh
dầy tròn, bánh chưng vuông và đưa lên hàng
đồ cúng tế trong ngày linh thiêng nhất, ngày
Tết - và cũng được biểu lộ trong chuyện Bánh
Dầy Bánh Chưng với hoàng tử Tiết Liệu. Ai
nắm được thì làm Vua. Thái Hòa là hòa với
trời đất với thiên địa. Thiên Chúa giáo biểu
lộ chữ hòa này bằng chuyện thiên chúa xuống
làm người và đưa con người lên làm CON thiên
chúa. “Hãy trở nên hoàn thiện như CHA trên
trời”. Có nghĩa như Khổng nói “Chí thành như
thần”. Tức là nếu bạn chí thành với cái tâm
của bạn thì bạn sẽ trở thành Thánh thành
Thần. Nghi lễ, luật lệ, cúng vái, tử vì đạo
... chỉ là tùy phụ hay không cần thiết. Từ
cái hòa với thiên địa, đến hòa với mọi
người, hòa với thân nhân, láng diềng, không
kỳ thị ai hết vì mọi người đều là người như
mình “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân” (cái gì
mình không muốn thì đừng làm cho người
khác). Chữ HÒA biểu lộ nét song trùng của
Việt với nghĩa Trời không đẩy đất, đất không
đẩy trời – Lý không đẩy tình, tình không đẩy
lý – Được pháp luật, mất tự do v.v ... Ngôn
ngữ Việt luôn luôn luôn luôn biểu lộ nét
song trùng: sông núi, học hành, cơm nước,
rồng tiên, ông đùng bà đà ...
Tâm Linh: Phải dựa vào tiếng nói của lương
tâm mình. Dù là kẻ sát nhân, lúc nào đó
tiếng lương tâm sẽ nhắc nhỡ, đừng làm điều
ác. “Nhân chi sơ, tính bản thiện” (con người
bẩm sinh hướng về điều thiện). Lương tâm ví
như viên ngọc quí, phải được mài dũa để trở
nên ngày một trong sáng, (bỏ dần những chấp,
u minh trong Phật Giáo) để một ngày kia hòa
tiểu ngã của mình vào Đại Ngã của Vũ Trụ để
trở thành thánh, thành thần, thành CON của
Thượng Đế.
Tâm linh cũng gọi là Thần mà “thần thì vô
phương”, không lệ thuộc
vào hình thái nào hay nơi
nào, thấu nhập cùng khắp mới có thể nối 2
thái cực Trời và Đất thành Thái Hòa (Hòa
cùng cực). Ở các tôn giáo, quan niệm Thần
Linh vẫn trong đợt giống con ngưới: có tượng
(hình ảnh giống con người) có thanh (thần,
thánh nói) có xú (thánh thần phù hộ hay sửa
phạt) – Con người của tôn giáo vẫn ở đợt
cưõng hành (làm vì sợ trời đánh thánh vật)
hay lợi hành (làm vì lợi để được phúc) chứ
chưa có an hành (làm vì thấy cần phải làm).
2. Đâu là tư tưởng đích thực của Khổng Tử ?
Khổng Tử ra đời tại miền Nam Trung Quốc ngày
nay vào thế kỷ thứ 5 trước Tây Lịch, cùng
thời với Plato, Aristote ở Hy Lạp; Phật tổ ở
Ấn Độ ở thời kì mà Karl Jaspers –tư tưởng
gia người Đức - gọi là thời hoàng kim của tư
tưởng nhân loại, chấm dứt ở sự ra đời của
Đức Jesus (thế kỉ thứ 1 tây lịch) với tư
tưởng công bằng bác ái. Sau các ngài, cho
đến bây giờ không có đại tư tưởng gia nào
khác vượt qua các tư tưởng của các ngài.
Trường hợp Khổng Tử, ông tuyên bố tôi chỉ
thuật lại tư tưởng của người xưa chứ không
sáng tác ra điều gì mới (thuật nhi bất tác).
Đệ tử lại hỏi ông: Tìm Đạo ở đâu ? ông trả
lời tìm ở phương Nam. Điều này có nghĩa Đạo
Làm Người của tổ tiên ta đã được hình thành
từ nền văn minh nông nghiệp ngay từ những
thời đầu tiên của lịch sử con người mà huyền
sử đã tô đậm bằng Tổ Thần Nông ở miền nam
Trung Quốc ngày nay tức là địa bàn của dân
Bách Việt và Khổng Tử là người phương Nam,
người thuộc tộc Bách Việt (khác với người
Hán gốc du mục từ phương Bắc).
Khổng Tử không viết sách, các đệ tử sau này
thuật lại các lời dạy dỗ của ngài. Cuốn sách
được coi là tương đối phản ảnh tư tưởng
Khổng Tử hơn hết là Luận Ngữ. Cuốn này được
viết sau Khổng cả gần 100 năm. Do vậy sự
thay đổi gán ghép tư tưởng của ngài để phục
vụ chế độ phong kiến của các vua chúa không
phải không có. Thí dụ giải thích thế nào về
người ta gán cho Khổng Tử nói về trung quân?
Lúc thì có chỗ Khổng nói “giết một tên vua
vô đạo như giết một tên đạo tặc” – lúc thì
Khổng Giáo chủ trương “Vua bảo tôi chết, tôi
không chết là bất trung”. Muốn biết phân
biệt đâu là tư tưởng chính truyền của Khổng,
đâu là giả trá phải dựa vào tính nhất quán
là sợi chỉ hồng xuyên xuất tất cả tư tưởng
của người đó. Thí dụ toàn bộ tư tưởng của
Khổng là Nhân Đạo, là Vương Đạo thì không
thể nào lại thiếu sự nhất quán được, không
thể có sự mâu thuẫn lúc thế này lúc thế kia.
Một bậc thánh nhân Khổng, như Phật ... từ
2500 năm trước đã có một tư tưởng vĩ đại như
thế không thể nào lại mâu thuẫn với chính
mình, nói ngược lại những điều mình đã chủ
trương.
Nhiều người lẫn lộn Triết Học Khổng Tử hay
Triết Học Nho Giáo với Đạo Nho – Triết học
Phật Giáo với Đạo Phật. Học Triết Học để
biết Khổng, Phật sinh ra từ đâu, hoàn cảnh
xã hội thời các ngài thế nào, tư tưởng các
ngài ảnh hưởng thế nào trong xã hội v.v ...
đó là Triết học. Những hiểu biết này Cần
nhưng chưa Đủ. Điều chúng tôi kêu gọi phục
hồi Đạo Nho là để phục hồi đạo làm người.
Bất cứ ai cũng cần phải làm người trước khi
làm tín đồ một tôn giáo, lãnh nhận một nghề
nghiệp như kỹ sư, bác sĩ, một ông quan, ông
vua, ông cha, người mẹ. Sống và làm làm sao
cho đúng với cái tên mình đã mang. Người
mình thường nói Tài và Đức phải đi đôi. Đức
đây chính là cái tâm, lòng nhân ái của con
người. Đó là Nhân Trí Dũng của Nho - Bi hỉ
xả của Phật - Tin Cậy Mến của Thiên Chúa
Giáo. Học Nho học Phật là để thành Người Chí
Nhân, là để thành Phật chứ không phải chỉ
học để biết, để có kiến thức suông.
3. Phục hồi Nho Giáo bắt đầu từ đâu ?
Vài thí dụ nêu trên chỉ là vài điểm trong
triết lý Nho Giáo, là hồn của đạo làm người
mà con người mọi nơi, mọi thời đều cần đến.
Tây Phương chỉ có luân lý chứ chưa có Đạo
Học. Theo dõi các cuộc tranh luận công khai
trên truyền thanh, truyền hình, mọi người
đều đồng ý là xã hội ngày nay thác loạn dù
kỹ thuật đã rất cao, của cải vật chất đã quá
dư thừa do kinh tế tư bản đem lại. Họ muốn
đem công dân giáo dục vào học đường, nhưng
dựa vào đâu đây ? Dựa vào luân lý Thiên Chúa
Giáo như ngày xưa thì các tôn giáo khác
chống. Dựa vào nền đạo đức thực dụng thì
thiếu nền tảng như Đạo Đức Cách Mạng của
cộng sản thì máu đổ thịt rơi, con tố cha, vợ
tố chồng ... thì cũng đã sụp đổ. Đây là thời
cơ thuận tiện nhất để xây dựng một xã hội
mới hậu công nghệ mà bước đầu tiên cần làm
là CẢI TỔ CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC để vì lợi
ích trăm măm là trồng người trước đã. Việt
Nam là bãi chiến trường cho 2 chủ thuyết
cộng sản trong thời chiến và tư bản cho thời
toàn cầu hóa hiện nay, Việt Nam có làm được
chính sách BÌNH SẢN trong kinh tế và ĐẠO HỌC
cho giáo dục để đáp ứng vai trò Hội Nghị
Quốc Tế ở Honolulu năm 1939 và Hội Nghị Nho
Học tại Việt Nam tháng 17.12. 2004 tại Hà
Nội vừa qua hay không ? Chúng tôi xin góp
một ý nhỏ về chương trình giáo dục để các
bậc thức giả trong nước và hải ngoại góp ý
thảo luận.
1. Tam giác ngữ cho giáo dục Việt Nam: Tam
giác ngữ là cho học sinh học ngay 3 thứ
tiếng cùng một lúc ngay ở tiểu học. Đó là
tiếng Việt (mẹ đẻ) tiếng Anh (sinh ngữ) và
chữ Hán (tử ngữ). Thời cơ ở Việt Nam ngày
nay đã chín mùi để mạnh dạn đưa vào chương
trình giáo dục. Quần chúng đã và đang học
tiếng Anh, tiếng Tàu, tiếng Nhật, tiếng Đài
Loan để giao tiếp và làm kinh tế. Học tiếng
Anh để tiếp xúc với nửa phần nhân loại còn
nửa phần nhân loại khác là chữ Tầu, tiếng
Tàu (tiếng Phổ thông). Kinh tế, văn hóa thế
giới hiện nay do 2 thứ tiếng này thống trị.
Phải giải quyết cho xong vấn đề ngôn ngữ ở
bậc tiẻu học để học sinh đọc thông viết thạo
3 thứ tiếng này rồi lên bậc trung học hãy
dồn vào học kiến thưcù phổ thông rồi Đaị Học
học chuyên môn. Điều cần lưu ý là phải học
chữ Hán theo lối chân phương để có thể đọc
các sách cổ và chữ Nôm của ta. Không học lối
viết tắt của Tàu hiện nay vì sẽ cắt đứt mất
nguồn tìm về đạo học và văn hóa vốn đã rất
liên hệ giữ Tàu và Việt cả hàng mấy ngàn năm
nay. Tuổi trẻ rất dễ học sinh ngữ và tử ngữ.
Khoa học ngày nay đã chứng minh trẻ rất dễ
học, miễn là học lúc còn nhỏ. Nước Anh nay
cũng bắt học sinh nay phải học 2 sinh ngữ.
Dạy chữ Hán cho các em phải đưa vào các câu
có nội dung Đạo Học dù các em không hiểu,
sau này lớn lên, tiềm thức sẽ cho các em
hiểu và làm theo những gì đã học ngày còn
bé. Những câu đó thí dụ như: Tiên học lễ hậu
học văn, Công cha như núi Thái Sơn ... Chí
Thành như Thần – Thiên Lý tại nhân tâm
v.v... Ngày nay kỹ thuật tiên tiến với TV và
các phương tiện khác, mỗi trường chỉ cần một
số thầy cô giáo người nói tiếng Anh, tiếng
Phổ Thông chính gốc, không còn khó khăn gì.
2. Lễ Gia Tiên. Trẻ em Việt Nam ngày nay nổi
tiếng khắp thế giới vì học giỏi và thành
công là nhờ đâu? Người ta đã nghiên cứu và
bàn cãi nhiều, tôi chỉ xin nêu một lý do căn
bản là nền tảng gia đình. Gia đình càng vững
chắc, trẻ càng học giỏi và thành công. Vậy
lấy nền tảng gia đình từ đâu? Đó là LỄ GIA
TIÊN hay ĐẠO THỜ ÔNG BÀ. Có người nói rằng
đâu phải chỉ có Việt tộc mới có lễ gia tiên,
có đạo thờ ông bà? Đúng. Nhưng cái khác biệt
của ta là thờ cách nào hay nói khác đi là
cách đặt bài vị ra sao, triết lý nằm sâu
trong đạo thờ ông bà ở chỗ mô? Thờ ông bà
không phải là mong ông bà về ăn của cúng mà
là thờ nhân tính con người. Nếu trời đất
đáng thờ thì con người cũng phải được thờ vì
con người ngang hàng với trời cùng đất, con
người là một trong tam tài (thiên địa nhân).
Tổ tiên chúng ta lấy việc thờ cúng tổ tiên
làm phương tiện giáo dục con cái, đừng làm
uế nhục gia tiên, thanh danh gia đình. Con
cái làm nên là do phúc đức ông bà để lại.
Con cháu phải tiếp thừa và phát huy truyền
thống ấy cho nên lối đặt bài vị trong bàn
thờ tổ tiên lấy MÌNH làm gốc. Từ mình tính
lên thờ 4 đời là: Nị (cha) Tổ (ông) Tằng
(ông Cố – cha của ông) Cao (cha của ông Cố)
– tính xuống là thờ 4 đời là: Con, cháu,
chắt, chít. Bài vị được xếp theo Ngũ Hành:
thủy hỏa kim mộc thổ. Tất cả các hành đều đi
qua Thổ trung cung. Thổ nằm ở giữa là MÌNH
để tính lên hay tính xuống 4 đời như nói ở
trên. Thổ cũng là Văn Tổ tức là vươn lên từ
hồn thiêng của cha ông lên đến nhân tính con
người. Đạo thờ ông bà cao trọng như vậy
nhưng chính MÌNH lại là trung tâm nên mình
phải sống làm sao để xứng đáng kế nghiệp
truyền thống gia đình của mình. Bởi vậy lễ
Cúng Giao Thừa là giây phút thiêng liêng
nhất của mỗi gia đình nhằm giáo dục con em.
Đây là ý kiến của Hội An Việt tại Vương Quốc
Anh. Mong quí vị đóng góp ý kiến hầu đạo
sống của dân tộc được phục hồi đem lại sự
phú cường cả về tinh thần lẫn vật chất cho
đất nước. Vì triết lý là gì nếu không phải
là “một nghệ thuật xếp đặt việc nước việc
nhà cho mọi người đều được hạnh phúc” – KIM
ĐỊNH
VŨ KHÁNH THÀNH
Hội An Việt tại Vương Quốc Anh
ĐT: (44) 207 275 7780
E-mail:
anvietuk@aol.com
(Khoa Hoc)