Ngày thứ năm
9 tháng 3 năm 2006, nước Trung hoa đón nhận
người công dân thứ 1300 triệu. (La
population chinoise, mythes et réalités.--
Presses de l’Université de Montréal, 2006,
p.7).
Mặc dù với một chánh sách hạn chế sinh sản
được thi hành nghiêm chỉnh từ năm 1980, dân
số Trung quốc vẫn tăng mỗi năm hơn 10 triệu
người. Và mặc dù mỗi năm các hiệp hội quốc
tế chấp nhận độ 10 000 con nuôi Trung quốc
xuất khẩu, hiện tượng nầy cũng chỉ là giọt
nước, chẳng ảnh hưởng chút nào đến nạn nhân
mãn của Trung quốc.
Chỗ nào có đất là có người Tàu. Từ nhiều
thập niên gần đây, phải nói thêm, chỗ nào có
đất là có sản phẩm Tàu. Người Tàu sống chung
với cả thế giới hôm nay. Thử nhìn những gói
quà Giáng sinh ngổn ngang dưới cây thông ở
nhà bạn. Từ cái máy truyền hình hiện đại
mang nhản hiệu Sony, cái máy vi tính IBM,
cái áo đắt tiền hiệu Versace mua ở Holt
Renfrew cho đến chiếc xe tự động bằng nhựa
mà ông nội mua ở Toy’sRus để tặng cháu, tất
cả đều Made in China.
Người tiêu thụ không sao quên được những món
hàng Made in Germany, Made in France, vào
đầu thế kỷ qua, Made in Japan vào những năm
50, 60, rồi lần lượt Made in Taiwan những
năm 70, 80. Nếu khi xưa người tiêu thụ có
quyền chọn lựa, có khi là loại hàng đắt giá,
phẩm chất tốt thì hôm nay, người tiêu thụ
không còn hành sử được cái quyền nầy. Cho dù
mua bất cứ hiệu nào, cửa hàng nào, giá nào,
thì hơn 90% vẫn là Made in China.
Nước Tàu đang bắt đầu khống chế, thay đổi
thế giới. Ngay từ thế kỷ 18, Napoléon đã
tuyên bố một câu mà nhiều người cho là tiên
tri vớ vẩn : Quand la Chine s’éveillera, le
monde tremblera (Khi nước Tàu thức dậy, thế
giới sẽ rung chuyển). Năm 1973, Alain
Peyrefitte, một tổng trưởng của De Gaulle
nhắc lại câu nói năm xưa của Napoléon cho
cái tựa quyển sách của ông, Quand la Chine
s’éveillera… làm thế giới để ý đến con rồng
vàng Châu Á bắt đầu thức dậy sau khi chìm
đắm trong giấc ngủ từ nhiều thập niên dưới
chế độ vô sản của Mao. Khủng long hôm nay
đang vẫy vùng, làm đảo điên thế giới. Erik
Izraelewicz đã tài tình mô tả thực trạng nầy
trong một quyển sách nhỏ của ông vừa xuất
bản năm 2005 : Quand la Chine change le
monde.
Người Tàu hôm nay cũng không giữ được tính
khiêm tốn cố hữu. Một lãnh tụ đã tuyên bố:
Nếu thế kỷ 19 là thế kỷ chúng ta bị lăng
nhục, thì thế kỷ 20 là thế kỷ để chúng ta
khôi phục và thế kỷ 21 là thế kỷ để chúng ta
khống chế ( Si le 19è siècle a été pour nous
celui de l’humiliation, le 20è celui de la
restauration, le 21è sera celui de la
domination)
Từ những nhận định trên, bài viết tổng hợp
một số tài liệu về một số vấn đề trọng đại
của Trung quốc, từ những khó khăn nội tại
đến chính sách kinh tế đổi mới để ước định
tầm ảnh hưởng của Trung quốc đến nền kinh tế
và an sinh của thế giới.
Mèo đen, mèo trắng
Một cánh cửa, hoặc để đóng, hoặc để mở,
người Trung quốc thường nói theo một ngạn
ngữ. Nước Tàu trong thế kỷ qua đã được điều
khiển bởi hai vĩ nhân của họ với hai chánh
sách đóng và mở.
Trong vòng 30 năm (1949-1978), Mao Trạch
Đông, với chánh sách vô sản chuyên chế và cô
lập với thế giới bên ngoài, xa lánh tư bản
Âu- Mỹ và bọn theo chủ nghĩa xét lại của
Liên Sô và đặc biệt với chánh sách chén cơm
bằng sắt (người dân được bảo đảm một việc
làm với một đồng lương thấp nhưng được chính
phủ cung cấp mọi dịch vụ từ giáo dục trẻ con
đến mai táng cha mẹ) đã đưa nước Tàu tụt
hạng trong số các quốc gia nghèo đói, chậm
tiến.
Tháng 12 năm 1978, Uỷ Ban Trung ương Đảng
chấp thuận kế hoạch kinh tế của Đặng Tiểu
Bình (Den Xiao Ping), bắt đầu một kỷ nguyên
mới với chánh sách mở cửa kinh tế và 4 đổi
mới (cải tổ 4 lãnh vực : canh nông, kỹ nghệ,
khoa học kỹ thuật và quốc phòng). Khác với
chánh sách độc đoán vô sản bạo tàn của Mao
đã đưa dân chúng đến tình trạng bần cùng,
Đặng Tiểu Bình, tuy không ly khai với chủ
thuyết và chế độ, đã đưa phương thức kinh tế
thị trường Tây phương vào công cuộc cải tổ.
Câu nói bất hủ của ông : không cần biết là
mèo trắng hay mèo đen, miễn là nó bắt được
chuột là căn bản tư tưởng của vận hội mới
(Câu nói có nhiều cách diễn dịch, nhưng có
thể hiểu là dù cho tư bản hay cộng sản, miễn
là đem lại phú cường cho quốc gia thì đều là
tốt).
Không theo Mao mà cũng không chống Mao, họ
Đặng đã khôn khéo ví von : Mao đúng 70%, Mao
sai 30%. Với chánh sách « bàn tay sắt bọc
nhung » Đặng Tiểu Bình không ngần ngại dùng
quyền lực để triệt hạ lực lượng cản ngăn
bước tiến của ông. Cuộc thảm sát Thiên An
Môn năm 1989, tuy là một vết chàm của chế
độ, nhưng là một nỗi đau chẳng đặng đừng
Để áp dụng chính sách đổi mới kinh tế, Đặng
Tiểu Bình đã thực hiện một sáng kiến thông
minh nhưng táo bạo là thiết lập các đặc khu
kinh tế để thu hút đầu tư của ngoại quốc tư
bản và du nhập kỹ thuật Tây phương mà gần
nửa thế kỷ qua, Trung quốc đã cô lập hoàn
toàn với thế giới bên ngoài. Giới kinh doanh
ngoại quốc tại các đặc khu được đặc quyền là
miễn thuế lợi tức hoàn toàn trong 2 năm đầu
và 50% trong 3 năm sau.
Rút kinh nghiệm các cuộc cải cách vĩ đại
thất bại của Mao, Đặng Tiểu Bình đã áp dụng
phương thức một cách thận trọng như ông đã
nói với dân chúng của ông : « Muốn sang sông
thì phải bám chân vào từng tảng đá » trong
công cuộc thiết lập các đặc khu kinh tế. Nếu
không bám được một tảng đá, thì tìm bám tảng
đá khác, nếu không thành công ở một đặc khu
thì tìm lập đặc khu khác.
Đặc khu đầu tiên đươc ra đời ở Thâm Quyến (
Shenzen) vốn là một làng chài lưới với 30
000 dân ở ven biển tỉnh thuộc Quảng Đông,
đối diện với Hong Kong. Sau 20 năm, Thâm
Quyến trở thành một đại trung tâm kỹ nghệ
với hơn 6 triệu dân, với những trung tâm
nghiên cứu, đại học tối tân, với một lợi tức
đồng niên của người dân cao nhứt của Trung
Quốc (5500 mỹ kim trong khi An Huy, cách đó
vài trăm cây số chỉ có 700 mỹ kim). Sau đó,
những đặc khu như Chu Hải (Zhuhai), Sán Đầu
(Shantou), Hạ Môn, đảo Hải Nam…là những con
mắt nhìn ra thế giới, những nhịp cầu đưa đầu
tư ngoại quốc vào Trung Quốc.
Khi Bill bắt tay Butcher (Boucher)
Năm 1979, Đặng Tiểu Bình viếng Hoa Kỳ bình
thường hóa nền ngoại giao giữa hai nước và
vận động giới kinh doanh cho kế hoạch của
ông. Nhưng phải chờ đến hơn 10 năm sau, dưới
thời Tổng Thống Clinton, nền kinh tế Trung
Hoa mới thực sự nhảy vọt.
Năm 1991, Bill Clinton đã dõng dạc tuyên bố
khi chuẩn bị ra tranh cử tổng thống : Tôi
chẳng bao giờ bắt tay những tên đồ tể ở
Thiên An Môn. Je ne serrerai jamais la main
des bouchers de Tienanmen (Chine-USA la
guerre programmée, p.149.)
Nhưng năm 1993, khi vào Bạch Ôc, Clinton đã
làm trái ngược. Nếu nước Mỹ hành sử với nước
Tàu như kẻ thù, nước Tàu sẽ là kẻ thù của
nước Mỹ. Chiến tranh lạnh đã cáo chung rồi.
Đường lối nầy mở đầu cho chánh sách mở cửa
kinh tế với nước Tàu. Tư bản Mỹ vồ vập nhảy
vô thị trường Trung quốc mà họ cho là khổng
lồ, béo bở, tưởng chừng như phong trào
Far-West thế kỷ trước. Nhưng phải hiểu rằng
dân Tàu là dân mưu trí, không dễ gì lợi dụng
họ được. Đây là vấn đề trao đổi (donnant
donnant). Muốn đến làm ăn, buôn bán với nước
Tàu, tư bản Âu-Mỹ phải chuyển nhượng kiến
thức kỹ thuật (transferts technologiques)
cho Tàu, chưa kể một đội ngũ đông đảo độ 100
000 sinh viên, kỹ thuật gia Tàu đến Mỹ học
tập, ăn cắp kỹ thuật. Năm 2006 : 134 000
sinh viên, 42 000 tốt nghiệp về nước
(L’Actualité, p. 48). Sự ăn cắp, bắt chước
kỹ thuật của người Tàu đa dạng và tinh vi
đến nỗi cơ quan FBI đã cảnh cáo là ngay
trong số một triệu du khách Tàu đến Mỹ có
lẫn lộn nhiều điệp viên mọi cấp, mọi ngành.
Nhiều chính trị gia, kinh tế gia Mỹ lên
tiếng kết án Clinton ngây thơ, thậm chí vì
xung đột quyền lợi (conflit d’intérêt). Để
tái đắc cử nhiệm kỳ 1996, trong ban tham mưu
của ông có nhiều bạn cũ là các nhà tư bản
Tàu như Johnny Chung, Johnny Huang, Charlie
Tri, thậm chí có những người bị tình nghi là
gián điệp như Maria Hsia hay Liu Chaoying.
Clinton tuyên bố một cách vô tội vạ là ông
kinh ngạc khi biết một phần quỹ bầu cử của
ông có thể có sự đóng góp của Trung quốc!!!
(Chine-USA, la guerre programmée, p. 152)
Trong việc làm ăn với Tây phương, các nhà kỹ
nghệ Trung quốc đã áp dụng câu nói của
Lénine thuở nào:Tư bản bán cho chúng ta sợi
dây để chúng ta treo cổ chúng (Les
capitalistes nous vendrons la corde qui nous
servira à les pendre). Tư bản Âu-Mỹ, vì tư
lợi chốc thời đã cống hiến cho Trung quốc
biết bao nhiêu công trình nghiên cứu tốn kém
từ bao thập niên.
Ngoài ra, dưới hình thức những công ty hỗn
hợp (joint ventures), Trung quốc đã lợi dụng
một cách khéo léo sự cạnh tranh giữa các
công ty ngoại quốc để hưởng lợi. Chỉ cần đan
kể một thí dụ. Dongfeng Motor, môt công ty
chế tạo xe hơi đã ký 5 thỏa hiệp với 5 công
ty khác nhau để sản xuất xe hơi trên nước
Tàu. Với nhóm PSA của Pháp để sản xuất xe
Citroen, Peugeot 307,với Honda của Nhựt,với
Hyundai để làm Kia, với Nissan, với
Renault.Thậm chí Guangzhou Automotive hợp
tác sản xuất với Honda và Toyota là hai công
ty đối thủ trên đất nước họ.
Khi chú Sam làm ăn với chú Ba (Tàu)
Chú Sam đây là dân Mỹ nói chung, mà cũng là
Sam Walton, ông chủ đầu tiên của cái chợ nhỏ
tên là Wal-Mart thành lập năm 1962 ở Rogers,
một cái làng hẻo lánh thuộc tiểu bang
Arkansas. Nửa thế kỷ sau, Wal-Mart đã trở
thành một công ty lớn nhứt thế giới với 6500
siêu thị (3500 ở Hoa Kỳ và 3000 ở 14 xứ khác
mà nhiều nhứt ở Mexico với 815 cửa hàng, ở
Trung Quốc có 406 cửa hàng năm 2007)) và 1,8
triệu nhân công (1,3 triệu ở Hoa Kỳ). Với
khẩu hiệu lời ít nhưng bán nhiều, Wal-Mart
đã tìm được ở Trung quốc là một đồng chí
trong việc kinh doanh. 80% hàng hóa của
Wal-Mart sản xuất ở Trung Quốc và chỉ
Wal-Mart thôi, hàng Trung quốc chiếm 12%
tổng số hàng nhập cảng của Hoa Kỳ. Lối làm
ăn chèn ép của Wal-Mart lại thích nghi với
lối sản xuất của Trung quốc bởi lẽ không một
nước nào trên thế giới có thể cung cấp một
khối hàng khổng lồ với những điều kiện ngặt
nghèo trong một thời gian kỷ lục.
Hàng triệu
nhân công Trung quốc kỹ luật, cần việc làm,
chấp nhận mọi điều kiện làm việc ngày đêm
với một đồng lương ít hơn 30 lần so với nhân
công Tây phương, đã đáp ứng công thức của
Wal-Mart, đã làm giảm giá hàng hóa từ 15%
đến 25%, đã tiết kiệm cho 200 triệu người
tiêu thụ chú Sam mỗi năm 20 tỷ mỹ kim (80%
gia đình Hoa kỳ đến cửa hàng Walt Mart ít
nhứt mỗi năm một lần và 90% dân Mỹ ở trong
chu vi 15 dặm một Wal-Mart). Theo Wal-Mart,
công ty phục vụ 176 triệu khách hàng trên
thế giới mỗi tuần, và chỉ riêng nước Mỹ, Wal
- Mart thu vào 35 triệu mỗi giờ, 24 giờ mỗi
ngày và 365 ngày một năm. Các bạn làm thử
một bài toán nhơn, Wal-Mart dành cho dân
Wal-Mart cái đặc ân nầy!!!
Wal-Mart và đồng chí Trung quốc đã xóa tên
và tiếp tục xóa tên nhiều đại công ty đã
trường tồn trên thế giới từ bao thế kỷ. Chỉ
cần đan kể vài tên : K-Mart, Woolco (tương
đương với Wal-Mart hiện nay), FAO Schwartz
(đồ chơi). Trong khi Steinway, công ty nổi
tiếng về nhạc cụ của Hoa Kỳ lần lượt đóng
cửa các xưởng ở Arizona, Indiana thì ở Quảng
Đông, công ty của Tong Zhi Cheng sản xuất
mỗi năm 1 triệu đàn guitare và 80 000 piano.
Làm sao Steinway có thể bán được một cây đàn
piano với giá 50 000 mỹ kim trong khi cây
đàn của Tong chỉ có 2000 đồng. Dĩ nhiên có
vấn đề phẩm chất, nhưng thực tế, vấn đề giá
tiền vẫn là một sức hấp dẩn lớn.Từ một đại
công ty sản xuất, Steinway trở thành một
công ty phân phối, trong các cửa hàng ngoài
một vài loại piano Steinway đắc tiền có hàng
trăm piano đủ loại, đủ giá Made in China.
Trong lãnh vực quần áo, hàng vải, sự tràn
ngập hàng hóa Trung Quốc sau khi bỏ các
quotas từ ba năm qua đã khiến 50% kỹ nghệ
nầy ở Hoa Kỳ, Canada và Tây Âu phải phá sản
hay phải thay đổi hệ thống sản xuất.
Kỹ nghệ giày ở Indonésie tan nát, 50 000 thợ
đóng giày ở Âu châu mất việc, kỹ nghệ làm
giày ở Canada chỉ còn thu hình lại sản xuất
bottes cho thợ thuyền và quân đội.
John Sweeney, chủ tịch nghiệp đoàn AFL-CIO,
một trong những nghiệp đoàn lớn nhứt nước
Mỹ, trong một báo cáo gởi Tổng Thống Bush đã
gay gắt : « Ông Bush, ông đứng về phía công
nhân người Mỹ hay về phía những tên bốc lột
Trung quốc làm mất đi công việc của nhân
công người Mỹ ».Chỉ năm 2004, nghiệp đoàn
nầy có 727 000 người mất việc.(Quand la
Chine change le monde, p.120)
Không phải chỉ với giới kỹ nghệ Hoa Kỳ, kỹ
nghệ các quốc gia đang phát triển và cả Nhựt
cũng bị vạ lây. Made in China đã thay thế
Made in Mexico, Made in Korea, Made in
Japan. Nhiều công ty Mễ dọc theo biên giới
Mễ- Californie khánh tận, những khế ước đặt
hàng với Chili, Haiti, Honduras, Việt-Nam
không được tiếp tục, Wal-Mart và Trung Quốc
đang làm giới sản xuất thế giới đảo điên,
phẩn nộ nhưng bất lực.
Bất lực bởi lẽ kinh tế thế giới đang bị chi
phối phần lớn bởi Tổ chức Thương Mại Thế
Giới (OMC=Organisation mondiale du commerce,
tiếng Anh là WTO = World Trade Organization)
mà Trung Quốc là hội viên từ tháng 11 năm
2001. Tổ chức nầy là hậu thân của thỏa ước
GATT để ấn định quyền tự do thương mại các
nước trên thế giới dựa vào một số nguyên tắc
như sau :
- nguyên tắc “tối huệ quốc” có nghĩa là nếu
một nước dành cho một nước hội viên một số
đặc quyền thì phải chấp nhận cho các hội
viên khác những đặc quyền giống như vậy.
- nguyên tắc “đối xử quốc gia” có nghĩa là
mọi hàng hóa, dịch vụ, quyền sỡ hữu trí tuệ
(propriété intellectuelle) nhập cảng từ nước
ngoài phải được đối xữ công bằng giống như
các sản phẩm cùng loại trong nước. Chế độ
bảo thủ kinh tế bằng các hàng rào quan thuế,
những quotas phải cáo chung.
- nguyên tắc “cạnh tranh công bằng” có nghĩa
là sự tự do canh tranh phải được thực hiện
trong những điều kiện bình đẳng cho các hội
viên. Các hình thức trợ cấp của chính phủ để
làm giảm giá thành sản xuất không được chấp
nhận.
- Sự phát triển kinh tế phải tôn trọng sự
phát triển bền vững (développement durable)
Trung Quốc đã khai thác triệt để các nguyên
tắc nầy để xuất cảng ra thị trường nước
ngoài một khối hàng hóa khổng lồ rẻ tiền,
phần lớn là vật gia dụng, làm tan vở hay gây
khó khăn cho các xí nghiệp Âu-Mỹ vốn dựa
trên các luật lao động của tư bản. Nhiều nhà
kinh tế đã công khai tuyên bố là nguyên tắc
tự do thương mại chỉ thực sự có lợi cho
Trung Quốc vì Trung Quốc trợ cấp trá hình
cho các công ty quốc doanh để bán phá giá
(dumping), không tôn trọng quyền sỡ hữu trí
tuệ.
Phân nửa số hàng hóa giả, hàng bắt chước,
lưu hành trên thế giới xuất phát từ Trung
Quốc. Sinh hoạt nầy sử dụng từ 3 đến 5 triệu
nhân công, đem lại 8% tổng sản lượng của
nước Tàu. 90% CD nhạc, 95% DVD phim tiêu thụ
ở Tàu là sản phẩm in chép lại. Hiện tượng đồ
giả bao trùm tất cả các loại sản phẩm:dược
phẩm, thực phẩm, thuốc hút, đồ phụ tùng xe
hơi và phi cơ, và 60% các sản phẩm đắc
tiền.(La Chine nouvelle,p.80 )
Mặc dù từ năm 2004, chánh phủ Trung quốc đã
áp dụng nhiều biện pháp tích cực để chấm dứt
tệ nạn nầy, nhưng các chuyên gia cho rằng
vẫn còn 30% hàng hóa giả của Trung Quốc.
Chuyện hàng giả vẫn là chuyện muôn đời của
chú Ba. Nếu trước đây thế giới lên án việc
in lậu băng nhạc, phim ảnh thì hôm nay,
chuyện nầy đã được hợp thức hóa . Steven
Chen (không rõ Tàu mấy đời) và Chad Hurley
đã bán công ty YouTube của họ với giá 1,6 tỉ
mỹ kim mà họ vừa thành lập đầu năm 2005 cho
Google sau gần 2 năm họat động. Vấn đề chỉ
là biết timing, theo thời cơ.
Khi nhân dân tệ làm khó dễ tiền tệ thế giới
Ngày 1 tháng 12 năm 1948, Mao thiết lập nhân
dân tệ, tiếng chính thức là rinminbi, tiếng
thông dụng là yuan (ký hiệu là Y khác với ký
hiệu đồng yen của Nhựt Bổn là ¥ ).
Lúc ấy, 1 mỹ kim = 600 yuan. Từ năm 1952 đến
năm 1973, hối suất là 1 mỹ kim = 2,42 yuans
nhưng chẳng quan hệ gì vì Trung quốc không
có ngoại thương với Tây phương.Từ cuộc đổi
mới kinh tế, Trung quốc áp dụng một hối suất
thả nổi, 1 mỹ kim=8,28 yuans.
Trong việc buôn bán với Mỹ, Trung Quốc tìm
cách kềm hãm đồng yuan ở một hối suất thấp
để giữ giá hàng rẻ, xuất khẩu nhiều, trong
khi Hoa Kỳ phải vay tiền, dưới hình thức
phát hành công khố phiếu để trả nợ thâm hụt
ngoại thương (năm 2005 lên đến 200 tỉ bằng
25% tổng số nợ của quốc gia) .
Nhưng dưới áp lực của Mỹ, Trung quốc phải
điều chỉnh hối suất và đầu năm 2006, 1 mỹ
kim ăn 8,06 yuan. (tháng 3-2008 : 1 mỹ kim =
7, 015 yuan)
Dĩ nhiên mọi biện pháp tăng giá đồng yuan sẽ
làm gia tăng vật giá nhập khẩu, gia tăng lạm
phát, tạo bất bình cho phe Wal-Mart và dân
chúng Mỹ. Mặt khác, Trung Quốc cũng cảnh cáo
Mỹ là những áp lực cứng rắn của Mỹ về hối
đoái sẽ đưa Trung Quốc đến quyết định là bán
ồ ạt 600 tỉ công khố phiếu của Mỹ mà hiện
giờ Trung Quốc đang nắm giữ. Việc nầy sẽ đưa
đến một cuộc khủng hoảng tài chánh giữa hai
nước và cả thế giới như cuộc khủng hoảng
kinh tế năm 1929. Không thể làm áp lực quá
đáng với Trung Cộng, năm qua Mỹ áp dụng
chánh sách phá giá đồng mỹ kim khiến hối
suất nhân dân tệ và tiền tệ các nước tăng
lên, ảnh hưởng khá nhiều đến việc xuất cảng
hàng hóa Trung Quốc.
Điều nghịch lý là từ một nước nghèo, Trung
Quốc hiện nay là chủ nợ của Hoa Kỳ, dùng
ngoại tệ dự trử để kích thích giới tiêu thụ
Mỹ và Tây Phương bằng cách bán hàng thật rẻ
để họ tiêu thụ nhiều hơn và mắc nợ nhiều
hơn.
Ngọai thương sầm uất giữa Trung Quốc và Mỹ
đã tạo nên một mất quân bình thất lợi trong
cán cân thương mại của Mỹ.
Năm 2004, trị giá xuất khẩu hàng Mỹ qua
Trung quốc là 44,7 tỉ trong khi nhập khẩu
hàng của Trung Quốc124,9 tỉ. Cán cân thương
mại giữa Mỹ và Liên Hiệp Âu châu với Trung
Quốc thâm hụt mỗi năm hơn 100 tỉ mỹ kim.
Năm 2005, trị giá xuất khẩu của Trung quốc
là 762 tỉ MK( đứng hàng thứ ba thế giới sau
Hoa Kỳ và Đức) và thặng dư ngoại tệ 102 tỉ
MK, gấp ba lần năm 2004..
Khi tư bản đỏ canh tân quốc gia và đầu tư ở
quốc ngoại
Trung quốc hiện nay có một thặng dư 1000 tỉ
mỹ kim ngoại tệ. Đối với một quốc gia mà hệ
thống ngân hàng đa số còn quốc doanh, sự
phát triển kinh tế còn bất bình đẳng giữa
các đô thị, việc đầu tư một khối bạc khổng
lồ như trên là một thách thức lớn đối với
Trung Quốc.
Những công trình vĩ đại
Trung quốc đã xúc tiến nhiều công trình xây
dựng cơ cấu hạ tầng vĩ đại trong thập niên
qua với kinh phí vượt hơn hàng trăm tỉ mỹ
kim. Chỉ trong hai năm 2001-2003, số đường
sá được xây lên đến gần 200 000km trong khi
suốt nửa thế kỷ trước (1950-2000) họ chỉ
thực hiện được 170 000km. Năm 2005, Trung
Quốc có thêm 13 000 km đường hỏa xa, đặc
biệt đường nối liền từ Qinghai đến Lhassa
(Tây Tạng) dài 1400 km xuyên qua đèo Tangula
ở một cao độ 5000m, một kỹ lục thế giới,
vượt qua 2647 cầu và 11 đườnh hầm. Trung
Quốc đang xây chiếc cầu dài nhứt thế giới
(36km) băng qua vịnh Hàn Châu, nối liền
Ninhbo và Thượng Hải. Chỉ trong năm 2004,
Thượng Hải đã xây một số nhà chọc trời bằng
tất cả các nhà chọc trời ở New York gộp lại.
Đập thủy điện Tam Hiệp ( Trois- Gorges)
Một trong những công trình vĩ đại mà người
Trung Quốc đang thực hiện là đập thủy điện
Tam Hiệp. Sau Vạn Lý Trường Thành , Trung
Quốc cận đại sẽ hoàn thành một đập thủy điện
lớn nhứt thế giới ở Tam Hiệp thuộc tỉnh Hồ
Bắc, mà Trung quốc tự hào là một Vạn lý
Trường Thành mới của thế kỷ 21 bởi lẽ người
ta có thể nhìn thấy nó từ mặt trăng.
Nếu sông Dương Tử là mạch sống của dân miền
Hoa Trung, thì ngược lại con sông nầy cũng
là một thiên tai thường trực cho dân cư sống
ven sông bởi những cơn lũ lụt khủng khiếp đã
giết hàng trăm ngàn người trong lịch sử (30
triệu nạn nhân năm 1931 và 142 000 người
chết năm 1935).Trong dự án lịch sử nầy,
Trung Quốc đã đạt những kỷ lục thế giới bằng
cách xẻ núi lấp sông để điều hòa mực nước và
đồng thời xây một đập thủy điện có thể cung
cấp 11% điện lực cho toàn quốc, đưa năng
lượng đến một chu vi 1000km, nhằm vào khu
vực kỷ nghệ ở vùng ven biển Hoa Nam, đặc
biệt Thượng Hải. Bắt đầu thiết kế từ năm
1994, khởi công năm 1997 và sẽ hoàn thành
năm 2009, đập thủy điện Tam Hiệp là tượng
trưng cho sức mạnh và sự vĩ đại của Trung
Quốc : hệ thống đê giữ nước dài 600km, đập
nước dài 2309m, cao 185m, dự trử 4 tỉ mét
khối nước.
Để hoàn tất được con đập phải dùng 27 triệu
m3 béton và việc thiết lập con đê ngăn nước
phá kỷ lục thế giới trong các công trình
thủy điện : những con đê được chôn sâu 60m
dưới mặt nước, sử dụng hằng ngày 116 000 m3
béton và công tác được thực hiện dưới một
lưu lượng mạnh đến 11 600m3 mỗi phút.
Dự án Tam Hiệp đã gây nhiều chống đối trong
nước lẫn ngoài nước. Gần hai triệu dân bị
dời chỗ ở và cho đến nay vẫn còn nhiều người
chưa được định cư, 13 thành phố, 4500 ngôi
làng và 160 địa điểm khảo cổ bị tàn phá.
Ngân Hàng Thế giới (Banque mondiale) đã từ
chối cho dự án vay tiền và các nhà môi sinh
học cho rằng dự án đã làm tiêu diệt nhiều
loại thủy sản hiếm và hồ chứa nước sẽ bị ô
nhiểm bởi lẽ nó sẽ là một đống rác lộ thiên
khổng lồ. Chi phí cho dự án là 30 tỉ mỹ kim,
nhưng số thiệt hại tài sản của cư dân và môi
sinh không tính hết được.
Phát triển Thành Đô (Chongqing)
Trung Quốc đầu tư 200 tỉ mỹ kim trong vòng
10 năm để phát triển Thành Đô(Chongqing) thủ
đô của Tứ Xuyên, nằm bên cạnh đập Tam Hiệp
đang gia tăng dân số lên 30 triệu. Đây là
một dự án vĩ đại bởi lẽ dân số ở Thành Đô
hiện nay chỉ có 8 triệu thị dân phần còn lại
là nông dân. Chánh phủ đô thị hóa để đưa mỗi
năm nửa triệu nông dân vô thành phố và theo
kế họach đến năm 2020, 70% dân số sẽ là thị
dân, khi ấy Thành Đô sẽ là thành phố lớn
nhất thế giới. Sông Dương Tử sẽ là một đường
thủy lợi đưa các tàu hàng 10 000 tấn từ
Thượng Hải đến Thành Đô nhờ công trình điều
hòa mực nước và nới rộng lòng sông trong với
đập Tam Hiệp. Một đường xa lộ dài 900km và 4
đường hỏa xa xuyên núi , một hệ thống métro
và một phi trường tối tân sẽ được thiết lập
tại thành phố nầy để khai thác ngành du lịch
khi kỳ quan đập Tam Hiệp hoàn tất. Thành Đô
sẽ là một trung tâm kỹ nghệ phát triển vùng
nội địa Trung Quốc.
Những đầu tư vĩ đại
Trong lãnh việc phát triển kỹ nghệ, từ nhiều
năm nay, Trung Quốc không còn ở thế thụ động
mà bắt đầu dùng ngoại tệ sở hữu và kỹ thuật
đã thu thập được của Âu- Mỹ để thiết lập các
nhà máy khổng lồ trong nước lẫn hải ngoại
hầu đáp ứng các thị trường tiêu thụ nước
ngoài và nội địa, các nhu cầu chiến lược như
dầu khí và các nguyên liệu cần thiết cho nhu
cầu phát triển kỹ nghệ.
Tháng 12 năm 2004, công ty Lenovo Computer
của Trung Quốc đã mua toàn thể bộ phận sản
xuất máy vi tính cá nhân hiệu ThinkPad của
hảng IBM với giá 1,75 tỉ mỹ kim để trở thành
công ty lớn thứ ba thế giới về máy vi tính
sau Dell và Hewlett-Packard (Lenovo hiện
chiếm 27% thị trường máy vi tính trên thế
giới)
Năm 2005, công ty TCL hợp tác đầu tư với
Thomson của Pháp, mua hảng Schneider của Đức
để sản xuất TV, DVD (TCL hiện nay đứng số 1
về TV, vượt qua cả RCA); với Alcatel để sản
xuất điện thoại di động. Hảng Nanjing
Automotive (sản xuất 600 000 xe hơi năm
2005) đã mua lại hảng xe Rover của Anh. Giới
tiêu thụ thế giới sẽ bị tràn ngập những sản
phẩm với các nhản hiệu Trung quốc như Huawei
(dụng cụ truyền thông), Nice (vật gia dụng),
Jahwa (sản phẩm trang sức), Youngor ( quần
áo đắc tiền). Trung Quốc cũng có nhiều liên
hệ thương vụ với nhóm Carrefour, đàn em của
Wal-Mart ở Pháp.
Nhưng sự bành trướng thế lực thương mại của
Trung Quốc thực sụ không phải luôn dễ dàng
suôn sẻ. Trước sức mạnh tài chánh của tư bản
đỏ, giới kỹ nghệ và chánh phủ Mỹ đã phải can
thiệp để ngăn chận một số thương vụ của
Trung Quốc, điều hiếm có trong sinh hoạt
kinh tế thị trường. Haier là một đại công ty
sản xuất máy giặt máy sấy đứng hàng đầu của
Trung quốc vốn là hậu thân của một công ty
Đức, đã không mua được hảng Maytag của Mỹ vì
bị sự cấu kết của nhóm Whirlpool. Và Trung
Quốc đã phải nuốt hận khi Quốc hội Hoa Kỳ đã
can thiệp để ngăn chận công ty dầu khí CNOOC
(China national Offshore Oil Corporation)
của Trung Quốc mua công ty Unocal của Mỹ với
giá 18,5 tỉ mỹ kim.
Trong chuyện đầu tư buôn bán với nước ngoài,
Trung quốc không ngần ngại làm ăn với các
quốc gia mà Mỹ gọi là quốc gia hung đồ
(états voyous).
Tính đến cuối năm 2005, Trung Quốc đã thiết
lập 1600 công ty tại 180 nước trên thế giới.
Với nguyên tắc Win Win (hai bên đều thắng),
kinh tế Trung Quốc đang hiện diện trên toàn
cầu. Mỹ nhìn sự có mặt nầy như một đe dọa
cho sự ưu việt của Mỹ, và vì những quyền lợi
giữa các quốc gia liên hệ chằng chịt nhau,
những tranh chấp các nước với hai đối phương
hay giữa hai đối phương sẽ đưa đến nhũng
hiểm họa bất ngờ. Thế giới hôm nay đang sống
trong những mầm mống của Thế chiến thứ hai.
Trung quốc vĩ đại qua những con số
Với một lực lượng 1,7 triệu kỷ sư (so với
700 000 của Mỹ) và một số tương tự những
chuyên viên các ngành, Trung Quốc hiện là
quốc gia có nhu cầu nguyên liệu nhiều nhứt
thế giới.
Năm 2005, Trung quốc sử dụng 26% thép, 32%
lúa gạo, 37% bông vải và 47% ciment của thế
giới. Cũng năm 2005, Trung Quốc sản xuất 2,6
triệu xe hơi và dự trù sẽ là nước sản xuất
nhiều xe hơi nhứt thế giới vào năm 2015.
Từ một quốc gia chậm tiến, chỉ trong hai
thập niên, Trung Quốc đã tiến lên một quốc
gia kỹ nghệ hiện đại. Năm 1995, Trung Quốc
chỉ có 7 triệu người sử dụng điện thoại di
động. Năm 2007, số người sử dụng lên đến 450
triệu người. (Hoa Kỳ : 230 triệu).
(L’Actualité, p.46)
Dĩ nhiên, so với dân số, tỉ lệ nầy vẫn còn
thấp (30%. so với Hoa kỳ 54%), nhưng chỉ
trong 10 năm, mức tăng gia đến 50% thì quả
tình người Trung quốc đã tiến bộ nhiều với
những tiện nghi mới của đời sống. Nhưng
không phải Hoa Kỳ đoạt giải quán quân về tỉ
lệ người xài điện thoại di động mà chính là
những đồng chủng của họ ở Đài Loan : 110%
(nhứt thế giới), Hong kong :105,8% (3è) suýt
soát sau Luxembourg (106%).
Trung quốc cũng tiến xa trong lãnh vực
truyền thông
Số người sử dụng máy vi tính (2004 ) và internet năm
2007
|
Máy vi tính |
Số
máy
(triệu) |
%
thế giới |
Internet |
Số
người sử dụng (triệu) |
%
thế giới |
|
Hoa
Kỳ |
223 |
27,2 |
Hoa
kỳ |
210 |
18 |
|
Nhựt |
69 |
8,4 |
Trung Quốc |
162 |
13,8 |
|
Trung Quốc |
53 |
6,5 |
Nhựt |
87 |
7,4 |
|
Đức |
46 |
5,6 |
Đức |
50 |
4,3 |
|
Thế
giới |
822,2 |
100% |
Thế
giới |
1
173 |
100 |
(Source : World Almanac 2006, p. 380, )
Source : www.internetworldstats.com
2008
Mối bận tâm lớn của Trung Quốc là dầu hỏa và
chiến tranh lạnh hay nóng với Hoa Kỳ sẽ là
vấn đề nầy. Tuy số tiêu thụ dầu của người
Trung Quốc chỉ bằng 1/12 dân Mỹ, nhưng vì số
dự trử của Trung Quốc quá ít, mà dân lại
đông và nhu cầu kỹ nghệ hóa nhiều, Trung
quốc phải nhập cảng một phần ba số dầu tiêu
thụ. Mỗi ngày, Trung Quốc tiêu thụ 6,7 triệu
barils, chiếm 8% số lượng dầu thô trên thế
giới ( mức tiêu thụ hạng nhì sau Hoa Kỳ với
20,5 triệu barils mỗi ngày). Để bảo vệ đường
tiếp liệu dầu từ các nước cung cấp dầu cho
Trung Quốc (25% từ Châu Phi vả 60% từ Vùng
Vịnh), Trung Quốc đã quan hệ với các quốc
gia lân bang (Pakistan, BanglaDesh, Miền
Điện, Mã Lai, Cambodge) để thiết lập một hệ
thống căn cứ sâu chuổi (collier de perles).
Ngoài ra, Trung Quốc đã thiết lập một hệ
thống dẩn khí đốt dài 50 000km từ Trung Á và
Nga đến các thành phố kỹ nghệ ở miền duyên
hải.
Thiếu dầu hỏa, người dân và giới công nghệ
sử dụng than đá để cung cấp năng lượng (sản
xuất 1,3 tỉ tấn mỗi năm, hạng nhứt thế
giới). Than và dầu hỏa là hai nguyên liệu
cực kỳ ô nhiểm. Trung Quốc mổi năm thải ra
trong không khí 1 tỉ tấn ơxyde de carbone,
chiếm 14% số khí ô nhiểm, đứng hàng thứ hai
thế giới trong hàng các quốc gia tạo ô
nhiểm, dĩ nhiên sau Hoa Kỳ (1,6 tỉ).Tình
trạng nầy là một hiểm họa không những cho
Trung Quốc (trong số 20 thành phố ô nhiểm
nhứt thế giới, 16 ở Trung Quốc) mà cho cả
nhân loại. Tiếc thay, Trung Quốc không tham
dự vào thỏa ước Kyoto nên thế giới đành bất
lực.
Những vấn đề lớn của Trung Quốc
Những bước tiến kinh tế nhảy vọt và những
công trình phát triển hạ tầng cơ sở đại qui
mô của Trung quốc thực ra không phản ảnh sức
mạnh toàn diện của Trung Quốc.
Orville Schell, khoa trưởng đại học
Californie ở Berkley, chuyên viên về các vấn
đề Trung Quốc đã cho rằng nước Tàu tiềm ẩn
những khó khăn nan giải và những khó khăn
nầy càng ngày càng chồng chất. Tuy là những
khó khăn nội tại, nhưng những bế tắc hay trì
trệ trong giải pháp sẽ tạo nên những khủng
hoảng nội bộ, và vì lẽ Trung Quốc có nhiều
liên hệ kinh tế và địa chính trị với hoàn
cầu, thế giới sẽ bị liên lụy theo những
khủng hoảng của nướcTàu.
Mặc dù với những kết quả ngoại thương ngoạn
mục, cơ chế chính trị, tổ chức kinh tế và xã
hội của Trung Quốc, theo tạp chí « Foreign
Policy » thì năm 2005, Trung Quốc vẫn còn là
một quốc gia đang phát triển, được xếp hạng
54 trên thế giới dựa vào các tiêu chuẩn như
hội nhập với nền kinh tế thế giới, hợp tác
với các tổ chức quốc tế, tiếp cận với các
phương tiện truyền thông hiện đại. Bảng xếp
hạng của Chương trình phát triển Liên Hiệp
Quốc (Programme des Nations unies pour le
développement humain (PNUD) còn tệ hại hơn.
Trung quốc căn bản vẫn là một nước Cộng Sản
Thật là hoang tưởng hay ngây ngô, trước một
số thành quả qui mô của chánh sách mở cửa để
quên đi cái bản chất Cộng Sản của Trung
Quốc. Số đảng viên Cộng Sản, ngay trong thời
mở cửa vẫn gia tăng hằng năm.
Năm 1921 : 57 (trong lần Đại hội thành lập
đảng CS Trung hoa)
Năm 1945 : 1,2 triệu
Năm 1956 : 10 triệu
Năm 1978 : 35 triệu (lúc Đặng Tiểu Bình bắt
đầu chánh sách mở cửa)
Năm 1998 : 58 triệu
Năm 2005 : 70 triệu
Giới lãnh đạo trung ương đảng, tuy đa số thế
hệ thứ tư là thành phần trí thức (Mao, thế
hệ thứ nhứt, Đặng Tiểu Bình,thứ hai, Giang
Trạch Dân =Jiang Zemin,thứ ba): chủ tịch Hồ
cẩm Đào (Hu Jintao) là kỷ sư thủy học, thủ
tướng Ôn gia Bảo (Wen JiaBao) là kỹ sư địa
chất, phó thủ tướng Wu Bangguo là kỹ sư
điện, nhưng cấp lãnh đạo, cán bộ chánh quyền
địa phương vẫn là những thành phần ít học,
bảo thủ, trung kiên với cung cách Mao, do đó
nạn cường hào ác bá, phép vua thua lệ làng
là một trở ngại lớn trong mọi cuộc cải tổ.
Tham nhũng là một tệ nạn quốc gia « làm thất
thoát công quỹ từ 1,5% đến 5% sản lượng quốc
gia », theo một báo cáo của OCDE năm 2005.
Trong vòng 10 năm, chánh quyền đã điều tra
500 000 vụ tham nhũng, và chỉ năm 2003, tham
nhũng liên can đến 1500 xí nghiệp ngoại
quốc, 8000 viên chức chánh phủ bị kết án,
nhưng 6500 bỏ trốn ra ngoại quốc hay biệt
tích và hàng tỉ mỹ kim thoát ra ngoại quốc
dưới hình thức biển thủ hay rửa bạc
(blanchiment d’argent). Tham nhũng bành
trướng ở mọi cấp, mọi lãnh vực, được bao
che, và chỉ có 6,6% đảng viên phạm pháp bị
trừng trị.(La Chine nouvelle, p.82)
Đó là hình thức tham nhũng đại qui mô, quốc
tế. Một hình thức tham nhũng kiểu khủng bố,
chèn ép do các sứ quân ở địa phương là hình
thức phổ quát, làm trì trệ hay tan nát các
doanh nghiệp, doanh thương ở khắp địa
phương. Trung Quốc mãi mãi là quốc gia chậm
tiến về kinh tế và dân chủ nếu tệ nạn nầy
không được giải quyết. Chỉ cần đan kể vài
trường hợp điển hình.
Pan Ning và Wang Gusdan là hai nhà kinh
doanh ở huyện San Đầu (Shantou) được chánh
quyền địa phương giúp đỡ để thành lập một
công ty làm tủ lạnh có tên là Kelon. Vì lẽ
người Trung Hoa thường đặt tủ lạnh ở phòng
khách để tạo ấn tượng sang giàu, Kelon tạo
ra những hình dạng tân kỳ nên chỉ trong vòng
6 năm, từ một công ty nhỏ đứng hàng thứ 42
trở nên công ty lớn nhứt của Trung Quốc giao
thương với Hong Kong và Đài Loan. Nhưng đến
cuối thập niên 1990, chính quyền tỉnh Quảng
Đông cưởng bách Kelon phải mua một công ty
quốc doanh sản xuất máy điều hòa không khí
đang hồi suy sụp với một giá cắt cổ. Pan và
Wang từ chối nên các quan chức Quảng Đông ép
các cổ phần viên sa thải Pan và Wang và thay
thế bằng một công chức đảng viên. Sau đó
không lâu, Kelon khánh tận.
Một thí dụ khác để chứng minh sự can thiệp
độc đoán của tập quyền nhà nước làm suy yếu
công ty và đưa đến sự di chuyển công ty ra
nước ngoài để tránh áp lực. Haier là công ty
làm đồ điện gia dụng hàng đầu của Trung
Quốc, đối thủ của công ty Maytag . Khi Zang
Ruimin, một doanh gia nổi tiếng của Trung
Quốc nắm quyền điều khiển công ty thì Haier
đang ở trong một tình trạng bệ rạt đến nỗi
công nhân tiểu tiện ngay trên sàn nhà máy.
Zhang đã đưa công ty lên hàng quốc tế, áp
dụng những phương thức quản trị xí nghiệp
của Tây phương như tưởng thưởng các quản trị
viên bằng cổ phần để tăng hiệu năng. Chánh
quyền tỉnh Thanh Đảo tước quyền làm chủ của
Zang, cấm đoán việc tưởng thưởng, khiến công
ty phải dời qua Hong Kong như công ty Legend
(nay là Lenovo). Nếu không có sự thu hồi
Hong Kong, Trung Quốc đã mất hai công ty có
tầm vóc quốc tế.
Tình trạng phân cách, tranh chấp giữa xí
nghiệp quốc doanh và xí nghiệp tư nhân, giữa
xí nghiệp thành phố, huyện, tổng, làng, giữa
xí nghiệp hỗn hợp chính phủ và ngoại quốc,
giữa chánh phủ và Trung kiều ( hiểu nghĩa
như Việt kiều), xí nghiệp “ma” (đóng cửa, mở
cửa liên hồi với các nhản hiệu khác nhau)
cộng thêm những tham nhũng và khủng bố kinh
tế của các quan chức lãnh đạo đảng là mặt
trái của sự phát triển kinh tế hỗn độn mà
một phần ba cơ sở kinh tế Trung Quốc còn
phải gánh chịu. Cơn sóng ngầm đang vận
chuyển, tsunami sẽ đến không biết lúc nào.
!!!
Ngân hàng quốc doanh
Dù cho có 1000 tỉ mỹ kim ngoại tệ , Trung
Quốc vẫn không được xem là nền kinh tế thị
trường đúng nghĩa theo phương thức Âu-Mỹ,
bởi lẽ chánh phủ hoàn toàn kiểm soát hệ
thống ngân hàng và toàn bộ tiết kiệm của
người dân. Mặc dù Trung Quốc đã mở cửa đón
nhận đầu tư của tư bản ngoại quốc, nhưng vết
tích của nền kinh tế quốc doanh vẫn còn tồn
tại và chánh phủ kiểm soát 64% cổ phần các
xí nghiệp trên thị trường chứng khoán. Quản
trị ngân hàng theo kiểu kho bạc giữ tiền, số
người mắc nợ gia tăng, ngân hàng quốc doanh
từ địa phương đến trung ương thường không đủ
tiền để cho vay hay vỡ nợ vì người vay không
tiền để trả.
Các ngân hàng quốc doanh lại là trung tâm
của tham nhũng bởi lẽ các doanh thương phải
tùy thuộc vào ơn mưa móc của các người quản
trị ngân hàng, dĩ nhiên là bè phái đảng
viên. Đó cũng là mầm mống của những thanh
toán chính trị từ địa phương đến trung ương.
Dưới danh nghĩa cho vay chính trị (prêts
politiques), tại Trung Hoa có một loại ngân
hàng chính trị (3 đại ngân hàng thành lập
năm 1995) để tài trợ các công ty và các dự
án mang màu sắc chính trị. Dĩ nhiên, đó là
một loại ăn cướp công quỹ hay tham nhũng
được hợp thức hóa và kết quả là năm 2003, tỉ
lệ người giựt các ngân hàng quốc gia là 21%,
nhưng theo các nhà tài chánh Tây phương tỉ
lệ nầy phải lên đến 40-50% . ( La Chine à
l’aube du 21è siècle, p. 48).
Những vụ tố cáo, cầm tù những cấp lãnh đạo
cao cấp phe ta hay phe địch với những số
tiền khổng lồ (năm 2005 Lại Xương Tinh ở Hạ
Môn với 6 tỉ mỹ kim, tháng 9/2006, Trần
Lương Vu, 400 triệu) là chuyện thường tình
trong chính trường, chiến trường nội bộ của
Tàu đỏ (Việt đỏ cũng đang cạnh tranh với đàn
anh trong lãnh vực nầy).
Trước tình trạng nghiêm trọng nầy, Trung
Quốc phải cải thiện hệ thống ngân hàng để
giữ niềm tin cho giới kinh doanh ngoại quốc.
Năm 2004, nhà nước phải bỏ vô 85 mỹ kim cho
3 (trong 4) ngân hàng quốc gia và giao cho
một cơ quan điều hợp tên là CBRC (China
Banking Regularity Commission) mới thành lập
năm 2003 để giám sát. Và dưới áp lực của
giới đầu tư, Đại Hội đảng lần thứ 16 năm
2002 đã phải chấp nhận cho ngân hàng ngoại
quốc được thành lập trên lãnh thổ Trung Quốc
và tự do ngân hàng sẽ toàn diện năm 2007.
Tương lai ngân hàng và tiền tệ Trung Quốc sẽ
đi về đâu, những tờ trình của Ngân Hàng Thế
giới sẽ cho biết rõ
Bất bình đẳng giàu nghèo gia tăng
Bất bình đẳng kinh tế giữa thành thị và thôn
quê, giữa người giàu và người nghèo càng
thêm trầm trọng. 800 triệu dân ở thôn quê
vẫn còn sống cuộc đời cơ cực, mà cuộc đổi
mới kinh tế chẳng những không đem lại cho họ
chút gì cải thiện mà còn bần cùng hóa.
Năm 2003, lợi tức trung bình của một người
dân ở nông thôn (2622 yuans =350MK) chỉ bằng
một phần ba lợi tức của dân thành phố (8500
yuans = 1000 MK) và chưa tới một phần mười
của những thành phố kỹ nghệ ở duyên hải Hoa
Nam (4000 - 5000MK). Sự bất mãn của dân quê
vì nạn tham nhũng, bị mất đất canh tác vì bị
trưng dụng để thiết lập nhà máy, xây cao ốc,
nguồn nước uống bị ô nhiểm vì hóa chất kỹ
nghệ đã khiến năm qua có 3,5 triệu nông dân
biểu tình, nổi loạn mà chánh quyền phải dùng
võ khí để đàn áp.
Từ khi có chánh sách cởi mở kinh tế năm
1979, vì nhu cầu kỹ nghệ hóa, xây dựng thêm
hạ tầng cơ sở, phát triển đô thị, Trung quốc
mất mỗi năm một triệu mẫu đất canh tác. Mặt
khác, đất đai bị cằn cỗi vì cực canh, soi
mòn và việc gia tăng phân bón hóa học càng
làm suy hóa thêm đất đại, phá hủy mạch nước
ngầm. Hiện tượng sa mạc hóa ở Hoa Bắc và Nội
Mông , đe dọa cả Bắc kinh làm mất thêm đất
đai canh tác. Trong vòng ba mươi năm cuối
của thiên kỷ, diện tích đất bị sa mạc hóa
tăng từ 1000 km2 đến 2500km2.
Trong những điều kiện như vậy, nông thôn chỉ
cần 100 triệu nông dân thay vì 500 triệu như
hiện có. Nếu kể 100 triệu nông dân đã di cư
lên thành phố để kiếm việc làm, đa số sống
vất vưởng bên cạnh các cao ốc hay làm những
nghề nặng nhọc với đồng lương chết đói, nông
thôn Trung Quốc hiện có 300 triệu nông dân
dư thừa. Dân số Trung Quốc gia tăng, nhu cầu
ngũ cốc và thịt gia súc cũng gia tăng (
trung bình mỗi người Trung hoa tiêu thụ mỗi
năm 73kg thịt, gia tăng 73% so với năm 1993)
và vì gia súc cũng cần nuôi bằng ngũ cốc, từ
năm 2000 đến 2005, số ngũ cốc sản xuất của
Trung Quốc ít hơn số tiêu thụ. Đây là một
niềm lo ngại lớn cho thế giới, vì chỉ cần
một hai năm thiên tai (hạn hán, lụt lội),
giá ngủ cốc trên thế giới sẽ tăng vọt và
hiểm họa đói hay thiếu ăn của nhiều nước là
điều không tránh khỏi.(L’état du planète
2006, p.28)
Tại các thành phố, tình trạng cũng không khả
quan hơn. Các xí nghiệp quốc doanh vì thua
lỗ phải lần lượt đóng cửa, sa thải nhân
công, gia tăng thêm đội ngũ thất nghiệp
trong số 100 triệu nông dân di cư lên ở
thành phố.
Chỉ trong năm 2003, chánh phủ đóng cửa 305
000 xí nghiệp, đưa đến 27 triệu người thất
nghiệp. Trong số xí nghiệp còn lại, Bộ
trưởng Lao Động tuyên bố là có độ 20% nhân
viên không cần thiết mà phải trả lương,Trong
khi đó, mỗi năm Trung Quốc thiếu từ 12 đến
15 triệu nhân công thiện nghệ để đáp ứng với
nhu cầu kỹ nghệ. (La Chine à l’aube du 21è
siècle, p.44)
Hỗn loạn xã hội là điều tất nhiên vì người
bất mãn, biểu tình, nổi loạn thuộc mọi giới,
mọi nơi. Mỗi năm Trung Quốc gia tăng hơn 10
triệu người. Nói hơn, vì không có một con số
xác đáng bởi lẽ những tài liệu của Trung
Quốc và Tây phương không đống nhứt con số.
Thống kê Tàu cũng như các nước Cộng Sản chỉ
có tính cách ước lệ. Nước Tàu có thể có dân
số từ 1,4 đến 1,5 tỉ,nhiều nhà nhân chũng
phỏng định.Tuy luật lệ cho phép vợ chồng chỉ
có 1 con và ngoại lệ 2 con khi cả hai vợ
chồng đều là con một, nhưng tại thôn quê,
chánh quyền làm ngơ chuyện nầy và dân khá
giả ở thành phố không sợ những biện pháp
trừng phạt ( không được có bằng lái xe, phạt
15 000 yuans).
Chánh sách dân số của Trung Quốc tiềm ẩn
những hậu quả xã hội. Vì trai thừa, gái
thiếu (100 gái, 107 trai) nhiều người phải
sống độc thân (theo các nhà nhân chủng Trung
Quốc, đến năm 2020, Trung Quốc có 40 triệu
trai không kiếm được vợ).Tỉ lệ người già gia
tăng, hiện nay có độ 97 triệu (7,5% dân số)
và đến năm 2020 sẽ tăng lên 11,7% là một trở
ngại lớn cho kinh tế (dân số họat động giảm)
và hệ thống an sinh.
Quyền làm người Trung Quốc
Vài con số và sự kiện tóm tắt tình trạng
quyền làm người, làm dân trên lãnh thỗ Trung
Quốc
- Báo chí : 2000 nhựt báo, 9000 tạp chí,
1000 đài phát thanh, 3000 đài truyền hình
đặt dưới quyền kiểm soát của Bộ Tuyên Truyền
trực thuộc Uỷ Ban Trung ương đảng. Sự kiểm
duyệt mọi phương tiện truyền thông là tuyệt
đối. Đạo quân « cảnh sát Internet » gồm 30
000 nhân viên thiết lập bức Vạn Lý trường
thành lửa (Grande muraille de feu) kiểm soát
103 triệu người sử dụng internet trong 700
thành phố. Websites của đoàn thể, tư nhân bị
xóa không cần thông báo, Google không được
phép giới thiệu những bài viết, tin tức bất
lợi cho chánh phủ ( World Report 2006,
p.246)
- Những quyền sống căn bản của con người về
y tế, giáo dục, nhà ở, hoàn toàn do chính
phủ quy định. Chánh phủ ép các sinh viên,
học sinh học ngành kỹ thuật( số sinh viên
tốt nghiệp năm 2006 : khoa học : 197 000; y
khoa : 253 000; kỹ sư : 1 342 000 theo
Actualité, sđd, tr.52) .
Phụ nữ bị đối xử bất công trong gia đình và
xã hội (hơn 50% người thất nghiệp là phụ nữ
vì xí nghiệp không mướn phụ nữ để tránh trả
phụ cấp hộ sản). Theo Tổ chức y tế thế giới
(OMS), mỗi ngày có hơn 600 phụ nữ tự tử. (La
Chine nouvelle, p. 67)
- Nước uống bị ô nhiểm trầm trọng do kỹ nghệ
hóa mà người dân phải gánh chịu :1 triệu tấn
thuốc nhuộm ngấm xuống nước sông hồ hay mạch
nước ngầm. Cuộc điều tra của OMS năm 2004
tại 412 địa điểm trên 7 con sông chính yếu
cho thấy có đến 58% là nước ô nhiểm không
dùng được.
- Những quyền tự do tôn giáo, tư tưởng bị
cấm đoán. Lợi dụng vụ 11 tháng 9 ở Mỹ, Trung
Quốc đóng cửa các đền hồi giáo, bắt giam các
lãnh tụ Hồi giáo ở Tân Cương.
- Tây Tạng (Tibet) bị biến thành một tỉnh
tên là Xizang, hàng ngàn tu sĩ và tín đồ bị
giam, 130 000 ngưòi phải sống lưu vong ở Ấn
độ, 70 triệu tín đồ Falungong bị đặt ngoài
vòng pháp luật. Cuộc nổi loạn ở Lhassa vào
tháng 3 năm 2008 có 140 người chết và hàng
trăm người bị thương (L’Actualité, p. 53).
- An ninh có quyền bắt giam người tình nghi
không qua tòa án, luật sư, không cần thông
báo gia đình. Có độ hai triệu người bị gởi
đi trại cưỡng bách lao động (laogai).
Trung Quốc luôn bị đưa lên giàn hỏa mỗi lần
nói tới chuyện nhân quyền. Trong một cuộc
phỏng vấn của một ký giả Mỹ, thủ tướng Ôn
gia Bảo đã trả lời đại ý chúng tôi cai trị
nước Tàu theo luật pháp của một quốc gia có
văn hóa lâu đời và 1,3 tỉ dân. Người Mỹ các
anh chỉ có dân chủ giả hiệu. Luật Patriot
Act kiểm duyệt báo chí và luật chống lại sự
tham dự của quần chúng còn tệ hại hơn luật
pháp của chúng tôi (chú thích của tác giả :
luật SLAPP = Strategic Lawsuit Against
Public Participation cho phép truy tố những
đoàn thể áp lực khi những đoàn thể nầy bị
nghi là làm thiệt hại quyền lợi của một đoàn
thể, hiệp hội khác, thường là giới tài
phiệt).
Ai lại chẳng hiểu nước Tàu là một nước độc
tài đảng trị, và lời giải thích trên chỉ là
một lối so sánh trái lê với trái táo. Nhưng
nghĩ cho cùng, lời nói của Ôn gia Bảo cũng
cần để ta suy gẫm.
Kết luận
Jeffrey Garden, cựu Tổng trưởng ngoại thương
dưới thời Clinton, hiện nay là khoa trưởng
Phân khoa Quản Trị Kinh Doanh của Đại học
Yale, một trong những đại học nổi tiếng nhứt
của Hoa Kỳ đã nghĩ đến sự thành hình trong
tương lai một G2, liên hiệp hai đại cường
quốc Mỹ-Tàu để thay thế G8 (thành lập năm
1975 gồm 7 nước kỹ nghệ là Mỹ, Nhựt, Đức,
Pháp, Anh, Ý và Canada, năm 1997 thêm nước
thứ 8 là Nga).
Tư tưởng táo bạo nhưng không phải vô căn cứ.
Fred Hu, Giám Đốc Viện nghiên cứu Goldman
Sach Asia đã tính là trong 4 năm đầu của
niên kỷ, Hoa Kỳ và Trung Quốc đã cống hiến
cho thế giới hai phần ba tăng trưởng kinh
tế. Nhưng hiện nay, tương quan lực lượng
giữa hai nước bây giờ giống như con chồn và
con chó sói. Phải chờ đến năm 2030, trong
những điều kiện phát triển như hiện nay, sản
lượng quốc gia (PIB) của Trung Quốc mới vượt
qua Hoa Kỳ. Chồn đang nhảy múa bên sói, chỉ
đường cho chó sói ăn no, nhưng luôn xem
chừng đừng để cho sói tức bụng mà phẫn nộ
tấn công chồn.
Đặng Tiểu Bình, cha đẻ của cuộc cách mạng
kinh tế thì rõ ràng hơn. Một ngọn núi không
thể có hai con cọp, Hãy che dấu những ý định
và sức mạnh (tao guang yang hui) là hai câu
nói của họ Đặng mà những người kế nghiệp
tuyệt đối tuân theo. Hai con cọp đang rình
rập nhau, tìm thế yếu của đối phương để chờ
dịp tấn công. Cọp Mỹ thỉnh thoảng vẫy đưôi
khiêu khích, nhưng Cọp Tàu bình tĩnh tìm
mồi. Các nhà chiến lược cho rằng Trung Quốc
đang nhẫn nhục để nỗ lực sản xuất, lợi dụng
tối đa thời cơ để xuất cảng tối đa, củng cố
thế lực nội bộ để ra mắt thế giới trong Thế
Vận Hội 2008. Một nước Tàu cường tráng, hiện
đại sẽ bắt đầu cuộc thư hùng với thế giới và
đặc biệt với Mỹ trên tất cả các mặt trận kể
từ ngày khai mạc thế vận hội nầy
Tài liệu tham khảo chính yếu
- L’ Actualité : revue bi-mensuel (
Montréal), v.33, no.7, 2008.
- Institut Worldwatch. L’état de la planète
2006 : gros plan sur la Chine et l’Inde.--
Genève : Worldwatch, 2006.
- Jean-François Susbielle. Chine-USA,la
guerre programmée.-- Paris : First Editions,
2006.
- La Chine nouvelle, petite encyclopédie
Larousse.-- Paris : Larousse, 2006
- James Z. Lee. La population chinoise,
mythes et réalités.-- Montréal : Presses de
l’Université de Montréal, 2006
- Stéphanie Bessière. La Chine à l’aube du
XXIè siècle.-- Paris : L’Harmattan, 2005
- Erik Izraelewicz. Quand la Chine change le
monde. -- Paris : Grasset, 2005
- Charles Fishman. The Wal-Mart effect. –
New York: Penguin Press, 2006.
Lâm Văn Bé (Tháng 3-2008)