Lê
Thái Tổ (chữ Hán:
黎太祖),
húy Lê Lợi (黎利),
là người khởi xướng khởi nghĩa Lam Sơn chiến thắng
quân Minh trở thành vị vua đầu tiên của nhà Hậu Lê,
một triều đại trong lịch sử Việt Nam. Ông sinh
ngày 66 tháng Tám năm Ất Sửu (tức 10 tháng 9 năm
1385 dương lịch) và mất năm 1433, ở ngôi gần 6 năm,
thọ 49 tuổi. Thụy hiệu do Lê Thái Tông đặt là
Thống Thiên Khải Vận Thánh Đức Thần Công Duệ Văn
Anh Vũ Khoan Minh Dũng Trí Hoàng Nghĩa Chí Minh
Đại Hiếu Cao Hoàng Đế.
Tiểu sử
Tổ bốn đời của Lê Lợi
là Lê Hối, người Thanh Hoá. Một hôm đến vùng núi
Lam Sơn thấy cảnh đất lành chim đậu, ông dời nhà
về đây. Lê Hối lấy bà Nguyễn Thị Ngọc Duyên, sinh
ra Lê Đinh, tức là ông nội của Lê Lợi. Lê Đinh lấy
bà Nguyễn thị Quách sinh ra hai người con là Lê
Tòng và Lê Khoáng. Lê Khoáng lấy bà Trịnh Thị Ngọc
Thương sinh được ba người con: Lê Học, Lê Trừ và
Lê Lợi.
Lê Lợi sinh vào giờ tý
ngày 6 tháng 8 năm Ất Sửu, tức ngày 10 tháng 9 năm
1385 đời Trần.
Bối cảnh lịch sử
Hồ Hoàn Kiếm, nơi có
huyền thoại Lê Thái Tổ trả kiếm cho rùa vàng.Sau
khi bức vua Trần dời đô từ Thăng Long vào Tây Đô (Thanh
Hóa) và giết hàng loạt quần thần trung thành với
nhà Trần, tháng 2 năm Canh Thìn 1400, Hồ Quý Ly
truất ngôi của Trần Thiếu Đế, tự lên làm vua lấy
quốc hiệu là Đại Ngu, lập nên nhà Hồ.
Triều đình nhà Minh (Trung
Quốc), vốn rất muốn xâm lăng Đại Việt, đã nhân cơ
hội Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần để đưa quân tràn
vào đất Việt năm 1407. Hồ Quý Ly liên tục thất bại
và đến tháng 6 năm 1407, thì bị bắt cùng các con
trai là Hồ Nguyên Trừng và Hồ Hán Thương. Vương
triều Đại Ngu sụp đổ.
Nhà Minh thực hiện
chính sách xóa bỏ nền Văn minh sông Hồng bằng các
cách như đốt, phá và chở về Yên Kinh tất cả các
loại sách, văn bia có nói về dân Việt, của dân
Việt tạo lập, thiến hoạn đàn ông người Việt, khiến
cư dân Việt rất uất ức và căm giận. Hơn 1.000 năm,
các triều đình Trung Quốc không đồng hóa được văn
hóa Việt, nên việc làm của nhà Minh đã đem lại một
kết cục xấu cho sự đô hộ của họ.
Khởi nghĩa Lam Sơn
Mùa xuân năm Mậu Tuất
1418, Lê Lợi đã cùng những hào kiệt
Nguyễn Trãi, Trần
Nguyên Hãn, Lê Văn An, Lê Sát, Lưu Nhân Chú v.v.
tất cả 50 tướng văn và tướng võ (trong đó có 19
người đã từng kết nghĩa anh em nguyện cùng chí
hướng với nhau ở hội thề Lũng Nhai, năm 1416.
[[[Lời thề Lũng Nhai: Lời thề
chân thành của 19 vị anh hùng
cứu quốc
Năm
1416, 18 người tráng sĩ cùng dự Hội thề Lũng Nhai
với vua Lê Thái Tổ, thề cùng nhau đánh đuổi quân
Minh xâm lược , cùng chia sẻ gian nguy, hạnh phúc.
Theo
Hoàng Xuân Hãn thì lời thề đó như sau: Nay ở nước
tôi, tôi phụ đạo Lê Lợi đứng đầu với 18 người từ
Lê Lai đến Trương Chiến, tuy sinh khác họ, quê
quán xa cách nhưng kết nghĩa cùng nhau, xem nhau
như cành liền chung một tổ. Tuy phần vinh hiển có
khác nhau, nhưng nguyện đem tình đối xử với nhau
như người không khác họ.
Nếu có
bè đảng nào, vì muốn xâm tiếm, tỏ vẻ xem chừng sắp
vượt cửa vào để làm hại, thì:Ví bằng chúng tôi đây,
Lê Lợi với 18 người từ Lê Lai đến Trương Chiến, có
đều hiệp lực đồng tâm chống giữ địa phương để làng
xóm được yên; nếu chúng tôi sống chết cùng nhau
không quên lời thề ước, thì chúng tôi cúi xin Trời,
Đất và các vị thần linh chứng giám cho, ban xuống
trăm điều lành, cho từ thân đến nhà, dòng dõi, con
cháu đều được yên lành để đời đời hưởng lộc Trời .Ví
bằng Lê Lợi với 18 người từ Lê Lai đến Trương
Chiến lại ra ý đổi đường, tìm sướng hiện thời, mập
mờ sao lãng, không chịu đồng tâm, bỏ quên lời thề
ước, thì chúng tôi cúi xin Trời, Đất và các vị
Thần linh phát xuống trăm tai, cho từ thân đến nhà,
dòng dõi, con cháu đều chịu giết sạch, đúng với
luật Trời .Kính cẩn tâu trình.
]]]]
Chính thức phất cờ
khởi nghĩa (khởi nghĩa Lam Sơn). Đồng thời ông tự
xưng là Bình Định Vương và kêu gọi dân Việt đồng
lòng đứng lên đánh quân xâm lược nhà Minh cứu nước.
Gian nan ở vùng núi
Thanh Hoá
Trong thời gian đầu,
lực lượng của quân Lam Sơn chỉ có vài ngàn người,
lương thực thiếu thốn, thường chỉ thắng được vài
trận nhỏ và hay bị quân Minh đánh bại. Hoạt động
trong thời này chủ yếu ở vùng núi Thanh Hoá.
Bị quân Minh vây đánh
nhiều trận, quân Lam Sơn khốn đốn ba lần phải rút
chạy lên núi Chí Linh những năm 1418, 1419, 1422
và một lần cố thủ ở Sách Khôi năm 1422. Một lần bị
quân Minh vây gắt ở núi Chí Linh (có sách ghi năm
1418, có sách ghi năm 1419), quân sĩ hết lương,
người em họ Lê Lai theo gương Kỷ Tín nhà Tây Hán
phải đóng giả làm Lê Lợi, dẫn quân ra ngoài nhử
quân Minh. Quân Minh tưởng là bắt được chúa Lam
Sơn nên lơi lỏng phòng bị, Lê Lợi và các tướng
lĩnh thừa cơ mở đường khác chạy thoát. Lê Lai bị
địch giải về Đông Quan và bị giết.
Ngoài quân Minh, Lê
Lợi và quân Lam Sơn còn phải đối phó với một bộ
phận các tù trưởng miền núi tại địa phương theo
nhà Minh và quân nước Ai Lao (Lào) bị xúi giục hùa
theo. Dù gặp nhiều gian nan, quân Lam Sơn mấy lần
đánh bại quân Ai Lao. Tuy nhiên do lực lượng chưa
đủ mạnh nên Lê Lợi thường cùng quân Lam Sơn phải
ẩn náu trong rừng núi, nhiều lần phải ăn rau củ và
măng tre lâu ngày; có lần ông phải giết cả voi và
ngựa chiến của mình để cho tướng sĩ ăn.
Trước tình thế hiểm
nghèo, Lê Lợi phải xin giảng hòa với quân Minh năm
1422. Đến năm 1423, khi thực lực được củng cố, lại
thấy quân Minh bắt giữ sứ giả, Lê Lợi liền tuyệt
giao cắt đứt giảng hoà.
Tiến vào nam
Theo kế của Nguyễn
Chích, năm 1424 Lê Lợi quyết định đưa quân vào
đồng bằng Nghệ An. Trên đường đi, quân Lam Sơn hạ
thành Đa Căng, đánh lui quân cứu viện của viên tù
trưởng địa phương theo quân Minh là Cầm Bành. Sau
đó quân Lam Sơn đánh thành Trà Long. Tướng Minh là
Trần Trí mang quân từ Nghệ An tới cứu Cầm Bành, bị
quân Lam Sơn đánh lui. Lê Lợi vây Cầm Bành, Trí
đóng ngoài xa không dám cứu. Bị vây ngặt lâu ngày,
Bành phải đầu hàng.
Lê Lợi sai Đinh Liệt
mang quân vào đánh Nghệ An, lại mang quân chủ lực
cùng tiến vào, Trần Trí bị thua liền mấy trận phải
rút vào thành cố thủ.
Lý An, Phương Chính từ
Đông Quan vào cứu Trần Trí ở Nghệ An, Trí cũng
mang quân ra ngoài đánh. Lê Lợi dùng kế nhử địch
đến sông Độ Gia phá tan. Trần Trí chạy về Đông
Quan, còn An và Chính lại chạy vào thành Nghệ An.
Tháng 5 năm 1425, Lê
Lợi lại sai Đinh Lễ đem quân ra đánh Diễn Châu,
quân Minh thua chạy về Tây Đô (Thanh Hoá). Sau đó
ông lại điều Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Lê Triện tiếp
ứng cho Đinh Lễ đánh ra Tây Đô, quân Minh ra đánh
lại bị thua phải rút vào cố thủ trong thành.
Lê Lợi một mặt siết
vòng vây quanh thành Nghệ An và Tây Đô, mặt khác
sai Trần Nguyên Hãn, Doãn Nỗ, Lê Đa Bồ đem quân
vào nam đánh Tân Bình, Thuận Hoá. Tướng Minh là
Nhậm Năng ra đánh bị phá tan. Sau Lê Lợi lai sai
Lê Ngân, Lê Văn An mang thủy quân tiếp ứng cho
Trần Nguyên Hãn chiếm đất Tân Bình, Thuận Hoá.
Quân Minh phải rút vào cố thủ nốt.
Như vậy đến cuối năm
1425, Lê Lợi làm chủ toàn bộ đất đai từ Thanh Hóa
trở vào, các thành địch đều bị bao vây.
Chiến thắng Tốt Động,
Chúc Động
Tháng 8 năm 1426, Lê
Lợi chia quân cho các tướng làm 3 cánh bắc tiến.
Phạm Văn Xảo, Đỗ Bí, Trịnh Khả, Lê Triện ra phía
Tây bắc, Lưu Nhân Chú, Bùi Bị ra phía Đông bắc;
Đinh Lễ, Nguyễn Xí ra đánh Đông Quan.
Lê Triện tiến đến gần
Đông Quan gặp Trần Trí kéo ra, liền đánh bại Trí.
Nghe tin viện binh nhà Minh ở Vân Nam sắp sang,
Triện chia quân cho Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả ra
chặn quân Vân Nam, còn Triện và Đỗ Bí hợp với quân
Đinh Lễ, Nguyễn Xí đánh Đông Quan.
Phạm Văn Xảo phá tan
viện binh Vân Nam. Quân Vân Nam chạy về cố thủ ở
thành Xương Giang. Trần Trí thấy mất viện binh bèn
cầu viện Lý An ở Nghệ An. Lý An và Phương Chính để
Thái Phúc ở lại giữ thành Nghệ An, mang quân vượt
biển ra cứu Đông Quan. Lê Lợi liền giao cho Lê Văn
An, Lê Văn Linh vây thành, còn mình kéo đại quân
ra bắc.
Vua Minh sai Vương
Thông, Mã Anh mang quân sang tiếp viện. Thông hợp
với quân ở Đông Quan được 10 vạn, chia cho Phương
Chính, Mã Kỳ. Lê Triện, Đỗ Bí đánh bại Mã Kỳ ở Từ
Liêm, lại đánh luôn cánh quân của Chính. Cả hai
tướng thua chạy, về nhập với quân Vương Thông ở Cổ
Sở. Lê Triện lại tiến đánh Vương Thông, nhưng
Thông đã phòng bị, Triện bị thua phải rút về Cao
Bộ, sai người cầu cứu Nguyễn Xí.
Đinh Lễ, Nguyễn Xí đem
quân đến đặt phục binh ở Tốt Động, Chúc Động. Nhân
biết Vương Thông định chia dường đánh úp Lê Triện,
hai tướng bèn tương kế tựu kế dụ Thông vào ổ mai
phục Tốt Động[4]. Quân Vương Thông thua to, Trần
Hiệp, Lý Lượng và 5 vạn quân bị giết, 1 vạn quân
bị bắt sống. Thông cùng các tướng chạy về cố thủ ở
Đông Quan.
Sử chép ba đạo quân ra
bắc của Lê Lợi chỉ có tổng số 9000 người. Các nhà
nghiên cứu cho rằng con số đó chưa chính xác vì
các trận đánh của ba đạo quân này đều có quy mô
khá lớn và lực lượng quân Minh sang nhập vào khá
đông, do đó để giành thắng lợi, 3 cánh quân (sau
đó lại chia thành 4) chắc phải đông hơn. Với một
vài ngàn người khó đương nổi lực lượng đông và
mạnh của quân Minh như vậy. Căn cứ sách Đại Việt
thông sử, khi quân Minh sắp rút về, Lê Lợi đã bàn
với các tướng, đại ý rằng: quân Lam Sơn hiện có
tổng số 25 vạn, ông dự định sẽ cho 15 vạn về làm
ruộng và tuyển lấy 10 vạn làm quân thường trực của
triều đình. Qua đó thì thấy những cánh quân ra bắc
phải có một vài vạn mỗi cánh quân.
Lê Lợi được tin thắng
trận liền sai Trần Nguyên Hãn, Bùi Bị chia hai
đường thủy bộ tiến ra gần Đông Quan.
Lập Trần Cảo
Vương Thông thua chạy
không dám ra đánh, viện cớ tìm lại tờ chiếu của
vua Minh năm 1407 khi đánh nhà Hồ, có nội dung
muốn lập lại con cháu nhà Trần ra điều kiện với Lê
Lợi rằng Thông sẽ rút về nếu Lê Lợi lập con cháu
nhà Trần làm vua.
Lê Lợi vì đại cuộc,
muốn quân Minh nhanh chóng rút về nên đồng ý. Ông
sai người tìm được Trần Cảo bèn lập làm vua, còn
ông tự xưng là Vệ quốc công.
Vương Thông ngoài mặt
giảng hòa nhưng lại sai quân đào hào cắm chông
phòng thủ và mật sai người về xin cứu viện. Lê Lợi
biết chuyện liền cắt đứt giảng hòa.
Vây thành Đông Quan
Sau khi cắt đứt giảng
hoà, Lê Lợi sai các tướng đi đánh chiếm các thành
ở Bắc bộ như Điêu Diêu (Thị Cầu, Bắc Ninh), Tam
Giang (Tam Đái, Phú Thọ), Xương Giang (phủ Lạng
Thương), Kỳ Ôn, không lâu sau đều hạ được.
Đầu năm 1427, ông chia
quân tiến qua sông Nhị, đóng dinh ở Bồ Đề, sai các
tướng đánh thành Đông Quan. Ông đặt kỷ luật quân
đội rất nghiêm để yên lòng nhân dân. Do đó quân
Lam Sơn đi đến các nơi rất được lòng dân.
Tướng Minh là Thái
Phúc nộp thành Nghệ An xin hàng. Lê Lợi sai Thượng
thư bộ Lại là Nguyễn Trãi viết thư dụ địch ở các
thành khác ra hàng.
Nhân lúc quân Lam Sơn
vây thành có vẻ lơi lỏng, quân Minh ở Đông Quan ra
đánh úp. Lê Triện tử trận ở Từ Liêm, Đinh Lễ và
Nguyễn Xí bị bắt ở Thanh Trì. Sau Đinh Lễ bị giết,
Nguyễn Xí trốn thoát được.
Chiến thắng Chi Lăng -
Xương Giang
Cuối năm 1427, vua
Minh Tuyên Tông điều viện binh cứu Vương Thông,
sai Liễu Thăng mang 10 vạn quân tiến sang từ Quảng
Tây; Mộc Thạnh mang 5 vạn quân từ Vân Nam kéo
sang. Đây là hai tướng đã từng sang đánh Việt Nam
thời nhà Hồ và nhà Hậu Trần. Theo các nhà nghiên
cứu, con số 15 vạn của cả hai đạo quân có thể là
nói thăng lên, trên thực tế nếu cộng số các đạo
quân điều động từ các nơi thì tổng số chỉ có
khoảng gần 12 vạn quân và cánh quân chủ lực là của
Liễu Thăng.
Nghe tin có viện binh,
nhiều tướng muốn đánh để hạ gấp thành Đông Quan.
Tuy nhiên, theo ý kiến của Nguyễn Trãi, Lê Lợi cho
rằng đánh thành lạ hạ sách vì quân trong thành
đông, chưa thể lấy ngay được, nếu bị viện binh
đánh kẹp vào thì nguy; do đó ông quyết định điều
quân lên chặn đánh viện binh trước để nản lòng
địch ở Đông Quan.
Đầu tiên, ông ra lệnh
dời người ở những vùng địch đi qua như Lạng Giang,
Bắc Giang, Quy Hoá, Tuyên Quang, để đồng không để
cô lập địch. Biết cánh Liễu Thăng là quân chủ lực,
ông sai Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Lê Văn Linh, Đinh
Liệt mang quân phục ở Chi Lăng, lại sai Lê Văn An,
Lê Lý mang quân tiếp ứng. Đối với cánh quân Mộc
Thạnh, ông biết Thạnh là viên tướng lão luyện, sẽ
ngồi chờ thắng bại của Liễu Thăng mới hành động
nên hạ lệnh cho Phạm Văn Xảo và Trịnh Khả cố thủ
không đánh.
Tướng trấn giữ biên
giới là Trần Lựu liên tục giả cách thua chạy từ Ải
Nam Quan về Ải Lưu rồi lại lui về Chi Lăng. Ngày
18 tháng 9 âm lịch, Thăng đuổi đến Chi Lăng. Trần
Lựu lại thua, Thăng đắc thắng mang 100 quân kị đi
trước. Ngày 20, Thăng bị phục binh của Lê Sát,
Trần Lựu đổ ra chém chết.
Các tướng thừa dịp
xông lên đánh địch, giết hơn 1 vạn quân, chém được
Lương Minh, Lý Khánh tự vẫn. Tướng Minh còn lại
Hoàng Phúc, Thôi Tụ cố kéo về thành Xương Giang
thế thủ nhưng đến nơi mới biết thành đã bị quân
Lam Sơn hạ, phải đóng quân ngoài đồng không. Lê
Lợi sai Trần Nguyên Hãn chặn đường vận lương, sai
Phạm Vấn, Nguyễn Xí tiếp ứng cho Lê Sát cùng sáp
đánh, giết 5 vạn quân Minh ở Xương Giang. Hoàng
Phúc và hơn 3 vạn quân bị bắt, Thôi Tụ không hàng
bị giết.
Mộc Thạnh nghe tin
Liễu Thăng thua bèn rút chạy. Phạm Văn Xảo, Trịnh
Khả đuổi theo chém hơn 1 vạn quân, bắt sống 1000
người ngựa.
Bình Ngô đại cáo
Vương Thông nghe tin
hai đạo viện binh bị đánh tan, sợ hãi xin giảng
hòa để rút quân. Lê Lợi đồng ý cho giảng hòa để
quân Minh rút về nước. Ông cùng Vương Thông tiến
hành làm lễ thề trong thành Đông Quan[8], hẹn đến
tháng chạp âm lịch năm Đinh Mùi (1427) rút quân về.
Lê Lợi đứng tên Trần
Cảo là người đang làm vua trên danh nghĩa, sai sứ
dâng biểu cho nhà Minh xin được phong. Vua Minh
biết Lê Lợi không có ý tôn Cảo nhưng vì bị thua
mãi nên đồng ý phong cho Trần Cảo làm An Nam quốc
vương.
Tháng chạp, Vương
Thông rút quân về nước. Các tướng muốn giết địch
để trả thù tội ác khi cai trị Việt Nam, Lê Lợi
không đồng tình vì muốn giữ hòa khí hai nước, cấp
thuyền và ngựa cho quân Minh về.
Lê Lợi sai Nguyễn Trãi
thảo bài Bình Ngô đại cáo để bá cáo cho thiên hạ
biết về việc đánh giặc Minh[9]. Đây là áng văn
chương nổi tiếng, rất có giá trị đời Lê, được coi
là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai sau bài thơ Nam
quốc sơn hà.
Cai trị
Lên ngôi
Sau khi quân Minh rút
về, trên danh nghĩa Trần Cảo là vua Việt Nam. Theo
sử sách, đầu năm 1428, Trần Cảo tự biết mình không
có công, lòng người không theo nên bỏ trốn vào
châu Ngọc Ma (vùng núi phía Tây), nhưng không
thoát, bị bắt mang về và bị ép uống thuốc độc chết.
Một số nhà nghiên cứu nghi ngờ việc Cảo phải tự bỏ
trốn mà cho rằng các tướng của Lê Lợi được lệnh
sát hại Cảo, hoặc Cảo bị đe doạ phải bỏ trốn. Tuy
nhiên, suy cho cùng Trần Cảo cũng chỉ là con bài
chính trị để Lê Lợi đối phó với nhà Minh trong một
giai đoạn cần thiết. Ngay nhà Minh, khi xâm lược
Việt Nam lấy lý do lập con cháu nhà Trần thực chất
chỉ là cớ để đánh nhà Hồ và rõ ràng không thực
bụng. Nhà Minh lấy cớ lập con cháu nhà Trần nhưng
lại đàn áp nhà Hậu Trần. Việc đó đã bị Nguyễn Biểu,
sứ giả của vua Hậu Trần Trùng Quang Đế bóc trần.
Lê Lợi lên ngôi hoàng
đế năm 1428, tức là vua Lê Thái tổ, chính thức
dựng lên vương triều Lê.
Trị vì
Thời kỳ dựng lại quốc
gia Đại Việt của Lê Lợi thật khó khăn, do hậu quả
tận diệt Văn hóa Việt của quân xâm lược trước đó.
Các tài liệu, thư tịch, văn học, nghệ thuật bị tàn
phá nặng nề; các học giả và người tài của Đại Việt
bị bắt đem về Trung Quốc... Nhưng sức bật của một
nền văn minh có gốc rễ sâu bền là đáng kinh ngạc.
Ngoài xây dựng kinh tế,
nhà Lê còn phải đối phó với bạo loạn trong nước.
Năm 1430, Lê Thái tổ sai thái tử Lê Tư Tề đi dẹp
loạn tù trưởng Đèo Cát Hãn.
Khi lên ngôi, Lê Thái
tổ đã chia nước ra làm bốn đạo, nay lại đặt thêm
một đạo nữa gọi là Hải Tây đạo, gồm cả Thanh Hóa,
Nghệ An, Tân Bình và Thuận Hóa. Trong các đạo, đạo
nào cũng có quan Hành khiển để giữ sổ sách về việc
quân-dân. Còn như các xã-thôn thì cứ xã nào có hơn
100 người trở lên, gọi là đại xã, đặt ba người xã
quan; xã nào có 50 người trở lên, gọi là trung xã,
đặt hai xã quan; xã nào có 10 người trở lên gọi là
tiểu xã, đặt một người xã quan để coi việc trong
xã.
Về việc học hành,
trường Quốc Tử Giám ở đất kinh đô để cho con cháu
các quan viên và những người thường dân có khả
năng vào học tập; mở nhà học và đặt thầy dạy nho
học ở các phủ và các lộ. Rồi lại bắt các quan văn
vũ từ tứ phẩm trở xuống phải vào thi Minh kinh
khoa, nghĩa là quan văn thì phải thi kinh sử, quan
vũ thì phải thi vũ kinh. Ở các lộ cũng mở khoa thi
Minh kinh để cho những người ẩn dật ra ứng thí mà
chọn lấy nhân tài.
Về kinh tế, bấy giờ
thường những người không công lao thì lắm ruộng
nhiều nương, mà những kẻ phải đánh đông dẹp bắc,
lúc về không có đất. Vì thế cho nên Lê Thái tổ
định ra phép quân điền để lấy công điền, công thổ
mà chia cho mọi người, từ quan đại thần cho đến
những người già yếu cô quả, ai cũng có một phần
ruộng, khiến cho sự giàu nghèo ở trong nước khỏi
chênh lệch.
Thảm sát công thần,
thay ngôi thái tử
Nhà Lê hình thành và
lập tức việc tranh chấp quyền lực giữa các phe
cánh bắt đầu nảy sinh, xuất phát từ nhiều lý do.
Một lý do là sự mâu thuẫn giữa những người đồng
hương hoặc ít nhiều có thân thích với vua và những
người có gốc tích từ các vùng khác. Lý do thứ hai
là mâu thuẫn giữa các công thần trong việc lập
tranh ngôi thái tử giữa con trưởng Lê Tư Tề và con
thứ Lê Nguyên Long.
Phe Lê Sát ủng hộ
người con thứ Nguyên Long trong khi các tướng xuất
thân từ kinh đô như Phạm Văn Xảo, Trần Nguyên Hãn
ủng hộ Tư Tề. Năm 1429, Lê Thái tổ tin lời gièm
pha nghi Phạm Văn Xảo làm phản nên bắt giết. Sau
đó lại có người tố cáo Trần Nguyên Hãn tích trữ vũ
khí làm phản. Lê Thái tổ sai người đi bắt. Thuyền
đến giữa dòng, Trần Nguyên Hãn kêu vô tội và nhảy
xuống sông tự vẫn. Nguyễn Trãi là người cùng họ
với Nguyên Hãn[10] cũng bị bắt giam một thời gian,
sau vì không có bằng chứng buộc tội nên được thả
ra.
Người con cả Lê Tư Tề
bị kết luận mắc chứng điên khùng nên bị phế truất.
Con thứ Lê Nguyên Long được lập làm thái tử.
Các nhà nghiên cứu
thống nhất rằng những sự kiện trên thực chất là
kết quả của sự thắng thế của phe Lê Sát trong
triều đình mà thôi. Hơn nữa, những hành động của
vua Thái tổ để bảo vệ sự thống trị của nhà Lê cũng
mang tính hệ thống. Đầu tiên là giết Trần Cảo. Sau
đó giết Trần Nguyên Hãn là con cháu nhà Trần. Cuối
cùng là lấy lý do mẹ của thái tử Nguyên Long có
tên là Phạm Thị Ngọc Trần (đã mất năm 1425) nên
bắt những người họ Trần phải đổi sang họ Trình để
kiêng huý. Tất cả những hành động đó đều nhằm
khiến thiên hạ hết sự nhớ tiếc nhà Trần. Và Lê Tư
Tề cũng là nạn nhân trong đó.
Lê Lợi ở ngôi được 5
năm thì mất vào ngày 22 tháng 8 nhuận âm lịch năm
1433, thọ 49 tuổi. Vì nhớ công Lê Lai chết thay
cho mình ở núi Chí Linh trước kia, ông dặn lại đời
sau phải giỗ Lê Lai trước khi giỗ ông một ngày.
Bởi thế đời sau truyền lại câu: "Hăm mốt Lê Lai,
hăm hai Lê Lợi".
Vua Lê Thái tổ được an
táng tại Vĩnh Lăng, Lam Sơn. Thái tử Lê Nguyên
Long 11 tuổi lên nối ngôi, tức là vua Lê Thái Tông.
Nhận định
Về công lao sự nghiệp
Lê Lợi là vua có công
đánh đuổi quân Minh xâm lược, sáng lập nhà Hậu Lê,
triều đại tồn tại lâu nhất trong lịch sử Việt Nam.
Sau thời kỳ độc lập
hơn 400 năm kể từ thế kỷ 10, Đại Việt có nguy cơ
trở lại thành quận huyện của Trung Hoa. Cuộc khởi
nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi đã chấm dứt 20 năm cai
trị của nhà Minh tại Đại Việt và chấm dứt hẳn sự
đô hộ của Trung Quốc thời phong kiến.
Bởi công lao đó của
ông nên đời sau còn nhớ nhà Lê khi bị nhà Mạc thay
ngôi và đó là một nguyên nhân khiến nhà Lê có thể
trung hưng (1533). Thậm chí ngay cả khi con cháu
nhà Lê không còn nắm được thực quyền thì trên danh
nghĩa vẫn là người đứng đầu thiên hạ. Họ Trịnh làm
phụ chính nhiều đời nhưng vẫn không dám cướp ngôi
nhà Lê cũng bởi sợ dư luận còn nhớ công lao giành
lại độc lập cho đất nước của nhà Lê.
Về cai trị, ông cũng
là người thiết lập lại trật tự, quy củ của chế độ
phong kiến các triều đại Lý, Trần trước đây mà các
thế hệ vua sau tiếp tục củng cố, phát triển cao
hơn nữa.
Điểm giống với Hán Cao
Tổ
So với Hán Cao Tổ Lưu
Bang, cuộc đời sự nghiệp của Lê Thái Tổ có nhiều
điểm trùng hợp nhau.
Cả hai vua đều là con
thứ ba trong nhà. Trên Lưu Bang có Lưu Bá, Lưu
Trọng. Trên Lê Lợi có Lê Học, Lê Trừ.
Cả vua Lê và vua Hán
đều xuất thân từ người áo vải, khởi nghĩa gặp rất
nhiều khó khăn nhiều năm đầu, về sau mới thuận lợi.[13]
Khi gặp gian nguy, Lưu
Bang phải nhờ Kỷ Tín ra hàng, lừa địch và chết
thay, Lê Lợi cũng phải nhờ có Lê Lai theo gương Kỷ
Tín để thoát nạn.
Sau khi lên ngôi, hai
vua đều giết công thần khai quốc.
Về sau, cơ nghiệp của
hai vua đều bị họ khác cướp ngôi con cháu, nhà Hán
và nhà Lê đều bị gián đoạn một thời gian nhưng sau
đó đều hồi phục lại được. Nhà Đông Hán kế tục nhà
Tây Hán và nhà Lê được trung hưng.
Có lẽ do hành trạng
giống nhau, khi mất cả hai vua đều được đặt chữ "Cao".
Lưu Bang là Cao đế hay Cao tổ, Lê Lợi là (Thái tổ)
Cao hoàng đế.
Tham
khảo:
Hoàng Lê nhất thống
chí
Đại Việt Sử ký Toàn
thư
Việt Nam sử lược
Lam Sơn thực lục
====
Xem
thêm các tài liệu:
Annam chí lược Lê Tắc
A description of the kýngdom of Tonquin Samuel
Baron
Bài tựa "Ngạn Ngữ Phong Dao" Nguyễn can Mộng
Cơ Cấu Việt Nho Kim Định
Cổ Sử (tài liêu giảng khoá Đ.H.V.K. Sài gòn) Trần
Kính Hòa
Cổ Sử (tài liêu giảng khoá Đ.H.V.K. Sài gòn)
Nghiêm Thẩm
Chữ Thời Kim Định
Cà Mâu xưa và An Xuyên nay Nguyễn văn Lương
Chu dịch Phan bội Châu
Cổ sử (tài liêu giảng khoá Đ.H.V.K. Sài gòn)
Saurin
Cổ kim chú Thôi Báo
Connaissance du Vietnam P.Huard et M.Durand
Đại Việt thông sử Lê quí Đôn
Đại Nam nhất thống chí Quốc Sử Quán
Đại Nam thực lục tiền biên Quốc Sử Quán
Đại Nam thực lục chánh biên Quốc Sử Quán
Đại Nam chánh biên liệt truyện Quốc Sử Quán
Đại Việt sử ký toàn thư Ngô sĩ Lyên
Dương sự thuỷ mạt Quốc sử quán
Điều trần Nguyễn trường Tộ
Dã sử Xuân phong Hồ đắc Ý
Đông kýnh nghĩa thục Đào trinh Nhất
Dân tộc miền nam tây nguyên Jacques Dourmes
Dân tộc học Cardière
Đề cương văn hoá Việt Nam Đảng cộng sản Việt Nam
công bố 1943
Đại cương về văn học sử Việt Nam Nguyễn khánh Toàn
Decent Interval Frank Snepp
Dictionarium Annamiticum, Lusitanum et Latinum
Alexandre de Rhodes
Đối chiếu tiếng Hán Việt và tiếng Bắc Kinh Phạm
văn Hải
Gia Định thành thông chí Trịnh hoài Đức
Góp phần vào sự nghiên cứu một vị
thành hoàng Việt Nam, Lý phục Man Nguyễn văn Huyên
Hán Việt thành ngữ Bửu Cân
Hà thành thất thủ chí công quá ca
(Hà thành chính khí ca) Nguyễn văn Giai
Hạnh thục ca Nguyễn nhược Thị
Huấn địch Thập Điều
Thánh dụ vua Thánh Tổ (Nguyễn)
Diễn nghĩa vua Dực Tông (Nguyễn)
Hậu Hán thư Phạm Việp
Histoire ancienne des peuples de
l'Orient classique Maspéro, Gaston
Historic documents of 1975 Elizabeth Wehr
Histoire ancienne des etats Hindouises
d'extreme Orient G. Coedes
La Chine antique Maspero, Henry
Lịch sử văn học Việt Nam
Văn học dân gian Chu xuân Diên
Lược khảo về thần thoại Việt Nam và
Việt Nam cổ văn học sử Nguyễn đổng Chi
Lĩnh Nam Trích Quái Vũ Quỳnh và Kiều Phú
Lạc Thư Minh Triết Kim Định
Lịch Sử Nhật Bản Thích thiện Ân
Le Peuple Vietnamien Levy, Paul
Lịch sử Việt Nam Khoa học xã hội
Hà NộI xuất bản
Le dossier du Pentagone E.W.Kenworthy and Fox
Butterflield
L'empire d'Annam Gosselin
Le Vietnam Philippe Devillers
Les Origines du Tonkýn J. Dupuis
Les philosophies de l'Inde H.Zimmer
Miến Điện Nguyễn bích Lyên
Memoire historique sur le Tonkýn Gaubil
Monde en collision ĐVelikovsky
Memoire sur la Cochinchine Benique Vachet
Nhật Bản tư tưởng sử Ishi Dakzu Yoshi
(Châm vũ Nguyễn văn Tần: dịch)
Nguyễn Trường Tộ et son temps Đào đăng Vĩ
Nguyễn Triều Long Hưng sự tích Trần văn Tuân
Nguyễn Trãi toàn tập Uỷ ban khoa học xã hội Việt
Nam,
viện sử học, Hà nội xuất bản
Nguyễn trường Tộ Nguyễn Lân
Nam sử liệt truyện Lê thúc Thông
Nhân chủng
(tài liệu giảng khoá Đ.H.V.K Sàigòn) Paris ấn hành
(Vernon)
New light on a forgotten past W.G.Solheim II
No exit from Vietnam Sir Robert Thompson
Notice historique sur la Cochinchine Gaubil
Our Vietnam night mare Marguerite Higgins
Phủ Biên Tạp Lục Lê quý Đôn
Pháp chế sử
(tài liệu giảng khoá Đ.H.V.K. Sàigòn) Vũ quốc
Thông
Phan Đình Phùng Đào trinh Nhất
Qua thực tiễn văn nghệ
kháng chiến Nam bộ Lưu quý Kỳ
Reviewing world history AMCO
School publication Inc.
Revolutionary
thought from Marx to Mao Công hòa Nhân dân Trung
quốc ấn hành
Recherches archeologiques en Indochine Đại học
Harvard
Relation sur le Tonkýn Baldinotti
Relatione della provincia del Giappone Antonio
Francisco Cardim
Sơ Lược Về Ảnh Hưởng Trung Hoa
Trong Tiếng Việt Phạm văn Hải
Sử ta so với sử Tàu Nguyễn văn Tố
Sử ký Tư mã Thiên
Sociologie d'une guerre Paul Mus
South East Asia Guy Hunter
Thư tịch
(tài liệu giảng khoá Đ.H.V.K.Sàigòn) Bửu Cầm
Trước Thời Bắc Thuộc
Người Việt Đã Có Chữ Viết Chưả Phạm văn Hải
Tư Tưởng Đông Tây Khái Luận Nguyễn phút Tấn
Tự Điển Chữ Nôm Nguyễn Quang Xỹ và
Vũ Văn Kính
Từ Điển Việt Hán Bắc Kinh xuất bản
Tỉnh Bến Tre Nguyễn Duy Oanh
Trung kỳ dân biến thì mạt ký Phan Chu Trinh
Tây phù nhật ký Phạm Phú Thứ
Tự phán Phan Bội Châu
Tân An ngày xưa Đào văn Hội
Thanh Hoá quan phong Vương duy Trinh
Tục ngữ phong dao Nguyễn văn Ngọc
The birth of Vietnam Taylor, Keith Weller
Berkeley: University of
California press
Tư tưởng và học thuật Lương Khải Siêu
Trung quốc dân tộc học Vương đồng Lynh
Trung quốc thông sử Chu cốc Thành
The Influence of T'ang Poetry
on Vietnamese Poetry Written
in Nôm Characters and in the
Quốc Ngữ writing system Phạm văn Hải
Thông Chí Trịnh Tiều
The ancient history of China to the end
of the Chou Dynasty Đại học Columbia Newyork
The two Viet Nams Bernard.B.Fall
The last Confucian Denis Warner
The irony of Vietnam:
the system worked Leslie H.Gelb with Richard
K.Betts
Texte et commentaire du miroir
comple de l'histoire du Viet M.Durand
Việt Nam Sử Lược Trần Trọng Kim
Việt Nam phong sử Nguyễn văn Mại
Việt Nam phong tục Phan kế Bính
Việt Nam văn học sử
giản lược tân biên Phạm thế Ngũ
Việt Nam Pháp thuộc sử Phan Khoang
Việt Nam văn minh sử Lê văn Siêu
Việt Nam văn học sử (1802 1945) Phạm văn Hải và
Phạm quân Khanh
Việt kýều ở Kampuchia Lê Hương
Việt Nam văn học toàn thư Hoàng trọng Miên
Việt Nam tổ quốc tuý ngôn Nguyễn hữu Tiến và
Nguyễn trọng Thuật
Việt Điện u linh tập Lý Tế Xuyên
Việt sử Thông giám cương mục Lý Tế Xuyên
Việt sử toàn thư Phạm văn Sơn
Việt lý tố nguyên Kim Định
Việt Nam Phật giáo sử T.T.Mật Thể
Việt Nam văn học sử yếu Dương quảng Hàm
Việt Nam văn hóa sử cương Đào duy Anh
Việt Nam máu lửa Nghiêm kế Tổ
Vân đài loại ngữ Lê quý Đôn
Vietnamese architecture Nguyen quang Nhac
Nguyen nang Dac
Vietnamese tradiction
on trial, 1920 1945 Marr.David.G.
Berkeley: University of California press
Viet Nam Marvin E.Gettleman
Viet Nam witness Bernard B.Fall
Vietnam diary Richard Tregaskýs
Vietnam, history of Encyclopaedia Britannica
William Benton, Publisher 1943 73) (Helen H.Benton,
Publisher 1973 74)
Vietnam Encyclopedia of the third world (by:
George Thomas Kurian)
Xã hội học Bửu Lịch
====
Ghi chú
^ Đại Việt Sử ký Toàn
thư tính là năm 1383
^ Theo Đại Việt Thông
Sử của Lê Quý Đôn thì Lê Lợi thọ 49 tuổi. Lê Lợi
sinh năm Ất Sửu (1385), mất năm Quý Sửu (1483) thì
thọ 49 tuổi, như Đại Việt Thông Sử ghi là đúng
^ Về việc Nguyễn Trãi
có tham gia khởi nghĩa Lam Sơn từ đầu hay không,
các tài liệu nói khác nhau. Có sách nói ông tham
dự từ đầu, có sách nói ông chỉ đến Lam Sơn năm
1420, chưa rõ nguồn nào đúng
^ Nguyễn Xí bắt được
thám tử của Vương Thông, biết Thông đóng ở Ninh
Kiều, định dùng một cánh quân cùng đánh tập hậu Lê
Triện, Thông cầm đại quân tiến đằng trước, đêm đến
nổ pháo hiệu thì hai cánh quân cùng đánh sáp vào.
Nguyễn Xí bèn đặt phục binh rồi cho nổ pháo hiệu
để lừa Thông
^ Vì nhà Hồ cướp ngôi
nhà Trần nên Minh Thành Tổ lấy danh nghĩa lập lại
nhà Trần để mang quân sang đánh nhà Hồ. Nay Vương
Thông muốn vin vào đó
^ Theo sử sách, Trần
Cảo tên thật là Hồ Ông, tự xưng là cháu nội vua
Trần Nghệ Tông, được tù trưởng châu Ngọc Ma tiến
cử với Lê Lợi. Nhưng theo một số sử gia gần đây,
việc Trần Cảo mạo xưng hay thật sự là con cháu nhà
Trần rất khó xác định, có thể chữ "mạo xưng" mà sử
sách ghi là do các sử gia nhà Lê chép vào để giảm
uy tín của Cảo
^ Vì vậy từ đó về sau
truyền lại câu đồng dao: "Nhong nhong ngựa ông đã
về, cắt cỏ Bồ Đề cho ngựa ông ăn"
^ Đến nay có vài giả
thiết về địa điểm diễn ra Hội thề Đông Quan, chưa
xác định chính xác chỗ nào
^ Sở dĩ gọi "Minh" là
"Ngô" vì vua sáng lập nhà Minh là Chu Nguyên
Chương trước kia khởi binh từ đất Ngô, tự xưng là
Ngô vương, sau thống nhất Trung Quốc mới xưng là "Minh"
^ Trần Nguyên Hãn là
cháu nội và Nguyễn Trãi là cháu ngoại tư đồ Trần
Nguyên Đán nhà Trần
^ Trần Nguyên Hãn là
cháu 7 đời của thái sư Trần Quang Khải nhà Trần
^ Việc so sánh này
không có ý nghĩa vì không nổi bật
^ Hầu như vua nào cũng
thế?
^ Âm lịch
^ Tháng 8
nhuận