| |
Lịch Sử Ngày Quân Lực (19-6)
Trần Gia Phụng
1.- Tình Hình Sau Cuộc Đảo
Chánh Ngày 1-11-1963
Sau khi đảo chánh lật đổ chính
phủ Ngô Đình Diệm ngày
1-11-1963, các tướng lãnh
trong quân đội Việt Nam Cộng
Hòa (VNCH) thành lập Hội Đồng
Quân Nhân Cách Mạng (HĐQNCM)
do trung tướng Dương Văn Minh
làm chủ tịch và lên nắm chính
quyền. Hội Đồng QNCM cử Nguyễn
Ngọc Thơ lập chính phủ lâm
thời.
Chính phủ nầy chỉ tồn tại
trong ba tháng và bị trung
tướng Nguyễn Khánh chỉnh lý
ngày 30-1-1964. Trung tướng
Khánh vẫn giữ trung tướng
Dương Văn Minh làm quốc trưởng
và Nguyễn Khánh tự đứng ra lập
chính phủ ngày 8-2-1964.
Tại Vũng Tàu, ngày 16-8-1964
trung tướng Nguyễn Khánh họp
Hội đồng tướng lãnh, mà từ nay
được gọi là Hội Đồng Quân Đội
Cách Mạng (chứ không phải là
Quân Nhân Cách Mạng). Đồng
thời trong cuộc họp nầy, Hội
đồng QĐCM thông qua một hiến
chương mới, về sau thường được
gọi là Hiến chương Vũng Tàu,
và bầu trung tướng Nguyễn
Khánh lên làm chủ tịch VNCH,
trung tướng Dương Văn Minh làm
cố vấn.
Hiến chương Vũng Tàu ngày
16-8-1964 gồm “Lời nói đầu”, 8
thiên, 62 điều, bị chống đối
từ nhiều phía, nhất là trong
giới tín đồ Phật giáo và sinh
viên học sinh. Nhiều cuộc biểu
tình xảy ra tại các tỉnh trên
toàn quốc, nhất là tại các
thành phố phía bắc miền Trung
như Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng,
Quảng Ngãi…
Tại Sài Gòn, hàng ngàn người
biểu tình trước chợ Bến Thành
ngày 25-8-1964, kéo đến phủ
chủ tịch (dinh Gia Long), đả
đảo độc tài, đả đảo Hiến
chương Vũng Tàu. Đoàn biểu
tình càng lúc càng đông và
không chịu giải tán. Cuối cùng
trung tướng Nguyễn Khánh xuất
hiện, cũng hô to khẩu hiệu:
“Đả đảo độc tài quân phiệt”,
tuyên bố hủy bỏ Hiến chương
Vũng Tàu và từ chức.
Chiều 25-8, HĐQĐCM họp gấp tại
bộ Tổng tham mưu. Cuộc họp kéo
dài trong nhiều ngày. Ngày
26-8, HĐQĐCM ra tuyên cáo gồm
các điểm: thu hồi hiến chương
ngày 16-8-1964; sẽ bầu nguyên
thủ quốc gia và sẽ ủy cho
nguyên thủ quốc gia thực hiện
cơ cấu dân chủ; các tướng lãnh
sẽ trở về với quân đội; ủy cho
chính phủ hiện thời tạm điều
hành việc nước. Như thế là
Hiến chương Vũng Tàu chính
thức bị bãi bỏ ngày 16-8-1964,
nhưng hậu chấn vẫn tiếp tục
ảnh hưởng đến tình hình.
Ngày 27-8-1964, HĐQĐCM quyết
định thành lập Ban Lãnh đạo
Lâm thời Quốc gia (LĐLTQG) gồm
tam đầu chế là các trung tướng
Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh
và Trần Thiện Khiêm, trong đó
Dương Văn Minh làm quốc trưởng,
Nguyễn Khánh làm thủ tướng,
Trần Thiện Khiêm đứng đầu quân
đội. Hội đồng QĐCM cử chính
phủ Nguyễn Khánh tiếp tục
nhiệm vụ, nhưng phải triệu tập
Quốc dân Đại hội trong vòng
hai tháng.
Ngày 6-9, HĐQĐCM thông báo
thành lập Thượng Hội đồng Quốc
gia (THĐQG)
để cố vấn cho Ban LĐLTQG. Ngày
7-9, HĐQĐCM bầu trung tướng
Dương Văn Minh làm chủ tịch
Ban LĐLTQG. Tình hình chính
trị vẫn không ngừng xáo trộn,
cao điểm là binh biến ngày
13-9-1964 do trung tướng Dương
Văn Đức và thiếu tướng Lâm Văn
Phát lãnh đạo. Cuộc binh biến
không được HĐQĐCM ủng hộ. Ngày
15-9-1964, trung tướng Dương
Văn Đức rút quân và tuyên bố
không phải là đảo chánh, mà
chỉ có cuộc biểu dương lực
lượng để cứu vãn uy tín chính
phủ và quân đội.
Tình hình tạm thời lắng dịu.
Ngày 26-9-1964, Thượng Hội
đồng Quốc gia (THĐQG) làm lễ
trình diện tại Hội trường Diên
Hồng (đường Công Lý, Bến
Chương Dương). Hôm sau, THĐQG
bầu ông Phan Khắc Sửu làm chủ
tịch THĐ. Do áp lực từ nhiều
phía, ngày 19-10-1964, ban
LĐLTQG đưa ra tuyên bố rằng
THĐQG có quyền và có bổn phận
thực hiện các cơ cấu quốc gia,
chọn quốc trưởng và lập chính
phủ trước ngày 27-10-1964.
Thượng HĐQG công bố Hiến
chương Lâm thời ngày
20-10-1964, gồm 10 thiên, 49
điều, theo đó Việt Nam là một
nước Cộng hòa, lãnh thổ bất
khả phân, chủ quyền thuộc về
toàn dân. Quyền lập pháp thuộc
về Quốc dân Đại hội (QDĐH), do
dân bầu. Quốc dân đại hội có
quyền tuyển chọn quốc trưởng.
Quốc trưởng đứng đầu ngành
hành pháp, chỉ định thủ tướng
với sự chấp thuận của QDĐH.
Quyền tư pháp thuộc về Hội
đồng thẩm phán tối cao. Thượng
Hội đồng sử dụng quyền của
QDĐH cho đến khi QDĐH được
thành lập. Lúc đó, THĐ sẽ là
thượng viện.
Thượng HĐQG bầu chủ tịch THĐQG
là Phan Khắc Sửu làm quốc
trưởng VNCH ngày 24-10-1964 và
hôm sau 25-10, bầu Nguyễn Xuân
Chữ làm quyền chủ tịch THĐQG,
thay Phan Khắc Sửu. Ban LĐLTQG
liền chính thức chuyển giao
quyền hành cho tân quốc trưởng
Phan Khắc Sửu ngày 26-10-1964,
đồng thời thủ tướng Nguyễn
Khánh đệ đơn từ chức.
Ngày 31-10-1964, quốc trưởng
Phan Khắc Sửu ban hành sắc
lệnh SL.005/QT/SL, bổ nhiệm
ông Trần Văn Hương lập nội các.
Trần Văn Hương thành lập chính
phủ hoàn toàn dân sự ngày
4-11-1964. Tuy đã có Hiến
chương Lâm thời (20-10-1964)
và chính phủ dân sự, Hội Đồng
Quân Đội Cách Mạng được xem
như chấm dứt hoạt động, nhưng
quyền lực thật sự ngấm ngầm
vẫn nằm trong tay các tướng
lãnh.
Ngày 24-11-1964, trung tướng
Dương Văn Minh được thăng đại
tướng. Một ngày sau, trung
tướng Nguyễn Khánh cũng vinh
thăng đại tướng. Lúc đó, các
tướng mới lên chức khác liên
kết thành một thế lực quan
trọng thường được gọi là các
tướng trẻ (báo chí Mỹ gọi là
Young Turks). Ngày 18-12-1964,
các tướng trẻ áp lực đại tướng
Nguyễn Khánh lập Hội đồng Quân
lực (HĐQL) để biểu quyết các
vấn đề quan trọng, kể cả việc
thăng thưởng trong quân đội.
Tổng tư lệnh quân đội không
còn được toàn quyền. Trong khi
đó, đại tướng Nguyễn Khánh
cũng muốn lập HĐQL để làm hậu
thuẫn cho mình.
Ngày 20-12-1964, HĐQL tuyên bố
giải tán THĐQG vì đã gây chia
rẽ, lưu nhiệm quốc trưởng Phan
Khắc Sửu, tín nhiệm thủ tướng
Trần Văn Hương. Tuy nhiên,
chính phủ Trần Văn Hương lại
bị phản đối, phải cải tổ ngày
18-1-1965, trong đó có 4 tướng
lãnh tham gia. Dầu vậy, tình
hình vẫn bất ổn. Ngày
27-1-1965, HĐQL quyết định
giải tán luôn chính phủ Trần
Văn Hương, ủy nhiệm đại tướng
Nguyễn Khánh giải quyết cuộc
khủng hoảng chính trị, triệu
tập ngay Hội đồng Quân dân,
lưu nhiệm quốc trưởng Phan
Khắc Sửu.
Sau một thời gian thăm dò,
ngày 16-2-1965, đại tướng
Nguyễn Khánh, thừa ủy nhiệm
HĐQL, bổ nhiệm Phan Khắc Sửu
làm quốc trưởng và Phan Huy
Quát làm thủ tướng. Ba ngày
sau khi chính phủ Phan Huy
Quát được thành lập, đại tá
Phạm Ngọc Thảo và thiếu tướng
Lâm Văn Phát cầm đầu cuộc đảo
chánh ngày 19-2-1965. Binh
biến bị thất bại chẳng những
vì không được các tướng trẻ
ủng hộ, mà còn bị phía Phật
giáo và sinh viên học sinh
phản đối. Phạm Ngọc Thảo bỏ
trốn.
Sau khi tạm ổn định tình hình,
ngày 20-2-1965, HĐQL quyết
định thay thế đại tướng Nguyễn
Khánh, và cử trung tướng Trần
Văn Minh, tham mưu trưởng Liên
quân, lên làm tổng tư lệnh
quân lực VNCH. Trong khi đại
tướng Dương Văn Minh được đưa
đi làm đại sứ Thái Lan từ
tháng 12-1964, thì nay đại
tướng Nguyễn Khánh được bổ
nhiệm đại sứ lưu động và rời
Việt Nam ngày 25-2-1965.
Những bất ổn chính trị từ khi
chính phủ Ngô Đình Diệm bị sụp
đổ cho đến nay đưa đến những
hậu quả rất bất lợi cho VNCH.
Tuy quân đội Hoa Kỳ gia tăng
oanh tạc Bắc Việt, Bắc Việt
vẫn tiếp tục xua quân xâm nhập
miền Nam, đe dọa VNCH.
2.- NGÀY QUÂN LỰC (19-6)
Ngày 25-5-1965, thủ tướng Phan
Huy Quát cải tổ chính phủ, bổ
nhiệm một số tổng trưởng mới.
Quốc trưởng Phan Khắc Sửu
không đồng ý. Vì sự bất đồng
giữa thủ tướng và quốc trưởng,
xảy ra khủng hoảng nội các.
Cuộc khủng hoảng trầm trọng
thêm khi tổng hội sinh viên,
một số đoàn thể chính trị và
các đoàn thể giáo dân Ky-Tô
giáo lần lượt yết kiến quốc
trưởng Phan Khắc Sửu, phản đối
chính phủ Phan Huy Quát. (Nguyễn
Trân, Công và tội, những sự
thật lịch sử, California: Nxb.
Xuân Thu, 1992, tt. 542-544.
Nguyễn Trân là hội viên HĐQGLP,
có mặt trong cuộc họp nầy.)
Ngày 9-6-1965, thủ tướng Phan
Huy Quát họp báo, tường trình
về cuộc khủng hoảng chính trị
và đề nghị các tướng lãnh đứng
ra làm trung gian để giữ thế
quân bình cho đến khi có một
chính phủ dân cử. Trong cuộc
họp tối 11-6-1965, các tướng
lãnh áp lực quốc trưởng Phan
Khắc Sửu, thủ tướng Phan Huy
Quát cùng HĐQGLP giao trả lại
quân đội trách nhiệm và quyền
lãnh đạo quốc gia mà HĐQL đã
ủy thác cho chính phủ dân sự.
Vừa vì bất đồng, vừa vì áp lực
của các tướng lãnh, quốc
trưởng Phan Khắc Sửu, thủ
tướng Phan Huy Quát và chủ
tịch Hội đồng Quốc gia Lập
pháp Phạm Xuân Chiểu đồng ký
bản tuyên cáo ngày 11-6-1965,
nguyên văn như sau:
“Sau khi duyệt lại tình trạng
ngày càng một khẩn trương của
đất nước, sau khi đã xét lại
và xác nhận rằng: những cơ cấu
và thể chế Quốc Gia hiện tại
không còn phù hợp với tình thế,
sau khi đã hội ý cùng toàn thể
tướng lãnh Quân Đội Việt Nam
Cộng Hòa tại Phủ Thủ Tướng
ngày 11/6/1965, chúng tôi,
Quốc Trưởng Việt Nam Cộng Hòa,
Hội Đồng Quốc Gia Lập Pháp,
Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa
đồng thanh quyết định long
trọng trao trả lại cho Quân
Đội Việt Nam Cộng Hòa trách
nhiệm và quyền hành lãnh đạo
quốc gia đã được Hội Đồng Quân
Lực ủy thác cho chúng tôi
chiếu theo Quyết Định số 8
ngày 5/5/1965, Tuyên Cáo số 7
ngày 5/5/1965, Quyết Định số 5
ngày 16/2/1965, Quyết Định số
6 ngày 17/2/1965 và Quyết Định
số 4 ngày 16/2/1965.
Yêu cầu toàn thể đồng bào các
giới không phân biệt giai tầng
địa phương, đảng phái và tôn
giáo, ủng hộ Quân Lực Việt Nam
Cộng Hòa trong việc lãnh đạo
toàn Quân và toàn Dân đúng
theo tinh thần của Cách Mạng
1/11/1963.” (Trích từ Phạm
Phong Dinh, “Ý nghĩa Ngày Quân
Lực Việt Nam Cộng Hòa”, tạp
chí Thế Giới Mới, Houston,
7-6-2009.)
Ngày 14-6-1965, HĐQL họp tại
Sài Gòn, đồng thanh chấp nhận
đứng ra lãnh trọng trách điều
khiển quốc gia một lần nữa,
thành lập một ủy ban lãnh đạo
của quân lực mệnh danh là Ủy
ban Lãnh đạo Quốc gia (UBLĐQG).
Ủy ban LĐQG thay mặt toàn thể
quân lực VNCH điều khiển quốc
gia, có nhiệm vụ thiết lập thể
chế và các cơ cấu quốc gia
cùng thành lập một nội các
chiến tranh. Sau đây là nguyên
văn bản quyết định ngày
14-6-1965 của Hội đồng tướng
lãnh:
“- Sau khi nghiên cứu Bản
Tuyên Cáo Chung của Quốc
Trưởng, Hội Đồng Quốc Gia Lập
Pháp và Chánh Phủ Việt Nam
Cộng Hòa ngày 11/6/1965 trao
trả trách nhiệm và quyền hành
lãnh đạo Quốc Gia cho Quân Lực
Việt Nam Cộng Hòa.
- Chiếu biên bản Đại Hội Đồng
các Tướng Lãnh Quân Lực Việt
Nam Cộng Hòa ngày 12/6/1965.
Các Tướng Lãnh Quân Lực Việt
Nam Cộng Hòa, Tư Lệnh các vùng
chiến thuật và quân binh chủng
đã quyết định:
Quyết Định:
Điều 1. Thành lập một ủy ban
lãnh đạo của Quân Lực mệnh
danh là Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc
Gia.
Điều 2. Thành phần của Ủy Ban
nói trên gồm có: một Chủ Tịch,
một Tổng Thơ Ký, một Ủy Viên
phụ trách điều khiển Hành Pháp,
Tổng Trưởng Quốc Phòng, Tổng
Tham Mưu Trưởng, các Tư Lệnh
Vùng Chiến Thuật, Tư Lệnh Biệt
Khu Thủ Đô.
Điều 3. Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc
Gia thay mặt toàn thể Quân Lực
Việt Nam Cộng Hòa điều khiển
Quốc Gia.
Điều 4. Hoàn toàn tín nhiệm và
chỉ định:
A. Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo
Quốc Gia: Trung Tướng Nguyễn
Văn Thiệu.
B. Tổng Thư Ký: Trung Tướng
Phạm Xuân Chiểu.
C. Ủy Viên phụ trách điều
khiển Hành Pháp: Thiếu Tướng
Nguyễn Cao Kỳ.
Điều 5. Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc
Gia có nhiệm vụ thiết lập thể
chế và các cơ cấu Quốc Gia
cùng thành lập một Nội Các
Chiến Tranh.” (Trích từ Phạm
Phong Dinh, “Ý nghĩa Ngày Quân
Lực Việt Nam Cộng Hòa”, tạp
chí Thế Giới Mới, Houston,
7-6-2009.)
Sau khi tuyên bố nhận lãnh
trách nhiệm đứng ra điều khiển
đất nước, các tướng lãnh đề cử:
trung tướng Nguyễn Văn Thiệu
giữ chức chủ tịch Ủy ban Lãnh
đạo Quốc gia (UBLĐQG), nhiệm
vụ và quyền hành quốc trưởng;
trung tướng Phạm Xuân Chiểu
làm tổng thư ký UBLĐQG; thiếu
tướng Nguyễn Cao Kỳ là ủy viên
phụ trách điều khiển hành pháp,
nhiệm vụ và quyền hành thủ
tướng.
Ngày 19-6-1965, HĐQL quyết
định giải tán Hội đồng Quốc
gia Lập pháp (quyết định số 4/
QLVNCH), ban hành Ước pháp Tạm
thời gồm 7 thiên, 25 điều,và
thiết lập các tổ chức: Đại hội
đồng Quân lực, UBLĐQG, UBHPTƯ,
Hội đồng An ninh Quốc gia, Hội
đồng Kinh tế và Xã hội, Thượng
Hội đồng thẩm phán (quyết định
số 5/QLVNCH). Chủ tịch UBLĐQG
Nguyễn Văn Thiệu liền ký sắc
lệnh 001/a/CT/LĐQG thành lập
nội các chiến tranh, gọi là Ủy
ban Hành pháp Trung ương (UBHPTƯ).
Đại hội đồng Quân lực gồm tất
cả các tướng lãnh trong quân
đội VNCH. Ủy ban Lãnh đạo Quốc
gia gồm trung tướng Nguyễn Văn
Thiệu (chủ tịch), trung tướng
Phạm Xuân Chiểu (tổng thư ký),
thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ (ủy
viên hành pháp), tổng trưởng
Quốc phòng, tổng tham mưu
trưởng, bốn tư lịnh bốn Vùng
chiến thuật và tư lịnh Biệt
khu thủ đô. Uỷ ban hành pháp
Trung ương do trung tướng
Nguyễn Văn Thiệu bổ nhiệm bằng
sắc lệnh số 001/a/CT/LĐQG ngày
19-6, ngoài chủ tịch là thiếu
tướng Nguyễn Cao Kỳ còn có 5
tổng uỷ viên, 10 uỷ viên và 2
thứ uỷ.
Khác với những lần đảo chánh
hay chỉnh lý trước đây, lần
nầy do tranh chấp giữa các
chính khách dân sự và với sự
thỏa thuận của phía chính phủ
dân sự, các tướng lãnh ra nắm
chính quyền. Từ đây, ngày 19-6
được xem là ngày kỷ niệm Quân
lực VNCH nắm chính quyền, và
thường được gọi là NGÀY QUÂN
LỰC. (Trích Việt sử đại cương
tập 6.)
TRẦN GIA PHỤNG
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|