>>Bạn đọc biết: Nữ Thủ Tướng
Thái ra mắt nội các mới

====
LỊCH SỬ THÁI LAN
( Phạm Văn Tuấn )
1. 1
Vài số thống kê.
Diện tích: 517,000 cây số vuông.
Dân số: 61.4 triệu người
Chính thể: Quân chủ lập hiến từ 1932, Vua Bhumibol
Adulyade (Rama- 9)(1946- )
Thủ đô: Bangkok với 9 triệu dân
Dân tộc: gốc Thái 80%, Trung Hoa 10%, Mã Lai 4%;
Lào, Miến, Việt Nam, Ấn Độ và
một số dân thiểu số khác: 6%
Tôn giáo: Phật giáo nguyên thủy 92%, Đạo Hồi 4 %,
Phật giáo đại thừa 2.5%, Thiên chúa giáo
0.5%.
Khí hậu: gió mùa tây nam và mùa mưa: từ tháng 5
tới tháng 10, gió mùa đông bắc và mùa
khô: từ tháng 11 tới tháng 5
Tài nguyên: rất đa dạng về động vật và thảo mộc,
sản phẩm chính là gạo rồi tới trái cây,
cao su, dầu cọ... Ngoài ra còn có các mỏ dầu thô
và khí đốt.
Tiền tệ: đồng Baht, 25.5 Baht = 1 Mỹ kim.
2/ Nguồn gốc.
Người Thái Lan tự hào về đất nước của họ đã không
là một thuộc địa của cường quốc tây phương nào vào
cuối thế kỷ 19, quê hương của họ cũng không bị nội
chiến tàn phá dù cho nền chính trị có gặp các xáo
trộn. Trong thế kỷ vừa qua, giới lãnh đạo Thái Lan
đã khôn ngoan trong nền ngoại giao quốc tế nên có
thể duy trì được nền độc lập cho xứ sở, họ đã biết
tiếp thu các ảnh hưởng tây phương đồng thời vẫn
duy trì được chủ quyền quốc gia.
Từ thế kỷ 12 tới đầu thế kỷ 20, quê hương này được
người ngoại quốc gọi là Siam = Xiêm La cho tới năm
1939, tên chính thức của vương quốc được gọi thành
Thái Lan sau một biến cố dân chủ, trong đó danh từ
“Thái” có nghĩa đen là “tự do”. Nguồn gốc của dân
tộc Thái được cho là từ tỉnh Vân Nam bên Trung Hoa
nhưng cũng có người lại cho rằng dân tộc gốc của
xứ sở này đã từ đồng bằng sông Menam Chao Phya đi
lên mạn Nam Trung Hoa rồi gặp thời kỳ bành trướng
của Đại Hãn Hốt Tất Liệt mà lại phải di chuyển
xuống phía nam.
Trong Thế Chiến Thứ Hai, một tù binh người Hòa Lan
khi làm con đường xe lửa Thái Lan - Miến Điện, đã
khám phá thấy các đồ cổ thời đồ đá tại Ban Kao,
thuộc tỉnh Kanchanaburi ở phía tây. Rồi các khai
quật tại làng Ban Chiang gần Udon Thani phía đông
bắc đã tìm ra các đồ sành, đồ sắt, đồ đồng, nữ
trang... và thời đại đồ đồng của Thái Lan còn đi
trước nền văn minh của thung lũng hai con sông
Tigris và Euphrates, có lẽ vào khoảng 3,600 năm
trước Tây Lịch. Văn Hóa Ban Chiang này đã cho thấy
người dân thời đó đã biết trồng lúa, nuôi thú vật
và đã có các tài khéo léo, làm và trang hoàng các
bình sành, chai lọ kim loại...
Các dấu tích khảo cổ cũng cho thấy sự hiện diện
của người Ấn Độ tại Thái Lan vào khoảng thế kỷ thứ
3 trước Tây Lịch. Tài liệu Phật Giáo Sinhalese là
Mahavamsa còn kể lại Vua Ấn Độ Ashoka (268- 232
trước TL) đã cử hai đặc sứ tới miền Suvannabhumi,
thuộc Đông Nam Á. Tới đầu kỷ nguyên Tây Lịch, đã
có giao dịch buôn bán qua đường biển giữa Ấn Độ và
miền nam Thái Lan. Các tượng Ấn Độ cổ đã được tìm
thấy tại cả hai cửa sông miền nam Thái Lan, ghi
dấu của thế kỷ thứ 4 sau Tây Lịch.
Trong các thế kỷ tiếp theo, Phật Giáo và Ấn Độ
Giáo tiếp tục được du nhập vào các miền Đông Nam
châu Á và đã được sửa đổi để thích hợp với các nhu
cầu địa phương. Tiếng Phạn (sanskrit) được giới
quý tộc dùng làm ngôn ngữ triều đình trong khi
tiếng Pali là ngôn ngữ của kinh Phật Giáo. Các nhà
cai trị địa phương thời bấy giờ có lẽ đã dùng các
tu sĩ Bà La Môn làm cố vấn trong việc tổ chức
chính quyền. Các sắc dân định cư đầu tiên của xứ
Thái Lan là người Mon và người Khmer đã chịu ảnh
hưởng Ấn Độ rất nhiều. Các khai quật khảo cổ tại
Lopburi và Nakhon Pathom đã chứng minh miền định
cư của người Mon từ thế kỷ thứ 7 và nghệ thuật
Phật Giáo của thời đại Dvaravati (thế kỷ 6 tới thế
kỷ 11) là của sắc dân người Mon. Người Khmer nổi
tiếng vì khu vực đền đài Angkor Wat, cũng để lại
nhiều ngôi đền thờ tại các tỉnh miền đông bắc Thái
Lan.
3/ Sắc dân Thái.
Có nhiều lý thuyết cắt nghĩa việc định cư của sắc
dân Thái. Lý thuyết đáng tin cậy nhất cho rằng vào
thế kỷ thứ 10, một dân tộc từ tỉnh Vân Nam tại
phía nam của Trung Hoa đã di chuyển theo các dòng
sông và thung lũng, xuống phía nam và tỏa ra thành
các giống dân: người Shan còn được gọi là “Thai
Yai” (Thái lớn) di chuyển về phía bắc của Miến
Điện, người Ahom Thai định cư tại Assam, một nhóm
khác tới đất Lào vào, số còn lại đi qua đảo Hải
Nam. Nhóm dân đông nhất là “Thai Noi” (Thái nhỏ)
đã thiết lập cơ sở chung quanh Chiang Saen tại
miền bắc của nước Thái Lan ngày nay. Họ đã lập nên
một nước nhỏ đóng đô tại Sukhothai vào năm 1238 và
sắc dân gốc Thái này di chuyển dần xuống phía nam,
tới Chiang Rai năm 1281 và Chiang Mai năm 1296 rồi
xứ sở Thái được nới rộng tới bán đảo Mã Lai.
Vào thế kỷ 13, vương quốc Thái Sukhothai bắt đầu
mở mang, đã lấn át các vương quốc Mon và Khmer.
Tại phía nam và trên dải đất hẹp là ảnh hưởng của
vương quốc quân sự và thương mại Srivichaiya đã
hình thành từ thế kỷ 7 mà có người cho rằng vương
quốc này đặt kinh đô tại Palembang ở Sumatra, hoặc
Chaiya tại miền nam Thái Lan, hoặc tại Kalimantan
trên đảo Borneo. Vương quốc Srivichaiya sau đó
cũng bị suy tàn vì ảnh hưởng của vương quốc
Sukhothai.
Danh từ Sukhothai có nghĩa là “bình minh của hạnh
phúc”. Theo tài liệu cổ xưa, người dân Thái vào
thời đại Sukhothai đã vui sống tự do, đây là thời
vàng son của dân tộc Thái Lan với đất nước thanh
bình, tài nguyên phong phú và được vị minh quân
cai trị. Theo truyền thuyết, người sáng lập ra
vương quốc này là vị anh hùng Phra Ruang. Vào thời
đó dân tộc Thái phải triều cống cho vua Khmer đóng
đô tại Angkor thứ nước thiêng lấy từ một hồ nước
bên ngoài Lop Buri vì vị vua Khmer cần nước thiêng
từ bốn miền biên giới. Xe bò chở nước trong các lu
bằng đất nung lại đi đường xa khiến cho không
tránh khỏi bị bể vỡ dọc đường, và người dân Thái
đã phải chuyên chở hai hay ba lần mới nạp đủ số
nước triều cống. Khi Phra Ruang tới tuổi trưởng
thành, ông ta đã chế ra một thứ lu đan bằng tre và
được gắn kín, nhờ đó việc chuyên chở nước thật dễ
dàng. Sự sáng suốt này khiến cho vua Khmer phái
một vị tướng tới để diệt trừ Phra Ruang nhưng ông
này đã biến kẻ thù thành đá. Sau đó Phra Ruang kết
hôn với con gái tộc trưởng miền Sukhothai rồi trở
nên vị vua đầu tiên của vương quốc độc lập
Sukhothai. Phra Ruang mang danh hiệu Sri
Indraditya. Kể từ thời đại Sukhothai này, đạo Phật
đã được truyền bá rộng rãi và đi dần vào nếp sống
của dân chúng cho tới ngày nay.
Người con trai thứ hai của vị vua sáng lập kể trên
có tên là Ramkamhaeng. Năm 19 tuổi, vị hoàng tử
này đã theo cha ra trận và đánh thắng kẻ thù trong
một trận đấu dùng voi. Vì thế vua cha đã ban cho
hoàng tử thứ hai tước hiệu Phra Ramkamhaeng hay
Rama, vị anh hùng.
Vương quốc Sukhothai vào thời Ramkamhaeng lên ngôi
chỉ là một xứ sở nhỏ hẹp nhưng dưới triều đại này,
lãnh thổ đã được mở rộng gấp 10 lần, từ Luang
Prabang tại Lào qua cánh đồng trung tâm của dòng
sông Chao Phya tới tận bán đảo phía nam, còn tại
phía tây, sắc dân Mon của miền nam Miến Điện cũng
phải thần phục.
Ramkamhaeng là nhà cai trị, nhà lập pháp và chính
khách. Ông đã phát minh ra chữ Thái bằng cách phối
hợp hệ thống mẫu tự Khmer với tiếng Thái. Các sắc
chỉ viết bằng lối chữ mới đã được Ramkamhaeng dùng
từ năm 1292 theo đó mô tả Thái Lan là một miền đất
phì nhiêu, đồ ăn dư thừa, tự do buôn bán, cấm chỉ
chế độ nô lệ và quyền thừa kế được bảo đảm. Cũng
vào thời đại này, các trường Phật Giáo Nguyên Thủy
(Theravada) được thiết lập tại Sukhotai. Các trao
đổi văn hóa với các nước ngoài được duy trì vì thế
tại nơi đây mới có ảnh hưởng Sinhalese và đặc biệt
nhất là đã có mối liên lạc ngoại giao với Trung
Hoa. Theo sử liệu, triều đình Mông Cổ thời bấy giờ
đã gửi 7 phái đoàn tới Thái Lan và có tài liệu còn
ghi rằng chính vua Ramkamhaeng cũng đã qua Trung
Hoa vào năm 1299. Thợ thủ công Trung Hoa đã dạy
cho người Thái cách làm đồ sứ nhờ đó sản phẩm của
Thái Lan được chở qua Trung Hoa và miền
Sawankhalok ngày nay còn dấu tích của các lò nung.
|
|