Thoi-Nay - Giai Tri va Doi Song

Trang chính
Tài liệu và biên khảo

Mục lục

Nhật Bản:

Do Thái:

TL&BK:

Tài liệu và biên khảo- Phụ trách TN. 3/2009. @Khoa học

Xem lại các cơ sở dữ liệu và các giả thuyết đưa ra về quốc hiệu, ta thấy:

1. Giả thuyết của nhà ngữ học J. De Francis, học giả QiGuangMou (học giả An Chi đã loại trừ), cũng như của học giả An Chi (mà nhà nghiên cứu Đinh Tuấn và Trần Trọng Dương… hưởng ứng bảo vệ), hoặc các giả thuyết khác:

* Ưu điểm:

-có chứng cứ mặc nhiên, nhưng cũng không phải là chứng cứ gốc.

* Khuyết điểm:

-không giải thích được vì sao quốc hiệu khi thì có 3 ký tự, khi thì chỉ có 2 ký tự.

-không giải thích được ý nghĩa quốc hiệu trong bối cảnh chung của “quốc tế” thời đó là: quốc hiệu thường chỉ gồm 2 chữ, và lúc nào cũng thường có 1 chữ mang nghĩa “to lớn” như chữ “đại” trong các quốc hiệu của Trung Quốc.

-mâu thuẫn và không giải thích được vì sao triều Lý “đổi” quốc hiệu.

-mâu thuẫn với một số vấn đề liên quan đến câu hỏi: vào năm 968, khi đặt quốc hiệu, Đinh Tiên Hoàng đã thật sự sùng Phật chưa?

-xây dựng giả thuyết cũng chỉ dựa vào suy luận hớ hênh đơn thuần chứ chưa có bằng chứng gì cho biết Đinh Tiên Hoàng đặt quốc hiệu là vì sùng đạo Phật cả!

2. Giả thuyết của tôi (NAH):

* Ưu điểm:

-giải thích được vì sao quốc hiệu khi thì có 3 ký tự, khi thì chỉ có 2 ký tự.

-giải thích được vì sao triều Lý “đổi” quốc hiệu.

-giải thích được ý nghĩa quốc hiệu trong bối cảnh chung của “quốc tế” thời đó là: quốc hiệu thường chỉ gồm 2 chữ, và lúc nào cũng có 1 chữ mang nghĩa “to lớn” như chữ “đại” trong các quốc hiệu của Trung Quốc.

-phù hợp với lịch sử phát triển chữ Nôm.

-phù hợp với lịch sử sử học nói chung: lịch sử nhân loại bao giờ cũng là lịch sử truyền khẩu có trước, sau đó rất lâu mới được ghi chép bằng văn bản.

* Khuyết điểm:

-không có chứng cứ cụ thể, chỉ dựa vào lý luận khoa học đơn thuần nhưng rất hợp lý.

Giả thuyết này, đã đứng trên tổng thể hài hòa các cơ sở dữ liệu, và giải thích được hết các bất đồng đã tranh cãi bấy lâu, hợp lý chung cho tất cả các lĩnh vực liên quan, nên dù có khuyết điểm, nhưng có lẽ gần với sự thật lịch sử nhất...

Tuy nhiên, cho dù có chứng minh được câu đối đã dẫn là do Vũ Phạm Khải (1807 - 1872) làm năm 1864 như các tác giả Nguyễn Minh Tường và Trần Trọng Dương nói, tức như tôi đã nói “giả thuyết của tôi (NAH) sẽ thiếu chứng lý quan trọng và sẽ sụp đổ!”, nhưng riêng trong lòng cá nhân tôi thì: tôi nghiên cứu Niên đại học đã gần 20 năm nay để làm công trình “Lịch đại tiền tệ Đông Á” nay vẫn chưa xuất bản, có chức năng như một quyển từ điển về niên biểu đối chiếu với lịch sử tiền tệ, thì tôi thấy tổng thể đặc trưng của quốc hiệu và niên hiệu 4 nước đồng văn thường chỉ có 2 chữ, nếu dùng theo lối tôn xưng thì trong đó có 1 chữ mang nghĩa “to lớn”, do vậy, tôi vẫn nhất quyết quốc hiệu thời Đinh (Việt Nam) cũng không thoát khỏi lệ trên!, tức vẫn là “Cồ Việt” to lớn!

Bởi còn có một chứng lý mà tôi cho là quan trọng bậc nhất, “-Dạ, em xin thưa”, cũng có quốc hiệu viết là:

Vạn Thắng thần uy khai Việt Cồ,

Thiên thu thánh đản ký Lân Sơn(24).

Giải thích quốc hiệu “Việt Cồ” như thế nào đây?! E cũng lại là niêm luật từ 3 chữ “Đại Cồ Việt”?! Điều này cho thấy quốc hiệu cho dù có viết 3 chữ hay 2 chữ thì cũng đã có TRUYỀN KHẨU TỪ XA XƯA với ý nghĩa là “nước Việt to lớn”! Và đây cho thấy rõ ràng quốc hiệu là tiếng thuần Việt / chữ Nôm!

…Để tiếp cận được sự thật của lịch sử thì cần phải tổng hợp kiến thức đa ngành, liên ngành, xuyên ngành từ Sử học, Khảo cổ học, Niên đại học, Văn bản học, Hán Nôm học, Ngôn ngữ học, Văn học, Tôn giáo học, cho đến Logic học... thì mới có thể có được một nhận định toàn diện khá chính xác!; chứ nếu chỉ mới võ vẽ một vài chữ Hán Nôm mà đã vội vàng vỗ ngực chê bai người khác, thì không nên!, vì sẽ rất dễ rơi vào những nhận định chủ quan phiến diện...

Theo lời dạy của Thiền sư Bạch Ẩn là: “Đại nghi đại ngộ, Tiểu nghi tiểu ngộ, Bất nghi bất ngộ”!; thay cho lời kết luận, tôi xin trích lại và đồng ý với quan điểm của nhà nghiên cứu Hán Nôm học Đinh Tuấn: “-Đây là cố gắng tìm hiểu riêng của tôi về quốc hiệu Đại Cù Việt nhằm soi sáng thêm vấn đề bí ẩn của lịch sử chứ không nhằm vào sự tranh giành hơn thua, quan trọng hơn hết là sự thật. Rất mong ý kiến của tôi sẽ gợi ý các tác giả nghiên cứu sâu rộng thêm và mang tính khoa học hơn”.

Và như thế, sự kết luận của vấn đề quốc hiệu, chỉ tùy thuộc vào sự khách quan của độc giả! Tôi, Nguyễn Anh Huy, rất chân thành cảm ơn!

===Đọc chi tiết:

 

   LỘ TRÌNH CỦA QUỐC HIỆU “CỒ VIỆT”     
                  

                      (Bác sĩ Nguyễn Anh Huy)

 

 

Sau khi tôi (NAH) đặt vấn đề cho rằng quốc hiệu Việt Nam thời Đinh Tiên Hoàng gồm 2 tiếng Việt / chữ Nôm là “CỒ VIỆT”(1), chứ không phải 3 chữ Hán “Đại Cù (Cồ ?) Việt”, thì tôi nhận nhiều ý kiến trái ngược nhau từ các nhà nghiên cứu Marcophily, Ngụy-yến, Đinh Tuấn, Hữu Vinh, Khúc Thần, Nguyễn Cung Thông, Huệ Anh, Tố Oanh, Nguyễn.Ng, Gốc Lê, Trần Trọng Dương... đã tham gia diễn đàn(2), cung cấp nhiều dữ liệu chung quanh vấn đề này, nhờ đó tôi được học rất nhiều kiến thức bổ ích... Tuy có người hỗ trợ cho quan điểm của tôi, và cũng rất nhiều người phản biện rất gay gắt, nhưng tất cả các nhà nghiên cứu đều chung một mục đích là cố gắng tìm lại sự thật của lịch sử dân tộc, nên với sự đồng cảm, tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các nhà nghiên cứu.

Do chưa có điều kiện đến Ninh Bình thực địa cụ thể, nên tôi tạm thời bình luận các cơ sở dữ liệu qua trung gian các tài liệu khác ghi chép về quốc hiệu “Cồ Việt”...

I. NHỮNG DỮ LIỆU CÓ GHI CHÉP LIÊN QUAN VỀ QUỐC HIỆU:

1. Về ký tự của quốc hiệu thời Đinh:

1.1. Chính sử là Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, theo mộc bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697), ghi 3 ký tự là “大瞿越 (Đại Cồ Việt)”.

1.2. Trong cuốn Dư Địa Chí, in năm 1868, Nguyễn Trãi cũng ghi: “Đinh (tức Đinh Tiên Hoàng) gọi nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư...”.

Về cơ sở dữ liệu này, chắc là không còn bản gốc thủ bút của Nguyễn Trãi, tôi chưa được xem bản gốc bằng chữ Hán, nên không thể bình xét rõ ràng, nhưng cho rằng nó cũng có số phận bị “chuyển gam” tương tự Đại Việt Sử Ký Toàn Thư vậy, do người in sao năm 1868 bị ám ảnh kiến thức sử học xuất phát từ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư năm 1697.

1.3. Trong bài “Vai trò của Định Quốc Công Nguyễn Bặc trong lịch sử”, trên tạp chí Xưa Và Nay, số 233 (4/2005), tác giả Đinh Phong “Theo ngọc phả ở đền thờ Định Quốc Công Nguyễn Bặc” cho biết: Nguyễn Bặc đã có công giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp Loạn 12 sứ quân, lập nước Đại Cồ Việt và xây dựng kinh đô Hoa Lư; chính ông đã cho đắp bốn chữ lớn “Bắc môn tỏa thược” (Khoá lại cửa phương Bắc), và ở cửa trông về phía Bắc, ông cũng cho đắp câu đối ở thành ngoài:

Cồ Việt quốc đương Tống Khai Bảo,

Hoa Lư đô thị Hán Tràng An.

Câu đối này, ngày nay còn được treo ở đền thờ Đinh Tiên Hoàng ở Hoa Lư cùng với bức hoành “Chính thống thủy” được xây dựng lại vào thế kỷ XVII(3). Theo nhà nghiên cứu Trần Trọng Dương, “câu này được viết vào năm Tự Đức Giáp Tý (1864)”, chúng ta sẽ bàn niên đại sau...

1.4. Cũng theo nhà nghiên cứu Trần Trọng Dương , “ở Hoa Lư cũng còn có một câu đối nữa được viết vào năm Bảo Đại Đinh Mão (1927)”, với nội dung như sau:

Vạn Thắng uy hùng, Cồ Việt cơ khai chính thống thủy,

Thiên thư phân định, Hoa Lư vận khải thánh nhân sinh.

1.5. Tương truyền, nơi ông Nguyễn Bặc bị giết sau này có miếu Con Cò do nhân dân dựng lên thờ phụng. Cho đến nay hàng năm, cứ vào ngày rằm tháng 10 âm lịch, nhân dân thường cùng nhau rước kiệu về đây để rước chân hương, sau đó đưa về đình để làm giỗ. Nguyễn Bặc còn được thờ làm Thành hoàng của làng Phú Cốc (nay là huyện Vụ Bản, tỉnh Hà Nam), nơi ông từng tuyển binh phò tá Đinh Bộ Lĩnh. Hiện nay, tại thôn Vĩnh Ninh (xã Gia Phương, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình) vẫn còn mộ phần và nhà thờ Định Quốc Công Nguyễn Bặc, được mọi người xem là một di tích lịch sử rất quý. Trong đền thờ hiện vẫn còn rất nhiều câu đối, trong đó có một câu đối rất hay:

Cồ Việt thiên khai, chủ hữu anh hùng, thần tráng liệt,

Đại Hoàng địa tú, gia vi khởi tổ, quốc nguyên huân(4).

Xét: câu đối này ta chưa rõ niên đại, nhưng cho thấy cũng dùng quốc hiệu 2 chữ.

1.6. Việt Sử Diễn Nghĩa Tứ Tự Ca, do Hồng Nhung và Hồng Thiết (con của Tuy Lý Vương) diễn dịch, được nhà nghiên cứu Đinh Tuấn dẫn lại như sau:

...Ông Đinh Bộ Lĩnh,

Người xứ Hoa Lư.

Hiệu rằng Vạn Thắng,

Trí dũng có dư.

Dẹp yên các trấn,

Sắp đặt trăm quan,

Nước xưng Cồ Việt,

Đô đóng Trường An...

Và chính nhà nghiên cứu Đinh Tuấn cũng nhận xét: “-Có hiện tượng viết lại quốc hiệu nhà Đinh là Cồ Việt... và thật dễ hiểu tại sao có chuyện viết 3 chữ “Đại Cồ Việt” thành “Cồ Việt” như Việt Sử Diễn Nghĩa Tứ Tự Ca đã làm đó là chắn chắn tác giả cũng cảm thấy “phi lý” khi quốc hiệu nhà Đinh lại mang nghĩa: Nước Việt lớn lớn!”.

1.7. Sách Thiên Nam Ngữ Lục khoảng cuối thế kỷ XVIII, có viết:

Nước xưng Đại Cồ (大瞿) nối trời,

Xây thành lập lũy trong ngoài sửa sang.

Xét: tại thời đó, chính sử Việt Nam duy nhất chỉ có bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư khắc năm 1697, do vậy sách này viết thời Lê mạt Chiêu Thống, chắc chắn đã tham khảo chính sử có viết quốc hiệu “Đại Cồ Việt”, và như thế cũng không mang một chứng lý gì mới hơn! Do cấu tạo thơ, không thể bê cả 3 chữ của quốc hiệu vào được, do vậy đã gọt còn 2 chữ; tên nước ta là “Việt” đã mặc định, nên tác giả đã bỏ chữ “Việt” chỉ để hiểu ngầm! Chứ nước ta chưa bao giờ có cái tên “Đại Cồ” cả! Nhưng xem ảnh kèm theo đây, ta thấy hình như là “天瞿 (thiên cồ)” chứ không phải “大瞿 (đại cồ)”, do đó chứng cứ này cũng cần phải xét lại, và câu thơ trên có thể phải dịch lại! Tuy nhiên, nhà nghiên cứu Đinh Tuấn cũng nhận xét: “-Nhưng dù thế nào về mặt văn bản chữ Nôm (không phải chữ Hán) và số chữ nhất định trong câu lục thì không thể thiếu chữ Đại : Nước xưng Cồ nối trời!”.

1.8. Còn rất nhiều dữ liệu nữa... tôi sẽ trích dẫn khi cần thiết cho vấn đề đang thảo luận...

Như vậy, qua các chứng cứ trên, đã cho thấy những cụm từ 2 chữ thì dễ sử dụng, còn dùng 3 chữ thì rất khó!, vì sẽ bể cấu trúc câu đối, câu thơ ngay!, nhưng không phải không dùng được như câu: “ông Đinh Bộ Lĩnh”!

Và cũng cho thấy quốc hiệu được viết không đồng nhất, trong khi quốc hiệu là một danh từ riêng hoàn chỉnh, không thể tự ý gọt chữ, nhưng cách sử dụng 2 chữ “Cồ Việt” đã được lặp lại nhiều lần! Nhà nghiên cứu Nguyễn Cung Thông cho biết: “Theo nhận xét của nhà ngôn ngữ học Mỹ George Kingsley Zipf (1902-1950) thì tần số dùng (frequency) và số mẫu tự của chữ (word length) có tỷ lệ nghịch (inverse relationship) - nói cách khác một chữ càng dài bao nhiêu thì ít xuất hiện (được dùng) bấy nhiêu”. Điều này cũng ưu ái là cụm từ “Cồ Việt (瞿越)” được dùng nhiều nhất. Và như vậy, cũng nghịch lý cho chữ Nôm “𡚝 (cồ: to lớn)” vì viết nhiều nét, nên được sử dụng ít nhất thì, lại thuận thay là quốc hiệu gồm 3 chữ lại rơi vào các nhà thâm nho như Ngô Sĩ Liên, Nguyễn Trãi, còn dân dã thì chỉ viết 2 chữ là “Cồ Việt”!

Lý giải sự đồng thuận và đồng nghịch này như thế nào?!

2. Về cách viết chữ Nôm “cồ”:

2.1. Phần lớn các tài liệu đều viết chữ “cồ” là “瞿” (giả tá: mượn âm của một từ có nghĩa khác hẳn), lấy điển tích từ “Đại Cồ Việt”, hoặc từ cụm từ “瞿曇 (Cồ Đàm / Cù-đàm)”, ký âm từ chữ Gautama (Gotama) là họ của Phật.

2.2. Chỉ có 1 tài liệu duy nhất có chữ “𡚝 (cồ: to lớn)”(5) là trong bài “Vị Thành giai cú thập biên” của Trần Tế Xương, ở cụm từ “mẹc-xi bố-cu (𡚝)” (tiếng Pháp “merci beaucoup”, nghĩa là cảm ơn rất nhiều, rất to lớn), do nhà nghiên cứu Nguyễn Cung Thông dẫn lại từ Tự Điển Chữ Nôm của Nguyễn Quang Hồng chủ biên, năm 2006.

3. Về âm “cồ”:

3.1. Nhà nghiên cứu Đinh Tuấn cho biết: “-Tra các tự vị Việt Bồ La, Béhaine-Taberd... chỉ thấy Cồ: gà cồ, gà mái, đực to, cao lớn hay gà trọi, nhưng đến Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của (1895-96) mới thấy Cồ có nghĩa là to, lớn...”.

3.2. Nhưng Từ điển Việt - Bồ - La của Alexandre de Rhodes năm 1651 dù không có đơn tự “cồ”, nhưng đã có cụm từ “gà cồ”!

Theo nhà nghiên cứu Đinh Tuấn: “gà Cồ” là tên riêng của một loại gà chứ không phải “cồ” có nghĩa là “to lớn”!?

Việc một khái niệm chung trở thành một tên riêng cũng là chuyện rất bình thường, ví dụ như tiền “Ngũ Thù” lúc triều Hán mới đúc năm 118 trước CN, có ghi rõ cân lượng là “ngũ thù” trên đồng tiền, nhưng về sau hai chữ này đã trở thành tên riêng một loại tiền và có khi cân nặng chỉ 3 thù!; hoặc khái niệm “piastre” ở châu Âu là để chỉ các đồng tiền bằng bạc nói chung, dù có nhiều loại đơn vị tiền tệ khác nhau, nhưng khi Ngân hàng Đông Dương thành lập năm 1875 và bắt đầu cho đúc đồng bạc có ghi chữ “Piastre de Commerce” thì khái niệm “Piastre” đã trở thành tên riêng của một loại tiền!



II. NHỮNG GIẢ THUYẾT VỀ QUỐC HIỆU “CỒ VIỆT”:

Tổng thuật các giả thuyết liên quan đến ý nghĩa quốc hiệu “Cù / Cồ Việt” và “Đại Cù / Cồ Việt”:

1. Quốc hiệu là “Đại Cồ Việt (大瞿越)”, “Cồ” có nghĩa với tư tưởng tôn xưng là “to lớn”:

Thuyết này xuất hiện đầu tiên trong Việt Nam Sử Lược của học giả Trần Trọng Kim, và chữ “瞿” phát âm “cồ” trong Hán Việt Từ Điển của học giả Đào Duy Anh. Nhưng bây giờ cũng đã trở thành “học thuyết”, vì được sử dụng chính thức để truyền bá, giảng dạy...


Xét: với ý nghĩa này, quốc hiệu đã trở thành thừa chữ vì đã “đại (to lớn)” rồi mà còn “cồ” nữa!, rất khó chịu! Nhưng nhà nghiên cứu Nguyễn Cung Thông cho rằng đây là hiện tượng láy nghĩa giống như trong cụm từ “đại (to lớn) hồng (to lớn) thuỷ” để nhấn mạnh thêm, cũng như ta nói “trắng bóc” (“bóc” là biến âm của “bạch (trắng)”) vậy. Tuy nhiên, theo tôi (NAH), hiện tượng láy nghĩa này thường xuất hiện ở cách nói thông thường, chứ trong quốc hiệu e rất ít dùng!

2. Quốc hiệu là “Đại Cù Việt”, “Cồ / Cù” là viết tắt của Cồ Đàm / Cù-đàm, họ của Phật, ẩn dụ là đạo Phật nói chung. Ý kiến này là của nhà ngữ học J. De Francis và học giả An Chi khẳng định lại, được các nhà nghiên cứu Hán Nôm học Đinh Tuấn và Trần Trọng Dương… đồng ý hưởng ứng, bảo vệ!

Xét: Nếu “Đại Cồ Việt” nghĩa là “nước Việt sùng đạo Phật” thì đến năm 1054, dù triều Lý vô cùng sùng đạo Phật hơn cả triều Đinh, nhưng e quá “xúc phạm” Phật giáo vì đã bỏ chữ “Cồ” trong quốc hiệu nên chỉ còn là “Đại Việt”! Câu hỏi phản biện này cho thấy giả thuyết này là mâu thuẫn với tiến trình lịch sử!

3. Quốc hiệu là “Đại Cù Việt”, “Cù / Cồ Việt” có thể là dạng “甌越 (Âu Việt)”: giả thuyết này do học giả Nguyễn Khắc Kham đưa ra, và đã được nhà nghiên cứu Marcophily bình luận: “-Nhưng giả thiết Đinh Tiên Hoàng dùng Cù thay cho Âu chỉ để tránh phát âm nhầm (do 甌 có hai cách phát âm) thì... hơi thái quá, mặc dù rất thú vị”!

Cách giải thích này, nhà nghiên cứu Nguyễn Cung Thông bình luận: “Không có bài viết của Nguyễn Khắc Kham, tôi chỉ dự đoán có lẽ dựa vào các cách đọc của “區” là “khu” và “âu”. “Âu (區)” là đất chi ra, một đơn vị đo lường... có thể tương ứng với “âu (甌)” là tên đất, cái bồn nhỏ (chén)... Và quan trọng hơn là liên hệ đến tộc Âu Việt như được ghi trong Khang Hy Tự Điển:

【韻會】西甌,地名。駱越別種。又東甌,閩中地。【史記•趙世家】夫翦髮文身,錯臂左衽,甌越之民也。【註】索隱曰:劉氏云:今珠崖儋耳謂之甌人,是有甌越。正義曰:屬南越,故言甌越。輿地志云:交址,周時爲駱越,秦時曰西甌。文身斷髮避龍,則西甌駱又在番吾之西南. [Vận Hội] tây âu, địa danh. Lạc việt biệt chủng. Hựu đông âu, mân trung địa. [Sử Kí, Triệu Thế Gia] phu tiễn phát văn thân, thác tý tả nhẫm, âu việt chi dân dã. [Chú] tác ẩn viết: lưu thị vân: kim châu nhai đam nhĩ vị chi âu nhân, thị hữu Âu Việt. Chánh Nghĩa viết: thuộc Nam Việt, cố ngôn Âu Việt. Dư Địa Chí vân: Giao Chỉ, Chu thời vi Lạc Việt, Tần thời viết Tây Âu. Văn thân đoạn phát tị, tắc Tây Âu Lạc hựu tại phiên Ngô chi tây nam”.

Nhưng nhà nghiên cứu Marcophily cho biết thêm: “Tuy vậy, trong bài viết “Chữ nôm or the former Vietnamese script and its past Contributions to Vietnamese literature”, chính tác giả Nguyễn Khắc Kham lại có ý kiến khác hẳn, cho thấy các tác giả cũng luôn phải thay đổi ý kiến!”.

4. Quốc hiệu là “Đại Cù Việt”, “Cù / Cồ Việt” có thể là tên một bộ tộc của khối Bách Việt tương tự như Âu Việt, Lạc Việt vậy. Thuyết này là của học giả Trung Quốc QiGuangMou(6) (Kỳ Quảng Mưu) đưa ra, trong đó “Cù” nghĩa là sợ hãi.

Thuyết này đã bị học giả An Chi “loại bỏ” vì chưa bao giờ nghe có tên bộ tộc này, hơn nữa “Đinh Tiên Hoàng có điên hay không khi gọi dân mình là bọn Việt sợ hãi trong khi chính ông ta lại tự xưng là ĐẠI THẮNG Minh hoàng đế?”!

5. Quốc hiệu là “Đại Cù Việt”, hàm nghĩa “nước Việt luôn sẵn sàng chiến đấu”:

Thuyết này do tôi (NAH) đưa ra, dựa vào các cơ sở sau:


-Truyền thuyết Nỏ thần (khảo cổ học ngày nay cho thấy rất nhiều mũi tên đồng trong Văn hóa Đông Sơn của người Việt cổ) của An Dương Vương do thần Kim Quy (thần hộ mệnh ban cho vũ khí “tối tân”) tặng để chống ngoại xâm. Hàm ý người Việt ta luôn tìm mọi cách sáng tạo trong dụng binh để chống xâm lăng. Xảy ra trước Đinh Tiên Hoàng.

-Ngô Quyền đại phá quân Hán trên sông Bạch Đằng bằng bãi cọc (không biết có do thần Kim Quy mách không!). Xảy ra trước Đinh Tiên Hoàng.

-Đinh Tiên Hoàng “muốn dùng uy để chế ngự thiên hạ”, do vậy rất có thể dùng chữ “Cù (binh khí)” để thị uy!

-Đại phá quân Nguyên trên sông Bạch Đằng lần 2 cũng bằng bãi cọc (không biết có do thần Kim Quy mách không)! Xảy ra sau Đinh Tiên Hoàng, như vậy là Đinh Tiên Hoàng rất có “cơ sở”!

-Lê Lợi được thần Kim Quy cho mượn thanh kiếm để chống ngoại xâm (sự tích Hồ Gươm)! Xảy ra sau Đinh Tiên Hoàng.

-Thiên tài quân sự Nguyễn Văn Huệ với phép dụng binh thần tốc!

-... (và cả sau này nữa!)

Và ẩn dụ chữ “Cù (binh khí)” trong quốc hiệu “Đại Cù Việt” của Đinh Tiên Hoàng đã được Lý Thường Kiệt tuyên bố trong bài thơ Thần:

Sông núi nước Nam vua Nam ở,
Rành rành đã định ở sách trời,
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm,
Chúng bây sẽ bị đánh tơi bời!

Xét: Tôi muốn đưa ra tất cả các giả thuyết khả năng có thể có, mục đích để nói cho hết lý!, chứ cách giải thích này không nằm trong tổng thể đặc trưng thời ấy, nên không phải là chủ thuyết của tôi.

6. Quốc hiệu là “CỒ VIỆT”, cũng với tư tưởng tôn xưng là “Nước Việt to lớn”: đây là thuyết chính do tôi (NAH) đưa ra...

Có nhiều nhà nghiên cứu thắc mắc, nếu quốc hiệu là tiếng Việt thuần, chữ Nôm thì phải viết quốc hiệu là “Việt Cồ” chứ không thể là “Cồ Việt”. Tôi cho rằng, tuy là tiếng Việt, nhưng là một “hiệu” quan trọng, nên cũng có thể đảo ngữ (giống chữ Hán) để nhấn mạnh ý nghĩa, hơn nữa, phần nào “hòa” vào quy cách của các quốc hiệu đương thời là thường chỉ 2 chữ và trong đó có một chữ mang nghĩa “to lớn” để giương cao quốc thể.

Nhà nghiên cứu Hữu Vinh, đã dẫn lại bài tổng hợp của học giả Nguyễn Đình Hoà(7) chung quanh quốc hiệu thời Đinh, ngoại trừ một số giả thuyết đã nêu, đã dẫn nhận xét của học giả Mỹ Keith Taylor như sau: “Keith Taylor wrote that, in 1054 the third ruler of the Lý dynasty dropped the word cồ and used only the name Đại Việt, but that the expresstion Đại Cồ, according to him, is a hybrid form “that reflects a creative development of the local language, used for political objective” during the new period of independence”; và cuối cùng nhà nghiên cứu Hữu Vinh nói: “thêm 1 điều thú vị là kết luận của Keith Taylor: “that reflects a creative development of the local language, used for political objective” during the new period of independence” (tạm hiểu là: năm 1054, Lý Thánh Tông bỏ bớt chữ “cồ” và chỉ dùng quốc hiệu “Đại Việt”, song cụm từ “Đại Cồ” - theo Keith Taylor - là một hình thức từ ghép 2 ngôn ngữ, nó phản ánh sự phát triển sáng tạo của tiếng Việt / chữ Nôm được dùng với mục đích chính trị trong giai đoạn mới độc lập).

Như vậy, tuy Keith Taylor không nói rõ cấu từ của quốc hiệu, nhưng về mặt ý tưởng thì gần như trùng với giả thuyết do tôi đưa ra.

7. “Đại Cù Việt” hàm ý là “nước Việt rộng mở”:

Đây là hướng suy nghĩ mới của Nhà nghiên cứu Hán Nôm học Đinh Tuấn: “-Rất có thể, tôi thử lập luận: “瞿” theo Khang Hy Tự Điển: “...音衢。義同...又與衢通” (âm “cù (衢)” nghĩa đồng và dùng thông với “衢 (cù)”); “衢” trong chữ Hán nghĩa là con đường thông 4 ngả. Như vậy có thể hiểu quốc hiệu nhà Đinh hoàn toàn khác các cách hiểu xưa nay: Thay vì “大瞿越” nên hiểu là “大衢越”, và sẽ được giải thích như sau: Nước Việt là nơi (đường lớn) thông tứ phương, tứ hải thể hiện khát vọng sâu xa của một bậc đế vương sau khi dẹp tan loạn “Thập nhị sứ quân” được tôn là Vạn Thắng Vương và đi đến thống nhất đất nước từ đó làm cho nước Việt ngẩng cao đầu, nhìn ra thế giới rộng mở hơn. Hiểu như thế chắc là phù hợp và đẹp lòng mọi người chăng? Rất phù hợp với Hán văn, với bối cảnh lịch sử xã hội, với tâm lý sau chiến thắng của một vị vua và không cực đoan hướng về tôn giáo, cũng giải đáp thỏa mãn câu hỏi tại sao nhà Lý cùng tôn giáo lại xúc phạm khi tước bỏ tôn hiệu “Cù (Đàm)” nếu như hiểu theo khuynh hướng “nước Việt theo Phật giáo” vì ở đây nhà Lý hoàn toàn có quyền đổi tên nước là “Đại Việt” một khi tên cũ “Đại Cù Việt” không dính líu đến Phật giáo. Theo tôi cách hiểu mới này có hy vọng tiến gần đến “Sự thật”?”.

Sau đó, nhà nghiên cứu Đinh Tuấn cho biết thêm: “-Tôi mới tìm đọc và thấy trong cuốn Việt Nam Văn Minh Sử Cương- Văn Minh Đại Việt của Lê Văn Siêu (Nhà xuất bản Thanh Niên tái bản năm 2004), trang 55 có 1 đoạn liên quan đến cách giải thích về 大瞿越 Đại Cồ Việt có nghĩa là nước Việt rộng lớn trông suốt cả bốn cõi hay tám cõi (bát hoang) theo lối hiểu ngày xưa, ấy là cái cao vọng của người không những muốn thống trị mà còn muốn bành trướng thế lực ra tám cõi nữa”.

Theo tôi (NAH), giả thuyết này, nếu là nước Việt rộng mở về mặt vị trí chiến lược, thì chỉ hợp với nước Việt Nam sau thế kỷ XVII, được xem là một trong những trạm trung chuyển giữa các trung tâm vùng, trung tâm liên vùng với trung tâm liên thế giới... Chứ vào thế kỷ X thì Cồ Việt - Hoa Lư e chưa có vị trí chiến lược ấy; cho nên, chỉ vài chục năm sau, tức năm 1010, Lý Thái Tổ phải dời đô thừ Hoa Lư chật hẹp về Thăng Long là vậy! Việc dời đô về Thăng Long là một sự kiện phủ nhận giả thuyết về “nước Việt rộng mở”!

Còn nếu lý luận “rộng lớn trông suốt cả bốn cõi hay tám cõi” chỉ về mặt tư tưởng của vua, thì trong 2 bài viết trước, tôi đã nêu Đinh Tiên Hoàng sáng tạo ra đồng tiền “Đại bình hưng bảo” có ý nghĩa như thế nào!, cũng như vì sao Tiên Hoàng dùng lại tên Việt! Như vậy, ý nghĩa chữ “cù (衢)” cũng chẳng khác gì chữ Nôm “cồ (瞿 hoặc 𡚝)”, vì chỉ về mặt tư tưởng, chứ không phải là một nước có đất đai rộng lớn! Như vậy, đây chỉ là một lối diễn nghĩa khác (là vỏ từ, là ngoại diên) của một nội hàm mà bản chất là cũng trở về thuyết tôn xưng về mặt tư tưởng “Đại Cồ Việt” là nước Việt “to lớn”! mà thôi!, có khác gì đâu?! Bởi vì chẳng qua các chữ “cù, cồ” ấy trong tự điển đã giải thích là dùng thông nhau, thì chính điều này, nhà nhiên cứu Nguyễn Cung Thông cũng đã từng nói ra (xem tôi trích dẫn ở phần III.5.2. trong bài này!), nhưng lại bị chính người có “suy nghĩ mới” phản bác! Hay lắm!, Gần đồng thuận rồi! Cho nên, “đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt”?! Nhưng nên nhớ rằng quốc hiệu viết là “大瞿越” chứ không phải là “大衢越” đâu nhé!

Vì thế, cũng có người cho rằng: quốc hiệu theo tiếng Việt / chữ Nôm là 2 chữ “Cồ Việt (瞿越 - nước Việt “to lớn”) mà ta hay thấy sử dụng trong thi - phú - câu đối..., nhưng lại tôn xưng theo lối Trung Hoa nên khoa trương thêm chữ “đại” thành ra “Đại Cồ Việt”; chỉ là những cách nói khác nhau, nhưng ý tưởng cũng gần tựa tựa nhau thôi!


III. CÁC CHỦ ĐIỂM LÝ LUẬN CẦN BÀN:

1. Những nguyên lý của lý luận:

1.1. Chọn chữ hay chọn âm?!:

Lịch sử chữ Nôm là quá trình phát triển từ chữ giả tá (mượn âm) đơn giản đến chữ hài thanh (hội đủ cả nghĩa lẫn âm) phức tạp.

Do sự hình thành chữ Nôm chưa hoàn chỉnh, và chỉ một phát âm “cồ” (to lớn), nhưng có rất nhiều cách viết khác nhau, nên chúng ta không thể dựa vào cách ký tự để bình luận, mà chỉ chọn phát âm.

Như tôi đã nói, không có điều kiện để thẩm tra các chữ “cồ” trong các dữ liệu về quốc hiệu kể trên viết như thế nào, vậy theo sự phổ biến của các từ điển chữ Nôm, ta cứ tạm thời cho rằng tất cả đều viết là “瞿”. Như vậy, ở bất kỳ cơ sở dữ liệu nào, có cách đọc “cồ / cù” thì đều có giá trị của một chứng lý!

1.2.Nguyên lý của Niên đại học:

Khi tôi đưa ra giả thuyết Đại Việt Sử Ký Toàn Thư theo mộc bản năm Chính Hòa thứ 18 (1697) bị thợ mộc khắc sai đã đến dây chuyền sử về sau chép sai, để hỗ trợ hoặc loại trừ giả thuyết mới này, cần phải làm những việc sau:

1.2.1. Việc đưa ra các dữ liệu về “Đại Cù Việt” sau năm 1697, thì không có giá trị để loại bỏ giả thuyết mới, vì các tài liệu ấy đã bị sao chép từ chính sử tức Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Các sĩ tử ngày xưa muốn trẩy kinh ứng thí thì tất nhiên phải thuộc sử xanh, do đó đã thuộc Đại Việt Sử Ký Toàn Thư trong đầu, khi làm văn thơ, tất nhiên quốc hiệu phải viết là “Đại Cù Việt”! Điều này quá hiển nhiên, không có gì mâu thuẫn để phải bàn cãi cả!

1.2.2. Vậy thì phải đưa ra sử liệu trước 1697 (như Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi chẳng hạn) thì mới có giá trị chứng lý để loại bỏ giả thuyết mới! Nhưng khi đưa ra sử liệu mới trước 1697, cần phải là thủ bút gốc thì mới được, chứ bản sao thì chỉ có giá trị tham khảo chứ không có giá trị quyết định, vì đã qua tay người khác, có thể đã bị người sao lục sửa chữa rồi!, mà chính nhà nghiên cứu Khúc Thần cũng nói: “-Tui cũng thử tìm kiếm đó đây, nhưng không được gì cổ hơn Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Còn sách Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi thì trong bản dịch (Nguyễn Trãi Toàn Tập, 1976) có nhiều chú thích cho thấy có thể không hoàn toàn là của Nguyễn Trãi”.

Tất nhiên khi tôi đòi hỏi “thủ bút gốc” thì các nhà Hán Nôm học phải phản ứng, vì các thủ bút gốc ngày nay làm gì còn (!), nhưng đây là tôi nói cho hết lý, chứ lịch sử thì phải xét vào từng hoàn cảnh cụ thể, có sự tương đối phù hợp chứ không phải cứ nhất nhất như vậy!

Tôi “nói cho hết lý” như thế vì đã có tình huống người đời sau sao chép lại sử sách nhưng lại sao chép sai, dẫn đến sai cả dây chuyền. Ví dụ: Quốc Sử Quán Triều Nguyễn khi viết Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục đã chép sai niên hiệu “大和 (Đại Hòa: 1443-1453)” của Lê Nhân Tông thành “太和 (Thái Hòa)” gây một trận tranh cãi Nhật - Việt(8); hoặc vấn đề tên của các chúa Nguyễn bị hiệu đính sai, sau này phát hiện ra mới sửa chữa lại...

Hoặc như chuyện Luận Ngữ bị chép sai: “Tử viết: -Gia ngã sổ niên, tốt (卒) dĩ học Dịch, khả dĩ vô đại quá hỉ” (nghĩa là: Khổng Tử nói: Nếu trời cho ta sống thêm ít tuổi nữa để ta học xong Dịch lý, thì ta có thể không phạm lỗi lớn nữa!). Chu Hy chú giải đại ý rằng: Trung Định Công cho biết, ông thường đọc các bản Luận Ngữ khác trong đó câu đã dẫn viết là “-Giả (假) ngã sổ niên, ngũ thập (五十) dĩ học Dịch, khả dĩ vô đại quá hỉ” (tạm hiểu là: cho ta mượn thêm 50 năm nữa để học Dịch, thì...); mà chữ “gia (thêm)” và chữ “giả (mượn)” phát âm gần giống nhau, và lúc bấy giờ Khổng Tử đã ngoài 70 tuổi rồi, nên không thể sống thêm 50 năm nữa, do đó 2 chữ “五十 (ngũ thập)” (viết từ trên xuống) đã viết lầm tách ra từ 1 chữ “tốt (卒)” là điều không có gì phải nghi ngờ nữa! Từ đó Chu Hy mới hiệu đính lại câu nói của Khổng Tử như ta thấy ngày nay!

Cho nên Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi cũng có thể đã bị hiệu đính sai từ những người thuộc Đại Việt Sử Ký Toàn Thư trong đầu rồi! Tình huống này vẫn có thể xảy ra lắm chứ!

Có những điều éo le tưởng chừng không thể xảy ra, nhưng nó vẫn xảy ra!

1.2.3. Về quốc hiệu đọc bằng 2 âm “Cồ Việt” trong câu đối tôi đưa ra để làm chứng lý:

Nếu câu đối này làm sau năm 1697 thì giả thuyết mới của tôi thiếu chứng lý quan trọng và sẽ sụp đổ!, vì cách giải thích, câu đối câu thơ do âm luật gò bó phải gọt bớt chữ, là phù hợp!

Nhưng chỉ cần có một chứng cứ trước hoặc một vài năm sau 1697 ghi quốc hiệu gồm 2 âm “Cồ Việt”, hoặc có quốc hiệu viết là “Việt Cồ” thì giả thuyết của tôi vẫn đứng vững! Tôi dùng “một vài năm sau 1697” vì lý do sách in bằng mộc bản Đại Việt Sử Ký Toàn Thư dù có làm năm 1697, nhưng không phải như ngày nay in một chút là xong ngay và không phải như bây giờ chỉ 1 ngày là có thể phát hành cả toàn quốc, mà ngày xưa, công việc in và phát hành này phải rất nhiều năm mới xong!

1.3. Tiền sử của một nhận định:

Khi nhận định một vấn đề, tất nhiên phải dựa vào những sự kiện từng xảy ra trước nhận định đó, thì nhận định mới có cơ sở. Cũng như khởi tố một bị can, tất nhiên phải dựa vào tiền án, tiền sự và hành vi tại thời điểm đó của đương sự; nếu đương sự chưa có tiền án, tiền sự gì, hoặc tại thời điểm đặt vấn đề không có hành động gì, làm sao khởi tố được?!

Cũng tương tự như nguyên lý của Niên đại học đã nói trên, muốn khẳng định quốc hiệu “Đại Cồ Việt” năm 968 có phải là “nước Việt sùng đạo Phật” không (?), thì tất nhiên phải xét từ năm 968 trở về trước xem tôn giáo nước ta thời đó có sùng đạo Phật không đã (?!), thì khi đó Đinh Tiên Hoàng mới dựa trên sự sùng đạo đó để đặt quốc hiệu!

2. Tư tưởng tôn xưng trong quốc hiệu, một tổng thể đặc trưng:

Trong bài viết trước, tôi đã dẫn ra trong bối cảnh đồng văn các quốc hiệu và “hiệu” nói chung thường chỉ 2 chữ, và đã nói “không thể kể hết được!”; như vậy cho thấy đã có tính quy luật... Và tôi cho rằng chữ tôn xưng này cũng là một thành phần hữu cơ của một quốc hiệu như ta thấy:

-Khất Đan thì đổi thành “Đại Liêu” (chỉ 2 chữ), chứ không gọi là “Đại Khất Đan”.

-Nam Chiếu thì đổi thành “Đại Lý” (chỉ 2 chữ), chứ không gọi là “Đại Nam Chiếu”.

Tuy tôi không lý giải được con số 2 có ý nghĩa gì, nhưng nhận xét của tôi mang tính quy nạp, ví dụ thêm:

-Nước England (English) được ký âm là “Anh Cát Lợi”, nhưng khi giao thiệp giữa 2 chính phủ thì quốc hiệu của nước Anh-cát-lợi viết theo chữ Hán thành “Đại Anh” (cũng chỉ 2 chữ).

-Tương tự, Phú Lãng Sa (FranÇaise) trở thành “Đại Pháp” (cũng chỉ 2 chữ).

Như vậy, tổng thể đặc trưng ở các quốc hiệu đồng văn là: quốc hiệu thường chỉ có 2 chữ(9), trong đó thường có một chữ tôn xưng với ý nghĩa “to lớn”.

3. Vấn đề chữ “Cù / Cồ” hàm nghĩa Phật:

3.1. Về “Cồ quốc”:

Nhà ngữ học J. De Francis dựa vào việc Đinh Tiên Hoàng: “Lập 5 hoàng hậu (một là Đan Gia, hai là Trinh Minh, ba là Kiều Quốc, bốn là Cồ Quốc, năm là Ca Ông)”.

Theo ý kiến của nhà nghiên cứu Nguyễn Cung Thông, thì chữ “Cù” không thể “đại diện” cho Phật được!, vì chỉ là một ký âm, trong khi họ Phật là Gautama (Gotama) đã được ký âm theo chữ Hán theo nhiều cách là “喬荅摩 (Kiều Đáp Ma), 喬達摩 (Kiều Đát Ma)... như vậy (nếu “Cồ Quốc” là nước Phật, thì) Kiều Quốc có thể là nước theo (họ) đạo Phật không?”.

Và cho dù có một “Cù quốc” đi nữa thì việc hình thành họ của người Trung Quốc thường do phong đất tặng họ, như họ Trịnh xuất phát từ nước Trịnh, họ Mạc xuất phát từ vùng đất Mạc(10)... Vậy họ Cù và “Cù quốc” (nếu có) e là một vùng đất nào đó bên Trung Quốc, chứ không thể bên Ấn Độ được!

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Cung Thông: “-Đọc lại cho kỹ Cư Trần Lạc Đạo ta thấy vua Trần Nhân Tông đã dùng từ “bụt (孛)” nhiều lần như “lời bụt, phép bụt, chuộng bụt, tìm bụt, đức bụt...” cùng với Thích Ca (釋迦), Phật (佛). Chữ “cù” chỉ dùng một lần trong “mến đức Cù (瞿)” - nếu chỉ đức Phật thì đã có dùng rồi, khó có khả năng chế ra chữ mới (không thấy Việt Nam dùng “cù lão, cù giáo, cù tử, cù đam”...) nếu hiểu như là Cù Đàm (Phật, bụt, Thích Ca) thì quả thật không phù hợp với cách dùng chữ của toàn bài!... Trong thuật ngữ Phật giáo Việt Nam, không thấy Cù được tách ra thành một chữ riêng để thành lập từ mới như Thích hay Phật (Bụt), thí dụ thường nghe nói “Thích giáo, Phật tử...” chứ chưa bao giờ nghe “Cù giáo, Cù tử” cả!”.

3.2. Chứng cứ nữa là: “(Nhà Triệu - Minh Vương) Mậu Thìn, năm thứ 12 [113 trước CN], (Hán Nguyên Đỉnh năm thứ 4). Trước kia vua làm thế tử, sang làm con tin cho nhà Hán ở Trường An, lấy con gái người họ Cù ở Hàm Đan, sinh con tên Hưng. Đến khi lên ngôi, giấu ấn của tiên đế đi, dâng thư sang nhà Hán xin lập Cù thị làm hoàng hậu”(11).

Cho thấy “Cù thị” ở đây chẳng liên quan gì đến “Cù-đàm” cả!

3.3. “Cồ kinh, Cồ đô”: rất dễ nghĩ là kinh đô của Phật?!

-Năm canh Dần (1770)..., chúa Trịnh Sâm đi tuần cõi Tây, có làm bài thơ hiện còn khắc trên vách núi, trong đó có câu: “Cồ đô dĩ hí kinh di hoán”; hoặc sau này Bảng nhãn Vũ Duy Thanh (1807-1859)... đã viết bài “Phú Cồ kinh danh thắng” ca ngợi Cố đô Hoa Lư...

-Những chữ “Cồ kinh, Cồ đô”, mới nghe rất dễ tưởng là “kinh đô của Phật”, nhưng đọc toàn văn các bài phú, bài thơ(12) kể trên, chẳng thấy “kinh đô của Phật” nào cả!, mà chỉ là kinh đô uy nghiêm to lớn mỹ lệ của nước “Cồ Việt” mà thôi! Như vậy, qua đây cho thấy chữ “Cồ” không hề hàm nghĩa Phật, vậy nó mang ý nghĩa gì? Vì sao phải là “Phú Cồ kinh danh thắng” mà không phải là “Phú Đại Cồ kinh danh thắng”? Và đã dùng ngữ pháp là “Cồ kinh, Cồ đô” thì ta cũng có thể dùng ngữ pháp là “Cồ Việt” được chứ?!

4. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư có chữ Nôm không?

Tất nhiên là thời Đinh chưa có chữ Nôm (chưa tìm thấy), mà đến thời Trần mới phát triển mạnh, song sự thật khách quan là: lịch sử chung của cả nhân loại thì bao giờ cũng là lịch sử truyền khẩu có trước, sau đó rất lâu mới được ghi chép bằng văn bản!

-Nhưng, một dân tộc, một đất nước, liệu có thể không có tên của dân tộc mình, nước mình bằng tiếng của chính dân tộc mình không? Tôi tin chắc chắn phải có!, bởi đều đơn giản nhất là về sự xuất hiện ngôn ngữ, bao giờ tiếng nói cũng có trước, rồi dần dần chữ viết mới xuất hiện sau! Vậy quốc hiệu thời đó bằng tiếng Việt là gì?

-Về vấn đề một ký tự là chữ Hán hay chữ Nôm, nhà nghiên cứu Hán Nôm học Đinh Tuấn luôn băn khoăn liệu trong toàn văn bằng chữ Hán của Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, có thể có chữ Nôm không (?), mà theo tác giả là không thể có (!) vì quốc hiệu là 3 chữ Hán; thế nhưng chính tác giả dẫn ra văn bản chữ Nôm là Thiên Nam Ngữ Lục có ghi quốc hiệu là “Đại Cù” bằng chữ Hán, hoặc Việt Sử Diễn Nghĩa Tứ Tự Ca bằng chữ Nôm lại ghi quốc hiệu “Cồ Việt” bằng chữ Hán, liệu có mâu thuẫn về mặt lý luận? Riêng tôi cho rằng, hành văn bằng ngôn ngữ này, thỉnh thoảng có chêm một vài danh từ riêng bằng ngôn ngữ khác là chuyện rất bình thường! Do vậy, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư tuy viết bằng chữ Hán, nhưng quốc hiệu là danh từ riêng, có thể viết bằng chữ Nôm là chuyện rất bình thường!

-Và còn nữa là, những khái niệm “Cồ kinh, Cồ đô” có ý nghĩa gì?! “Cồ” ở đây là chữ Hán hay chữ Nôm?! Chúng ta cứ thử phân tích cho hết lý thì sẽ lòi ra ngay thôi!

5. Ngôn ngữ Nam Á:

5.1. Cho đến nay, các tài liệu ghi chép về chữ “cồ (to lớn)” rất ít, nhưng theo Schmidt, ngôn ngữ Nam Á có các đặc điểm sau đây: “1, Sự giống nhau trong hệ thống âm tiết. 2, Sự giống nhau trong phương pháp tạo thành những từ mới từ một từ căn bằng cách thêm tiền từ, trung từ và hậu từ...”(13).

Trên diễn đàn www.asiafinest.com cho biết thêm: “Co is an old word, you might not be able to find it in modern dictionary but it really means big according to cognatic dicitonary of southeast asian languages. For example, Troc (meaning head) is no longer used in vietnam exept for a few special regions (tạm hiểu: “cồ” là một từ cổ(14), bạn không thể thấy nó trong các từ điển hiện đại, nhưng thật sự nó có nghĩa là “to lớn” theo các từ điển cùng ngôn ngữ Đông Nam Á...):

* TiếngViệt :

-Cồ: to lớn, trưởng thành, vững chắc,

* Tiếng Thái:

-Kồ: cao lớn, trưởng thành,

-Tchaikrồ: trai cồ (trai tráng),

-Ch-kô-r: hùng vĩ,

-Krồ: vững chắc, mạnh lớn

* Tiếng Chàm:

-Krồ: to lớn mạnh

-Kuồ: cao lớn gồ lên

* Tiếng Mon:

- Krồ, Skrồ: mạnh khỏe

* Tiếng Indonesian:

-Kokoh: cồ, to lớn”.

Cho nên, “dựa vào các tài liệu khảo cổ học, tôi tán đồng quan điểm của Duff cho rằng vùng phân bố của bôn có nấc (stepped adze) là vùng phân cư của người Nam Đảo. Vùng phân bố của bon có nấc bao trùm cả một vùng rộng từ Đông Nam Trung Quốc, Đông Bắc Việt Nam, Đài Loan, đến Philippin và các quần đảo châu Đại Dương. Do đó, tôi nghĩ rằng quê hương của ngôn ngữ Nam Đảo phải là vùng ven biển Đông Nam Á và Đông Nam Trung Quốc... Nơi hình thành ngữ hệ Thái hẳn là vùng Nam Trung Quốc và có thể một phần Bắc Đông Dương. Nó có thể lan sang phía Đông, và ở đây, tiếp xúc với các nhóm Nam Đảo. Điều này cắt nghĩa sự gần gũi giữa ngôn ngữ Nam Đảo và ngôn ngữ Thái”(15).

5.2. Ngoài ra, ta còn thấy ở tiếng Việt có một số biến âm như:

-“cù” thành “cồ” (to lớn). Như theo nhà nghiên cứu Nguyễn Cung Thông cho biết: “Cồ còn được ghi là “cù (衢)” trong cụm từ “gà cồ” trong Đại Nam Quốc Âm Tự Vị năm 1895 của Huình Tịnh Của, và trong Dictionnaire annamite-Francais năm 1898 của Génibrel, cho thấy cách dùng “Cù” để kí âm “cồ” (gà cồ) cũng hiện diện trong từ điển Việt - Bồ - La (1651), và trong tục ngữ “gà cồ ăn quẩn cối xay”. Để ý cách dùng trong tiếng Việt gà cồ, vịt cồ ... và “cồ liền” (thêm, ajouter), “cồ thêm” (bổ túc, donner un supplément), “thấy cái gì cồ lên?” (qu'est-ce qui fait saillie?) trong Ngữ pháp tiếng Việt của Gustave Hue (1937)... Cho nên “cồ” có thể hiểu là tính từ (to lớn) trong gà cồ, vịt cồ...”.

-“gù” (gù lưng), và “gồ” (gồ lên, gồ ghề): đều có chung nghĩa là “nhô lên, to ra”.

-“xù” (nổi xù), và “xồ” (xồ xề): cũng đều có chung nghĩa là “bùng ra, to lên”.

6. Những lối lý luận phiến diện, hớ hênh, một chiều:

6.1. Tác giả “Nguỵ-yến” trên diễn đàn http://www.viethoc.org/phorum cho biết: “Vấn đề này nhà ngữ học J De Francis cũng đã nêu lên cách đây khá lâu rồi. Ông căn cứ vào việc vua Tiên Hoàng lập 5 ngôi hoàng hậu, trong đó có một bà mang tên “Cồ-quốc” tức là “nước Phật”. Vậy Đại-Cồ-Việt có thể dịch là the Great Buddhist kingdom of the Viets”.

Xem lại Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, thấy 5 bà hoàng hậu có tên là “Lập 5 hoàng hậu (một là Đan Gia, hai là Trinh Minh, ba là Kiều Quốc, bốn là Cồ Quốc, năm là Ca Ông)”.

Nếu lời dẫn của Ngụy-yến là đúng như Francis cho rằng “Cồ Quốc” là nước Phật, thì “Đan Gia, Trinh Minh, Kiều Quốc, Ca Ông” là những nước nào?! Đây chỉ là cách hiểu kiểu “-Con voi giống cái cột nhà, hoặc con voi giống cái chổi...” của Francis mà thôi! Bởi “Cồ (Cù) Quốc” trong 5 bà hoàng hậu chỉ là một tên riêng tương tự 4 tên kia!

6.2. Có ý kiến phản biện: “-Có gì làm bằng chứng là 3 chữ “Đại Cù Việt” do Ngô Sĩ Liên viết sai từ 2 chữ “Cồ Việt”?”.

-Dạ, em xin trả lời: -Có gì làm bằng chứng là Ngô Sĩ Liên đã viết 3 chữ “Đại Cù Việt”? Vì đây cũng chỉ là chữ của mấy anh thợ mộc khắc ra mà thôi!

6.3. Có ý kiến phản biện: “-Tóm lại (giả thuyết mới của NAH) là không có gì ngoài suy đoán từ “gà cồ”!... Tui thấy “Cù Đàm” là chữ thông dụng vào thời đó qua “đức Cù” trong Cư Trần Lạc Đạo và “Cù lão” trong tiếng Hán”!

-Dạ, em xin trả lời: -Tóm lại (giả thuyết về quốc hiệu là nước Việt sùng đạo Phật) là không có gì ngoài suy đoán từ chữ “Cù-đàm”! Em thấy quốc hiệu thời đó thông dụng chỉ 2 chữ và trong đó có một chữ mang nghĩa “to lớn”!

6.4. Khi nhà nghiên cứu Nguyễn Cung Thông đặt câu hỏi “-Họ của Phật là Gautama (Gotama) đã được ký âm theo chữ Hán theo nhiều cách là (“Cù-đàm”) “喬荅摩 (Kiều Đáp Ma), 喬達摩 (Kiều Đát Ma)... như vậy (nếu “Cồ Quốc” là nước Phật, thì) Kiều Quốc có thể là nước theo (họ) đạo Phật không?”, thì có người trả lời rằng chúng ta đang nói chữ “Cù”, không liên quan gì đến chữ “Kiều” cả!

-Dạ, em xin góp ý: Không nên trốn tránh trách nhiệm, có liên quan chứ! Gà cùng một mẹ (“Cù” và “Kiều” đều là những cách ký âm từ một chữ “Gautama”) đấy!, nhưng vẫn cứ “đá nhau” như thường!, đừng nên nói là “-Không liên quan”!

6.5. Các nhà nghiên cứu đều cho rằng cả vùng Đông Nam Á thời ấy sùng đạo Phật nên quốc hiệu “Đại Cồ Việt” nghĩa là “nước Việt sùng đạo Phật” là hợp lý!

-Dạ, em xin thưa: Việc các nước châu Á sùng đạo Phật, chỉ là tính đặc trưng của tôn giáo, chứ đâu phải là tính đặc trưng của quốc hiệu thời ấy?! Biết bao nhiêu nước còn sùng Phật hơn Việt Nam, nhưng chưa thấy quốc hiệu nào có ý nghĩa tôn giáo cả! Và nếu là vì quá sùng Phật để phải đưa tôn giáo vào quốc hiệu, thiển nghĩ nên gọi là “Đại Phật Việt” mới đúng, chứ dùng 3 chữ “Đại Cù Việt” thì chẳng ra làm sao cả! Nghe “Đại Cù (họ Cù) Việt”, em cứ tưởng là Đinh Tiên Hoàng có liên lạc gì với “Cù thị” ở Trung Quốc, tựa như chuyện Hồ Quý Ly đổi quốc hiệu là Đại Ngu vậy!

6.6. Có ý kiến phản biện: “-Đinh Tiên Hoàng có đế hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng Đế bằng chữ Hán, liệu đặt quốc hiệu là chữ Nôm có mâu thuẫn?!”.

-Dạ, em xin trả lời: Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư thì, đế hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng Đế của Đinh Tiên Hoàng là do “bầy tôi” tôn dâng lên vua!, còn quốc hiệu thì lại do vua đặt!, hai nguồn xuất phát khác nhau, chẳng có gì là mâu thuẫn cả!

6.7. Bằng chứng gì để khẳng định Đinh Tiên Hoàng đặt quốc hiệu là vì đạo Phật?

- Sử sách không thấy tả cảnh về Đinh Tiên Hoàng sùng riêng đạo Phật, các chứng cứ sùng Phật đều xảy ra sau mốc đặt quốc hiệu năm 968, như nhà nghiên cứu Khúc Thần cho biết trong Tống sử có ghi: “Năm Ất hợi (975), Giao Châu đến cống, ban Cửu kinh và sách Phật cho Lê Long Đình”.

-Các nhà nghiên cứu đều mở kinh văn thời Lý - Trần (thế kỷ X-XIV) để đem quan điểm sùng Phật của Lý - Trần mà gán ngược lại cho Đinh Tiên Hoàng (năm 968), há không hớ hênh về mặt lý luận hay sao?! Chắc là Đinh Tiên Hoàng tiên đoán được trước triều Lê (kẻ đã mưu giết mình và cướp ngôi mình) - Lý - Trần sẽ quá sùng đạo Phật nên đặt trước quốc hiệu “Đại Cồ (-đàm) Việt” để cho vừa lòng mấy ông vua sau này ư?!

-Và nếu đã mở kinh văn thời Lý - Trần (mà tôi cho là không liên quan chút gì đến quốc hiệu “Đại Cồ Việt” cả!), thế mà tôi mới chỉ hỏi một câu(16) rất liên quan trực tiếp đến quốc hiệu “Đại Cồ Việt”, thì các nhà nghiên cứu đã giãy nảy, lơ lơ, rồi trả lời rất ngon lành là “câu hỏi này không có giá trị gì, không liên quan đến nghiên cứu Sử học...”!

7. Có phải là do niêm luật?

Phần lớn các nhà nghiên cứu cho rằng quốc hiệu trong câu đối, câu thơ từ 3 chữ gọt còn 2 chữ là vì niêm luật, âm luật của câu đối câu thơ bắt buộc như vậy. Tôi đồng ý, nhưng đó chỉ là một lý do có thể xảy ra trong rất nhiều lý do khác nữa! Ví dụ: nếu với lý do là quốc hiệu chỉ là 2 âm “Cồ Việt” thì sao? Vì sao phải theo lý do này mà không theo lý do khác?

Tôi xin đưa chứng cứ trong thơ cũng có thể dùng quốc hiệu đầy đủ cả 3 chữ như sau: Thăm đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng, Thám hoa Vũ Phạm Hàm (1864-1910) đã xúc cảm viết bài thơ “Đền vua Đinh Tiên Hoàng” trong đó có câu “Cơ khai Đại Cồ Việt”(17). Như vậy nếu nói quốc hiệu là 3 chữ nhưng chỉ viết 2 chữ do niêm luật, cũng là do cách hành văn của tác giả kém chứ không phải là viết 3 chữ không được!

Và vì thế, cho thấy cách viết quốc hiệu chỉ 2 chữ cũng có thể là do quốc hiệu chỉ 2 chữ!, chứ không phải hoàn toàn do niêm luật!

Nói tóm lại, dù chữ “瞿 (cù / cồ)” có nghĩa là gì đi nữa, đều chưa quan trọng, mà vấn đề mấu chốt là bản chất của lịch sử chỉ có một, tức quốc hiệu chỉ có một cách viết duy nhất, tại sao khi thì viết 2 ký tự, khi thì viết 3 ký tự? Nhưng dù rằng thơ, câu đối phải gọt chữ cho phù hợp, thì qua đó cho thấy quốc hiệu 3 chữ đã có gì đó không ổn rồi!

8. Truy tìm đáp số:

Để tìm đáp số chính xác thì phải đưa ra tất cả các đáp số, kể cả đáp số ảo, rồi từ đó loại trừ lần những đáp số mâu thuẫn và chọn đáp số phù hợp nhất! Theo tiêu chí của khoa học hiện đại là “Một giả thuyết khoa học chỉ được coi là đúng, nếu nó giải thích được hầu hết các vấn đề liên quan đến nó”; vì vậy, sự hợp lý trong việc lý giải những vấn đề liên quan chính là điều kiện cần để thể hiện tính khách quan cho vấn đề được đặt ra. Cho nên, khi nghiên cứu, rất cần tìm những yếu tố nghịch lý, rồi tìm cách kéo về thuận lý, đấy mới đúng là lý luận khoa học... Bởi như nhà nghiên cứu Khúc Thần nhận xét: “-Ngoài các lý luận đưa ra để bác khả năng “cù” là viết tắt của “Cù-đàm”, hay giả thuyết là chữ “cồ” như trong từ điển của Huình Tịnh Của (“gà cồ”),... cũng không dựa vào gì khác ngoài suy luận”!

8.1. Qua 7 giả thuyết về sự hình thành quốc hiệu, ta thấy có 2 luận điểm chính được nhiều nhà nghiên cứu ra sức bảo vệ:

-“Đại Cồ Việt” có nghĩa là “nước Việt to lớn”, ở đây cũng có 2 thuyết: quốc hiệu gồm 3 chữ, và thuyết mới là quốc hiệu chỉ 2 chữ.

-“Đại Cồ Việt” có nghĩa là “nước Việt sùng đạo Phật”, nhưng nay cũng có người chuyển hướng rồi!

8.2. Phương pháp loại trừ:

-Nếu Đinh Tiên Hoàng quá sùng Phật, đáng lẽ phải lấy “nhân / đức trị”, nhưng ngược lại: “Vua muốn dùng uy chế ngự thiên hạ, bèn đặt vạc lớn ở sân triều, nuôi hổ dữ trong cũi, hạ lệnh rằng: -Kẻ nào trái phép, phải chịu tội bỏ vạc dầu, cho hổ ăn...”(18). Vậy có thể cho Đinh Tiên Hoàng sùng đạo Phật được không?!

-“(Năm 971) Tăng thống Ngô Chân Lưu được ban hiệu là Khuông Việt đại sư,... Đạo sĩ Đặng Huyền Quang được trao chức Sùng Chân uy nghi (chức quan coi về Đạo giáo)”(19). Điều này cho thấy Đinh Tiên Hoàng chẳng sùng chi riêng đạo Phật cả, mà đã bắt đầu manh nha chủ trương Tam giáo đồng quy!

-“(Năm 973) Nhà Tống sai sứ sang phong cho vua làm Giao Chỉ quận vương... Lời chế đại lược nói: -(Họ Đinh) đời làm vọng tộc, gìn giữ được phương xa, chí hâm mộ phong hóa Trung Hoa...”(20). Điều này cho thấy Đinh Tiên Hoàng “chí hâm mộ phong hóa Trung Hoa”; mà tôn giáo Trung Hoa thì chủ yếu là Khổng giáo, còn riêng về quốc hiệu mà “theo” Trung Hoa thì đặc trưng chỉ 2 chữ, trong đó có một chữ mang nghĩa là “to lớn”!

-Theo tôi, vào năm 968, chưa chắc Đinh Tiên Hoàng đã theo đạo Phật, mà có thể mấy năm sau khi “Thái Bình (970)”, Tiên Hoàng cũng như Đinh Liễn, đã suy nghĩ lại những hành động “bỏ vạc dầu, cho hổ ăn” của mình quá ác đức, nên mới theo đạo Phật, bởi cột kinh ở Hoa Lư là kinh sám hối(21).

-Nhà nghiên cứu Nguyễn Cung Thông, sau khi tích hợp các cơ sở dữ liệu và tiếng Phạn - Hán - Nôm, đã đúc rút: “-Tóm lại, dựa vào cấu trúc âm thanh chữ Phạn, và thuật ngữ Phật giáo, không có cơ sở vững chắc để liên hệ Cù (Việt) với Cù (Đàm - một cách kí âm tiếng Phạn)”!

-Cùng những chứng cứ trên, và nhất là bài phú “Cồ kinh”, “Cồ đô”, cho thấy chữ “cồ” là chữ của quốc hiệu, nhưng chẳng liên quan gì đến đạo Phật cả!

Như vậy, tất cả các phần đã dẫn trên, cho thấy quốc hiệu “Đại Cồ Việt” chẳng liên quan tí gì đến đạo Phật cả! Vậy thì chọn cách giải thích nào?!

8.3. Những yếu tố hỗ trợ:

Sau khi loại từ thuyết “nước Việt sùng đạo Phật”, cho thấy chỉ còn thuyết quốc hiệu là “nước Việt to lớn” là có ý nghĩa nhất, nhưng quốc hiệu là 3 chữ hay 2 chữ thì cần phải xét thêm...

8.3.1. Ta cứ thử hỏi vì sao Đinh Tiên Hoàng dùng lại chữ “Việt”, là tên của dân tộc ta xa xưa trước đó đã đứt quãng cả ngàn năm? Bài viết trước, tôi đã giải thích vua muốn tìm về cội nguồn dân tộc, có một nền văn minh Văn hóa Đông Sơn thuần Việt, mà một câu đối trong đền thờ “Cồ đô chính thống khôi Hồng Lạc, Thang ấp linh từ đối Mã Yên”(22) đã nói rõ điều đó! Mà khi đã tìm về cội nguồn dân tộc, thì tất nhiên phải đặt quốc hiệu bằng tiếng của dân tộc “Việt”! Đơn giản có vậy thôi!

8.3.2. Rồi vua Đinh không theo tiền lệ như Trung Quốc mà sáng tạo ra đồng tiền “Đại bình hưng bảo” (xem trong các bài viết trước của tôi), cho thấy tư tưởng “nước Việt to lớn” là rất thống nhất.

8.3.3. Về niên đại câu đối được treo ở đền thờ Đinh Tiên Hoàng cùng với bức hoành “Chính thống thủy” được xây dựng lại vào thế kỷ XVII là hợp lý. Theo Đại Nam Nhất Thống Chí (viết thời Tự Đức), thì đền này “năm Lê Quang Hưng thứ 21 (1598), Mĩ quận công Bùi Văn Khê sửa lại...” và không thấy nói gì chuyện triều Nguyễn trùng tu, và “Theo nhân dân địa phương kể lại, ngôi đền này có từ lâu, chỉ Hậu cung được giữ lại như xưa”; còn “Miếu Đinh Tiên Hoàng: ở địa phận xã Trường Yên Hạ dưới núi Long Triều, thuộc huyện Gia Viễn. Năm Minh Mệnh thứ 4 (1823) sửa lại”(23). Nếu câu đối ấy do Vũ Phạm Khải (1807 - 1872) trước tác thì ta thấy đền được sửa chữa năm 1823, lúc đó Vũ Phạm Khải chỉ mới 16 tuổi, tuy có thể làm câu đối, nhưng không thể được phép của tộc Đinh để treo vào đền thờ, trong khi ông đến 22 tuổi mới đỗ Tú tài (1828), 25 tuổi (1831) mới đỗ Cử nhân; như vậy sẽ không hợp lý!

-Hơn nữa, bài phú của Vũ Duy Thanh đã dùng lại cụm từ “Mở nền chính thống”, là diễn nghĩa của bức hoành “Chính thống thủy”, như vậy bức hoành này và câu đối kèm theo chắc chắn phải có trước bài phú; tức càng cho thấy câu đối này khó có thể do Vũ Phạm Khải (sinh cùng năm với Vũ Duy Thanh) làm!

-Chỉ một câu đối mà niên đại đã không rõ ràng, có thuyết cho là do Định Quốc Công Nguyễn Bặc làm từ thế kỷ X, rồi đền trùng tu thế kỷ XVII, nhưng theo Trần Trọng Dương, “câu này được viết vào năm Tự Đức Giáp Tý (1864)”? Giải thích những chênh lệch quá lớn về niên đại này như thế nào? Theo suy nghĩ của tôi, nên sửa câu viết của Trần Trọng Dương như sau “câu này được khắc vào bức gỗ (hoặc cột xi măng) vào năm Tự Đức Giáp Tý (1864)”, thì chính xác hơn!

Bởi chỉ có một cách giải thích duy nhất là câu đối này đã được TRUYỀN KHẨU TỪ XA XƯA, và đến mỗi thời trùng tu đền thì đem ra khắc lại, rồi đề niên đại khắc, chứ không phải là niên đại sáng tác câu đối! Như vậy là hợp lý chung cho tất cả các thuyết về niên đại.

8.3.4. Thêm nữa, so sánh số lượng cách sử dụng quốc hiệu gồm 2 âm “Cồ Việt”, ta thấy phần lớn từ những người có “liên quan” đến Ninh Bình, là gốc tích ban hành quốc hiệu này; do đó càng cho thấy ý nghĩa quốc hiệu “Nước Việt to lớn” là đã TRUYỀN KHẨU TỪ RẤT XA XƯA... Còn các nơi khác thì phải tham khảo lại chính sử Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, nên đôi khi đã dùng quốc hiệu rất hớ hênh là “Đại Cồ”!...



IV. THỬ ĐƯA RA DIỄN TIẾN LỊCH SỬ:

Tóm lại, theo các vấn đề đã nêu và các mảnh rời của cơ sở dữ liệu, tôi tổng hợp các sự kiện và xây dựng lộ trình hình thành một quốc hiệu như sau:

-Năm 968, Đại Thắng Minh hoàng đế Đinh Bộ Lĩnh ban “kim khẩu” (chỉ là truyền khẩu nên không có chữ) đặt quốc hiệu là “Cồ Việt” (nghĩa là “nước Việt to lớn”, tương tự các nước láng giềng, trong khối đồng văn) bằng tiếng Việt.

-968-979: Định Quốc Công Nguyễn Bặc sai thợ đắp bốn chữ lớn “Bắc môn tỏa thược” (Khoá lại cửa phương Bắc), ở cửa chính trông về phía Bắc, đắp câu đối:

Cồ Việt (瞿越) quốc đương Tống Khai Bảo

Hoa Lư đô thị Hán Tràng An

Các ông quan võ và thợ mộc, thợ nề là người ít hiểu biết nên đã viết “瞿 (cồ)” giả tá, cứ đọc là “cồ” đã, và hiểu ngầm “cồ” là “to lớn”!

-Năm 1054, Lý Thánh Tông “kiến quốc hiệu VIẾT Đại Việt”, đặt quốc hiệu theo chữ Hán là “Đại Việt”. Trong quan hệ đương thời, do nói quốc hiệu bằng tiếng Việt là “Cồ Việt”, người Trung Quốc không hiểu, nên đã phiên dịch quốc hiệu tiếng Việt sang chữ Hán là “大越 (Đại Việt - cũng có nghĩa là “nước Việt to lớn”)” cho “quốc tế” dễ hiểu!

-Thế kỷ XIII-XIV: thời Trần, Sử gia Lê Văn Hưu (1230-1322) viết Đại Việt Sử Ký, bộ quốc sử đầu tiên của Việt Nam (sách này ngày nay không còn nữa), trong đó ghi lại Đinh Tiên Hoàng đặt quốc hiệu bằng tiếng Việt, có thể đã bắt đầu viết theo chữ Nôm là “𡚝越 (CỒ VIỆT)”. Là người thâm nho, Lê Văn Hưu có thể đã bắt đầu dùng chữ Nôm hài thanh vừa có nghĩa vừa có âm.

-Thế kỷ XV: Văn thần Nguyễn Trãi viết Dư Địa Chí, có thể viết quốc hiệu thời Đinh là “𡚝越 (CỒ VIỆT)”, nhưng có thể bị người đời sau khi sao chép đã hiệu đính thành 3 chữ “大瞿越 (Đại cù Việt)”!

-Thế kỷ XV: Sử quan Ngô Sĩ Liên đã dựa vào Đại Việt Sử Ký của Lê Văn Hưu để soạn bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, trong đó chép lại Đinh Tiên Hoàng đặt quốc hiệu viết theo chữ Nôm là “𡚝越 (CỒ VIỆT)”.

-Năm 1697: trong quá trình khắc mộc bản Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, các thợ mộc thấy chữ “𡚝 (cồ)” quá lạ, tưởng là hai chữ Hán “大瞿 (đại cù)” mà viết quá gần nhau, nên đã tự ý khắc tách rời chữ “𡚝 (cồ)” thành hai chữ “大瞿 (đại cù)”. Và như thế thì 2 chữ Nôm “𡚝越 (Cồ Việt)” bị khắc thành 3 chữ Hán “大瞿越 (Đại cù Việt)”!

-Chung: các nhà viết sử dân gian khác, như khi viết Việt Sử Diễn Nghĩa Tứ Tự Ca..., không thâm nho như Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên (hoặc như Trần Tế Xương sau này) đã viết “Nước xưng Cồ Việt (瞿越) ”... có chữ Nôm “cồ (瞿)” giả tá đơn giản, chỉ lấy âm, nhưng theo dân gian vẫn hiểu nghĩa là “to lớn”. Và các câu đối, thơ văn thời Lê mạt đã bị ảnh hưởng của chính sử khắc năm 1697 nên mới viết quốc hiệu là “Đại Cù Việt” hoặc “Đại Cù”...


V. THAY CHO LỜI KẾT:

Xem lại các cơ sở dữ liệu và các giả thuyết đưa ra về quốc hiệu, ta thấy:

1. Giả thuyết của nhà ngữ học J. De Francis, học giả QiGuangMou (học giả An Chi đã loại trừ), cũng như của học giả An Chi (mà nhà nghiên cứu Đinh Tuấn và Trần Trọng Dương… hưởng ứng bảo vệ), hoặc các giả thuyết khác:

* Ưu điểm:

-có chứng cứ mặc nhiên, nhưng cũng không phải là chứng cứ gốc.

* Khuyết điểm:

-không giải thích được vì sao quốc hiệu khi thì có 3 ký tự, khi thì chỉ có 2 ký tự.

-không giải thích được ý nghĩa quốc hiệu trong bối cảnh chung của “quốc tế” thời đó là: quốc hiệu thường chỉ gồm 2 chữ, và lúc nào cũng thường có 1 chữ mang nghĩa “to lớn” như chữ “đại” trong các quốc hiệu của Trung Quốc.

-mâu thuẫn và không giải thích được vì sao triều Lý “đổi” quốc hiệu.

-mâu thuẫn với một số vấn đề liên quan đến câu hỏi: vào năm 968, khi đặt quốc hiệu, Đinh Tiên Hoàng đã thật sự sùng Phật chưa?

-xây dựng giả thuyết cũng chỉ dựa vào suy luận hớ hênh đơn thuần chứ chưa có bằng chứng gì cho biết Đinh Tiên Hoàng đặt quốc hiệu là vì sùng đạo Phật cả!

2. Giả thuyết của tôi (NAH):

* Ưu điểm:

-giải thích được vì sao quốc hiệu khi thì có 3 ký tự, khi thì chỉ có 2 ký tự.

-giải thích được vì sao triều Lý “đổi” quốc hiệu.

-giải thích được ý nghĩa quốc hiệu trong bối cảnh chung của “quốc tế” thời đó là: quốc hiệu thường chỉ gồm 2 chữ, và lúc nào cũng có 1 chữ mang nghĩa “to lớn” như chữ “đại” trong các quốc hiệu của Trung Quốc.

-phù hợp với lịch sử phát triển chữ Nôm.

-phù hợp với lịch sử sử học nói chung: lịch sử nhân loại bao giờ cũng là lịch sử truyền khẩu có trước, sau đó rất lâu mới được ghi chép bằng văn bản.

* Khuyết điểm:

-không có chứng cứ cụ thể, chỉ dựa vào lý luận khoa học đơn thuần nhưng rất hợp lý.

Giả thuyết này, đã đứng trên tổng thể hài hòa các cơ sở dữ liệu, và giải thích được hết các bất đồng đã tranh cãi bấy lâu, hợp lý chung cho tất cả các lĩnh vực liên quan, nên dù có khuyết điểm, nhưng có lẽ gần với sự thật lịch sử nhất...

Tuy nhiên, cho dù có chứng minh được câu đối đã dẫn là do Vũ Phạm Khải (1807 - 1872) làm năm 1864 như các tác giả Nguyễn Minh Tường và Trần Trọng Dương nói, tức như tôi đã nói “giả thuyết của tôi (NAH) sẽ thiếu chứng lý quan trọng và sẽ sụp đổ!”, nhưng riêng trong lòng cá nhân tôi thì: tôi nghiên cứu Niên đại học đã gần 20 năm nay để làm công trình “Lịch đại tiền tệ Đông Á” nay vẫn chưa xuất bản, có chức năng như một quyển từ điển về niên biểu đối chiếu với lịch sử tiền tệ, thì tôi thấy tổng thể đặc trưng của quốc hiệu và niên hiệu 4 nước đồng văn thường chỉ có 2 chữ, nếu dùng theo lối tôn xưng thì trong đó có 1 chữ mang nghĩa “to lớn”, do vậy, tôi vẫn nhất quyết quốc hiệu thời Đinh (Việt Nam) cũng không thoát khỏi lệ trên!, tức vẫn là “Cồ Việt” to lớn!

Bởi còn có một chứng lý mà tôi cho là quan trọng bậc nhất, “-Dạ, em xin thưa”, cũng có quốc hiệu viết là:

Vạn Thắng thần uy khai Việt Cồ,

Thiên thu thánh đản ký Lân Sơn(24).

Giải thích quốc hiệu “Việt Cồ” như thế nào đây?! E cũng lại là niêm luật từ 3 chữ “Đại Cồ Việt”?! Điều này cho thấy quốc hiệu cho dù có viết 3 chữ hay 2 chữ thì cũng đã có TRUYỀN KHẨU TỪ XA XƯA với ý nghĩa là “nước Việt to lớn”! Và đây cho thấy rõ ràng quốc hiệu là tiếng thuần Việt / chữ Nôm!

…Để tiếp cận được sự thật của lịch sử thì cần phải tổng hợp kiến thức đa ngành, liên ngành, xuyên ngành từ Sử học, Khảo cổ học, Niên đại học, Văn bản học, Hán Nôm học, Ngôn ngữ học, Văn học, Tôn giáo học, cho đến Logic học... thì mới có thể có được một nhận định toàn diện khá chính xác!; chứ nếu chỉ mới võ vẽ một vài chữ Hán Nôm mà đã vội vàng vỗ ngực chê bai người khác, thì không nên!, vì sẽ rất dễ rơi vào những nhận định chủ quan phiến diện...

Theo lời dạy của Thiền sư Bạch Ẩn là: “Đại nghi đại ngộ, Tiểu nghi tiểu ngộ, Bất nghi bất ngộ”!; thay cho lời kết luận, tôi xin trích lại và đồng ý với quan điểm của nhà nghiên cứu Hán Nôm học Đinh Tuấn: “-Đây là cố gắng tìm hiểu riêng của tôi về quốc hiệu Đại Cù Việt nhằm soi sáng thêm vấn đề bí ẩn của lịch sử chứ không nhằm vào sự tranh giành hơn thua, quan trọng hơn hết là sự thật. Rất mong ý kiến của tôi sẽ gợi ý các tác giả nghiên cứu sâu rộng thêm và mang tính khoa học hơn”.

Và như thế, sự kết luận của vấn đề quốc hiệu, chỉ tùy thuộc vào sự khách quan của độc giả! Tôi, Nguyễn Anh Huy, rất chân thành cảm ơn!



A Lưới, ngày Thầy thuốc Việt Nam, 2009.

NAH

Chú thích:

(1) Xem trang web: www.khoahoc.net (tìm ở mục tác giả nguyenanhhuy), các bài “Quốc hiệu Việt Nam thời Đinh Tiên Hoàng: Đại Cồ Việt hay Cồ Việt?” (bản tin ngày 05/02/2009) và “Luận về quốc hiệu Cồ Việt” (bản tin ngày 26/02/2009).

(2) Xem trang web: www.viethoc.org, Diễn đàn về chữ Nôm, đề tài “Đại Cồ Việt” hoặc “Cồ / Cù Việt không liên hệ đến Cù Đàm?”, “Khảo về “Đại Cồ Việt” - Nước Phật giáo lớn” hoặc “Thắc mắc về chữ Nôm 瞿 (Cồ)”... Các bạn xem sẽ thấy rất thú vị... Trên www.asiafinest.com cũng có một diễn đàn khác bằng tiếng Anh cùng đề tài.

(3) Theo Nguyễn Minh Tường (www.suutap.com), trong bài “Hoa Lư - Kinh đô của hai triều đại Đinh và Tiền Lê”, cho đó là câu đối do Vũ Phạm Khải (1807 - 1872) trước tác.

Xét về ý nghĩa câu đối, ta thấy có 2 loại ý nghĩa: nêu ra rõ công đức đương sự như bức hoành và câu đối trên, thường được làm khi khai trương đền, miếu; còn nếu là câu đối do người đời sau đến mới cảm tác thì mang tính ca tụng công đức đương sự, thì thường ẩn dụ các điển tích nhiều hơn. Nhưng xem tiếp phần dưới, ở chú thích (12) và (17), cho thấy lời dẫn của Nguyễn Minh Tường có thể bị nhầm từ bài phú của Vũ Duy Thanh (1807-1859) trong đó có câu: “mở nền Chính Thống”, từ đó liên tưởng nhầm luôn đến câu đối.

Trong sách của Lã Đăng Bật (Ninh Bình - Một Vùng Sơn Thủy Hữu Tình, Nhà xuất bản Trẻ, 2007) có một bài viết riêng về danh nhân Vũ Phạm Khải (1807 - 1872), nhưng không hề nói câu đối ở đền thờ vua Đinh là do Vũ Phạm Khải làm! Có thể câu đối trên đúng là do Vũ Phạm Khải cảm tác, nhưng tác giả Nguyễn Minh Tường không trích dẫn tài liệu gốc, nên tôi không thể tin tưởng (xem thêm chú thích số 8).

(4) Theo bài “Định Quốc Công Nguyễn Bặc” của Trung Nguyên, cập nhật trên www.baobinhduong.org.vn ngày 30/5/2006.

(5) Theo diễn đàn trên www.asiafinest.com cho biết: “According to Hoang Phe’s Tu Dien Tieng Viet (Da Nang: Trung Tam Tu Dien Hoc, 2007): Cồ: t.[ph, kng] có vẻ to lớn nhưng ngộc nghệch [thường nói về gia cầm] According to Nom character of Dai Co Viet : 大𡚝越 with Co being 大 on top of 瞿”. Tất nhiên 3 chữ quốc hiệu “Đại Cồ Việt” đã viết sai, nhưng cho thấy về mặt ý tưởng đã có xất hiện chữ “𡚝 (Cồ)” trong quốc hiệu!

(6) QiGuangMou (Kỳ Quảng Mưu), “Đại Cồ Việt quốc danh thích” (chữ Hán), tăng san Đông Nam Á Tung Hoành, 2000.

(7) Nguyễn Đình Hòa, “Graphemic borrowing from Chinese - The case of Chu Nom: Vietnam’s demotic script”, Bulletin of the Institute of History and Philology, Volume 61, Part 2, June 1990, Date Published: March, 1992, Academia Sinica, Taiwan.

(8) Xem: -Yao TaKao, “Khảo sát về niên hiệu vua Lê Nhân Tông: Đại Hòa chứ không phải Thái Hòa”, Nghiên cứu Lịch sử, số 4, 1996. -Lê Thành Lân, “Bàn về niên hiệu thứ nhất của vua Lê Nhân Tông”, Thông tin Khoa học và Công nghệ Thừa Thiên - Huế, số xuân Canh Thìn, 2000; Lê Thành Lân, Trần Ngọc Dũng, “Về cách viết và đọc niên hiệu thứ nhất của vua Lê Nhân Tông”, Huế Xưa Và Nay, số 91, 2009. -Và rất nhiều bài liên quan của Nguyễn Minh Tường, Ngô Đăng Lợi...

Tác giả Nguyễn Minh Tường, trong bài “Niên hiệu vua Lê Nhân Tông: Thái Hòa, không phải Đại Hòa”, trên tạp chí Xưa Và Nay số 66 (8/1999), đã viết: “đọc kỹ luận văn khoa học trên của ông (Yao Takao), tôi tự nhận trách nhiệm trao đổi với ông về vấn đề ông nêu ra... Giới sử học Việt Nam khẳng định niên hiệu của vua Lê Nhân Tông là “Thái Hòa (太和)” chứ không thể là “Đại Hòa (大和)”...”. Khi viết câu này, vị Tiến sĩ của Viện Sử học Việt Nam đã không xem lại chính sử, cứ tưởng rằng Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục đã viết niên hiệu của Lê Nhân Tông là “Thái Hòa (太和)”, nên không bao giờ ngờ rằng Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nguyên bản bằng chữ Hán lại viết niên hiệu của Lê Nhân Tông là “Đại Hòa (大和)”!

(9) Tôi nói đặc trưng ở đây là bối cảnh của 4 nước đồng văn (hiểu theo nghĩa rộng là đồng văn hóa, chứ không phải là nghĩa hẹp cùng chữ viết) là Trung Hoa, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên. Có tác giả đưa ra các phản ví dụ là “Đại Mông Cổ, Đại Nhật Bản, Tà Mã Đài (quốc)”. Tôi xin giải thích:

-“Đại Mông Cổ” trong bức thư do Qubilai (Hốt Tất Liệt) viết năm 1266, lúc đó Mông Cổ chưa thuộc “đồng văn” của Trung Hoa, nhưng khi chiếm được Trung Quốc, bị văn hóa Trung Hoa đồng hóa ngược lại thì “Đại Mông Cổ” lại đổi quốc hiệu thành “Đại Nguyên” cũng chỉ 2 chữ!

-“Tà Mã Đài (quốc) - Yamataikoku (邪馬台国)” là một nước cổ của Nhật Bản vào thế kỷ III, lúc đó Nhật Bản chưa bị “nhiễm” văn hóa Hán! Sau này khi Nhật Bản thống nhất và lập quốc thì quốc hiệu là “Đại Hòa” (cũng chỉ 2 chữ!).

-“Đại Nhật Bản” là viết tắt của quốc hiệu “Đế quốc Đại Nhật Bản” do chính phủ phát xít đột biến tôn xưng thời hiện đại. Do sau khi Nhật Bản duy tân trở nên hùng cường thì tự cho mình không còn là người Á Đông nữa! Xem các phim về Tinh Võ Môn kể cuộc đời 2 thầy trò Hoắc Nguyên Giáp và Trần Chân, ta thấy người Nhật luôn khinh người Trung Hoa là “Đông Á bệnh phu”!, tôi vẫn thường thắc mắc người Nhật Bản không phải là Đông Á?!, thì ra họ đã thoát tư tưởng cho rằng mình không còn là người Đông Á nữa! Cho nên mới xưng là “Đế quốc Đại Nhật Bản”, nhưng sau khi thảm bại ở Chiến tranh Thế giới thứ II thì họ “bị” trở về quốc hiệu “Nhật Bản” cũng chỉ 2 chữ, không còn là “Đại Nhật Bản” nữa!

-Khi tôi cho rằng nước Koryo được ký âm là “Cao-câu-ly”, sau đó thấy bất tiện mới dùng 2 chữ là “Cao Ly”, thì có ý kiến rằng: Cao Câu Ly gồm 3 chữ bất tiện, đổi lại 2 chữ là Cao Ly; vậy 3 chữ “Đại Cồ Việt” bất tiện đổi thành 2 chữ Đại Việt, có gì là không được?! Tôi cho rằng người đặt câu hỏi so sánh ngược này rất thiếu hiểu biết và thiếu suy nghĩ, vì... Bản chất 3 chữ Cao Câu Ly hay 2 chữ Cao Ly cũng chỉ là 1 ký âm của Koryo, nhưng “Đại Cồ (-đàm) Việt” và “Đại Việt” là 2 bản chất hoàn toàn khác nhau!

(10) Xem thêm cuộc tranh luận về “Họ Mạc đúc tiền” của các tác giả Nguyễn Anh Huy, Hồ Đăng Kế, Lê Nguyễn Lưu, Lục Đức Thuận trên tạp chí Huế Xưa Và Nay các số 21 (1997), 31, 33 (1999), 47 (2001), 49, 51, 52 (2002).

(11) Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (dịch theo mộc bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697), Bản in Nội các quan bản), Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993. Tập 1, trang 150.

(12) Lã Đăng Bật, sách đã dẫn.

-Trang 28, 29: “Chính vì thế, sau này Bảng nhãn Vũ Duy Thanh (1807-1859)... đã viết bài “Phú Cồ kinh danh thắng” ca ngợi Cố đô Hoa Lư trong đó có đoạn:

“...Định đô Tràng An; mở nền Chính Thống.

Một là tiện thế tôn nghiêm; hai là tiện đường triều cống.

Núi Mã (Yên) nghìn trùng xa ngắt, thành đắp đã cao,

Sông (Hoàng) Long một dãi trong veo, hào hào cũng rộng.

Nào phủ tía, nào lầu son, nào đài lân, nào gác phụng,

Nào trường tập trận, đánh giặc nước Chiêm,

Nào quán tiễn nghi, tiếp quan nhà Tống.

Trên đường tía trăm quan đô hội, ngựa ngựa xe xe,

Dưới cờ đào mười đạo nghiêm minh, chiêng chiêng, trống trống.

Xét trong địa dư; đương buổi bấy giờ,

Bên Tây núi ngăn như mác; bên Đông biển lặng như tờ.

Nam đến Châu Hoan, Châu Ái,

Bắc giáp nước Sở, nước Từ.

Cùng dòng chính sóc, cùng mối xa thư,

Ngẫm câu Nam đế Nam cư, khác hẳn những đời thảo muội.

Xem tượng Bắc Thần, Bắc Cực, còn đâu bằng xứ Hoa Lư.

Phong cảnh tốt thay, đệ nhất là đây.

Phong Châu khôn sánh, Phong Khê nào tày.

Xem như địa lý họa đồ, thầy Tàu để kiểu.

Rõ được thiên nhiên hình thắng, thợ tạo khéo bày...

...Thơ rằng:

Đã trãi bao nhiêu cuộc bể dâu,

Khiến nay còn nhớ chuyện cờ lau.

Một vùng sao rạng thanh gươm báu,

Năm sắc mây phong bộ áo chầu.

Công cả lưu truyền trong tám cõi,

Khí thiêng phảng phất dưới nghìn thâu.

Tràng An miếu cũ hương nghi ngút,

Sùng bái ai ai cũng cúi đầu!”

-Trang 101: ...năm canh Dần (1770)..., chúa Trịnh Sâm đi tuần cõi Tây, có làm bài thơ hiện còn khắc trên vách núi..., nội dung bia như sau: “Mùa đông năm Canh Dần, ta đi tuần thú cõi tây, lúc quay thuyền trở về, đi tắt tới đất Trương An để thăm cảnh Hoa Lư. Ngoảnh nhìn bốn phía núi xanh, một dòng nước biếc, cửa khóa mấy lần, từng bước đều là thành vàng và hào nước nóng. Non sông của ta hùng tráng, hình thắng to lớn này thật là do trời đất tạo nên vậy. Xem dấu vết của triều Đinh thì tường đổ miếu hoang, lạnh lùng xơ xác... khiến ta cảm khái làm một bài thơ để tả nỗi lòng:

“Tây tuần về lại ngắm Trường An,

Thuyền dạo Hoa Lư cũng thuận miền.

Như lụa vòng vèo qua Thủy Động,

Tựa vàng vững chãi ngất sơn quan.

Nào đâu quang cảnh Cồ đô trước,

Chỉ thấy quanh co núi nước liền.

Hưng phế người xưa coi đã rõ,

Lòng dân đáng sợ, chớ nên quên!”

Nhật Nam Nguyên chủ đề. Bề tôi là Cao Đoàn vâng mệnh viết chữ”.

(13) W.Schmidt, “Les peuples Mon-Khmer, trait d’union entre les peuples de l’Asie cen trale et d’Austronésie”, BEFEO, 1907.

(14) Wikipedia cũng giải thích “cồ” là một từ của tiếng Việt cổ.

(15) Hà Văn Tấn, “Văn hóa và ngôn ngữ ở Việt Nam thời tiền sử”, Khảo Cổ Học, số 1, 1993. Hoặc in lại trong sách Theo Dấu Các Văn Hóa Cổ, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1998, trang 753-765.

(16) Câu hỏi của tôi là như thế này:“-Nếu chữ “Cù” trong quốc hiệu “Đại Cù Việt” là viết tắt của “Cù-đàm” vì quốc giáo thời đó là Phật giáo như học giả An Chi khẳng định, nhưng triều Lý thì xuất thân từ cửa Phật, tại sao lại bỏ chữ “Cù (-đàm)” trong quốc hiệu để chỉ còn là “Đại Việt”?! Chắc là triều Lý đã “lơ” đạo Phật rồi?!”.

(17) Lã Đăng Bật, sách đã dẫn. Trang 44: Thăm đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng, Thám hoa Vũ Phạm Hàm (1864-1910) đã xúc cảm viết bài thơ “Đền vua Đinh Tiên Hoàng” như sau:

“Thảo muội thiên sinh Thánh,

Hoa Lư đế tác bang,

Cơ khai Đại Cồ Việt,

Thống tiếp cổ Hồng Bàng.

Thế vận chung tu nhất,

Thần uy cánh tuyệt soang.

Thái Bình nghi vệ tại,

Lô địch mãn Thu giang”.

Tuy quốc hiệu là “Đại Cồ Việt”, nhưng niên đại bài thơ là cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, như vậy không có giá trị quyết định.

(18) Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, sách đã dẫn, trang 211.

(19) Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, sách đã dẫn, trang 212.

(20) Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, sách đã dẫn, trang 212.

(21) Hà Văn Tấn, “Từ một cột kinh Phật năm 973 vừa phát hiện ở Hoa Lư”, Nghiên Cứu Lịch Sử, số 76, 7/1965, tr 39-50; Hoặc in lại trong sách Theo Dấu Các Văn Hóa Cổ, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1998. Bài viết cho biết: “Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, năm Nhâm Thân (972), (Đinh) Tiên Hoàng sai (Đinh) Liễn đem lễ vật sang Tống. Năm Quý Dậu (973), Liễn đi sứ về, vua Tống sai sứ sang phong Tiên Hoàng làm Giao Chỉ quận vương, Liễn làm kiểm hiệu thái sư, Tĩnh hải quân Tiết độ sứ... Niên điểm khắc trên cột đá cũng là Quý Dậu (973), bấy giờ Liễn đã là Tĩnh hải quân Tiết độ sứ, như vậy có lẽ cột đá được dựng sau khi Liễn được Tống phong chức... Người tín đồ Phật giáo Tĩnh hải quân Tiết độ sứ Việt Nam vương Đinh Liễn đã dựng một trăm bảo tràng... đây là bài thần chú... chỉ cần tụng niệm hay sao chép đều có thể tăng tuổi thọ, giải thoát mọi nghiệp chướng do tội lỗi của mình gây ra... Có thể nói đây là một bi ký có niên đại sớm nhất của thời kỳ phong kiến tự chủ...”.

(22) Lã Đăng Bật, sách đã dẫn. Trang 240-243.

(23) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Nhất Thống Chí (bản dịch của Phạm Trọng Điềm) Nhà xuất bản Thuận Hóa, 1992, tập 3, quyển XIV: tỉnh Ninh Bình, trang 263, mục Cổ Tích: “Đô cũ nhà Đinh nhà Lê: ở xã Trường Yên Thượng và Trường Yên Hạ, về phía tây bắc huyện Gia Viễn... Đinh Tiên Hoàng năm thứ 1 (968), dựng cung điện ở đô thành mới... cột điện đều trang sức bằng vàng, bạc... lúc bắt đầu xây dựng cũng rất hoa lệ, nay... chỉ còn... lâu ngày đổ nát, năm Lê Quang Hưng thứ 21 (1598), Mĩ quận công Bùi Văn Khê sửa lại...” (Không thấy nói gì chuyện triều Nguyễn trùng tu). Trang 272: “Miếu Đinh Tiên Hoàng: ở địa phận xã Trường Yên Hạ dưới núi Long Triều, thuộc huyện Gia Viễn. Năm Minh Mệnh thứ 4 (1823) sửa lại”.

(24) Lã Đăng Bật, sách đã dẫn. Trang 240-243 cho biết: Đinh Tiên Hoàng quê ở thôn Văn Bòng, xã Gia Phương, huyện Gia Viễn. Chính vì vậy, ở đây nhân dân cũng dựng đền thờ ông... “Theo nhân dân địa phương kể lại, ngôi đền này có từ lâu, chỉ Hậu cung được giữ lại như xưa, còn Trung đường và Tiền đường mới xây dựng lại... vào thời Nguyễn...”, có câu đối trong cùng như đã dẫn với chú thich: Núi Kỳ Lân, tương truyền là mộ tổ phát tích của vua Đinh Tiên Hoàng.



Ảnh: Nhà nghiên cứu Đinh Tuấn chụp lại từ Thiên Nam Ngữ Lục có 4 chữ “nước xưng Đại Cù”, nhưng chữ “đại” giống chữ “thiên” hơn!



* Các bài viết liên quan đến đề tài này:

1, “Quốc hiệu Việt Nam thời Đinh Tiên Hoàng: Đại Cồ Việt hay Cồ Việt?” (bản tin khoahoc.net ngày 05/02/2009).

http://www.khoahoc.net/baivo/nguyenanhhuy/050209-daicoviet.htm

2, “Luận về quốc hiệu Cồ Việt” (bản tin khoahoc.net ngày 26/02/2009).

http://www.khoahoc.net/baivo/nguyenanhhuy/260209-luanvedaicoviet.htm

 
 
    Thoi Nay Montreal - Giai Tri va Doi Song

Mục lục

Thời Hùng Vương:

Ôn cố tri tân:

TL&BK:

   
 

Copyright © 2011 | TN InfoWay