Thoi-Nay - Giai Tri va Doi Song

Trang chính
Tài liệu và biên khảo

Mục lục

Nhật Bản:

Do Thái:

TL&BK:

Tài liệu và biên khảo - Ôn cố tri tân : Phụ trách TN. 7/2010

Theo quan điểm xưa, muốn thành công trong việc lớn lẫn việc nhỏ, người hành sự phải hội đủ ba yếu tố thiên thời , địa lợi , nhân hoà.

Quả thật Mị Châu có đặt tình cảm (trái tim) lên trên lí trí  đầu), dẫn đến hậu quả khôn lường (Cơ đồ đắm biển sâu). Vua Thục và Mị Châu đều có lỗi trước lịch sử. Tuy nhiên , các tác giả dân gian đã dành cho nhân vật nữ nầy một sự đánh giá đầy bao dung nhân hậụ Mị Châu ý thức được sự mất cảnh giác nghiêm trọng của mình nên chấp nhận cái chết một cách dũng cảm nhưng Mị Châu không chủ tâm phản bội cha , phản bội dân tộc. Lời khấn khứa cuối cùng của nhân vật vang lên thật thống thiết “ Thiếp là phận gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại lại cha, chết đi sẽ biến thành hạt bụị Nếu có lòng trung hiếu mà bị người lừa dối thì chết đi sẽ biến thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù”.

====
 

 
 

TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỴ CHÂU-TRỌNG THỦY

(Đinh Hà Triều)


Thời kì Văn Lang – Âu Lạc (thời kì dựng nước) đã để lại cho gia tài văn hoá tinh thần Việt Nam nhiều thần thoại , truyền thuyết có giá trị lớn.

Thần thoại và truyền thuyết thời kì này thể hiện tập trung , nổi bật hai nội dung: dựng nước và giữ nước. Nếu như nhóm truyền thuyết xung quanh vua Hùng thể hiện nội dung dựng nước thì truyền thuyết chung quanh Thục An Dương Vương lại đưa ra một cách cắt nghĩa về sự thắng lợi và thất bại của vua Thục trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước. Nhận thức được giá trị to lớn của những tác phẩm dân gian này trong đời sống tinh thần tư tưởng của người Việt nên trong những thế kỉ đầu tiên của nền độc lập dân tộc các trí thức nước ta đã bỏ nhiều công sức sưu tầm, ghi chép lại bằng văn bản. Những người có công đầu là Lí Tế Xuyên ( với cuốn Việt điện u linh) và Trần Thế Pháp ( với cuốn Lĩnh Nam chích quái) .

Cuối thế kỉ XV, Vũ Quỳnh và Kiều Phú đã tiếp tục công việc của Trần Thế Pháp hoàn chỉnh cuốn Lĩnh Nam chích quái và lưu truyền đến ngày naỵ Nhiều nhà nghiên cứu văn học dân gian và sử học nước ta đã nhất trí coi coi các thần thọai và truyền thuyết sau đây là những truyện có giá trị lớn nhất: Truyện Họ Hồng Bàng; Truyện Thần núi Tản Viên; Truyện Thánh Gióng; Truyện Rùa Vàng. Và cho rằng truyện Rùa vàng gắn liền với nhân vật lịch sử An Dương Vương, với di tích lịch sử thành Cổ Loa với câu chuyện tình Mị Châu – Trọng Thuỷ là một truyện li kì , phức tạp biểu hiện một trình độ phát triển của xã hội và con người Việt Nam và để lại một bài học lịch sử xương máu cho muôn đời saụ

1- Về nhân vật Thục An Dương Vương.

Theo Lĩnh Nam chích quái, Thục Phán là một vị vua trẻ của nước Âu Việt, sau khi chiếm được nước Văn Lang của các vua Hùng lập nên nước Âu Lạc, định đô ở đất Việt Thường ( Cổ Loa) và gấp rút xây thành để giữ nước. Như vậy, việc dời đô từ vùng trung du (Lâm Thao, Phú Thọ ) xuống đồng bằng là một việc làm sáng suốt, một biểu hiện của sự phát triển lớn mạnh của nhà nước Âu Lạc so với nhà nước Văn Lang và Âu Việt cũ. Trong công cuộc xây thành Cổ Loa dù nhà vua đã bỏ nhiều trí lực nhưng ban đầu “ hễ thành đắp đến đâu lại lở đến đấy”. Sau nhờ sứ Thanh Giang giúp đỡ, vua đã diệt được các loài yêu tinh phá hoạị từ đó , thành chỉ xây trong nửa tháng là xong.

Theo quan điểm xưa, muốn thành công trong việc lớn lẫn việc nhỏ, người hành sự phải hội đủ ba yếu tố thiên thời , địa lợi , nhân hoà. Truyền thuyết còn kể lại việc Thánh Tản Viên khuyên vua Hùng nhường ngôi cho Thục Phán, phải chăng đó là thiên cơ , thiên thời đã hướng về Thục vương . Chọn được đất định đô lâu dài , kiên cố, đó là được địa lợị Thành xây mà đổ phải chăng Vua chưa được chữ nhân hoà. Vua trai giới , cầu đảo bách thần phải chăng là một sự điều chỉnh chính sự để được chữ nhân hoà quý báu ấỵ Việc thần Rùa Vàng giúp vua xây thành phải chăng đã phản ánh hiệu quả tốt đẹp của sự điều chỉnh chính sự theo hướng thuận nhân tâm.

Đất nước yên bình có thành luỹ kiên cố , nhà vua ước ao có được thứ vũ khí thần diệu để bảo vệ. Đó là một ước vọng chính đáng. Thần Rùa vàng đã đáp ứng nguyện vọng ấy của vua: tháo vuốt tặng vua làm lẫy nỏ Linh Quang. Tầm nhìn xa trông rộng và ý thức bảo vệ giang san của Thục Vương thật đáng cho chúng ta khâm phục và ghi nhớ. Quân Triệu Đà đã nhiều lần thảm bại trước chân thành Cổ Loa vì thứ vũ khí lợi hại của Âu Lạc. Vũ khí thần diệu một phát bắn ra có thể giết chết hàng trăm tên địch đó phải chăng là đường lối quân sự , quốc phòng đúng đắn dựa trên sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc .

Nhưng tai hoạ cũng từ dó mà rạ Quá tin vào tiềm lực quốc phòng của mình, nhà vua đã lơ là mất cảnh giác trước âm mưu của Triệu Đà. Sau nhiều lần thất bại thảm hại nhưng Đà vẫn chưa thôi giấc mộng thôn tính Âu Lạc, mở rộng giang sơn cát cứ của mình. Thục An Dương Vương sơ xuất không nhận ra dã tâm đó hoặc có nhận ra nhưng vì quá chủ quan, khinh địch nên đã nhận lời thuận cho Trọng Thuỷ lấy con gái yêu của mình là Mị Châu, lại còn thuận cho ở rể luôn trong thành Cổ Loạ Tướng quân Cao Lỗ đã hết sứcc an ngăn vua nhưng Vua nhất quyết không nghe . Kết cục, Trọng Thuỷ có cơ hội lợi dụng tình cảm của vợ, đánh tráo lẫy nỏ- móng rùa thần.

Thái độ chủ quan , khinh địch của Vua Thục còn thể hiện rõ ở việc dù quân Triệu Đà đã tiến sát đến chân thành Cổ Loa song vua vẫn “ điềm nhiên ngồi đánh cờ, cười mà nói rằng: “ Đà không sợ nỏ thần saỏ”. Cho đến khi thất bại bỏ chạy Vua cũng không nhận ra vì sao nỏ thần hết hiệu nghiệm , vì sao lại thất bạị Câu nói tuyệt vọng “ Trời hại ta” bên bờ biển đã cho ta thấy rõ tình trạng ấy! Đến khi sứ Thanh Giang hiện lên thét lớn “ Kẻ ngồi sau ngựa chính là giặc đó”. Vua mới tỉnh ngộ . Một sự tỉnh ngộ đầy cay đắng . Vua liền chém chết đứa con gái yêu và “cầm sừng tê rẽ nước về với Long vương”. Thái độ của nhân dân đối với Vua Thục vừa phê phán vừa tôn kính nên đã sáng tạo ra chi tiết này chăng? ( Theo gợi ý của nhà thơ Nguyễn Đình Thi khi ông cho rằng phải chăng nhân dân không muốn nói Phù Đổng Thiên Vương chết trận nên đã sáng tạo ra kết cục Phù Đổng thiên Vương và ngựa phi lên trời; không đành lòng để Vũ Nương chết thảm nên đã sáng tạo tình tiết Vũ nương thành thần tiên dưới Thuỷ cung).

Qua hình tượng An Dương vương, tác giả dân gian đã thể hiện thật sâu sắc ý tưởng: Người đứng đầu đất nước chẳng những cần được nhân dân hết lòng ủng hộ mà còn phải hết sức cảnh giác đề phòng hữu hiệu đối với các thế lực ngoại xâm, thiếu sự cảnh giác đó thì nước mất nhà tan.

2- Về nhân vật Mị Châu:

Nhà thơ Tố Hữu đã nhận xét về nhân vật Mị Châu: “ Trái tim lầm chỗ để trên đầu/ Nỏ thần vô ý trao tay giặc / Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu”.

Quả thật Mị Châu có đặt tình cảm ( trái tim) lên trên lí trí ( đầu) , dẫn đến hậu quả khôn lường ( Cơ đồ đắm biển sâu). Vua Thục và Mị Châu đều có lỗi trước lịch sử. Tuy nhiên , các tác giả dân gian đã dành cho nhân vật nữ nầy một sự đánh giá đầy bao dung nhân hậụ Mị Châu ý thức được sự mất cảnh giác nghiêm trọng của mình nên chấp nhận cái chết một cách dũng cảm nhưng Mị Châu không chủ tâm phản bội cha , phản bội dân tộc. Lời khấn khứa cuối cùng của nhân vật vang lên thật thống thiết “ Thiếp là phận gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại lại cha, chết đi sẽ biến thành hạt bụị Nếu có lòng trung hiếu mà bị người lừa dối thì chết đi sẽ biến thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù”. Tác giả dân gian đã thật nhân hậu bao dung trong sáng tạo hình tượng “ Mị Châu chết ở bờ bể , máu chảy xuống nước, trai sò ăn phải đều biến thành hạt châu”, “ Trọng Thuỷ ôm xác vợ đem về táng ở Loa Thành, xác biến thành ngọc thạch”, “ Người đời sau…nhân kiêng tên Mị Châu cho nên gọi ngọc minh châu là đại cữu , tiểu cữu”. Giáo sư Lê Trí Viễn đã có lời bình xác đáng như sau: “ Mị Châu có tội với đất nước nên bị trừng phạt, đó là trách nhiệm trước lịch sử, nhưng tấm lòng Mị Châu là trong trắng, Mị Châu chỉ ngây thơ và dại dột, cho nên tấm long của nhân dân không nỡ để Mị châu mất đi trong đen tối, mà cho Mị Châu biến thành ngọc trai trong suốt để nàng nói lên với vĩnh viễn chút lòng trong trắng của mình.” Và GS kết luận: “ Đó là những biểu hiện đầu tiên và tốt đẹp của tư tưởng nhân đạo thời cộng đồng.”.

3- Về nhân vật Trọng Thuỷ:

Trước hết cần phải thấy động cơ hôn nhân của Trọng Thuỷ là động cơ chính trị đen tốị Lợi dụng tình cảm của vợ , Trọng Thuỷ đã “ dỗ Mị Châu cho xem trộm nỏ thần rồi ngầm làm một cái lẫy nỏ khác thay vuốt rùa vàng, nói dối là về phương bắc thăm cha”. Tình tiết ấy, Trọng Thuỷ không thể chối tội trước tình cảm ngây thơ trong trắng của Mị Châu trước sự phán xét của muôn đời trên giác độ tình yêụ

Tuy nhiên có một tình tiết cần phải nhìn nhận cho có tình có lí , Đó là tình tiết Trọng Thuỷ tâm sự với vợ “ Tình vợ chồng không thể lãng quên , nghĩa mẹ cha không thể dứt bỏ. Ta nay trở về thăm cha, nếu như đến lúc hai nước thất hoà bắc nam cách biệt, tìm nàng lấy gì làm dấu” . Để rồi Mị châu ngây thơ nói ra kế “ rắc lông ngỗng” ở những chỗ ngả ba đường để “có thể cứu được nhau”. Tình tiết này có hai cách hiểụ Cách hiểu thứ nhất là Trọng Thuỷ cố ý đuổi cùng , giết tận. Cách hiểu thứ hai cho rằng qua bao tháng ngày chung sống , mặc dù Trọng Thuỷ âm thầm thực hiện dã tâm của cha nhưng trong lòng chàng không thể không có tình cảm sâu nặng với người vợ trẻ xinh đẹp , dịu dàng, hiền thục , ngây thơ , trong sáng nên chàng lo liệu trước việc tìm nhau sau trận can quạ Còn lúc ấy chàng cũng không nghĩ đến độc kế đuổi cùng giết tận. Sau trận chiến đẫm máu Trọng Thuỷ đã ôm xác vợ về táng ở Loa Thành cho được gần gũi sớm hôm chăm sóc, với lòng “ thương tiếc khôn cùng” rồi ngẩn ngẩn ngơ ngơ “ khi đi tắm tưởng như thấy bóng dáng Mị Châu , bèn lao đầu xuống giếng mà chết”. Đặc biệt là chi tiết kết thúc truyện “ người đời sau mò ngọc ở biển Đông lấy nước giếng này mà rửa thì thấy trong sáng”. Như vậy phải chăng cặp uyên ương này cũng chỉ là nạn nhân bị lợi dụng, vừa đáng thương vừa đáng giận, trong dã tâm xâm lược của Triệu Đà. Thái độ của nhân dân ta trước bi kịch lịch sử này tưởng cũng khá rõ ràng.



Tóm lại, truyện Rùa vàng đã đạt đến một trình độ nghệ thuật rất cao, mang tính chất đa thanh , đa nghĩa, rất hấp dẫn đối với các thế hệ người dân Việt Nam. Mỗi hình tượng nhân vật đều gợi mở ở người đọc mọi thời đại nhiều ý nghĩa lí thú. Những vấn đề sinh tử trong sự nghiệp giữ nước lại lồng kết trong một câu chuyện tình cảm lứa đôi đầy âm hưởng bi tráng. Qua câu chuyện, hai tư tưởng lớn trong truyền thống văn học Việt Nam là tư tưởng yêu nước và tư tưởng nhân đạo đã quyện hoà một cách khăng khít . Nhân dân quả đã vừa ngợi ca, vừa phê phán, vừa cảm thông đối với những nhân vật lịch sử đã mắc phải những sai lầm nghiêm trọng dẫn đến những trang bi thương trong lịch sử nước nhà. Thái độ và tình cảm yêu ghét ở đây vừa dứt khoát , rạch ròi vừa thấm đẫm tính chất bao dung nhân hậu được thể hiện một cách nghệ thuật qua nhiều chi tiết đặc sắc và độc đáọ

===Đọc thêm:
Truyền thuyết : Trọng Thủy - Mỵ Châu

Ngày xưa, Đời vua An Dương Vương bị giặc Triệu Đà bên tàu xâm lấn. Vô kế khả thi nhà vua lập đàn cầu nguyện nhờ thần nhân giúp đở. Lúc đó, Thần Kim Qui hiện ra và chỉ cách nhà vua xây thành, và lấy móng của mình trao cho nhà vua dùng để chế nỏ thần có khả năng bắn ra hàng vạn tên trong một lúc. Nhà vua ra lệnh xây thành Cổ Loa và nhờ vào nỏ thần nhà vua đả dẹp được giặc Triệu Đà.


Triệu Đà tuy bị thua, nhưng vẩn không từ bỏ dả tâm xâm chiếm An Nam. Nên đả lập kế cầu hòa và gả con mình là Trọng Thủy cho con của An Dương Vương là Mỵ Châụ Trong lúc chung sống với Mỵ Châu Trọng Thủy đả dò biết được bí mật của nỏ thần từ Mỵ Châụ Chàng mới lấy cắp đi nỏ thần rồi lén về nước.


Triệu Đà được tin An Dương Vương đả mất Nỏ Thần bèn xua binh sang xâm chiếm . Lần Này, Vì không còn nỏ thần An Dương Vương thảm bạị Nhà vua cùng Mỵ Nương bỏ hoàng thành chạy trốn.


Nhà vua không ngờ Mỵ Châu dùng lông Ngổng trên áo mình mặc để lại dấu vết cho Trọng Thủy tìm nàng. Triệu Đà theo vết lông ngổng tìm đến sông ?. An Dương Vương cùng đường bí lối mới cầu nguyện thần Kim Quỵ Thần đả hiện ra, và nói Giặc đang ở sau lưng ngươi đó. Nhà vua mới quay lại nhìn Mỵ Châu thì thấy trong tay nàng hảy còn lông ngổng. Nhà vua nổi giận mới rút gươm giết nàng. Sau Đó, Lên Lưng Thần Qui Biến Mất.


Trọng Thủy theo vết lông ngổng tìm đến bờ sông. Thấy thi thể của Mỵ Nương chàng đả khóc bảy ngày bảy đêm. Sau Đó, nhảy xuống ao tự tử.
===
Thần Kim Quy giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa xong, nghĩ đến chuyện bảo vệ kẻ thù bên ngoài, thần cho An Dương Vương cái móng của mình để làm nỏ giữ thành. Theo lời thần dặn, nỏ có được cái lẫy làm bằng móng chân thần sẽ là chiếc nỏ bắn trăm phát trăm trúng cả trăm và chỉ một phát có thể giết hàng nghìn quân giặc.
An Dương Vương chọn trong nhóm gia thần được một người làm nỏ rất khéo tên là Cao Lỗ giao cho làm chiếc nỏ thần. Cao Lỗ gắng sức làm trong nhiều ngày mới xong. Chiếc nỏ rất lớn và rất cứng, khác hẳn những nỏ thường, phải tay lực sĩ mới gương nổị An Dương Vương quý chiếc nỏ vô cùng, lúc nào cũng treo gần chỗ nằm.
Lúc bấy giờ Triệu Ðà làm chúa đất Nam Hải, mấy lần Triệu Ðà đem quân sang cướp đất Âu Lạc, nhưng vì An Dương Vương có nỏ thần, quân Nam Hải bị giết hại rất nhiều, nên Triệu Ðà đành cố thủ đợi cơ hội khác. Triệu Ðà thấy dùng binh không lợi, bèn xin giảng hoà với An Dương Vương, và sai con là Trọng Thủy sang cầu thân nhưng chủ ý tìm cách phá chiếc nỏ thần.
Trong những ngày đi lại để kết tình hoà hiếụ Trong Thủy được gặp Mỵ Châu, một thiếu nữ mày ngài mắt phượng, nhan sắc tuyệt trần, con gái yêu của An Dương Vương, Trọng thủy đem lòng yêu Mỵ Châu, Mỵ Châu dần dần cũng xiêu lòng. Hai người trở nên thân thiết, không còn chỗ nào trong Loa thành là Mỵ Châu không dẫn người yêu mình đến xem. An Dương Vương không nghi ngờ gì cả. Thấy đôi trẻ thương yêu nhau, vua liền gả Mỵ Châu cho Trọng Thủỵ
Một đêm trăng sao vằng vặc, Mỵ Châu cùng Trọng Thủy ngồi trên phiến đá trắng giữa vườn, cùng nhau nhìn dẫy tường thành cao ngất, gió lạnh thổi, mây ngàn xa bay, đêm mỗi lúc một khuya... Trong câu truyện tỉ tê, Trọng Thủy hỏi vợ rằng:
- Nàng ơi! Bên Âu Lạc có bí quyết gì mà không đánh được?
Mỵ Châu đáp:
- Có bí quyết gì đâu chàng! Âu Lạc đã có thành cao, hào sâu, lại có nỏ thần, lại bắn một phát chết hàng ngàn quân địch như thế còn ai đánh nổi được.
Trọng Thủy làm bộ ngạc nhiên, vờ như mới nghe nói đến nỏ thần lần đầu, chàng ngỏ ý muốn xem chiếc nỏ. Mỵ Châu không ngần ngại, chạy ngay vào chỗ cha nằm, lấy nỏ đem ra cho chồng xem. Nàng lại chỉ cho chàng biết cái lẫy vốn là chiếc móng chân thần Kim Quy và giảng cho Trọng Thuỷ nghe biết cách bắn. Trọng Thủy chăm chú nghe, chăm chú nhìn cái lẫy, nhìn khuôn khổ cái nỏ hồi lâu rồi đưa cho vợ cất đị
Hôm sau, Trọng Thủy xin phép vua về thăm cha và thuật lại cho Triệu Ðà biết về chiếc nỏ thần.Triệu Ðà sai một gia nhân chuyên làm nỏ chế một cái lẫy giống như hệt cái lẫy của An Dương Vương. Lẫy giả làm xong, Trọng Thủy giấu vào trong áo trở lại sang Âu Lạc.
An Dương Vương vốn chiều con gái, thấy con mỗi khi gặp chồng thì vui vẻ sung sướng, liền sai gia nhân bầy tiệc rượu, để ba cha con cùng vuị Trọng Thủy uống cầm chừng, còn An Dương Vương và Mỵ Châu say tuý luý. Trọng Thủy thừa lúc bố vợ và vợ saỵ Lẻn ngay vào phòng tháo lẫy bằng móng chân Thần Kim Quy và thay vào cài lẫy giả bằng móng rùạ
Hôm sau, thấy chồng có vẻ bồn chồn, hết đứng lại ngồi không yên, Mỵ Châu hỏi chồng rằng:
- Hình như chàng đang có điều lo nghĩ gì , phải không?
Trọng Thủy đáp:
- Tôi sắp phải xa nàng bây giờ. Phụ vương dặn phải về ngay để còn lên miền Bắc, miền Bắc xa mãi trên kia
Mỵ Châu buồn rầu, lặng thinh, Trọng Thủy nói tiếp:
- Bây giờ đôi ta sắp phải xa nhau, không biết đến bao giờ gặp lại! Nếu chẳng may giặc giã, có khi nàng sẽ không còn ở chốn này nữa, tôi biết đâu mà tìm?
Mỵ Châu nói:
- Thiếp có áo lông ngỗng, hễ thiếp chạy về phương nào thiếp sẽ giắc lông ngỗng dọc đường, chàng cứ theo dấu lông ngỗng mà tìm.
Nói xong Mỵ Châu nức nở khóc.
Về đến đất Nam Hải, Trọng Thủy đưa cái móng rùa vàng cho chạ Triệu Ðà mừng rỡ vô cùng, reo lên rằng: "Phen này đất Âu Lạc sẽ về tay ta! " ít lâu sau Triệu Ðà ra lệnh cất quân sang đánh Âu Lạc..
Nghe tin báo, An Dương Vương cậy có nỏ thần, không phòng bị gì cả. Ðến khi quân giặc đã đến sát chân thành, An Dương Vương mới sai đem nỏ thần ra bắn thì thấy không hiệu nghiệm nữạ
Quân Nam Hải phá cửa thành, kéo ùa vàọ An Dương Vương vội lên ngựa, để Mỵ Châu sau lưng, phi ngựa thoát ra cửa saụ Ngồi sau lưng cha, Mỹ Châu bứt lông ngỗng ở áo rắc khắp dọc đường.
Ðường núi gập ghềng hiểm trở, ngựa chạy luôn mấy ngày đêm, mới đến núi Dạ Sơn gần bờ biển. Hai cha con định xuống ngựa ngồi nghỉ thì quân giặc đã đuổi gần đến. Thấy đường núi quanh co dốc ngược, bóng chiều đã xuống, không còn nối nào chạy, An Dương Vương hướng ra biển khấn thần Kim Quy phù hộ cho mình. Vua vừa khấn xong thì một cơn gió lốc bốc cát bụi lên mịt mù làm rung chuyển cả núi rừng. Thần Kim Quy hiện lên, bảo An Dương Vương rằng "Giặc ở đằng sau lưng nhà vua đấy! "
An Dương Vương tỉnh ngộ, liền rút gươm chém Mỵ Châu, rồi nhẩy xuống biển. Rùa Thần rẽ nước đưa nhà vua đị Quân của Triệu Ðà kéo vào chiếm đóng Loa thành. Còn Trọng Thuỷ một mình một ngựa theo dấu lông ngỗng đi tìm Mỵ Châụ Ðến gần bờ biển thấy xác vợ nằm trên đám cỏ, tuy chết mà nhan sắc không phai mờ. Trọng Thuỷ khóc oà lên,thu nhặt thi hài đem về chôn trong Loa thành, rồi đâm đầu xuống giếng trong thành mà chết.
Ngày nay ở làng Cổ Loa, trước đền thờ An Dương Vương còn cái giếng Trọng Thuỷ. Tục truyền khi Mỵ Châu đã bị cha giết rồi, máu nàng chảy xuống biển, trai ăn được nên mới có ngọc châụ Lấy được ngọc trai đó đem rửa nước giếng trong thành Cổ Loa thì ngọc trong sáng vô cùng.


Theo Wikibooks
==
Truyền thuyết Mị Châu – Trọng Thủy

Truyền thuyết Mị Châu – Trọng Thủy là một trong những câu chuyện có sức hấp dẫn được lưu truyền trong dân gian về buổi đầu của lịch sử dân tộc – một câu chuyện vừa mang nét hiện thực vừa mang nét huyền thoại thời Âu Lạc. Hơn thế nữa, đây cũng là tác phẩm mang dấu ấn bi kịch sớm nhất trong văn chương dân tộc. Giếng Mị Châu ở Đông Anh còn đó, bên cạnh bài học về việc cần đề cao cảnh giác với kẻ thù, tấm oan tình còn để lại những bài học mang giá trị nhân văn sâu sắc.
Mị Châu là con gái của Thục An Dương Vương. Người con gái trong trắng ngây thơ, tin tưởng tình yêu một cách chân thành cuối cùng đã bị chính người chồng đưa vào bẫy, làm mất nước. Câu chuyện trong sách giáo khoa chỉ tập trung vào mối quan hệ Trọng Thủy – Mị Châu nhưng cũng đủ sức giúp ta nhận ra những thủ phạm và nạn nhân đích thực của bi tình sử nàỵ
Trọng Thủy làm rể của An Dương Vương. Mọi nguyên nhân bi kịch trước hết bắt đầu từ An Dương Vương khi đã để tình riêng lấn át tầm nhìn của một đấng minh quân. Nhất là, kẻ ở rể lại phục vụ cho dã tâm của Triệu Đà – lấy bí quyết nỏ thần để cướp nước. Sự mất cảnh giác đáng trách của An Dương Vương làm mất nước đã đành , nhưng hậu quả của nó mang ý nghĩa bi kịch là làm nên cảnh sinh li tử biệt, tan vỡ tình duyên của Mị Châu – Trọng Thủỵ

Mặc dù truyền thuyết được ghi lại bởi người đời sau hết sức ngắn gọn, nhưng cốt lõi của bi kịch ấy vẫn thật rõ ràng: mối quan hệ thông gia của hai nhà vốn dĩ đối địch tiềm ẩn những bất trắc khó lường. Vậy mà An Dương lại “vô tình” gả con gái yêu của mình cho con trai kẻ thù. Theo mạch kể của truyền thuyết, không có những lí giải về nguyên nhân sâu xa khiến cho Mị Châu đã tiếp tay cho Trọng Thủy đánh cắp lẫy nỏ thần Kim Quị Nhưng theo mạch truyện, Mị Châu rõ ràng đã tin Trọng Thủy đến với nàng bằng cả tấm chân tình. Sự ngây thơ ấy của cá nhân nàng là điều có thể tha thứ , nhưng vì tình riêng mà để lộ bí mật quốc gia thật sự là một tội lỗi khó dung tình. Đáng trách hơn, tình yêu ấy thiếu lí trí sáng suốt đế nỗi nàng không nhận ra được những ẩn ý trong lời nói của Trọng Thủy khi từ biệt để cảnh báo với vua chạ Nàng không đủ tỉnh táo để nhận ra trong lời chồng tiềm tàng hiểm hoạ binh đao: “Ta nay trở về thăm cha, nếu như đến lúc hai nước thất hoà, bắc nam cách biệt, ta lại tìm nàng lấy gì làm dấủ”.

Mị Châu mê muội đếm mức không thể nói một lời hỏi nguyên cớ chia lìa, lại chỉ chăm chăm nghĩ về sự đoàn tụ lứa đôị Đặt tình riêng lên trên vận mệnh quốc gia như vậy quả thật đáng phê phán.
Đàng sau tình duyên Mị Châu – Trọng Thủy là cả một âm mưu thôn tính thâm hiểm của Triệu Đà, không ai khác kẻ thực hiện gian kế ấy lại là Trọng Thủỵ Hắn ngay từ khi đạt chân đến Loa Thành làm rể đã đặt nhiệm vụ gián điệp lên hàng đầụ Bỉ ổi hơn, hắn đã lợi dụng ngay người vợ ngây thơ để thực hiện gian kế mĩ mãn. Xét về bản chất Trọng Thủy là một kẻ gian trá và tham lam: lừa gạt vợ để lấy vuốt Rùa Vàng, vừa âm mưu cướp được nước, vừa muốn được chiếm đoạt trọn vẹn trái tim của Mị Châụ Từ thủ phạm, hắn đã biến thành nạn nhân của chính mình. Không thể nào có sự dung hoà giữa quyền lợi quốc gia với tình yêu đôi lứa khi thù địch là cái mầm hoạ tiềm ẩn trong mối quan hệ vợ chồng.


An Dương Vương mất nước từ sự thiếu cảnh giác, khinh địch của mình. Bản thân nhà vua mong mỏi hoà hiếu giữa hai quốc gia, chấm dứt cảnh đao binh từ duyên tình con trẻ. Nhưng trớ trêu thay, đó lại là chỗ hở để kẻ dã tâm là cha con Triệu Đà lợi dụng. Bản thân An Dương Vương cũng phải gánh chịu bi kịch khi tuốt gươm trừng phạt kẻ phản bội là chính con gái yêu của mình, nhà vua đã đứng trên quyền lợi quốc gia mà gạt bỏ tình riêng, hành động ấy được trân trọng bằng cách xử lí của dân gian : Rùa Vàng rẽ nước dẫn vua xuống biển. Mị Châu phải trả giá bằng sự nông nổi của mình, nhưng nàng cũng kịp thức tỉnh để nhận ra bi kịch của mình.

Một người con gái ngây thơ trong trắng đáng yêu bị phản bội, cuối cùng nàng đã nhận ra bộ mặt kẻ thù dù quá muộn màng. Cái nhìn nhân hậu của nhân dân ta đã dành cho Mị Châu khi để nàng hoá thân thành ngọc thạch, máu hoá thành hạt châu nhưng cũng thật công bằng khi từ lập trường yêu nước trừng trị kẻ có tộị Mị Châu quả thật đáng trách nhưng cũng thật đáng thương. Truyền thuyết không còn chỉ kể lại trang sử mất nước mà chứa đựng cái nhìn thương cảm cho lứa đôi – khi tình yêu phải đối mặt với âm mưụ.


Trọng Thủy đã phải trả giá cho sự lừa dối khi hắn chỉ còn mang được xác Mị Châu về chôn cất. Với kẻ cướp nước, nhân dân ta không để cho hắn chiếm đoạt và tiếp tục lừa phỉnh Mị Châụ Nhưng điều đáng nói hơn là cái chết lao đầu xuống giếng của Trọng Thủy và kết thúc câu chuyện: “Người đời sau mò được ngọc trai ở biển Đông, lấy nước giếng mà rửa, thì thấy trong sáng thêm”. Sự lừa dối nhơ nhớp của Trọng Thủy là lời cảnh tỉnh : chỉ có tình yêu chân thành mới được đền đáp xứng đáng, không thể nào tình yêu đồng hành với những toan tính thấp hèn, tham vọng cướp nước.
Truyền thuyết Mị Châu – Trọng Thủy muôn đời vẫn còn giá trị từ ý nghĩa nhân văn, từ bài học cảnh giác cũng như lời nhắc nhở về cách giải quyết các mối quan hệ riêng – chung, cá nhân – cộng đồng. Câu chuyện bi kịch thấm thía ấy cũng là sư ïthể hiện lập trường và tình cảm rõ ràng của nhân dân ta trước các vấn đề lịch sử và quan hệ con ngườị

Minh Trí sưu tầm

   
 
 
    Thoi Nay Montreal - Giai Tri va Doi Song

Mục lục

Thời Hùng Vương:

Ôn cố tri tân:

TL&BK:

   
 

Copyright © 2011 | TN InfoWay