|
TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỴ CHÂU-TRỌNG THỦY
(Đinh Hà Triều)
Thời kì Văn Lang – Âu Lạc (thời kì dựng nước) đã để
lại cho gia tài văn hoá tinh thần Việt Nam nhiều thần
thoại , truyền thuyết có giá trị lớn.
Thần thoại và truyền thuyết thời kì này thể hiện tập
trung , nổi bật hai nội dung: dựng nước và giữ nước.
Nếu như nhóm truyền thuyết xung quanh vua Hùng thể
hiện nội dung dựng nước thì truyền thuyết chung quanh
Thục An Dương Vương lại đưa ra một cách cắt nghĩa về
sự thắng lợi và thất bại của vua Thục trong việc xây
dựng và bảo vệ đất nước. Nhận thức được giá trị to lớn
của những tác phẩm dân gian này trong đời sống tinh
thần tư tưởng của người Việt nên trong những thế kỉ
đầu tiên của nền độc lập dân tộc các trí thức nước ta
đã bỏ nhiều công sức sưu tầm, ghi chép lại bằng văn
bản. Những người có công đầu là Lí Tế Xuyên ( với cuốn
Việt điện u linh) và Trần Thế Pháp ( với cuốn Lĩnh Nam
chích quái) .
Cuối
thế kỉ XV, Vũ Quỳnh và Kiều Phú đã tiếp tục công việc
của Trần Thế Pháp hoàn chỉnh cuốn Lĩnh Nam chích quái
và lưu truyền đến ngày naỵ Nhiều nhà nghiên cứu văn
học dân gian và sử học nước ta đã nhất trí coi coi các
thần thọai và truyền thuyết sau đây là những truyện có
giá trị lớn nhất: Truyện Họ Hồng Bàng; Truyện Thần núi
Tản Viên; Truyện Thánh Gióng; Truyện Rùa Vàng. Và cho
rằng truyện Rùa vàng gắn liền với nhân vật lịch sử An
Dương Vương, với di tích lịch sử thành Cổ Loa với câu
chuyện tình Mị Châu – Trọng Thuỷ là một truyện li kì ,
phức tạp biểu hiện một trình độ phát triển của xã hội
và con người Việt Nam và để lại một bài học lịch sử
xương máu cho muôn đời saụ
1- Về nhân vật Thục An Dương Vương.
Theo Lĩnh Nam chích quái, Thục Phán là một vị vua trẻ
của nước Âu Việt, sau khi chiếm được nước Văn Lang của
các vua Hùng lập nên nước Âu Lạc, định đô ở đất Việt
Thường ( Cổ Loa) và gấp rút xây thành để giữ nước. Như
vậy, việc dời đô từ vùng trung du (Lâm Thao, Phú Thọ )
xuống đồng bằng là một việc làm sáng suốt, một biểu
hiện của sự phát triển lớn mạnh của nhà nước Âu Lạc so
với nhà nước Văn Lang và Âu Việt cũ. Trong công cuộc
xây thành Cổ Loa dù nhà vua đã bỏ nhiều trí lực nhưng
ban đầu “ hễ thành đắp đến đâu lại lở đến đấy”. Sau
nhờ sứ Thanh Giang giúp đỡ, vua đã diệt được các loài
yêu tinh phá hoạị từ đó , thành chỉ xây trong nửa
tháng là xong.
Theo quan điểm xưa, muốn thành công trong việc lớn lẫn
việc nhỏ, người hành sự phải hội đủ ba yếu tố thiên
thời , địa lợi , nhân hoà. Truyền thuyết còn kể lại
việc Thánh Tản Viên khuyên vua Hùng nhường ngôi cho
Thục Phán, phải chăng đó là thiên cơ , thiên thời đã
hướng về Thục vương . Chọn được đất định đô lâu dài ,
kiên cố, đó là được địa lợị Thành xây mà đổ phải chăng
Vua chưa được chữ nhân hoà. Vua trai giới , cầu đảo
bách thần phải chăng là một sự điều chỉnh chính sự để
được chữ nhân hoà quý báu ấỵ Việc thần Rùa Vàng giúp
vua xây thành phải chăng đã phản ánh hiệu quả tốt đẹp
của sự điều chỉnh chính sự theo hướng thuận nhân tâm.
Đất nước yên bình có thành luỹ kiên cố , nhà vua ước
ao có được thứ vũ khí thần diệu để bảo vệ. Đó là một
ước vọng chính đáng. Thần Rùa vàng đã đáp ứng nguyện
vọng ấy của vua: tháo vuốt tặng vua làm lẫy nỏ Linh
Quang. Tầm nhìn xa trông rộng và ý thức bảo vệ giang
san của Thục Vương thật đáng cho chúng ta khâm phục và
ghi nhớ. Quân Triệu Đà đã nhiều lần thảm bại trước
chân thành Cổ Loa vì thứ vũ khí lợi hại của Âu Lạc. Vũ
khí thần diệu một phát bắn ra có thể giết chết hàng
trăm tên địch đó phải chăng là đường lối quân sự ,
quốc phòng đúng đắn dựa trên sức mạnh đoàn kết toàn
dân tộc .
Nhưng tai hoạ cũng từ dó mà rạ Quá tin vào tiềm lực
quốc phòng của mình, nhà vua đã lơ là mất cảnh giác
trước âm mưu của Triệu Đà. Sau nhiều lần thất bại thảm
hại nhưng Đà vẫn chưa thôi giấc mộng thôn tính Âu Lạc,
mở rộng giang sơn cát cứ của mình. Thục An Dương Vương
sơ xuất không nhận ra dã tâm đó hoặc có nhận ra nhưng
vì quá chủ quan, khinh địch nên đã nhận lời thuận cho
Trọng Thuỷ lấy con gái yêu của mình là Mị Châu, lại
còn thuận cho ở rể luôn trong thành Cổ Loạ Tướng quân
Cao Lỗ đã hết sứcc an ngăn vua nhưng Vua nhất quyết
không nghe . Kết cục, Trọng Thuỷ có cơ hội lợi dụng
tình cảm của vợ, đánh tráo lẫy nỏ- móng rùa thần.
Thái độ chủ quan , khinh địch của Vua Thục còn thể
hiện rõ ở việc dù quân Triệu Đà đã tiến sát đến chân
thành Cổ Loa song vua vẫn “ điềm nhiên ngồi đánh cờ,
cười mà nói rằng: “ Đà không sợ nỏ thần saỏ”. Cho đến
khi thất bại bỏ chạy Vua cũng không nhận ra vì sao nỏ
thần hết hiệu nghiệm , vì sao lại thất bạị Câu nói
tuyệt vọng “ Trời hại ta” bên bờ biển đã cho ta thấy
rõ tình trạng ấy! Đến khi sứ Thanh Giang hiện lên thét
lớn “ Kẻ ngồi sau ngựa chính là giặc đó”. Vua mới tỉnh
ngộ . Một sự tỉnh ngộ đầy cay đắng . Vua liền chém
chết đứa con gái yêu và “cầm sừng tê rẽ nước về với
Long vương”. Thái độ của nhân dân đối với Vua Thục vừa
phê phán vừa tôn kính nên đã sáng tạo ra chi tiết này
chăng? ( Theo gợi ý của nhà thơ Nguyễn Đình Thi khi
ông cho rằng phải chăng nhân dân không muốn nói Phù
Đổng Thiên Vương chết trận nên đã sáng tạo ra kết cục
Phù Đổng thiên Vương và ngựa phi lên trời; không đành
lòng để Vũ Nương chết thảm nên đã sáng tạo tình tiết
Vũ nương thành thần tiên dưới Thuỷ cung).
Qua hình tượng An Dương vương, tác giả dân gian đã thể
hiện thật sâu sắc ý tưởng: Người đứng đầu đất nước
chẳng những cần được nhân dân hết lòng ủng hộ mà còn
phải hết sức cảnh giác đề phòng hữu hiệu đối với các
thế lực ngoại xâm, thiếu sự cảnh giác đó thì nước mất
nhà tan.
2- Về nhân vật Mị Châu:
Nhà thơ Tố Hữu đã nhận xét về nhân vật Mị Châu: “ Trái
tim lầm chỗ để trên đầu/ Nỏ thần vô ý trao tay giặc /
Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu”.
Quả thật Mị Châu có đặt tình cảm ( trái tim) lên trên
lí trí ( đầu) , dẫn đến hậu quả khôn lường ( Cơ đồ đắm
biển sâu). Vua Thục và Mị Châu đều có lỗi trước lịch
sử. Tuy nhiên , các tác giả dân gian đã dành cho nhân
vật nữ nầy một sự đánh giá đầy bao dung nhân hậụ Mị
Châu ý thức được sự mất cảnh giác nghiêm trọng của
mình nên chấp nhận cái chết một cách dũng cảm nhưng Mị
Châu không chủ tâm phản bội cha , phản bội dân tộc.
Lời khấn khứa cuối cùng của nhân vật vang lên thật
thống thiết “ Thiếp là phận gái, nếu có lòng phản
nghịch mưu hại lại cha, chết đi sẽ biến thành hạt bụị
Nếu có lòng trung hiếu mà bị người lừa dối thì chết đi
sẽ biến thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù”. Tác
giả dân gian đã thật nhân hậu bao dung trong sáng tạo
hình tượng “ Mị Châu chết ở bờ bể , máu chảy xuống
nước, trai sò ăn phải đều biến thành hạt châu”, “
Trọng Thuỷ ôm xác vợ đem về táng ở Loa Thành, xác biến
thành ngọc thạch”, “ Người đời sau…nhân kiêng tên Mị
Châu cho nên gọi ngọc minh châu là đại cữu , tiểu cữu”.
Giáo sư Lê Trí Viễn đã có lời bình xác đáng như sau: “
Mị Châu có tội với đất nước nên bị trừng phạt, đó là
trách nhiệm trước lịch sử, nhưng tấm lòng Mị Châu là
trong trắng, Mị Châu chỉ ngây thơ và dại dột, cho nên
tấm long của nhân dân không nỡ để Mị châu mất đi trong
đen tối, mà cho Mị Châu biến thành ngọc trai trong
suốt để nàng nói lên với vĩnh viễn chút lòng trong
trắng của mình.” Và GS kết luận: “ Đó là những biểu
hiện đầu tiên và tốt đẹp của tư tưởng nhân đạo thời
cộng đồng.”.
3- Về nhân vật Trọng Thuỷ:
Trước hết cần phải thấy động cơ hôn nhân của Trọng
Thuỷ là động cơ chính trị đen tốị Lợi dụng tình cảm
của vợ , Trọng Thuỷ đã “ dỗ Mị Châu cho xem trộm nỏ
thần rồi ngầm làm một cái lẫy nỏ khác thay vuốt rùa
vàng, nói dối là về phương bắc thăm cha”. Tình tiết ấy,
Trọng Thuỷ không thể chối tội trước tình cảm ngây thơ
trong trắng của Mị Châu trước sự phán xét của muôn đời
trên giác độ tình yêụ
Tuy nhiên có một tình tiết cần phải nhìn nhận cho có
tình có lí , Đó là tình tiết Trọng Thuỷ tâm sự với vợ
“ Tình vợ chồng không thể lãng quên , nghĩa mẹ cha
không thể dứt bỏ. Ta nay trở về thăm cha, nếu như đến
lúc hai nước thất hoà bắc nam cách biệt, tìm nàng lấy
gì làm dấu” . Để rồi Mị châu ngây thơ nói ra kế “ rắc
lông ngỗng” ở những chỗ ngả ba đường để “có thể cứu
được nhau”. Tình tiết này có hai cách hiểụ Cách hiểu
thứ nhất là Trọng Thuỷ cố ý đuổi cùng , giết tận. Cách
hiểu thứ hai cho rằng qua bao tháng ngày chung sống ,
mặc dù Trọng Thuỷ âm thầm thực hiện dã tâm của cha
nhưng trong lòng chàng không thể không có tình cảm sâu
nặng với người vợ trẻ xinh đẹp , dịu dàng, hiền thục ,
ngây thơ , trong sáng nên chàng lo liệu trước việc tìm
nhau sau trận can quạ Còn lúc ấy chàng cũng không nghĩ
đến độc kế đuổi cùng giết tận. Sau trận chiến đẫm máu
Trọng Thuỷ đã ôm xác vợ về táng ở Loa Thành cho được
gần gũi sớm hôm chăm sóc, với lòng “ thương tiếc khôn
cùng” rồi ngẩn ngẩn ngơ ngơ “ khi đi tắm tưởng như
thấy bóng dáng Mị Châu , bèn lao đầu xuống giếng mà
chết”. Đặc biệt là chi tiết kết thúc truyện “ người
đời sau mò ngọc ở biển Đông lấy nước giếng này mà rửa
thì thấy trong sáng”. Như vậy phải chăng cặp uyên ương
này cũng chỉ là nạn nhân bị lợi dụng, vừa đáng thương
vừa đáng giận, trong dã tâm xâm lược của Triệu Đà.
Thái độ của nhân dân ta trước bi kịch lịch sử này
tưởng cũng khá rõ ràng.
Tóm lại, truyện Rùa vàng đã đạt đến một trình độ nghệ
thuật rất cao, mang tính chất đa thanh , đa nghĩa, rất
hấp dẫn đối với các thế hệ người dân Việt Nam. Mỗi
hình tượng nhân vật đều gợi mở ở người đọc mọi thời
đại nhiều ý nghĩa lí thú. Những vấn đề sinh tử trong
sự nghiệp giữ nước lại lồng kết trong một câu chuyện
tình cảm lứa đôi đầy âm hưởng bi tráng. Qua câu chuyện,
hai tư tưởng lớn trong truyền thống văn học Việt Nam
là tư tưởng yêu nước và tư tưởng nhân đạo đã quyện hoà
một cách khăng khít . Nhân dân quả đã vừa ngợi ca, vừa
phê phán, vừa cảm thông đối với những nhân vật lịch sử
đã mắc phải những sai lầm nghiêm trọng dẫn đến những
trang bi thương trong lịch sử nước nhà. Thái độ và
tình cảm yêu ghét ở đây vừa dứt khoát , rạch ròi vừa
thấm đẫm tính chất bao dung nhân hậu được thể hiện một
cách nghệ thuật qua nhiều chi tiết đặc sắc và độc đáọ
===Đọc thêm:
Truyền thuyết
: Trọng Thủy - Mỵ Châu
Ngày xưa, Đời vua An Dương Vương bị giặc Triệu Đà bên
tàu xâm lấn. Vô kế khả thi nhà vua lập đàn cầu nguyện
nhờ thần nhân giúp đở. Lúc đó, Thần Kim Qui hiện ra và
chỉ cách nhà vua xây thành, và lấy móng của mình trao
cho nhà vua dùng để chế nỏ thần có khả năng bắn ra
hàng vạn tên trong một lúc. Nhà vua ra lệnh xây thành
Cổ Loa và nhờ vào nỏ thần nhà vua đả dẹp được giặc
Triệu Đà.
Triệu Đà tuy bị thua, nhưng vẩn không từ bỏ dả tâm xâm
chiếm An Nam. Nên đả lập kế cầu hòa và gả con mình là
Trọng Thủy cho con của An Dương Vương là Mỵ Châụ Trong
lúc chung sống với Mỵ Châu Trọng Thủy đả dò biết được
bí mật của nỏ thần từ Mỵ Châụ Chàng mới lấy cắp đi nỏ
thần rồi lén về nước.
Triệu Đà được tin An Dương Vương đả mất Nỏ Thần bèn
xua binh sang xâm chiếm . Lần Này, Vì không còn nỏ
thần An Dương Vương thảm bạị Nhà vua cùng Mỵ Nương bỏ
hoàng thành chạy trốn.
Nhà vua không ngờ Mỵ Châu dùng lông Ngổng trên áo mình
mặc để lại dấu vết cho Trọng Thủy tìm nàng. Triệu Đà
theo vết lông ngổng tìm đến sông ?. An Dương Vương
cùng đường bí lối mới cầu nguyện thần Kim Quỵ Thần đả
hiện ra, và nói Giặc đang ở sau lưng ngươi đó. Nhà vua
mới quay lại nhìn Mỵ Châu thì thấy trong tay nàng hảy
còn lông ngổng. Nhà vua nổi giận mới rút gươm giết
nàng. Sau Đó, Lên Lưng Thần Qui Biến Mất.
Trọng Thủy theo vết lông ngổng tìm đến bờ sông. Thấy
thi thể của Mỵ Nương chàng đả khóc bảy ngày bảy đêm.
Sau Đó, nhảy xuống ao tự tử.
===
Thần Kim Quy giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa
xong, nghĩ đến chuyện bảo vệ kẻ thù bên ngoài, thần
cho An Dương Vương cái móng của mình để làm nỏ giữ
thành. Theo lời thần dặn, nỏ có được cái lẫy làm bằng
móng chân thần sẽ là chiếc nỏ bắn trăm phát trăm trúng
cả trăm và chỉ một phát có thể giết hàng nghìn quân
giặc.
An Dương Vương chọn trong nhóm gia thần được một người
làm nỏ rất khéo tên là Cao Lỗ giao cho làm chiếc nỏ
thần. Cao Lỗ gắng sức làm trong nhiều ngày mới xong.
Chiếc nỏ rất lớn và rất cứng, khác hẳn những nỏ thường,
phải tay lực sĩ mới gương nổị An Dương Vương quý chiếc
nỏ vô cùng, lúc nào cũng treo gần chỗ nằm.
Lúc bấy giờ Triệu Ðà làm chúa đất Nam Hải, mấy lần
Triệu Ðà đem quân sang cướp đất Âu Lạc, nhưng vì An
Dương Vương có nỏ thần, quân Nam Hải bị giết hại rất
nhiều, nên Triệu Ðà đành cố thủ đợi cơ hội khác. Triệu
Ðà thấy dùng binh không lợi, bèn xin giảng hoà với An
Dương Vương, và sai con là Trọng Thủy sang cầu thân
nhưng chủ ý tìm cách phá chiếc nỏ thần.
Trong những ngày đi lại để kết tình hoà hiếụ Trong
Thủy được gặp Mỵ Châu, một thiếu nữ mày ngài mắt
phượng, nhan sắc tuyệt trần, con gái yêu của An Dương
Vương, Trọng thủy đem lòng yêu Mỵ Châu, Mỵ Châu dần
dần cũng xiêu lòng. Hai người trở nên thân thiết,
không còn chỗ nào trong Loa thành là Mỵ Châu không dẫn
người yêu mình đến xem. An Dương Vương không nghi ngờ
gì cả. Thấy đôi trẻ thương yêu nhau, vua liền gả Mỵ
Châu cho Trọng Thủỵ
Một đêm trăng sao vằng vặc, Mỵ Châu cùng Trọng Thủy
ngồi trên phiến đá trắng giữa vườn, cùng nhau nhìn dẫy
tường thành cao ngất, gió lạnh thổi, mây ngàn xa bay,
đêm mỗi lúc một khuya... Trong câu truyện tỉ tê, Trọng
Thủy hỏi vợ rằng:
- Nàng ơi! Bên Âu Lạc có bí quyết gì mà không đánh
được?
Mỵ Châu đáp:
- Có bí quyết gì đâu chàng! Âu Lạc đã có thành cao,
hào sâu, lại có nỏ thần, lại bắn một phát chết hàng
ngàn quân địch như thế còn ai đánh nổi được.
Trọng Thủy làm bộ ngạc nhiên, vờ như mới nghe nói đến
nỏ thần lần đầu, chàng ngỏ ý muốn xem chiếc nỏ. Mỵ
Châu không ngần ngại, chạy ngay vào chỗ cha nằm, lấy
nỏ đem ra cho chồng xem. Nàng lại chỉ cho chàng biết
cái lẫy vốn là chiếc móng chân thần Kim Quy và giảng
cho Trọng Thuỷ nghe biết cách bắn. Trọng Thủy chăm chú
nghe, chăm chú nhìn cái lẫy, nhìn khuôn khổ cái nỏ hồi
lâu rồi đưa cho vợ cất đị
Hôm sau, Trọng Thủy xin phép vua về thăm cha và thuật
lại cho Triệu Ðà biết về chiếc nỏ thần.Triệu Ðà sai
một gia nhân chuyên làm nỏ chế một cái lẫy giống như
hệt cái lẫy của An Dương Vương. Lẫy giả làm xong,
Trọng Thủy giấu vào trong áo trở lại sang Âu Lạc.
An Dương Vương vốn chiều con gái, thấy con mỗi khi gặp
chồng thì vui vẻ sung sướng, liền sai gia nhân bầy
tiệc rượu, để ba cha con cùng vuị Trọng Thủy uống cầm
chừng, còn An Dương Vương và Mỵ Châu say tuý luý.
Trọng Thủy thừa lúc bố vợ và vợ saỵ Lẻn ngay vào phòng
tháo lẫy bằng móng chân Thần Kim Quy và thay vào cài
lẫy giả bằng móng rùạ
Hôm sau, thấy chồng có vẻ bồn chồn, hết đứng lại ngồi
không yên, Mỵ Châu hỏi chồng rằng:
- Hình như chàng đang có điều lo nghĩ gì , phải không?
Trọng Thủy đáp:
- Tôi sắp phải xa nàng bây giờ. Phụ vương dặn phải về
ngay để còn lên miền Bắc, miền Bắc xa mãi trên kia
Mỵ Châu buồn rầu, lặng thinh, Trọng Thủy nói tiếp:
- Bây giờ đôi ta sắp phải xa nhau, không biết đến bao
giờ gặp lại! Nếu chẳng may giặc giã, có khi nàng sẽ
không còn ở chốn này nữa, tôi biết đâu mà tìm?
Mỵ Châu nói:
- Thiếp có áo lông ngỗng, hễ thiếp chạy về phương nào
thiếp sẽ giắc lông ngỗng dọc đường, chàng cứ theo dấu
lông ngỗng mà tìm.
Nói xong Mỵ Châu nức nở khóc.
Về đến đất Nam Hải, Trọng Thủy đưa cái móng rùa vàng
cho chạ Triệu Ðà mừng rỡ vô cùng, reo lên rằng: "Phen
này đất Âu Lạc sẽ về tay ta! " ít lâu sau Triệu Ðà ra
lệnh cất quân sang đánh Âu Lạc..
Nghe tin báo, An Dương Vương cậy có nỏ thần, không
phòng bị gì cả. Ðến khi quân giặc đã đến sát chân
thành, An Dương Vương mới sai đem nỏ thần ra bắn thì
thấy không hiệu nghiệm nữạ
Quân Nam Hải phá cửa thành, kéo ùa vàọ An Dương Vương
vội lên ngựa, để Mỵ Châu sau lưng, phi ngựa thoát ra
cửa saụ Ngồi sau lưng cha, Mỹ Châu bứt lông ngỗng ở áo
rắc khắp dọc đường.
Ðường núi gập ghềng hiểm trở, ngựa chạy luôn mấy ngày
đêm, mới đến núi Dạ Sơn gần bờ biển. Hai cha con định
xuống ngựa ngồi nghỉ thì quân giặc đã đuổi gần đến.
Thấy đường núi quanh co dốc ngược, bóng chiều đã xuống,
không còn nối nào chạy, An Dương Vương hướng ra biển
khấn thần Kim Quy phù hộ cho mình. Vua vừa khấn xong
thì một cơn gió lốc bốc cát bụi lên mịt mù làm rung
chuyển cả núi rừng. Thần Kim Quy hiện lên, bảo An
Dương Vương rằng "Giặc ở đằng sau lưng nhà vua đấy! "
An Dương Vương tỉnh ngộ, liền rút gươm chém Mỵ Châu,
rồi nhẩy xuống biển. Rùa Thần rẽ nước đưa nhà vua đị
Quân của Triệu Ðà kéo vào chiếm đóng Loa thành. Còn
Trọng Thuỷ một mình một ngựa theo dấu lông ngỗng đi
tìm Mỵ Châụ Ðến gần bờ biển thấy xác vợ nằm trên đám
cỏ, tuy chết mà nhan sắc không phai mờ. Trọng Thuỷ
khóc oà lên,thu nhặt thi hài đem về chôn trong Loa
thành, rồi đâm đầu xuống giếng trong thành mà chết.
Ngày nay ở làng Cổ Loa, trước đền thờ An Dương Vương
còn cái giếng Trọng Thuỷ. Tục truyền khi Mỵ Châu đã bị
cha giết rồi, máu nàng chảy xuống biển, trai ăn được
nên mới có ngọc châụ Lấy được ngọc trai đó đem rửa
nước giếng trong thành Cổ Loa thì ngọc trong sáng vô
cùng.
Theo Wikibooks
==
Truyền thuyết
Mị Châu – Trọng Thủy
Truyền thuyết Mị Châu – Trọng Thủy là một trong những
câu chuyện có sức hấp dẫn được lưu truyền trong dân
gian về buổi đầu của lịch sử dân tộc – một câu chuyện
vừa mang nét hiện thực vừa mang nét huyền thoại thời
Âu Lạc. Hơn thế nữa, đây cũng là tác phẩm mang dấu ấn
bi kịch sớm nhất trong văn chương dân tộc. Giếng Mị
Châu ở Đông Anh còn đó, bên cạnh bài học về việc cần
đề cao cảnh giác với kẻ thù, tấm oan tình còn để lại
những bài học mang giá trị nhân văn sâu sắc.
Mị Châu là con gái của Thục An Dương Vương. Người con
gái trong trắng ngây thơ, tin tưởng tình yêu một cách
chân thành cuối cùng đã bị chính người chồng đưa vào
bẫy, làm mất nước. Câu chuyện trong sách giáo khoa chỉ
tập trung vào mối quan hệ Trọng Thủy – Mị Châu nhưng
cũng đủ sức giúp ta nhận ra những thủ phạm và nạn nhân
đích thực của bi tình sử nàỵ
Trọng Thủy làm rể của An Dương Vương. Mọi nguyên nhân
bi kịch trước hết bắt đầu từ An Dương Vương khi đã để
tình riêng lấn át tầm nhìn của một đấng minh quân.
Nhất là, kẻ ở rể lại phục vụ cho dã tâm của Triệu Đà –
lấy bí quyết nỏ thần để cướp nước. Sự mất cảnh giác
đáng trách của An Dương Vương làm mất nước đã đành ,
nhưng hậu quả của nó mang ý nghĩa bi kịch là làm nên
cảnh sinh li tử biệt, tan vỡ tình duyên của Mị Châu –
Trọng Thủỵ
Mặc
dù truyền thuyết được ghi lại bởi người đời sau hết
sức ngắn gọn, nhưng cốt lõi của bi kịch ấy vẫn thật rõ
ràng: mối quan hệ thông gia của hai nhà vốn dĩ đối
địch tiềm ẩn những bất trắc khó lường. Vậy mà An Dương
lại “vô tình” gả con gái yêu của mình cho con trai kẻ
thù. Theo mạch kể của truyền thuyết, không có những lí
giải về nguyên nhân sâu xa khiến cho Mị Châu đã tiếp
tay cho Trọng Thủy đánh cắp lẫy nỏ thần Kim Quị Nhưng
theo mạch truyện, Mị Châu rõ ràng đã tin Trọng Thủy
đến với nàng bằng cả tấm chân tình. Sự ngây thơ ấy của
cá nhân nàng là điều có thể tha thứ , nhưng vì tình
riêng mà để lộ bí mật quốc gia thật sự là một tội lỗi
khó dung tình. Đáng trách hơn, tình yêu ấy thiếu lí
trí sáng suốt đế nỗi nàng không nhận ra được những ẩn
ý trong lời nói của Trọng Thủy khi từ biệt để cảnh báo
với vua chạ Nàng không đủ tỉnh táo để nhận ra trong
lời chồng tiềm tàng hiểm hoạ binh đao: “Ta nay trở về
thăm cha, nếu như đến lúc hai nước thất hoà, bắc nam
cách biệt, ta lại tìm nàng lấy gì làm dấủ”.
Mị
Châu mê muội đếm mức không thể nói một lời hỏi nguyên
cớ chia lìa, lại chỉ chăm chăm nghĩ về sự đoàn tụ lứa
đôị Đặt tình riêng lên trên vận mệnh quốc gia như vậy
quả thật đáng phê phán.
Đàng sau tình duyên Mị Châu – Trọng Thủy là cả một âm
mưu thôn tính thâm hiểm của Triệu Đà, không ai khác kẻ
thực hiện gian kế ấy lại là Trọng Thủỵ Hắn ngay từ khi
đạt chân đến Loa Thành làm rể đã đặt nhiệm vụ gián
điệp lên hàng đầụ Bỉ ổi hơn, hắn đã lợi dụng ngay
người vợ ngây thơ để thực hiện gian kế mĩ mãn. Xét về
bản chất Trọng Thủy là một kẻ gian trá và tham lam:
lừa gạt vợ để lấy vuốt Rùa Vàng, vừa âm mưu cướp được
nước, vừa muốn được chiếm đoạt trọn vẹn trái tim của
Mị Châụ Từ thủ phạm, hắn đã biến thành nạn nhân của
chính mình. Không thể nào có sự dung hoà giữa quyền
lợi quốc gia với tình yêu đôi lứa khi thù địch là cái
mầm hoạ tiềm ẩn trong mối quan hệ vợ chồng.
An Dương Vương mất nước từ sự thiếu cảnh giác, khinh
địch của mình. Bản thân nhà vua mong mỏi hoà hiếu giữa
hai quốc gia, chấm dứt cảnh đao binh từ duyên tình con
trẻ. Nhưng trớ trêu thay, đó lại là chỗ hở để kẻ dã
tâm là cha con Triệu Đà lợi dụng. Bản thân An Dương
Vương cũng phải gánh chịu bi kịch khi tuốt gươm trừng
phạt kẻ phản bội là chính con gái yêu của mình, nhà
vua đã đứng trên quyền lợi quốc gia mà gạt bỏ tình
riêng, hành động ấy được trân trọng bằng cách xử lí
của dân gian : Rùa Vàng rẽ nước dẫn vua xuống biển. Mị
Châu phải trả giá bằng sự nông nổi của mình, nhưng
nàng cũng kịp thức tỉnh để nhận ra bi kịch của mình.
Một
người con gái ngây thơ trong trắng đáng yêu bị phản
bội, cuối cùng nàng đã nhận ra bộ mặt kẻ thù dù quá
muộn màng. Cái nhìn nhân hậu của nhân dân ta đã dành
cho Mị Châu khi để nàng hoá thân thành ngọc thạch, máu
hoá thành hạt châu nhưng cũng thật công bằng khi từ
lập trường yêu nước trừng trị kẻ có tộị Mị Châu quả
thật đáng trách nhưng cũng thật đáng thương. Truyền
thuyết không còn chỉ kể lại trang sử mất nước mà chứa
đựng cái nhìn thương cảm cho lứa đôi – khi tình yêu
phải đối mặt với âm mưụ.
Trọng Thủy đã phải trả giá cho sự lừa dối khi hắn chỉ
còn mang được xác Mị Châu về chôn cất. Với kẻ cướp
nước, nhân dân ta không để cho hắn chiếm đoạt và tiếp
tục lừa phỉnh Mị Châụ Nhưng điều đáng nói hơn là cái
chết lao đầu xuống giếng của Trọng Thủy và kết thúc
câu chuyện: “Người đời sau mò được ngọc trai ở biển
Đông, lấy nước giếng mà rửa, thì thấy trong sáng thêm”.
Sự lừa dối nhơ nhớp của Trọng Thủy là lời cảnh tỉnh :
chỉ có tình yêu chân thành mới được đền đáp xứng đáng,
không thể nào tình yêu đồng hành với những toan tính
thấp hèn, tham vọng cướp nước.
Truyền thuyết Mị Châu – Trọng Thủy muôn đời vẫn còn
giá trị từ ý nghĩa nhân văn, từ bài học cảnh giác cũng
như lời nhắc nhở về cách giải quyết các mối quan hệ
riêng – chung, cá nhân – cộng đồng. Câu chuyện bi kịch
thấm thía ấy cũng là sư ïthể hiện lập trường và tình
cảm rõ ràng của nhân dân ta trước các vấn đề lịch sử
và quan hệ con ngườị
Minh Trí sưu tầm
|
|
|