Thoi-Nay - Giai Tri va Doi Song

Trang chính
Tài liệu và biên khảo

Mục lục

Nhật Bản:

Do Thái:

TL&BK:

Tài liệu và biên khảo- Phụ trách TN. 11/2008.

Xem thêm: Tại sao có nước nghèo nước giầu Tại sao Việt-Nam nghèo ?
 

 

 

Nghèo đói Việt Nam nhìn qua những con số

Lâm Văn Bé

25 tháng 09 năm 2008

Theo Khoa học

 

Xa quê hương đã hơn 30 năm, nhiều người đã trở về Việt Nam để thăm bà con quyến thuộc, làng xóm khi xưa hay để viếng những danh lam thắng cảnh mà lúc thiếu thời, chiến tranh và sinh kế đã khiến họ không nhìn thấy được tất cả nét đẹp của đất nước.

Việt Nam  hôm nay lại là một trung tâm du lịch  được thế giới ưa thích  bởi phí tổn không cao  và nhiều  thắng cảnh  ngoại điệu (exotique). Năm 2007, Việt Nam đã tiếp 4,2 triệu du khách trong đó có hơn 1,5 triệu Việt kiều (theo Thông Tấn Xã VN ngày 31/12/2007). Người trở lại mang nhiều cảm nghĩ  khác nhau về thực trạng kinh tế và chánh trị Việt Nam, nhưng cả du khách Việt lẫn Tây Phương đều đồng ý về tình trạng nghèo đói và bất bình đẳng của nước Việt Nam.

 

Nghèo là một trạng thái kinh tế và xã hội  phức tạp mà  các nhà kinh tế thuộc nhiều trường phái, nhiều quốc gia, nhiều cơ quan quốc tế không đồng thuận nhau về các tiêu chuẩn và do đó khi chúng ta dùng một con số thống kê hay một bảng xếp hạng các quốc gia  giàu nghèo trên thế giới  để có một so sánh, những ý niệm giàu nghèo thường rất chủ quan hay thiên lệch bởi phương pháp thống kê, mục tiêu sử dụng, cơ cấu kinh tế và mức sống của người dân mỗi quốc gia mỗi khác.

 

Bài viết nầy không nhằm nghiên cứu các sắc thái và hậu quả của hiện trạng nghèo đói ở Việt Nam cũng như những biện pháp xóa nghèo chống đói mà chánh phủ Viêt Nam đã rầm rộ quảng bá từ nhiều năm nay với sự giúp đỡ tài chánh của Chương Trính Phát Triển Liên Hiệp Quốc (Programme des Nations Unies pour le développement = PNUD ) và Ngân Hàng Thế Giới (Banque mondiale).

Bài  viết chỉ là tổng hợp một số dữ kiện chính thức của Tổng Cục Thống Kê Việt Nam (TKVN), các cơ quan của Liên Hiệp Quốc và các tài liệu nghiên cứu để chúng ta có một ý niệm tương đối chính xác về hiện trạng nghèo đói của Việt Nam.

 

Vài ý niệm và định nghĩa  danh từ nghèo

Từ những công trình nghiên cứu của nhà kinh tế B. S. Rowntree vào đầu thế kỷ thứ 20 đến kinh tế gia người  Ân đoạt giải Nobel năm 1998 là Amartya Sen , vô số nghiên cứu của các nhà kinh tế và thống kê nhằm thống nhứt một định nghĩa và định chuẩn cho hiện tượng nghèo, nhưng không lý thuyết nào được hoàn toàn chấp nhận. Một cách tổng quát, Sen chủ trương đời sống của người dân không đo lường bằng tài sản mà bằng bất bình đẳng (inégalité) và khả năng hành động (capabilité). Một quốc gia, cho dù giàu có tài nguyên mà người dân vẫn cảm thấy nghèo khổ, thiếu thốn nếu sống trong một môi trường xấu, bất bình đẳng ; ngược lại người dân một quốc gia kém tài nguyên hơn mà vẫn có một mức sống khả quan nếu chánh phủ biết sử dụng khéo léo tài nguyên. Quan niệm nghèo đói theo lý thuyết dân chủ như trên của Sen hoàn toàn đối nghịch với  John Rawls trong Théorie de la justice (1971) theo đó  tự do con người gắn liền với lợi tức và phát triển kinh tế gắn liền với sự trù phú của người dân (Dictionnaire des notions. Éditions Universalis, 2006, p. 595).

 

Ngưỡng nghèo (seuil de pauvreté) là một yếu tố chính yếu để qui định thành phần nghèo của một quốc gia. Nhưng định nghĩa ngưỡng nghèo cũng là một yếu tố phức tạp bởi lẽ mỗi quốc gia định nghĩa theo các tiêu chuẩn khác nhau và do đó nhiều nhà kinh tế cho rằng việc so sánh ngưỡng nghèo giữa các quốc gia, nhất là giữa quốc gia kỹ nghệ và quốc gia đang phát triển  chỉ có một giá trị tương đối, nếu không cho là vô nghĩa. Tuy nhiên,  nền kinh tế quốc gia và quốc tế cần có một căn bản đo lường để từ đó các chánh sách quốc gia và các trao đổi kinh tế chính trị được qui định, do đó các cơ quan kinh tế thế giới và Liên Hiêp Quốc thường định nghĩa nghèo đói theo hai tiêu chuẩn : tiêu chuẩn tiền tệ và tiêu chuẩn điều kiện sống.

 

Tiêu chuẩn tiền tệ.

 Theo tiêu chuẩn này, Ngân Hàng Thế Giới qui định ngưỡng nghèo là số tiền thu nhập của một người mỗi ngày  tương đương với 1 mỹ kim. Định nghĩa này chỉ là một tiêu chuẩn rất tương đối bởi lẽ tùy thuộc nhiều vào sự lạm phát của đồng tiền và chánh sách lương bỗng của mỗi quốc gia. Các chánh phủ lại có khuynh hướng dùng định nghĩa ngưỡng nghèo bằng tiêu chuẩn nầy để giảm bớt tỉ lệ nghèo của người dân vì lý do chính trị và kinh tế, bởi lẽ khi tỉ lệ người nghèo càng thấp thì chính phủ càng ít phải tài trợ các chương trình giúp đỡ người nghèo.

 

Điều khôi hài, tiêu chuẩn nghèo của VN đã được hai cơ quan chính phủ định nghĩa theo hai tiêu chuẩn khác nhau để phù hợp với cách sinh hoạt của mỗi cơ quan.

 

1- Tổng Cục Thống Kê (TKVN) dựa vào phương pháp quốc tế theo đó tiêu chuẩn nghèo là số tiền cần thiết  để mua  một lượng thực phẩm tối thiểu cung cấp đủ 2100 calories mỗi ngày mỗi người  và số tiền cần thiết cho những nhu cầu phi lương thực. Chi phí lương thực chiếm 70% và phi lương thực 30%.

Theo Tổng cục Thống kê và Ngân Hàng Thế giới, mức chi tiêu trung bình 1 người 1 tháng để ấn định chuẩn nghèo cho các năm như sau : năm 1993 : 96 700đ = 6,5$US ; năm 1998 :149 000 đ =10$US ; năm 2002 : 160 000đ =10,6$US; năm 2004 : 173 000đ =11,5$US; năm 2006 : 213 000đ = 14,2$US. ( TheoTCTK. VN 20 năm đổi mới và phát triển 1986-2005. Biểu số 89)

 

TKVN đã áp dụng chuẩn nghèo nầy trong các Cuộc điều tra mức sống ở VN  với sự hướng dẩn kỹ thuật và tài trợ của PNUD, Ngân Hàng Thế Giới và Cơ quan Phát Triển quốc tế  Thụy Điển (SIDA).

Cần lưu ý là tiêu chuẩn nầy chưa bằng 1/3 tiêu chuẩn nghèo đói cấp thấp nhứt theo tiêu chuẩn của Ngân Hàng Thế Giới  (3 cấp : cấp thấp nhứt 1$US /người/ngày áp dụng cho những quốc cực kỳ nghèo;  2$US, 4 $US áp dụng cho các quốc gia tương đối hơn).

 

Áp dụng tiêu chuẩn nầy, TKVN  cho là tỉ lệ người nghèo ở VN giảm đi từ 58% năm 1993 xuống đến 37% năm 1998 và chỉ còn  16% năm 2006. Đó là con số trung bình, nhưng trong nhiều vùng, tỉ lệ nầy rất cao .

 

   Bảng 1- Tỉ lệ nghèo theo tiêu chuẩn của Thống Kê VN

 

                                                          1993      1998        2002       2004        2006

Trung bình  chung cho cả nước

58%

37

29%

20

16

Miền núi và Trung du Bắc bộ

74

62

56

43

37

Đồng bằng sông Hồng

60

29

22

12

  9

Bắc Trung bộ

72

48

44

32

29

Duyên hải Nam Trung Bộ

46

34

25

19

13

Tây Nguyên

67

52

52

33

29

Đông Nam bộ

30

11

11

  6

 6

Đồng bằng sông Cửu Long

42

37

24

20

 11

        Thành thị

23%

 17%

14%

 

  4%

 

         Nông thôn

63%

 30%

27%

25%

 

    Nguồn: Thống Kê VN.-.Thông tin thống kê tháng 8,2008 –Giáo dục, y tế và đời sống

                                     

So sánh tỉ lệ nghèo giữa các vùng, nếu miền đồng bằng sông Cửu Long là một vùng nổi tiếng trù phú của VN, thì sau 30 năm phát triển kinh tế dưới chế độ Cộng Sản, vùng nầy nay đã trở nên  nghèo hơn  miền đồng bằng sông Hồng.

 

Thực ra, tính theo tiêu chuẩn lương thực như trên, người nghèo Việt Nam phải được xem như những người  thiếu dinh dưỡng (sous alimentation).

Theo báo cáo  của Cơ quan Lương Nông (Food and Agriculture Organization =FAO ), tỉ lệ người thiếu dinh dưỡng ở VN, tuy có giảm từ 1980 đến nay, nhưng vẫn còn rất cao so với các quốc gia có cùng tầm vóc.

 

               Bảng 2 - Thiếu dinh dưỡng ở Việt Nam

 

1979-81

1990-92

1995-97

2001-03

Số người thiếu dinh dưỡng (triệu)

19,7

20,6

16,7

13,8

Tỉ lệ số người thiếu dinh dưỡng (%)

 so với tổng số dân

37

31

23

17

Nguồn : FAO. Situation mondiale de l’alimentation et de l’agriculture 2007, p.209

 

Cộng Sản VN văn vẻ hơn gọi người thiếu dinh dưỡng là người nghèo lương thực.

Tổng Cục Thống Kê VN công bố tỉ lệ người nghèo lương thực trong cuộc điểu tra mức sống 2002 như sau :

 

Tỉ lệ người nghèo lương thực, năm 2002 : (tròn nhửng con số  tỉ lệ của TKVN)

 

Chung cả nước : 10 ; Thành thị : 4  ; Nông thôn :12

Đồng bằng sông Hồng : 6,5 ; Đông Bắc : 14 ; Tây Bắc : 28 ; Bắc Trung Bộ : 17 ; Duyên hải miền Trung : 10,5 ; Tây Nguyên : 17 ; Đông Nam Bộ : 3 ; Đồng bằng Cửu Long : 7,5.

 

Qua hai bảng thống kê trên, chúng ta nhận thấy chánh phủ  VN đã công bố một tỉ lệ người bị thiếu dinh dưỡng chỉ gần bằng phân nửa con số của Cơ quan Lương Nông Quốc Tế ( 10% so với 17%)

Ngoài ra, nếu đồng bằng sông Cửu Long  là vựa lúa của VN và hai phần ba số gạo xuất cảng xuất phát từ vùng nầy mà dân miền Nam còn thiếu ăn nhiều hơn cả miền Đồng bằng sông Hồng thì quả thật, như lời người dân miền Nam ta thán, Cộng Sản đã  áp dụng chánh sách kinh tế vơ vét.

 

2- Bộ Lao Động Thương Binh Xã Hội (LĐTBXH) lại có một tiêu chuẩn khác, và do đó công bố một tỉ lệ dân số nghèo ít hơn.  Trong suốt những năm 1990, chuẩn nghèo là số thu nhập tương đương với sức mua (pouvoir d’achat) 15, 20, 25 kg gạo mỗi tháng áp dụng cho tất cả các miền của VN. Từ năm 1998, số kg gạo được chuyển thành tiền .

Tính theo tiêu chuẩn nghèo như thế, Bộ Lao Động công bố tỉ lệ người nghèo vào năm 2001 là 17%, năm 2004 là 3,33% ở thành thị và 8,13% ở nông thôn Đó là chánh sách  vô trách nhiệm nhằm giảm bớt việc chánh phủ phải giúp đỡ người nghèo và gian trá để lừa gạt các cơ quan quốc tế  về hiện trạng nghèo đói của Việt Nam.

 

               Bảng 3 : Ngưỡng nghèo và tỉ lệ nghèo theo tiêu chuẩn

                 của Bộ Lao Động Thương Binh Xã Hội   (hàng tháng)

KHU VỰC

1993

1999

2002

2004

Nông thôn (chuẩn nghèo)

15kg gạo

115 000 $VN

112 000 đ

124 000đ

(tỉ lệ nghèo)

67%

46%

21%

8,13%

Thành thị

20kg

150000 $VN

146 000 đ

163 000đ

(tỉ lệ nghèo)

25%

9%

8%

3,33%

Nguồn : Bộ LĐTBXH và Điều tra mức  sống hộ gia đình 2004

 

Vì lẽ tiêu chuẩn nghèo của chánh phủ VN  đã bị Liên Hiệp Quốc cho là quá thấp nên  từ năm 2006, ngưỡng nghèo được tăng lên 200 000đ/người/tháng đối với nông thôn; 260 000đ/người/tháng đối với thành thị . Với định nghĩa nghèo theo tiêu chuẩn mới nầy,  tỉ lệ người nghèo sẽ tăng  lên 26%  ..

(theo : -  Đánh giá và lập kế hoạch cho tương lai : xóa đói và giảm nghèo. Hanoi : Bộ LĐTBXH và PNUD, 2004, tr.9) –

             - Thông cáo của TKVN ngày 20-07-2005

 

Người nghèo VN  được xem như một cục bột. Chánh phủ CS vo tròn bóp méo theo những hình tượng với những con số giả tạo khác nhau cốt để huênh hoang những thành tích  giảm nghèo chống đói, che giấu sự bất lực của một nền kinh tế phát triển phi kế hoạch, gia tăng sự bất bình đẳng  và bần cùng hóa đại đa số nhân dân.

 

Trong bản Báo cáo Phát triển VN năm 2004 : Nghèo, Martin Rama, chuyên viên của Ngân Hàng thế giới đã viết :… Tiếp tục giảm nghèo ở VN sẽ ngày khó khăn hơn vì cần có những biện pháp mạnh hơn để trợ giúp những nhóm dân cư thiệt thòi trong quá trình phát triển kinh tế. Hiện nay, các hộ ở nông thôn vẫn chiếm đại đa số người nghèo. Nghèo đói sẽ chủ yếu diễn ra ở nông thôn trong nhiều năm tới…Các hộ ở thành thị cũng sẽ ngày càng chiếm tỹ trọng lớn trong số người nghèo. Những mất mát đi kèm với việc buộc phải bán đất, di cư ra thành thị và ven đô, nơi họ không có những dịch vụ cơ bản, trở thành nạn nhân của tội phạm và sự xuống cấp môi trường xung quanh tăng ở mức ngoài kiểm soát là những thách thức lớn trong việc giảm nghèo ở VN »

 

Cùng trong quan điểm ấy, trong một bản báo cáo mới nhất  của Ngân Hàng Thế Giới  trong hội nghị với Nhóm Tư Vấn và các nhà tài trợ cho VN họp tại Sapa ngày 5-6 tháng 6 năm 2008 đã nhấn mạnh đến tình trạng bi đát của nông dân : Phần lớn người VN sống ở nông thôn và 73% những người dân sống ở nông thôn đã chiếm đến 94% số người nghèo của cả nước. Những người trồng lúa chiếm đến 78% số người nghèo (tr.5). Từ đầu năm 2008, với  nạn lạm phát tăng tốc, với giá xăng dầu, lúa gạo và các vật phẩm gia tăng, chánh phủ CS lại có chánh sách hổ trợ cho giới kỹ nghệ và thị dân, bỏ rơi dân quê khiến người nghèo càng thêm nghèo.  Từ tháng 10 năm 2007, giá gạo trên thị trường thế giới leo thang thì « giá gạo VN tăng ít hơn rất nhiều so với giá gạo thế giới..., có lợi cho người dân thành phố, song lại bất lợi đối với các hộ nghèo ở vùng nông thôn. Tình hình đối với giá xăng dầu, chính phủ lại áp dụng chánh sách bỏ trợ giá  đã khiến chỉ số tiêu dùng tăng tốc, chủ yếu vào lương thực.  Với một nền kinh tế mở, tình trạng giá cả lương thực tăng cao trên thị trường thế giới đã hoàn toàn truyền sang giá cả trong nước. Thời tiết khắc nghiệt của mùa đông và bịnh gia súc gia cầm cũng là nguyên nhân góp thêm vào tình trạng khan hiếm làm cho giá lương thực và phi lương thực tăng lên đến 10 % so với cùng thời kỳ năm trước.» (Báo cáo tr, 1, 3)

 

Theo FAO, lợi tức  trung bình của một nông dân là : 145 mỹ kim năm 2001, 157 MK năm 2003, 159 MK năm 2004 (FAO. Situation mondiale de l’alimentation et de l’agriculture 2007, p. 209)

 

Bất bình đẳng

Nếu tỉ lệ nghèo đói ở VN vẫn còn cao và không có viễn tượng xuống thấp nhanh, hiện tượng bất bình đẳng giàu nghèo còn là một  khó khăn lớn trong các vấn đề kinh tế và xã hội VN cận đại.

 

Có hai phương pháp phổ biến để đo lường bất bình đẳng về kinh tế.

 

- Cách thứ nhất  là dựa vào mức chi tiêu trung bình giữa các tầng lớp dân chúng để thiết lập một hệ số gọi là hệ số Gini. Hệ số nầy nằm trong khoảng từ 0 (bình đẳng tuyệt đối)  đến 1 (bất bình đẳng tuyệt đối). Chỉ số Gini đã tăng từ 0,34 (1993) đến 0,35 (1998) và 0,37 (2004).

Trong bảng báo cáo của Liên Hiệp Quốc năm 2005, VN được xếp hạng 59 trong số 124 quốc gia về bất bình đẳng với hệ số Gini 0,37. Năm quốc gia đứng đầu trong bảng có ít bất bình đẳng là : Đan Mạch, Nhật Bổn, Thụy Điển, Bỉ và Tiệp Khắc. Năm quốc gia bất bình đẳng nhiều nhát là Nam Phi, Sierra Leone, Bostwana, Lesotho và Nambie.

- Cách thứ hai là so sánh tỉ trọng chi tiêu của 20% dân số thuộc nhóm nghèo nhất (trong tổng số tỉ trọng chi tiêu của toàn thể dân số) với tỉ trọng của 20% dân số thuộc nhóm giàu nhất

 

           Bảng 4 :Lợi tức  và chi tiêu trung bình hàng tháng của nhóm nghèo nhất và nhóm

giàu nhất  năm 2004  (Số chi tiêu nằm trong dấu ngoặc)

 

 

  Nhóm nghèo nhất

(ngàn $VN)

Nhóm giàu nhất

Chênh lệch

lợi tức (số lần)

Trung bình

142 (160)

1182  (715)

8,3

Thành thị

237 (253)

1914 (1091)

          8 

Nông thôn

131(151)

  835(473)

6,4

Phân theo vùng

 

 

 

Đồng bằng sông Hồng

164 (175)

1140 (688)

7

Đông Bắc

124 ( 157)

872 (574)

7

Tây Bắc

 95 (144)

611 (662)

   6,4

Bắc Trung Bộ

115 (154)

685 (505)

 6

Duyên hải Trung Bộ

141 (152)

918 (650)

   6,5

Tây Nguyên

118 (140)

904 (609)

   7,6

Đông Nam Bộ

233 (181)

2033 (854)

    8,7

Đồng bằng Cửu Long

159 (181)

1071 (595)

    6,7

                     Nguồn:  Thống kê VN. Điều tra mức sống hộ gia đình 2004

 

Qua bảng thống kê trên, cách biệt giàu nghèo trong cùng một địa phương trung bình từ 6 đến 8 lần. Tuy nhiên, nếu quan sát  lợi tức trung bình người nghèo nhất ở nông thôn (131 000đ) so với trung bình người giàu nhất ở thành phố ( 1,914 000đ), cách biệt nầy đến 14,6 lần.

Ngoài ra, quan sát mức chi thu của người nghèo, trừ miền Đông Nam Bộ, tất cả người nghèo đều mắc nợ (chi nhiều hơn thu). Sự thiếu thốn triền miên khiến người nghèo thiếu dinh dưỡng, thiếu tất cả tiện nghi tối thiểu của đời sống tinh thần và vật chất.

Dĩ nhiên, so với bất bình đẳng giàu nghèo của các quốc gia phát triển, sự phân cách nầy tương đối nhỏ (năm 2004, lợi tức của 500 người giàu nhứt thế giới nhiều hơn cả lợi tức của 460 triệu người nghèo), nhưng phải hiểu rằng trong một quốc gia mà số người sống với nửa đollar một ngày chiếm đến 37% và thành phần giàu (20% dân số) kiểm soát 80% tài nguyên quốc gia, sự phân hóa giàu nghèo ở Việt Nam  đã vô cùng  trầm trọng.

Sự bất bình đẳng giàu nghèo đã đựơc Cục Thống Kê VN đề cập đến với những so sánh tượng hình không kém phần cay đắng cho nguời nghèo. Trong cuộc điều tra mức sống dân cư VN năm 1993 và 1998, TKVN chia dân số thành năm nhóm, mỗi nhóm chiếm 20%( nghèo, hơi nghèo, trung bình, khá giả, giàu). Kết quả điều tra cho thấy từ 1993 đến 1998, chi tiêu của nhóm giàu và khá giả mà TKVN gọi là những ngôi sao đang lên tăng lên 173% trong khi nhóm nghèo và hơi nghèo được gọi là những tảng đá đang chìm xuống , giảm xuống 37%. Ngoài ra,TKVN còn tiết lộ : ...Tỉ lệ thuộc nhóm ngôi sao đang lên ở Đồng bằng sông Hồng (trung tâm là Hà Nội) và Tây Nguyên (nơi bùng nổ sản lượng cà phê) cao hơn những nơi khác. Điều ngạc nhiên là ở Đồng bằng sông Cửu Long (một vùng tương đối sung túc) nhưng những hộ thuộc nhóm những tảng đá đang chìm xuống lại chiếm tỉ lệ cao. ( Mức sống trong thời kỳ bùng nổ kinh tế, tr.145).

 

Mặc dù VN là một trong hơn 20 quốc gia được Ngân Hàng Thế Giới  và Quỹ Tiền tệ Quốc Tế tài trợ trong các kế hoạch xóa đói giảm nghèo, nhưng kết quả  là  nếu  nghèo đói có giảm đi chút ít tại vài địa phương thì ngược lại bất bình đẳng giữa người giàu và người nghèo đã gia tăng  với một mức độ đáng ngại bởi chánh sách phát triển kinh tế của  VN.

Trong 10 năm qua, phát triển kinh tế VN chủ yếu dựa vào những yếu tố ngoại lai như viện trợ của các quỹ tiền tệ hay tiền của Việt kiều gởi về, đầu tư của các nước ngoài, phát triển du lịch, và xuất cảng mà đa số là các sản phẩm thô như dầu, gạo, cà phê…. và gần đây là các sản phẩm biến chế rẻ tiền như quần áo, giày dép. Chánh sách phát triển nầy luôn gặp những yếu tố bất cập là sự cạnh tranh của các quốc gia trong các liên minh kinh tế mà VN  là hội viên, chưa kể các  yếu tố khác như thời tiết, thiên tai.

 

Ở VN, 90% nghèo đói  diễn ra ở nông thôn và gần phân nửa nông dân sống dưới  ngưỡng nghèo thì với một chánh sách phát triển kinh tế lệ thuộc, thiếu yếu tố bền vững, bỏ rơi nông thôn  thì làm sao xóa đói giảm nghèo được ? Làm sao xóa đói giảm nghèo được khi nguyên nhân của nghèo đói chưa được nhận diện, khi nguồn gốc của nghèo đói và các yếu tố kềm giữ nghèo đói của người dân  được giải quyết qua lăng kính của những nhà lãnh đạo bất tài, thời cơ, tham nhũng,  và các cố vấn ngoại quốc thỏa hiệp vì những quyền lợi chính trị quốc tế hay thiếu hiểu biết các đặc thù của địa phương .

 

 

 

 

Tiêu chuẩn mức sống

Lương thực là một nhu cầu căn bản để sinh tồn, nhưng khác với các sinh vật, con người cần sống và phát triển với những nhu cầu vật chất và tinh thần khác. Nghèo lương thực là mức nghèo tận cùng, nhưng nghèo còn phát hiện dưới ba dạng khác là nhà ở, tiện nghi trong gia đình và đời sống văn hóa. Do đó, nghèo khó cần xét qua dưới khía cạnh mức sống.

 

Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc (PNUD) và các quốc gia của khối OCDE (Organisation de coopération et de développement économique gồm 30 quốc gia Âu Mỹ và Úc, ở Á châu có Nhựt và Nam Hàn) thường dùng chỉ số phát triển con người (IDH = indicateur du développement humain , tiếng Anh là HDI = human development indicator) để đo lường  mức sống của người dân. Tuy nhiên, vì lẽ mức sống và nhu cầu của các quốc gia giàu nghèo khác nhau, nên có hai công thức khác nhau, một áp dụng cho các quốc gia giàu (phần lớn thuộc khối OCDE) và một cho các quốc gia nghèo hay đang phát triển.

 

IDH1 áp dung cho các quồc gia nghèo được tính dựa vào 3 yếu tố : tỉ lệ người dân sống dưới 40 tuổi, tỉ lệ người đi học, và  tỉ lệ các tiện nghi  (nước sạch, điều kiện y tế và  tử vong trẻ con dưới 5 tuổi)

IDH2 áp dụng cho các xứ giàu cũng dựa vào 3 yếu tố như trên nhưng gia tăng  phẩm lượng (sống dưới 60 tuổi, tỉ lệ người đi học, tiện nghi tính theo tỉ lệ người dân có hơn phân nửa lợi tức đồng niên trung bình) và thêm một yếu tố thứ tư là tỉ lệ người thất nghiệp dài hạn (không có việc làm ít nhất 12 tháng)

Cách đo lường mức nghèo đói dựa vào các tiêu chuẩn phát triển con người nầy phản ảnh thực sự mức nghèo đói của người dân trong một môi trường, và lợi tức đồng niên phải được hóa giải với các nguồn tài trợ của chánh phủ qua các chánh sách  an sinh.

 

Ngưỡng nghèo của vài  quốc gia trong khối OCDE

Hoa Kỳ 

Mức nghèo tại 48 tiểu bang của Hoa Kỳ năm 2004 được tính theo lợi tức đồng niên như sau :

-         $ 9 570 : độc thân

-         $12 830 : vợ chồng không con

-         $16 090 : gia đình 3 người

-         $19 350 : gia đình 4 người

-         $3 260   : thêm mỗi người

Tỉ lệ người nghèo năm 2004 là 12,7% (37 triệu người)

 (Federal Register, vol.70, no. 33, 18 février, 2005, pp. 8373-8375 cité par Wiképédia)

 

Canada

Từ năm 2002, Statistique Canada ước lượng mức nghèo dựa vào các chi phí cần thiết cho một gia đình 4 người như sau : tiền thuê nhà (2-3 phòng ngủ), chi phí lương thực tốt (alimentation nutritive), chi phí quần áo và giày dép, giá một  thẻ chuyên chở công cộng tại các đô thị hay chi phí xăng nhớt tại vùng không có chuyên chở công cộng, và những chi phí  cho các sinh hoạt giải trí tính theo tỉ lệ 20%  các chi phí loại nầy với một gia đình có lợi tức thấp. Định nghĩa nầy có bản chất tổng quát, do đó mỗi  tỉnh  ấn định mức nghèo khác nhau.

Năm 2004, mức nghèo của Québec, một trong số 11 tỉnh của Canada được ấn đinh như sau (thu nhập 1 năm sau khi trừ thuế) :

 

 

Thôn quê

Thành phố<100 000 dân

Th. phố >500 000 dân

1 người

11 025$

14 253$

16 853$

2 người

13 418

17 347

20 512

3 người

16 709

21 607

25 542

4 người

20 844

26 948

31 865

5 người

23 736

30 686

36 285

6 người

26 324

34 032

40 241

Năm 2004, tỉ lệ người  dưới ngưỡng nghèo của Québec (trợ cấp xã hội) là 11,9% (890 000 người)

(Source : Statistique pauvreté/inégalité au Québec 2004. Éditeur officiel du Québec, 2006, p.33)

 

Pháp

Ngưỡng nghèo theo INSSE (sở thống kê Pháp) năm 2003 được ấn định lợi tức hàng tháng như sau :     -     645 euros : độc thân

-         839 – 968 euros : vợ chồng không con hay chủ gia đình độc thân với 1 con (dưới 14 hay trên 14 tuổi)

-         1290 euros :vợ chồng với 2 con 

-         1613 euros : vợ chồng với 3 con

 

Trung hoa        

Mặc dù trong một phần tư thế kỷ qua (1980-2005), Trung hoa đã biến đổi kinh tế nhảy vọt và hiện nay là một nhà máy sản xuất khổng lồ của thế giới (70% đồ chơi, xe đạp, máy DVD; 60% máy ảnh điện tử, và 50% máy vi tính cầm tay), , nước Tàu hiện nay vẫn là một quốc gia nghèo. Phân nửa dân số sống với lợi tức ít hơn hai mỹ kim một ngày, và theo Ngân Hàng Thế giới, từ 1980 đến 2004, có 400 triệu người Tàu đã thoát ra khỏi vòng nghèo đói trước đây chỉ với lợi tức ít hơn một mỹ kim một ngày. Lợi tức trung bình của người Tàu hiện nay  là 1000 mỹ kim một năm  (Theo Quand la Chine change le monde. Paris : Grasset, 2005, tr. 20-38)

 

Bảng 5 : Chỉ số phát triển con người (IDH) năm 2005 (trích dẩn)

Hạng

Quốc gia

Tuổi thọ

Giáo dục(%)

 

PIB

t.  bình

Hạng

Quốc gia

Tuổi thọ

Giáo dục (%)

PIB

t. bình

1

Islande

81,5

95,4

36 510

22

 Đức

79,1

88

29 461

2

Na Uy

79,8

99,2

41 420

26

Đại Hàn

78

96

22 029

3

Úc

81

99

31 794

51

Cuba

77,7

87,6

 6 000

4

Canada

80,3

99,2

33 375

61

Arabie S.

72,2

83

 7  010

5

Irlande

78,4

99,9

38 505

67

Nga

65

89

10 845

6

Thụy Điển

80,5

95,3

32 525

78

Thái Lan

69,6

71,2

  8 677

7

Thụy Sỉ

81,3

85,7

35 633

81

Trung Quốc

72,5

69

 6 757

8

Nhật

82,3

85,9

31 267

90

Phi L.Tân

71

81

  5 137

9

Hòa Lan

79,2

98,4

32 684

105

Viet Nam

73,7

64

 3 071

10

Pháp

80,2

96,5

30 386

107

Indonésie

69,7

68,2

 3 843

11

Phần Lan

78,9

99

41 890

128

Án Độ

63,7

63,8

 3 452

12

Hoa Kỳ

78

93,3

26 150

130

Lào

63,2

61,5

 2 039

13

Tây B. Nha

80,5

98

27 169

131

Cambodge

58

60

 2 727

14

Đan Mạch

78

99,9

33 973

136

Hồi Quốc

64,6

40

 2 370

15

Áo

79,4

91,9

33 700

146

Haiti

59,5

40

 1 663

16

Anh

79

93

33 328

177

Sierra Léone

41,8

44,6

    806

17

Bỉ

78,8

95,1

32 119

 

 

 

 

 

20

Ý

80,3

90,6

28 529

 

 

 

 

 

Source : PNUD. Rapport sur le développement  2007-2008, p. 229-232

 

Chú thích : - Tỉ lệ giáo dục là tổng hợp giáo dục tiểu học, trung học và đại học

                   - PIB trung bình là lợi tức đồng niên trung bình của người dân tính tương đương với đồng mỹ kim  (PPA)

Chỉ  số phát triển con người do Cơ quan Phát Triển Liên Hiệp Quốc  PNUD tính theo các công thức tiêu chuẩn hóa như trên đã cho thấy một quốc gia giàu như Hoa Kỳ không nhất thiết  có một mức sống cao, bởi lẽ mức sống của người dân tùy thuộc không những dựa vào lợi tức mà còn các điều kiện phát triển văn hóa, y tế và xã hội. Nước Na Uy, tuy lợi tức thô trung bình của người dân (PIB = tổng số sản  lượng của quốc gia chia cho dân số, tiếng Anh là GDP) suýt soát  với Hoa Kỳ, nhưng từ nhiều năm qua luôn đứng đầu trong bảng xếp hạng.

Ngoài ra cũng lưu ý là PIB trong bảng xếp hạng nầy  thường gọi là PIB-PPA = produit intérieur brut à parité de pouvoir d’achat (tiếng Anh là Purchasing power parity = PPP) là một chỉ số có tính cách chuẩn hóa để so sánh lợi tức giữa các quốc gia bằng cách lấy lợi tức thô của quốc gia nhơn cho môt một chỉ số hối đoái theo đồng mỹ kim để so sánh giàu nghèo giữa các quốc gia.

 

Việt Nam được xếp hạng 105 trong số 177 quốc gia, trong loại các quốc gia có trình độ phát triển trung bình.

Iceland. Na Uy, Úc, Canada đứng đầu trong bảng xếp hạng. So với các nước trong khu vực, VN đứng sau rất xa Singapour (hạng 25), Đại Hàn (26), Thái Lan (78), Phi luật Tân (90). So với các nước Cộng Sản, VN còn đứng sau cả Cuba (51).  

Theo bảng xếp hạng chuẩn hóa nầy, tuổi thọ trung bình của người VN là 73,7 tuổi, đạt được trình độ giáo dục là 64% và mức thu nhập trung bình (PIB hay GDP) là 3 071 mỹ kim.

Nhưng đây là con số chuẩn hóa dựa vào giá một giỏ hàng của người Mỹ, PIB thực tế trung bình  một năm của người VN là 430 mỹ kim (căn cứ vào hối suất chính thức giữa đồng VN và mỹ kim),  chỉ suýt soát với Ân độ (470MK), Haiti (440MK), Hồi Quốc(420 MK), khá hơn chút ít với hai lân bang : Cambodge (300MK), Lào (300MK) và các nước Phi châu. ( theo : Images économiques du monde 2005, p. 49)

 

Mức sống người Việt Nam qua các con số của Viện Thống Kê Việt Nam

Nhờ sự giúp đỡ tài chánh và kỹ thuật của PNUD, Viện Thống Kê VN đã thực hiện các cuộc điều tra mức sống của người dân năm 1993,  1998, 2002 và 2004.

 

Chúng ta thường dè dặt  khi đọc những tài liệu của chánh phủ Cộng Sản, nhưng những con số thống kê  của Viện Thống Kê VN là những tài liệu chính thức để chúng ta có một ý niệm về mức sống của người VN. Nhiều tài liệu Tây phương cũng dựa vào các tài liệu nầy. Chúng tôi sử dụng các tài liệu với những tổng hợp và so sánh nhiều nguồn tài liệu khác nhau.

 

Nhà ở là một trong những tiêu chuẩn  đo lường mức sống . Nghèo giàu đã gắn liền với ngôi nhà trong ngôn ngữ : nhà giàu, nhà nghèo. Dựa vào loại nhà ở và các nguồn tiếp cận với điện, nước và những loại đồ dùng trong nhà, mức sống  của người dân được đo lường qua các tiện nghi vật chất.

Trình độ học vấn là yếu tố giúp con người  phát triển và cải thiện cuộc sống và các điều kiện y tế vệ sinh giúp con người sống lâu và sống khỏe, gia tăng tiềm năng nhân lực và kinh tế của quốc gia.

 

Nhà ở

Trong cuộc điều tra mức sống người dân năm 2002, Viện TKVN phân biệt 3 loại nhà :

            -        biệt thự

-         nhà kiên cố  khép kín: gồm các loại  nhà nhiều từng, nhà bằng béton hay nhà mái bằng

-         nhà kiên cố không khép kín : gồm nhà có tường xây ghép bằng gỗ hay khung gỗ, mái lợp bằng ngói tole, hay tấm mạ

-         nhà bán kiên cố : gồm nhà có khung gỗ lâu bền, mái lá , nhà có khung chịu bằng cột gỗ, có niên hạn sử dụng trên 15 năm, mái lợp bằng tranh, tre, nứa, lá

-         nhà đơn sơ : nhà có kết cấu đơn giản, vật liệu thô sơ , thường   nhà bằng đất, lá, cót, mái bằng tranh, tre, nứa, lá, giáy dầu

 

                        Bảng 6 : Thống kê nhà ở kiểm kê năm 2002 (tính theo %).

 

 

Biệt thự

Nhà kiên cố khép kín

Nhà kiên cố không khép kín

Nhà bán kiên cố

Nhà khung gỗ và đơn sơ

Thành thị

1

20

11

55

13

Nông thôn

0,1

2

10

59

28,9

 

 

 

 

 

 

Đồng bằng sông Hồng

1

10

24

58

7

Đông Bắc

0,1

4

11

61

23,9

Tây Bắc

0,1

3

10

55

31,9

Bắc Trung bộ

0,2

3

9

71

16,8

Duyên hải miền Trung

0,1

4

5

73

17,9

Tây Nguyên

0,3

3

5

63

28,7

Đông Nam Bộ

0,6

10

6

61

22,4

Đồng bằng Cửu Long

0,1

2

4

40

53,9

Trung bình cả nước

0,3

6

10

58

25,7

 

Bảng thống kê nhà ở đã phơi bày một khía cạnh đen tối của mức sống người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long : hơn phân nửa dân sống trong những căn nhà  khung gổ đơn sơ hay nhà thô sơ. Tỉ lệ loại nhà thô sơ ở vùng đồng bằng Cửu Long cao nhứt trong cả nước, gấp 7 lần so với đồng bằng sông Hồng, ngược lại các loại nhà kiên cố, tiện nghi lại quá thấp. Miền Nam giàu có, giờ đây chỉ là huyền thoại, 30 năm xã hội chủ nghĩa đã đẩy cả miền đồng bằng sông Cửu Long vốn trù phú sung túc khi xưa nay tụt xuống  hạng cuối cùng của  nhà nghèo .

 

Sau nhà ở, các tiện nghi tối thiểu của đời  sống như việc sử dụng  điện lực, nước uống là những yếu tố cần thiết để đo lường mức sống của người dân.

 

                   Bảng 7 : Tỉ lệ hộ chia theo nguồn thắp sáng chính  - năm 2004 (số tròn)

 

 

Điện lưới

Điện ắc quy

Đèn dầu

Loại khác

Trung bình cả nước

93

1

4

2

Thành thị

99

0,4

0,6

 

Nông thôn

81