|
Xa quê hương đã hơn
30 năm, nhiều người
đã trở về Việt Nam
để thăm bà con quyến
thuộc, làng xóm khi
xưa hay để viếng
những danh lam thắng
cảnh mà lúc thiếu
thời, chiến tranh và
sinh kế đã khiến họ
không nhìn thấy được
tất cả nét đẹp của
đất nước.
Việt Nam hôm nay
lại là một trung tâm
du lịch được thế
giới ưa thích bởi
phí tổn không cao
và nhiều thắng
cảnh ngoại điệu
(exotique). Năm
2007, Việt Nam đã
tiếp 4,2 triệu du
khách trong đó có
hơn 1,5 triệu Việt
kiều (theo Thông Tấn
Xã VN ngày
31/12/2007). Người
trở lại mang nhiều
cảm nghĩ khác nhau
về thực trạng kinh
tế và chánh trị Việt
Nam, nhưng cả du
khách Việt lẫn Tây
Phương đều đồng ý về
tình trạng nghèo đói
và bất bình đẳng của
nước Việt Nam.
Nghèo là một trạng
thái kinh tế và xã
hội phức tạp mà
các nhà kinh tế
thuộc nhiều trường
phái, nhiều quốc
gia, nhiều cơ quan
quốc tế không đồng
thuận nhau về các
tiêu chuẩn và do đó
khi chúng ta dùng
một con số thống kê
hay một bảng xếp
hạng các quốc gia
giàu nghèo trên thế
giới để có một so
sánh, những ý niệm
giàu nghèo thường
rất chủ quan hay
thiên lệch bởi
phương pháp thống
kê, mục tiêu sử
dụng, cơ cấu kinh tế
và mức sống của
người dân mỗi quốc
gia mỗi khác.
Bài viết nầy không
nhằm nghiên cứu các
sắc thái và hậu quả
của hiện trạng nghèo
đói ở Việt Nam cũng
như những biện pháp
xóa nghèo chống đói
mà chánh phủ Viêt
Nam đã rầm rộ quảng
bá từ nhiều năm nay
với sự giúp đỡ tài
chánh của Chương
Trính Phát Triển
Liên Hiệp Quốc
(Programme des
Nations Unies pour
le développement =
PNUD ) và Ngân Hàng
Thế Giới (Banque
mondiale).
Bài viết chỉ là
tổng hợp một số dữ
kiện chính thức của
Tổng Cục Thống Kê
Việt Nam (TKVN), các
cơ quan của Liên
Hiệp Quốc và các tài
liệu nghiên cứu để
chúng ta có một ý
niệm tương đối chính
xác về hiện trạng
nghèo đói của Việt
Nam.
Vài ý niệm và định
nghĩa danh từ nghèo
Từ những công trình
nghiên cứu của nhà
kinh tế B. S.
Rowntree vào đầu thế
kỷ thứ 20 đến kinh
tế gia người Ân
đoạt giải Nobel năm
1998 là Amartya Sen
, vô số nghiên cứu
của các nhà kinh tế
và thống kê nhằm
thống nhứt một định
nghĩa và định chuẩn
cho hiện tượng
nghèo, nhưng không
lý thuyết nào được
hoàn toàn chấp nhận.
Một cách tổng quát,
Sen chủ trương đời
sống của người dân
không đo lường bằng
tài sản mà bằng bất
bình đẳng
(inégalité) và khả
năng hành động
(capabilité). Một
quốc gia, cho dù
giàu có tài nguyên
mà người dân vẫn cảm
thấy nghèo khổ,
thiếu thốn nếu
sống trong một môi
trường xấu, bất bình
đẳng ; ngược lại
người dân một quốc
gia kém tài nguyên
hơn mà vẫn có một
mức sống khả quan
nếu chánh phủ biết
sử dụng khéo léo tài
nguyên. Quan niệm
nghèo đói theo lý
thuyết dân chủ như
trên của Sen hoàn
toàn đối nghịch với
John Rawls trong
Théorie de la
justice (1971)
theo đó tự do con
người gắn liền với
lợi tức và phát
triển kinh tế gắn
liền với sự trù phú
của người dân
(Dictionnaire des
notions. Éditions
Universalis, 2006,
p. 595).
Ngưỡng nghèo
(seuil de pauvreté)
là một yếu tố chính
yếu để qui định
thành phần nghèo của
một quốc gia. Nhưng
định nghĩa ngưỡng
nghèo cũng là một
yếu tố phức tạp bởi
lẽ mỗi quốc gia định
nghĩa theo các tiêu
chuẩn khác nhau và
do đó nhiều nhà kinh
tế cho rằng việc so
sánh ngưỡng nghèo
giữa các quốc gia,
nhất là giữa quốc
gia kỹ nghệ và quốc
gia đang phát triển
chỉ có một giá trị
tương đối, nếu không
cho là vô nghĩa. Tuy
nhiên, nền kinh tế
quốc gia và quốc tế
cần có một căn bản
đo lường để từ đó
các chánh sách quốc
gia và các trao đổi
kinh tế chính trị
được qui định, do đó
các cơ quan kinh tế
thế giới và Liên
Hiêp Quốc thường
định nghĩa nghèo đói
theo hai tiêu chuẩn :
tiêu chuẩn tiền
tệ và tiêu chuẩn
điều kiện sống.
Tiêu chuẩn tiền tệ.
Theo tiêu chuẩn
này, Ngân Hàng Thế
Giới qui định ngưỡng
nghèo là số tiền
thu nhập của một
người mỗi ngày
tương đương với 1 mỹ
kim. Định nghĩa
này chỉ là một tiêu
chuẩn rất tương đối
bởi lẽ tùy thuộc
nhiều vào sự lạm
phát của đồng tiền
và chánh sách lương
bỗng của mỗi quốc
gia. Các chánh phủ
lại có khuynh hướng
dùng định nghĩa
ngưỡng nghèo bằng
tiêu chuẩn nầy để
giảm bớt tỉ lệ nghèo
của người dân vì lý
do chính trị và kinh
tế, bởi lẽ khi tỉ lệ
người nghèo càng
thấp thì chính phủ
càng ít phải tài trợ
các chương trình
giúp đỡ người nghèo.
Điều khôi hài, tiêu
chuẩn nghèo của VN
đã được hai cơ quan
chính phủ định nghĩa
theo hai tiêu chuẩn
khác nhau để phù hợp
với cách sinh hoạt
của mỗi cơ quan.
1- Tổng Cục Thống Kê
(TKVN)
dựa vào phương pháp
quốc tế theo đó tiêu
chuẩn nghèo là số
tiền cần thiết để
mua một lượng thực
phẩm tối thiểu cung
cấp đủ 2100 calories
mỗi ngày mỗi người
và số tiền cần thiết
cho những nhu cầu
phi lương thực. Chi
phí lương thực chiếm
70% và phi lương
thực 30%.
Theo Tổng cục Thống
kê và Ngân Hàng Thế
giới, mức chi tiêu
trung bình 1 người 1
tháng để ấn định
chuẩn nghèo cho các
năm như sau : năm
1993 : 96 700đ =
6,5$US ; năm
1998 :149 000 đ
=10$US ; năm 2002 :
160 000đ =10,6$US;
năm 2004 : 173 000đ
=11,5$US; năm 2006 :
213 000đ = 14,2$US.
( TheoTCTK. VN 20
năm đổi mới và phát
triển 1986-2005.
Biểu số 89)
TKVN đã áp dụng
chuẩn nghèo nầy
trong các Cuộc
điều tra mức sống ở
VN với sự hướng
dẩn kỹ thuật và tài
trợ của PNUD, Ngân
Hàng Thế Giới và Cơ
quan Phát Triển quốc
tế Thụy Điển
(SIDA).
Cần lưu ý là tiêu
chuẩn nầy chưa bằng
1/3 tiêu chuẩn nghèo
đói cấp thấp nhứt
theo tiêu chuẩn của
Ngân Hàng Thế Giới
(3 cấp : cấp thấp
nhứt 1$US
/người/ngày áp dụng
cho những quốc cực
kỳ nghèo; 2$US, 4
$US áp dụng cho các
quốc gia tương đối
hơn).
Áp dụng tiêu chuẩn
nầy, TKVN cho là tỉ
lệ người nghèo ở VN
giảm đi từ 58% năm
1993 xuống đến 37%
năm 1998 và chỉ còn
16% năm 2006. Đó là
con số trung bình,
nhưng trong nhiều
vùng, tỉ lệ nầy rất
cao .
Bảng 1- Tỉ lệ
nghèo theo tiêu
chuẩn của Thống Kê
VN
1993
1998
2002
2004 2006
|
Trung bình
chung cho cả
nước |
58% |
37 |
29% |
20 |
16 |
|
Miền núi và
Trung du Bắc bộ |
74 |
62 |
56 |
43 |
37 |
|
Đồng bằng sông
Hồng |
60 |
29 |
22 |
12 |
9 |
|
Bắc Trung bộ |
72 |
48 |
44 |
32 |
29 |
|
Duyên hải Nam
Trung Bộ |
46 |
34 |
25 |
19 |
13 |
|
Tây Nguyên |
67 |
52 |
52 |
33 |
29 |
|
Đông Nam bộ |
30 |
11 |
11 |
6 |
6 |
|
Đồng bằng sông
Cửu Long |
42 |
37 |
24 |
20 |
11 |
|
Thành
thị |
23% |
17% |
14%
|
4% |
|
|
Nông
thôn |
63% |
30% |
27% |
25% |
|
Nguồn: Thống Kê
VN.-.Thông tin thống
kê tháng 8,2008 –Giáo
dục, y tế và đời
sống
So sánh tỉ lệ nghèo
giữa các vùng, nếu
miền đồng bằng sông
Cửu Long là một vùng
nổi tiếng trù phú
của VN, thì sau 30
năm phát triển kinh
tế dưới chế độ Cộng
Sản, vùng nầy nay đã
trở nên nghèo hơn
miền đồng bằng sông
Hồng.
Thực ra, tính theo
tiêu chuẩn lương
thực như trên, người
nghèo Việt Nam phải
được xem như những
người thiếu dinh
dưỡng (sous
alimentation).
Theo báo cáo của Cơ
quan Lương Nông
(Food and
Agriculture
Organization =FAO ),
tỉ lệ người thiếu
dinh dưỡng ở VN, tuy
có giảm từ 1980 đến
nay, nhưng vẫn còn
rất cao so với các
quốc gia có cùng tầm
vóc.
Bảng 2 - Thiếu dinh
dưỡng ở Việt Nam
|
|
1979-81 |
1990-92 |
1995-97 |
2001-03 |
|
Số người thiếu
dinh dưỡng
(triệu) |
19,7 |
20,6 |
16,7 |
13,8 |
|
Tỉ lệ số người
thiếu dinh dưỡng
(%)
so
với tổng số dân |
37 |
31 |
23 |
17 |
Nguồn : FAO.
Situation mondiale
de l’alimentation et
de l’agriculture
2007, p.209
Cộng Sản VN văn vẻ
hơn gọi người thiếu
dinh dưỡng là người
nghèo lương
thực.
Tổng Cục Thống Kê VN
công bố tỉ lệ người
nghèo lương thực
trong cuộc điểu tra
mức sống 2002 như
sau :
Tỉ lệ người nghèo
lương thực, năm
2002 : (tròn nhửng
con số tỉ lệ của
TKVN)
Chung cả nước : 10 ;
Thành thị : 4 ;
Nông thôn :12
Đồng bằng sông
Hồng : 6,5 ; Đông
Bắc : 14 ; Tây Bắc :
28 ; Bắc Trung Bộ :
17 ; Duyên hải miền
Trung : 10,5 ; Tây
Nguyên : 17 ; Đông
Nam Bộ : 3 ; Đồng
bằng Cửu Long : 7,5.
Qua hai bảng thống
kê trên, chúng ta
nhận thấy chánh phủ
VN đã công bố một tỉ
lệ người bị thiếu
dinh dưỡng chỉ gần
bằng phân nửa con số
của Cơ quan Lương
Nông Quốc Tế ( 10%
so với 17%)
Ngoài ra, nếu đồng
bằng sông Cửu Long
là vựa lúa của VN và
hai phần ba số gạo
xuất cảng xuất phát
từ vùng nầy mà dân
miền Nam còn thiếu
ăn nhiều hơn cả miền
Đồng bằng sông Hồng
thì quả thật, như
lời người dân miền
Nam ta thán, Cộng
Sản đã áp dụng
chánh sách kinh tế
vơ vét.
2- Bộ Lao Động
Thương Binh Xã Hội
(LĐTBXH)
lại có một tiêu
chuẩn khác, và do đó
công bố một tỉ lệ
dân số nghèo ít
hơn. Trong suốt
những năm 1990,
chuẩn nghèo là số
thu nhập tương
đương với sức mua
(pouvoir d’achat)
15, 20, 25 kg gạo
mỗi tháng áp dụng
cho tất cả các miền
của VN. Từ năm 1998,
số kg gạo được
chuyển thành tiền .
Tính theo tiêu chuẩn
nghèo như thế, Bộ
Lao Động công bố tỉ
lệ người nghèo vào
năm 2001 là 17%, năm
2004 là 3,33% ở
thành thị và 8,13% ở
nông thôn Đó là
chánh sách vô
trách nhiệm nhằm
giảm bớt việc chánh
phủ phải giúp đỡ
người nghèo và
gian trá để lừa
gạt các cơ quan quốc
tế về hiện trạng
nghèo đói của Việt
Nam.
Bảng
3 : Ngưỡng nghèo và
tỉ lệ nghèo theo
tiêu chuẩn
của
Bộ Lao Động Thương
Binh Xã Hội (hàng
tháng)
|
KHU VỰC |
1993 |
1999 |
2002 |
2004 |
|
Nông thôn (chuẩn
nghèo) |
15kg gạo |
115 000 $VN |
112 000 đ |
124 000đ |
|
(tỉ lệ nghèo) |
67% |
46% |
21% |
8,13% |
|
Thành thị |
20kg |
150000 $VN |
146 000 đ |
163 000đ |
|
(tỉ lệ nghèo) |
25% |
9% |
8% |
3,33% |
Nguồn : Bộ LĐTBXH và
Điều tra mức sống
hộ gia đình 2004
Vì lẽ tiêu chuẩn
nghèo của chánh phủ
VN đã bị Liên Hiệp
Quốc cho là quá thấp
nên từ năm 2006,
ngưỡng nghèo được
tăng lên 200
000đ/người/tháng đối
với nông thôn;
260 000đ/người/tháng
đối với thành thị .
Với định nghĩa nghèo
theo tiêu chuẩn mới
nầy, tỉ lệ người
nghèo sẽ tăng lên
26% ..
(theo : - Đánh
giá và lập kế hoạch
cho tương lai : xóa
đói và giảm nghèo.
Hanoi : Bộ LĐTBXH và
PNUD, 2004, tr.9) –
-
Thông cáo của TKVN
ngày 20-07-2005
Người nghèo VN được
xem như một cục bột.
Chánh phủ CS vo tròn
bóp méo theo những
hình tượng với những
con số giả tạo khác
nhau cốt để huênh
hoang những thành
tích giảm nghèo
chống đói, che giấu
sự bất lực của một
nền kinh tế phát
triển phi kế hoạch,
gia tăng sự bất bình
đẳng và bần cùng
hóa đại đa số nhân
dân.
Trong bản Báo
cáo Phát triển VN
năm 2004 :
Nghèo,
Martin Rama, chuyên
viên của Ngân Hàng
thế giới đã viết :…
Tiếp tục giảm nghèo
ở VN sẽ ngày khó
khăn hơn vì cần có
những biện pháp mạnh
hơn để trợ giúp
những nhóm dân cư
thiệt thòi trong quá
trình phát triển
kinh tế. Hiện nay,
các hộ ở nông thôn
vẫn chiếm đại đa số
người nghèo. Nghèo
đói sẽ chủ yếu diễn
ra ở nông thôn trong
nhiều năm tới…Các hộ
ở thành thị cũng sẽ
ngày càng chiếm tỹ
trọng lớn trong số
người nghèo. Những
mất mát đi kèm với
việc buộc phải bán
đất, di cư ra thành
thị và ven đô, nơi
họ không có những
dịch vụ cơ bản, trở
thành nạn nhân của
tội phạm và sự xuống
cấp môi trường xung
quanh tăng ở mức
ngoài kiểm soát là
những thách thức lớn
trong việc giảm
nghèo ở VN »
Cùng trong quan điểm
ấy, trong một bản
báo cáo mới nhất
của Ngân Hàng Thế
Giới trong hội nghị
với Nhóm Tư Vấn và
các nhà tài trợ cho
VN họp tại Sapa ngày
5-6 tháng 6 năm 2008
đã nhấn mạnh đến
tình trạng bi đát
của nông dân : Phần
lớn người VN sống ở
nông thôn và 73%
những người dân sống
ở nông thôn đã chiếm
đến 94% số người
nghèo của cả nước.
Những người trồng
lúa chiếm đến 78% số
người nghèo (tr.5).
Từ đầu năm 2008,
với nạn lạm phát
tăng tốc, với giá
xăng dầu, lúa gạo và
các vật phẩm gia
tăng, chánh phủ CS
lại có chánh sách hổ
trợ cho giới kỹ nghệ
và thị dân, bỏ rơi
dân quê khiến người
nghèo càng thêm
nghèo. Từ tháng 10
năm 2007, giá gạo
trên thị trường thế
giới leo thang thì «
giá gạo VN tăng ít
hơn rất nhiều so với
giá gạo thế giới...,
có lợi cho người dân
thành phố, song lại
bất lợi đối với các
hộ nghèo ở vùng nông
thôn. Tình hình đối
với giá xăng dầu,
chính phủ lại áp
dụng chánh sách bỏ
trợ giá đã khiến
chỉ số tiêu dùng
tăng tốc, chủ yếu
vào lương thực. Với
một nền kinh tế mở,
tình trạng giá cả
lương thực tăng cao
trên thị trường thế
giới đã hoàn toàn
truyền sang giá cả
trong nước. Thời
tiết khắc nghiệt của
mùa đông và bịnh gia
súc gia cầm cũng là
nguyên nhân góp thêm
vào tình trạng khan
hiếm làm cho giá
lương thực và phi
lương thực tăng lên
đến 10 % so với cùng
thời kỳ năm trước.»
(Báo cáo tr, 1, 3)
Theo FAO, lợi tức
trung bình của một
nông dân là : 145 mỹ
kim năm 2001, 157 MK
năm 2003, 159 MK năm
2004 (FAO. Situation
mondiale de
l’alimentation et de
l’agriculture 2007,
p. 209)
Bất bình đẳng
Nếu tỉ lệ nghèo đói
ở VN vẫn còn cao và
không có viễn tượng
xuống thấp nhanh,
hiện tượng bất bình
đẳng giàu nghèo còn
là một khó khăn lớn
trong các vấn đề
kinh tế và xã hội VN
cận đại.
Có hai phương pháp
phổ biến để đo lường
bất bình đẳng về
kinh tế.
- Cách thứ nhất là
dựa vào mức chi tiêu
trung bình giữa các
tầng lớp dân chúng
để thiết lập một hệ
số gọi là hệ số
Gini. Hệ số nầy nằm
trong khoảng từ 0
(bình đẳng tuyệt
đối) đến 1 (bất
bình đẳng tuyệt
đối). Chỉ số Gini đã
tăng từ 0,34 (1993)
đến 0,35 (1998) và
0,37 (2004).
Trong bảng báo cáo
của Liên Hiệp Quốc
năm 2005, VN được
xếp hạng 59 trong số
124 quốc gia về bất
bình đẳng với hệ số
Gini 0,37. Năm quốc
gia đứng đầu trong
bảng có ít bất bình
đẳng là : Đan Mạch,
Nhật Bổn, Thụy Điển,
Bỉ và Tiệp Khắc. Năm
quốc gia bất bình
đẳng nhiều nhát là
Nam Phi, Sierra
Leone, Bostwana,
Lesotho và Nambie.
- Cách thứ hai là so
sánh tỉ trọng chi
tiêu của 20% dân số
thuộc nhóm nghèo
nhất (trong tổng số
tỉ trọng chi tiêu
của toàn thể dân số)
với tỉ trọng của 20%
dân số thuộc nhóm
giàu nhất
Bảng 4
:Lợi tức và chi
tiêu trung bình hàng
tháng của nhóm nghèo
nhất và nhóm
giàu nhất năm 2004
(Số chi tiêu nằm
trong dấu ngoặc)
|
|
Nhóm nghèo
nhất
(ngàn $VN) |
Nhóm giàu nhất |
Chênh lệch
lợi tức (số lần) |
|
Trung bình
|
142 (160) |
1182 (715) |
8,3 |
|
Thành thị |
237 (253) |
1914 (1091) |
8
|
|
Nông thôn |
131(151) |
835(473) |
6,4 |
|
Phân theo vùng |
|
|
|
|
Đồng bằng sông
Hồng |
164 (175) |
1140 (688) |
7 |
|
Đông Bắc |
124 ( 157) |
872 (574) |
7 |
|
Tây Bắc |
95 (144) |
611 (662) |
6,4 |
|
Bắc Trung Bộ |
115 (154) |
685 (505) |
6 |
|
Duyên hải Trung
Bộ |
141 (152) |
918 (650) |
6,5 |
|
Tây Nguyên |
118 (140) |
904 (609) |
7,6 |
|
Đông Nam Bộ |
233 (181) |
2033 (854) |
8,7 |
|
Đồng bằng Cửu
Long |
159 (181) |
1071 (595) |
6,7 |
Nguồn: Thống kê VN.
Điều tra mức sống hộ
gia đình 2004
Qua bảng thống kê
trên, cách biệt giàu
nghèo trong cùng một
địa phương trung
bình từ 6 đến 8 lần.
Tuy nhiên, nếu quan
sát lợi tức trung
bình người nghèo
nhất ở nông thôn
(131 000đ) so với
trung bình người
giàu nhất ở thành
phố ( 1,914 000đ),
cách biệt nầy đến
14,6 lần.
Ngoài ra, quan sát
mức chi thu của
người nghèo, trừ
miền Đông Nam Bộ,
tất cả người nghèo
đều mắc nợ (chi
nhiều hơn thu). Sự
thiếu thốn triền
miên khiến người
nghèo thiếu dinh
dưỡng, thiếu tất cả
tiện nghi tối thiểu
của đời sống tinh
thần và vật chất.
Dĩ nhiên, so với bất
bình đẳng giàu nghèo
của các quốc gia
phát triển, sự phân
cách nầy tương đối
nhỏ (năm 2004, lợi
tức của 500 người
giàu nhứt thế giới
nhiều hơn cả lợi tức
của 460 triệu người
nghèo), nhưng phải
hiểu rằng trong một
quốc gia mà số người
sống với nửa đollar
một ngày chiếm đến
37% và thành phần
giàu (20% dân số)
kiểm soát 80% tài
nguyên quốc gia, sự
phân hóa giàu nghèo
ở Việt Nam đã vô
cùng trầm trọng.
Sự bất bình đẳng
giàu nghèo đã đựơc
Cục Thống Kê VN đề
cập đến với những so
sánh tượng hình
không kém phần cay
đắng cho nguời
nghèo. Trong cuộc
điều tra mức sống
dân cư VN năm 1993
và 1998, TKVN chia
dân số thành năm
nhóm, mỗi nhóm chiếm
20%( nghèo, hơi
nghèo, trung bình,
khá giả, giàu). Kết
quả điều tra cho
thấy từ 1993 đến
1998, chi tiêu của
nhóm giàu và khá giả
mà TKVN gọi là
những ngôi sao
đang lên
tăng lên 173% trong
khi nhóm nghèo và
hơi nghèo được gọi
là những tảng
đá đang chìm xuống
, giảm xuống 37%.
Ngoài ra,TKVN còn
tiết lộ : ...Tỉ
lệ thuộc nhóm ngôi
sao đang lên ở Đồng
bằng sông Hồng
(trung tâm là Hà
Nội) và Tây Nguyên
(nơi bùng nổ sản
lượng cà phê) cao
hơn những nơi khác.
Điều ngạc nhiên là ở
Đồng bằng sông Cửu
Long (một vùng tương
đối sung túc) nhưng
những hộ thuộc nhóm
những tảng đá đang
chìm xuống lại chiếm
tỉ lệ cao. ( Mức
sống trong thời kỳ
bùng nổ kinh tế,
tr.145).
Mặc dù VN là một
trong hơn 20 quốc
gia được Ngân Hàng
Thế Giới và Quỹ
Tiền tệ Quốc Tế tài
trợ trong các kế
hoạch xóa đói giảm
nghèo, nhưng kết
quả là nếu nghèo
đói có giảm đi chút
ít tại vài địa
phương thì ngược lại
bất bình đẳng giữa
người giàu và người
nghèo đã gia tăng
với một mức độ đáng
ngại bởi chánh sách
phát triển kinh tế
của VN.
Trong 10 năm qua,
phát triển kinh tế
VN chủ yếu dựa vào
những yếu tố ngoại
lai như viện trợ của
các quỹ tiền tệ hay
tiền của Việt kiều
gởi về, đầu tư của
các nước ngoài, phát
triển du lịch, và
xuất cảng mà đa số
là các sản phẩm thô
như dầu, gạo, cà
phê…. và gần đây là
các sản phẩm biến
chế rẻ tiền như quần
áo, giày dép. Chánh
sách phát triển nầy
luôn gặp những yếu
tố bất cập là sự
cạnh tranh của các
quốc gia trong các
liên minh kinh tế mà
VN là hội viên,
chưa kể các yếu tố
khác như thời tiết,
thiên tai.
Ở VN, 90% nghèo đói
diễn ra ở nông thôn
và gần phân nửa nông
dân sống dưới
ngưỡng nghèo thì với
một chánh sách phát
triển kinh tế lệ
thuộc, thiếu yếu tố
bền vững, bỏ rơi
nông thôn thì làm
sao xóa đói giảm
nghèo được ? Làm sao
xóa đói giảm nghèo
được khi nguyên nhân
của nghèo đói chưa
được nhận diện, khi
nguồn gốc của nghèo
đói và các yếu tố
kềm giữ nghèo đói
của người dân được
giải quyết qua lăng
kính của những nhà
lãnh đạo bất tài,
thời cơ, tham nhũng,
và các cố vấn ngoại
quốc thỏa hiệp vì
những quyền lợi
chính trị quốc tế
hay thiếu hiểu biết
các đặc thù của địa
phương .
Tiêu chuẩn mức sống
Lương thực là một
nhu cầu căn bản để
sinh tồn, nhưng khác
với các sinh vật,
con người cần sống
và phát triển với
những nhu cầu vật
chất và tinh thần
khác. Nghèo lương
thực là mức nghèo
tận cùng, nhưng
nghèo còn phát hiện
dưới ba dạng khác là
nhà ở, tiện nghi
trong gia đình và
đời sống văn hóa.
Do đó, nghèo khó
cần xét qua dưới
khía cạnh mức sống.
Chương trình phát
triển Liên Hiệp Quốc
(PNUD) và các quốc
gia của khối OCDE
(Organisation de
coopération et de
développement
économique gồm 30
quốc gia Âu Mỹ và
Úc, ở Á châu có Nhựt
và Nam Hàn) thường
dùng chỉ số phát
triển con người
(IDH = indicateur du
développement humain
, tiếng Anh là HDI =
human development
indicator) để đo
lường mức sống của
người dân. Tuy
nhiên, vì lẽ mức
sống và nhu cầu của
các quốc gia giàu
nghèo khác nhau, nên
có hai công thức
khác nhau, một áp
dụng cho các quốc
gia giàu (phần lớn
thuộc khối OCDE) và
một cho các quốc gia
nghèo hay đang phát
triển.
IDH1
áp dung cho các
quồc gia nghèo
được tính dựa vào 3
yếu tố : tỉ lệ người
dân sống dưới 40
tuổi, tỉ lệ người đi
học, và tỉ lệ các
tiện nghi (nước
sạch, điều kiện y tế
và tử vong trẻ con
dưới 5 tuổi)
IDH2
áp dụng cho các
xứ giàu cũng dựa
vào 3 yếu tố như
trên nhưng gia tăng
phẩm lượng (sống
dưới 60 tuổi, tỉ lệ
người đi học, tiện
nghi tính theo tỉ lệ
người dân có hơn
phân nửa lợi tức
đồng niên trung
bình) và thêm một
yếu tố thứ tư là tỉ
lệ người thất nghiệp
dài hạn (không có
việc làm ít nhất 12
tháng)
Cách đo lường mức
nghèo đói dựa vào
các tiêu chuẩn phát
triển con người nầy
phản ảnh thực sự mức
nghèo đói của người
dân trong một môi
trường, và lợi tức
đồng niên phải được
hóa giải với các
nguồn tài trợ của
chánh phủ qua các
chánh sách an sinh.
Ngưỡng nghèo của
vài quốc gia trong
khối OCDE
Hoa Kỳ
Mức nghèo tại 48
tiểu bang của Hoa Kỳ
năm 2004 được tính
theo lợi tức đồng
niên như sau :
- $ 9 570 :
độc thân
- $12 830 :
vợ chồng không con
- $16 090 :
gia đình 3 người
- $19 350 :
gia đình 4 người
- $3 260 :
thêm mỗi người
Tỉ lệ người nghèo
năm 2004 là 12,7%
(37 triệu người)
(Federal Register,
vol.70, no. 33, 18
février, 2005, pp.
8373-8375 cité par
Wiképédia)
Canada
Từ năm 2002,
Statistique Canada
ước lượng mức nghèo
dựa vào các chi phí
cần thiết cho một
gia đình 4 người như
sau : tiền thuê nhà
(2-3 phòng ngủ), chi
phí lương thực tốt
(alimentation
nutritive), chi phí
quần áo và giày dép,
giá một thẻ chuyên
chở công cộng tại
các đô thị hay chi
phí xăng nhớt tại
vùng không có chuyên
chở công cộng, và
những chi phí cho
các sinh hoạt giải
trí tính theo tỉ lệ
20% các chi phí
loại nầy với một gia
đình có lợi tức
thấp. Định nghĩa nầy
có bản chất tổng
quát, do đó mỗi
tỉnh ấn định mức
nghèo khác nhau.
Năm 2004, mức nghèo
của Québec, một
trong số 11 tỉnh của
Canada được ấn đinh
như sau (thu nhập 1
năm sau khi trừ
thuế) :
|
|
Thôn quê |
Thành
phố<100 000 dân |
Th. phố >500 000
dân |
|
1 người |
11 025$ |
14 253$ |
16 853$ |
|
2 người |
13 418 |
17 347 |
20 512 |
|
3 người |
16 709 |
21 607 |
25 542 |
|
4 người |
20 844 |
26 948 |
31 865 |
|
5 người |
23 736 |
30 686 |
36 285 |
|
6 người |
26 324 |
34 032 |
40 241 |
Năm 2004, tỉ lệ
người dưới ngưỡng
nghèo của Québec
(trợ cấp xã hội) là
11,9% (890 000
người)
(Source :
Statistique
pauvreté/inégalité
au Québec 2004.
Éditeur officiel du
Québec, 2006, p.33)
Pháp
Ngưỡng nghèo theo
INSSE (sở thống kê
Pháp) năm 2003 được
ấn định lợi tức hàng
tháng như sau :
- 645 euros :
độc thân
- 839 – 968
euros : vợ chồng
không con hay chủ
gia đình độc thân
với 1 con (dưới 14
hay trên 14 tuổi)
- 1290
euros :vợ chồng với
2 con
- 1613
euros : vợ chồng với
3 con
Trung hoa
Mặc dù trong một
phần tư thế kỷ qua
(1980-2005), Trung
hoa đã biến đổi kinh
tế nhảy vọt và hiện
nay là một nhà máy
sản xuất khổng lồ
của thế giới (70% đồ
chơi, xe đạp, máy
DVD; 60% máy ảnh
điện tử, và 50% máy
vi tính cầm tay), ,
nước Tàu hiện nay
vẫn là một quốc gia
nghèo. Phân nửa dân
số sống với lợi tức
ít hơn hai mỹ kim
một ngày, và theo
Ngân Hàng Thế giới,
từ 1980 đến 2004, có
400 triệu người Tàu
đã thoát ra khỏi
vòng nghèo đói trước
đây chỉ với lợi tức
ít hơn một mỹ kim
một ngày. Lợi tức
trung bình của người
Tàu hiện nay là
1000 mỹ kim một năm
(Theo Quand la
Chine change le
monde. Paris :
Grasset, 2005, tr.
20-38)
Bảng 5 : Chỉ số phát
triển con người
(IDH) năm 2005
(trích dẩn)
|
Hạng |
Quốc gia |
Tuổi thọ |
Giáo dục(%)
|
PIB
t. bình |
Hạng |
Quốc gia |
Tuổi thọ |
Giáo dục (%) |
PIB
t. bình |
|
1 |
Islande |
81,5 |
95,4 |
36 510 |
22 |
Đức |
79,1 |
88 |
29 461 |
|
2 |
Na Uy |
79,8 |
99,2 |
41 420 |
26 |
Đại Hàn |
78 |
96 |
22 029 |
|
3 |
Úc |
81 |
99 |
31 794 |
51 |
Cuba |
77,7 |
87,6 |
6 000 |
|
4 |
Canada |
80,3 |
99,2 |
33 375 |
61 |
Arabie S. |
72,2 |
83 |
7 010 |
|
5 |
Irlande |
78,4 |
99,9 |
38 505 |
67 |
Nga |
65 |
89 |
10 845 |
|
6 |
Thụy Điển |
80,5 |
95,3 |
32 525 |
78 |
Thái Lan |
69,6 |
71,2 |
8 677 |
|
7 |
Thụy Sỉ |
81,3 |
85,7 |
35 633 |
81 |
Trung Quốc |
72,5 |
69 |
6 757 |
|
8 |
Nhật |
82,3 |
85,9 |
31 267 |
90 |
Phi L.Tân |
71 |
81 |
5 137 |
|
9 |
Hòa Lan |
79,2 |
98,4 |
32 684 |
105 |
Viet Nam |
73,7 |
64 |
3 071 |
|
10 |
Pháp |
80,2 |
96,5 |
30 386 |
107 |
Indonésie |
69,7 |
68,2 |
3 843 |
|
11 |
Phần Lan |
78,9 |
99 |
41 890 |
128 |
Án Độ |
63,7 |
63,8 |
3 452 |
|
12 |
Hoa Kỳ |
78 |
93,3 |
26 150 |
130 |
Lào |
63,2 |
61,5 |
2 039 |
|
13 |
Tây B. Nha |
80,5 |
98 |
27 169 |
131 |
Cambodge |
58 |
60 |
2 727 |
|
14 |
Đan Mạch |
78 |
99,9 |
33 973 |
136 |
Hồi Quốc |
64,6 |
40 |
2 370 |
|
15 |
Áo |
79,4 |
91,9 |
33 700 |
146 |
Haiti |
59,5 |
40 |
1 663 |
|
16 |
Anh |
79 |
93 |
33 328 |
177 |
Sierra Léone |
41,8 |
44,6 |
806 |
|
17 |
Bỉ |
78,8 |
95,1 |
32 119 |
|
|
|
|
|
|
20 |
Ý |
80,3 |
90,6 |
28 529 |
|
|
|
|
|
Source : PNUD.
Rapport sur le
développement
2007-2008, p.
229-232
Chú thích : - Tỉ
lệ giáo dục
là tổng hợp giáo dục
tiểu học, trung học
và đại học
-
PIB trung bình
là lợi tức đồng niên
trung bình của người
dân tính tương đương
với đồng mỹ kim
(PPA)
Chỉ số phát triển
con người do Cơ quan
Phát Triển Liên Hiệp
Quốc PNUD tính theo
các công thức tiêu
chuẩn hóa như trên
đã cho thấy một quốc
gia giàu như Hoa Kỳ
không nhất thiết có
một mức sống cao,
bởi lẽ mức sống của
người dân tùy thuộc
không những dựa vào
lợi tức mà còn các
điều kiện phát triển
văn hóa, y tế và xã
hội. Nước Na Uy, tuy
lợi tức thô trung
bình của người dân
(PIB = tổng số sản
lượng của quốc gia
chia cho dân số,
tiếng Anh là GDP)
suýt soát với Hoa
Kỳ, nhưng từ nhiều
năm qua luôn đứng
đầu trong bảng xếp
hạng.
Ngoài ra cũng lưu ý
là PIB trong bảng
xếp hạng nầy thường
gọi là PIB-PPA =
produit intérieur
brut à parité de
pouvoir d’achat
(tiếng Anh là
Purchasing power
parity = PPP) là một
chỉ số có tính cách
chuẩn hóa để so sánh
lợi tức giữa các
quốc gia bằng cách
lấy lợi tức thô của
quốc gia nhơn cho
môt một chỉ số hối
đoái theo đồng mỹ
kim để so sánh giàu
nghèo giữa các quốc
gia.
Việt Nam được xếp
hạng 105 trong số
177 quốc gia, trong
loại các quốc gia có
trình độ phát triển
trung bình.
Iceland. Na Uy, Úc,
Canada đứng đầu
trong bảng xếp hạng.
So với các nước
trong khu vực, VN
đứng sau rất xa
Singapour (hạng 25),
Đại Hàn (26), Thái
Lan (78), Phi luật
Tân (90). So với các
nước Cộng Sản, VN
còn đứng sau cả Cuba
(51).
Theo bảng xếp hạng
chuẩn hóa nầy, tuổi
thọ trung bình của
người VN là 73,7
tuổi, đạt được trình
độ giáo dục là 64%
và mức thu nhập
trung bình (PIB hay
GDP) là 3 071 mỹ
kim.
Nhưng đây là con số
chuẩn hóa dựa vào
giá một giỏ hàng của
người Mỹ, PIB thực
tế trung bình một
năm của người VN là
430 mỹ kim (căn cứ
vào hối suất chính
thức giữa đồng VN và
mỹ kim), chỉ suýt
soát với Ân độ
(470MK), Haiti
(440MK), Hồi
Quốc(420 MK), khá
hơn chút ít với hai
lân bang : Cambodge
(300MK), Lào (300MK)
và các nước Phi
châu. ( theo :
Images économiques
du monde 2005, p.
49)
Mức sống người Việt
Nam qua các con số
của Viện Thống Kê
Việt Nam
Nhờ sự giúp đỡ tài
chánh và kỹ thuật
của PNUD, Viện Thống
Kê VN đã thực hiện
các cuộc điều tra
mức sống của người
dân năm 1993, 1998,
2002 và 2004.
Chúng ta thường dè
dặt khi đọc những
tài liệu của chánh
phủ Cộng Sản, nhưng
những con số thống
kê của Viện Thống
Kê VN là những tài
liệu chính thức để
chúng ta có một ý
niệm về mức sống của
người VN. Nhiều tài
liệu Tây phương cũng
dựa vào các tài liệu
nầy. Chúng tôi sử
dụng các tài liệu
với những tổng hợp
và so sánh nhiều
nguồn tài liệu khác
nhau.
Nhà ở
là một trong những
tiêu chuẩn đo lường
mức sống . Nghèo
giàu đã gắn liền với
ngôi nhà trong ngôn
ngữ : nhà giàu, nhà
nghèo. Dựa vào
loại nhà ở và các
nguồn tiếp cận với
điện, nước và những
loại đồ dùng trong
nhà, mức sống
của người dân được
đo lường qua các
tiện nghi vật chất.
Trình độ học vấn
là yếu tố giúp con
người phát triển và
cải thiện cuộc sống
và các điều kiện
y tế vệ sinh
giúp con người sống
lâu và sống khỏe,
gia tăng tiềm năng
nhân lực và kinh tế
của quốc gia.
Nhà ở
Trong cuộc điều tra
mức sống người dân
năm 2002, Viện TKVN
phân biệt 3 loại
nhà :
-
biệt thự
- nhà
kiên cố khép kín:
gồm các loại nhà
nhiều từng, nhà bằng
béton hay nhà mái
bằng
- nhà
kiên cố không khép
kín : gồm nhà có
tường xây ghép bằng
gỗ hay khung gỗ, mái
lợp bằng ngói tole,
hay tấm mạ
- nhà bán
kiên cố : gồm
nhà có khung gỗ lâu
bền, mái lá , nhà có
khung chịu bằng cột
gỗ, có niên hạn sử
dụng trên 15 năm,
mái lợp bằng tranh,
tre, nứa, lá
- nhà đơn
sơ : nhà có kết
cấu đơn giản, vật
liệu thô sơ , thường
nhà bằng đất, lá,
cót, mái bằng tranh,
tre, nứa, lá, giáy
dầu
Bảng 6 : Thống kê
nhà ở kiểm kê năm
2002 (tính theo %).
|
|
Biệt thự |
Nhà kiên cố khép
kín |
Nhà kiên cố
không khép kín |
Nhà bán kiên cố |
Nhà khung gỗ và
đơn sơ |
|
Thành thị |
1 |
20 |
11 |
55 |
13 |
|
Nông thôn |
0,1 |
2 |
10 |
59 |
28,9 |
|
|
|
|
|
|
|
|
Đồng bằng sông
Hồng |
1 |
10 |
24 |
58 |
7 |
|
Đông Bắc |
0,1 |
4 |
11 |
61 |
23,9 |
|
Tây Bắc |
0,1 |
3 |
10 |
55 |
31,9 |
|
Bắc Trung bộ |
0,2 |
3 |
9 |
71 |
16,8 |
|
Duyên hải miền
Trung |
0,1 |
4 |
5 |
73 |
17,9 |
|
Tây Nguyên |
0,3 |
3 |
5 |
63 |
28,7 |
|
Đông Nam Bộ |
0,6 |
10 |
6 |
61 |
22,4 |
|
Đồng bằng Cửu
Long |
0,1 |
2 |
4 |
40 |
53,9 |
|
Trung bình cả
nước |
0,3 |
6 |
10 |
58 |
25,7 |
Bảng thống kê nhà ở
đã phơi bày một khía
cạnh đen tối của mức
sống người dân vùng
đồng bằng sông Cửu
Long : hơn phân nửa
dân sống trong những
căn nhà khung gổ
đơn sơ hay nhà thô
sơ. Tỉ lệ loại nhà
thô sơ ở vùng đồng
bằng Cửu Long cao
nhứt trong cả nước,
gấp 7 lần so với
đồng bằng sông Hồng,
ngược lại các loại
nhà kiên cố, tiện
nghi lại quá thấp.
Miền Nam giàu có,
giờ đây chỉ là huyền
thoại, 30 năm xã hội
chủ nghĩa đã đẩy cả
miền đồng bằng sông
Cửu Long vốn trù phú
sung túc khi xưa nay
tụt xuống hạng cuối
cùng của nhà
nghèo .
Sau nhà ở, các tiện
nghi tối thiểu của
đời sống như việc
sử dụng điện
lực, nước uống
là những yếu tố cần
thiết để đo lường
mức sống của người
dân.
Bảng 7 : Tỉ lệ hộ
chia theo nguồn thắp
sáng chính - năm
2004 (số tròn)
|
|
Điện lưới |
Điện ắc quy |
Đèn dầu |
Loại khác |
|
Trung bình cả
nước |
93 |
1 |
4 |
2 |
|
Thành thị |
99 |
0,4 |
0,6 |
|
|
Nông thôn |
81 |
| |